VIỆT NAM VỚI VIỆC PHÊ CHUẨN NGHỊ ĐỊNH THƯ SỬA ĐỔI HIỆP ĐỊNH TRIPS

THS. LÊ THỊ NAM GIANG – Trưởng Bộ môn Tư pháp quốc tế – Luật so sánh, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) được ký kết ngày 15/4/1994 và bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/19951 cùng với sự ra đời của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hiệp định TRIPS là một điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT) và bên cạnh Hiệp định WTO, Hiệp định TRIPS phải được tất cả các nước thành viên WTO tuân thủ và thi hành.

Trong lĩnh vực sáng chế, Hiệp định TRIPS yêu cầucác quốc gia thành viên phải bảo hộ sáng chế trong tất cả các lĩnh vực côngnghệ2, trong đó có bảo hộ sáng chế dược phẩm. Nhiều quốc gia thànhviên WTO là các nước đang và kém phát triển đã gặp nhiều khó khăn trong việcgiải quyết các vấn đề sức khỏe cộng đồng cho nhân dân mình, đặc biệt đối vớiviệc tiếp cận các dược phẩm thiết yếu khi thực hiện quy định trên của Hiệp địnhTRIPS. Nhằm giúp các quốc gia thành viên giải quyết vấn đề này, ngày06/12/2005, Đại hội đồng WTO đã ban hành Quyết định thông qua Nghị định thưsửa đổi Hiệp định TRIPS. Theo đó, Điều 31bis sẽ được bổ sung vào Hiệp địnhsau điều 31 và một Phụ lục sẽ được bổ sung vào sau điều 73 của Hiệp địnhTRIPS. Theo Quyết định ngày 06/12/2005, Nghị định thư được mở cho các nướcthành viên đến ngày 01/12/2005 và có hiệu lực theo quy định của Khoản 3, Điều XHiệp định WTO là phải được ít nhất hai phần ba các quốc gia thành viênphê chuẩn. Tuy nhiên, Quyết định ngày 18/12/2007 của Hội đồng TRIPS đã kéo dàithời hạn này đến ngày 31/12/2009. Nhưng đến thời điểm tháng 12/2009 sốlượng thành viên phê chuẩn vẫn chưa đủ để Nghị định thư sửa đổi Hiệp địnhTRIPS có hiệu lực. Do đó, ngày 17/12/2009 Hội đồng TRIPS đã kéo dài thời hạnnày đến ngày 31/12/2011. Việt Namcũng như nhiều quốc gia đang phát triển và kém phát triển khác đang xem xét khảnăng phê chuẩn Nghị định thư này.

1. Hoàn cảnh ra đời của Nghị định thư sửa đổi Hiệpđịnh TRIPS

Việc thực hiện Hiệp định TRIPS, đặc biệt đối vớiviệc bảo hộ sáng chế dược phẩm đã đặt ra rất nhiều thách thức đối với các quốcgia đang phát triển và quốc gia kém phát triển. Bảo hộ sáng chế dược phẩm làmột lĩnh vực mới đối với rất nhiều quốc gia trên thế giới. Tại thời điểm đàmphán Hiệp định TRIPS năm 1986, 49 trong tổng số 98 thành viên Công ước Paris chưabảo hộ sáng chế đối với dược phẩm. Ngay tại các quốc gia phát triển, nơi màquyền SHTT nói chung, sáng chế nói riêng được bảo hộ đã hàng trăm năm thì việcbảo hộ sáng chế đối với dược phẩm cũng chỉ mới bắt đầu trong những năm cuối củathế kỷ XX. Ví dụ: Pháp (năm 1960), Thụy Sỹ (năm 1977), Nhật Bản (năm 1976), Italy, ThụyĐiển (năm 1978), Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp và Na Uy (năm 1992)3.Lý do để dược phẩm không được bảo hộ sáng chế là xuất phát từ “tính quan trọngvề mặt xã hội của dược phẩm cũng như sự tin tưởng rằng, việc bảo hộ sáng chếdược phẩm sẽ dẫn đến sự lạm dụng độc quyền của chủ sở hữu”4 ảnhhưởng đến phúc lợi chung của xã hội. Trong quá trình đàm phán Hiệp định TRIPS,một số quốc gia đang phát triển không ủng hộ việc bảo hộ sáng chế dược phẩmnhưng đã không thành công. Quy định tại Điều 27 Hiệp định đã ràng buộc các quốcgia thành viên của WTO phải bảo hộ sáng chế trong cả lĩnh vực dược phẩm5.

Continue reading

TÌM HIỂU QUY TẮC SỬ DỤNG INCOTERMS

PHẠM THỊ THANH NGA – Sở giao dịch VietinBank

Cùng với thời gian, thương mại quốc tế (TMQT) ngày càng phát triển. Trước kia, các thương nhân phải tự mang hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, mất hàng tháng để thực hiện các giao dịch mua bán, lợi nhuận thu được nhiều nhưng rủi ro cũng không ít. Ngày nay, nhờ sự phát triển của các phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, sự hình thành các khối nước thương mại chung, các trung gian thương mại, tài chính.v.v. thì người mua và người bán không cần gặp nhau trực tiếp mà vẫn mua/bán được hàng hóa, dịch vụ. Chính sự phát triển này đòi hỏi phải có những quy tắc được thừa nhận rộng rãi để điều chỉnh những quan hệ ngày càng phức tạp trong TMQT.

Khái niệm Incoterms

Có rất nhiều quy tắc, thông lệ quốc tế chi phối quan hệ TMQT như: UCP điều chỉnh các quan hệ trong giao dịch sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, URR điều chỉnh các quan hệ trong giao dịch sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu,.v.v. Incoterms (International Commerce Terms – các điều kiện TMQT) cũng là một trong những quy tắc như vậy. Đây là quy tắc chính thức của Phòng thương mại quốc tế (ICC) nhằm giải thích thống nhất các điều kiện thương mại, thông qua đó tạo điều kiện cho các giao dịch TMQT diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

Việc hiểu rõ quy tắc này không chỉ cần thiết với các bên mua, bên bán mà còn rất cần thiết với các cán bộ ngân hàng, là những người trực tiếp tư vấn cho khách hàng nhằm đảm bảo khách hàng đạt được những thuận lợi, tối đa được lợi ích trong quá trình giao dịch.

Tuy không phải là một yếu tố bắt buộc trong hợp đồng mua bán quốc tế, nhưng việc dẫn chiếu đến Incoterms sẽ phân định rõ ràng nghĩa vụ tương ứng của các bên, làm giảm nguy cơ rắc rối có thể gặp phải về mặt pháp lý. Chính vì thế mà các bên tham gia giao dịch TMQT cần phải nắm rất rõ đặc điểm sử dụng của Incoterms để thông qua đó tự bảo vệ mình và có những ứng xử thích hợp khi xảy ra tranh chấp.

Đặc điểm sử dụng

Thứ nhất, Incoterms là tập quán thương mại, không có tính chất bắt buộc. Chỉ khi nào các bên tham gia hợp đồng quy định sử dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì nó mới trở thành điều kiện bắt buộc, ràng buộc nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ (CISG)

CỔNG THÔNG TIN PHÁP LUẬT, BỘ CÔNG THƯƠNG – Hiện nay, sự tồn tại của CISG được giới luật sư trong lĩnh vực thương mại quốc tế biết đến khá rộng rãi. Tuy nhiên, khuynh hướng loại trừ không áp dụng Công ước này đặc biệt trong thương mại hàng hóa vẫn tồn tại. Có ba lý do thường được đưa ra để giải thích cho khuynh hướng này. Thứ nhất, mặc dù CISG được biết đến khá rộng rãi thì mức độ am hiểu về việc áp dụng và chức năng của Công ước trên thực tế vẫn rất thấp. Các luật sư vẫn ưa chuộng luật trong nước của họ hơn theo thói quen. Thứ hai, bất cứ khi nào một bên trong hợp đồng có ưu thế cho phép thì bên đó thường thích sử dụng luật của nước mình hơn áp dụng cho hợp đồng. Thứ ba, các bên vẫn chưa bị thuyết phục về lợi ích của CISG so với các luật trong nước về hợp đồng. Tuy nhiên, những lập luận này không có tính thuyết phục vì một số lí do sau đây

Mặc dù hiện nay tại các nước phương tây và các nước công nghiệp hóa, các bên được tự do để chọn luật áp dụng cho hợp đồng của họ thì điều này lại không đúng ở phần còn lại của thế giới. Nhiều nước đang phát triển và các nước chuyển đổi e ngại dành cho các thương nhân phương tây quá nhiều lợi thế dẫn đến việc từ chối công nhận các điều khoản chọn luật. Ví dụ ở Brazil, giá trị pháp lý của các điều khoản chọn luật được bàn cãi nhiều hơn hết. Do đó, người mua từ Hoa Kỳ nhận hàng hóa từ người bán Brazil và tự tin giao kết trên cơ sở Luật Thương mại mẫu của Hoa Kỳ có thể bị rơi vào tình trạng rất rủi ro khi cố gắng kiện người bán ở các tòa án Brazil nơi áp dụng luật Brazil đối với hợp đồng mua bán. Điều này dễ dẫn tới tình trạng một bên phải đương đầu với một luật khó có khả năng dự đoán và thậm chí khó hiểu hoặc tiếp cận.

Bên cạnh đó, nếu điều khoản chọn luật được thừa nhận thì việc một bên yêu cầu áp dụng luật của nước mình có thể vẫn gặp phải những trở ngại đáng kể khi kiện ra tòa án của một nước khác. Đầu tiên, luật được chọn phải được chứng minh tại tòa. Điều này bao hàm việc dịch các đạo luật và các văn bản pháp lý khác như các quyết định của tòa án, các bài nghiên cứu sang ngôn ngữ của tòa. Đồng thời việc yêu cầu tư vấn chuyên gia cũng rất cần thiết. Ở một số nước các chuyên gia có thể do tòa chỉ định, trong khi ở nhiều nước khác một bên phải tự đề cử chuyên gia của mình. Chúng ta đều biết rằng tất cả những việc này đều rất tốn kém. Thậm chí nếu một bên có ý thức chịu mọi chi phí để chứng minh luật nước mình tại tòa, họ vẫn sẽ phải đối mặt với sự khó dự đoán liên quan đến việc giải thích và áp dụng luật này bởi tòa án nước ngoài và đôi khi là sự sai lệch hoàn toàn. Tất nhiên càng ngày càng có nhiều tranh chấp về luật mua bán hàng hóa quốc tế không bị kiện ra các tòa án quốc gia mà thường được giải quyết bởi trọng tài thương mại quốc tế. Vấn đề chứng minh luật trong nước và bản dịch của nó vẫn cần thiết khi luật này không thể tiếp cận được bằng tiếng Anh. Trong hoàn cảnh này, làm thế nào để các trọng tài – những người đến từ các hệ thống pháp luật khác nhau có thể áp dụng luật của một nước khác.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

image GS. BRUCE A. BLONIGEN – Khoa Kinh tế thuộc Đại học Oregon, chuyên gia nghiên cứu của NBER, Cộng tác viên của Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa và Chính sách Kinh tế Leverhulme (GEP)

Giới thiệu

Điều tra chống bán phá giá (AD) bắt đầu khi có đơn kiện của một bên trong nước có liên quan. Đây là một nhà sản xuất điển hình (hoặc một nhóm nhà sản xuất) mà sản phẩm của họ đang cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu là đối tượng của cuộc điều tra. Sau đó cơ quan có thẩm quyền điều tra sẽ xác định thực sự có bán phá giá hay không, bán phá giá được định nghĩa là việc doanh nghiệp nước ngoài bán sản phẩm với giá thấp hơn giá công bằng hay giá thông thường, và liệu những hành động thương mại như vậy có gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa trong vụ kiện hay không. Nếu những tiêu chuẩn này thoả mãn, một mức thuế chống bán phá giá tương đương với biên độ phá giá đã tính toán sẽ được áp dụng với các sản phẩm nhập khẩu. Ở Hoa Kỳ, việc tính toán biên độ phá giá do Cục Thương mại Quốc tế của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (USDOC) tiến hành, và Uỷ ban Thương mại Quốc tế (USITC) sẽ xác định tổn thất.

Có sự tác động qua lại rất lớn giữa những người đệ đơn kiện và cơ quan có thẩm quyền điều tra chống bán phá giá ở Hoa Kỳ. Bên đệ đơn phải trình cho cơ quan có thẩm quyền một đơn kiện phù hợp về trường hợp mà họ muốn điều tra và sau đó cung cấp đầy đủ thông tin cũng như các phân tích và lý lẽ pháp lý trong suốt quá trình điều tra. Các thông tin chi tiết về luật pháp cũng như cách thức mà các cơ quan của chính phủ áp dụng luật trong các trường hợp thực tế là rất quan trọng. Sự phức tạp của việc kiện tụng và quá trình đưa ra biện pháp chống bán phá giá cho thấy rằng việc các bên đệ đơn có kinh nghiệm hay có ý thức học hỏi đóng một vai trò quan trọng trong quá trình kiện và kết quả của vụ kiện chống bán phá giá. Đặc biệt, người ta cho rằng các kinh nghiệm sẵn có làm giảm chi phí kiện về sau và đồng thời cũng làm tăng ảnh hưởng của những người đệ đơn khi họ tranh cãi về vụ kiện và có nhiều khả năng thu được kết quả có lợi hơn. Việc nhận thức về những tác động như vậy rõ ràng thúc đẩy việc đệ đơn nhưng tác động của nó đến kết quả vụ kiện còn rất mơ hồ như chúng ta xem xét chi tiết ở phần tiếp theo. Mặc dù việc học hỏi có thể làm tăng khả năng đưa ra phán quyết có lợi ở những vụ kiện này, nhưng người ta lại coi trọng chi phí kiện thấp hơn là những tác động như vậy nên họ thường sẽ lựa chọn các vụ kiện thiếu lý lẽ hơn.

Continue reading

GIỚI THIỆU VỀ CƠ QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – Ngày 18/3/1965, Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (ICSID) được WB thành lập theo Công ước năm 1965 về Giải quyết Tranh chấp Đầu tư giữa các Quốc gia và Công dân của các Quốc gia khác. Tiếp đó, ngày 14/10/1966, 30 ngày sau khi văn bản phê chuẩn thứ 20 được nộp cho Ngân hàng thế giới, Công ước ICSID đã chính thức có hiệu lực.

Đến nay, Công ước này đã được khoảng 135 quốc gia phê chuẩn. Cùng với hoạt động của Trung tâm ICSID, năm 1976 các quốc gia ký kết đã thông qua Cơ chế phụ trợ của Trung tâm và ban hành bộ quy tắc tạo điều kiện thuận lợi bổ sung, cho phép Ban thư ký ICSID giải quyết các tranh chấp trong đó một bên không phải là thành viên Công ước ICSID.

Mục đích chủ yếu của Công ước là nhằm thiết lập ICSID – một cơ chế hòa giải và trọng tài thường trực bên cạnh WB – có chức năng giải quyết tranh chấp đầu tư giữa cơ quan nhà nước của một bên ký kết và nhà đầu tư của bên ký kết khác.

Thủ tục tố tụng không nhất thiết phải tiến hành ở trụ sở chính củaTrung tâm tại Oa-sing-tơn. Thỏa thuận giữa các chính phủ về việc đưa tranh chấp đầu tư ra trọng tài ICSID có thể tìm thấy trong các hợp đồng đầu tư giữa các chính phủ và nhà đầu tư, cũng như trong các hiệp định đầu tư song phương.

ICSID đặt trụ sở chính tại WB với tổ chức bộ máy gồm: Hội đồng Hành chính, Ban thư ký, Ban Hòa giải và Ban Trọng tài.

Hội đồng hành chính

Hội đồng Hành chính gồm đại diện do các quốc gia thành viên đề cử. Mỗi quốc gia thành viên được quyền đề cử một đại diện tham gia Hội đồng Hành chính.

Continue reading

QUI CHẾ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA EU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG CÁC VỤ KIỆN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA VIỆT NAM

image THS. TRẦN THU HƯỜNG – Bộ Tư pháp

Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới từ năm 2007 và chấp nhận thời hạn 12 năm cho quy chế nền kinh tế phi thị trường kể từ ngày gia nhập và không muộn hơn 31/12/2018. Hệ quả trực tiếp cam kết này đó là việc áp dụng quy chế nền kinh tế phi thị trường trong điều tra chống bán phá giá đối với hàng hóa của Việt Nam trên thị trường thế giới. Tuy nhiên trước đó hàng hóa của Việt Nam đã phải đối mặt với quy chế nền kinh tế phi thị trường trong quá trình điều tra chống bán phá của US và EU.

Bài viết này nghiên cứu các quy định của EU về chống bán phá giá đối với các nước có nền kinh tế thị trường qua việc phân tích các vụ điều tra đã thực hiện đối với hàng hóa của Việt Nam, cụ thể là chốt cải thép không gỉ (2004), xe đạp (2005) và giày mũ da (2006). Từ thực tiễn giải quyết các vụ kiện chống bán phá giá đối với Việt Nam của EU, bài viết được hy vọng là làm rõ các vấn đề pháp lý mà các doanh nghiệp Việt Nam nên lưu tâm khi tham gia các vụ kiện chống bán phá giá cũng như khi đưa ra các phản biện hợp lý và trong một chừng mực nào đó phù hợp với các tiêu chí xem xét của EU.

Quy chế nền kinh tế phi thị trường áp dụng trong điều tra chống bán phá giá được nêu tại Điều 2(7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu Âu (sau đây gọi là Quy định số 384/96). Đến Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998 sửa đổi Quy định của Hội đồng số 384/96, các quy chế đối với nền kinh tế thị trường đã được bổ sung thêm với việc mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp được áp dụng quy chế điều tra thông thường trong trường hợp đáp ứng các điều kiện nhất định. Và trong Quy định này, Việt Nam có tên trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường đang trong quá trình chuyển đổi. Tiếp theo, ngày 5/11/2002, Quy định của Hội đồng số 1972/2002 sửa đổi Quy định số 384/96 quy định về nguyên tắc thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng theo mức phù hợp cho mọi vụ việc, trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nguồn khác nhau bị kết luận là có bán phá giá và gây thiệt hại. Tuy nhiên nếu như doanh nghiệp thuộc các quốc giá có nền kinh tế phi thị trường đáp ứng được các yêu cầu theo quy định thì sẽ được áp mức thuế riêng cho từng doanh nghiệp (gọi là individual treatment – IT).

Continue reading

CÓ HAY KHÔNG SỰ ĐỘC LẬP XÉT XỬ TRONG WTO?

image THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG –  Câu trả lời đơn giản cho câu hỏi này là hệ thống xét xử của WTO thiếu sự độc lập vì cơ quan chính của nó, DSB (Dispute Settlement Body – Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO), là một thiết chế chính trị gồm đại diện tất cả các Thành viên, và như thế là khó có sự độc lập với các chính phủ. Song câu trả lời này không thỏa đáng. Thứ nhất cần đánh giá liệu các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm có độc lập hay không. Nói cách khác, các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm có thể hoạt động độc lập tới mức nào với: (1) Đại hội đồng WTO, (2) các thành viên WTO, và (3) Tổng Giám đốc và Ban Thư ký WTO?

Việc rà soát các quy tắc DSU thể hiện rằng những người soạn thảo đã cố gắng bảo đảm quá trình xét xử của các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm không bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp của các chính phủ. DSU chỉ rõ “sự độc lập của các thành viên” như một tiêu chuẩn cho việc lựa chọn thành viên Ban hội thẩm. Trong khi đó, một số hiệp định WTO yêu cầu các chính phủ đảm bảo việc độc lập rà soát xét xử trong các vụ kiện hành chính. Vì vậy, tầm quan trọng có tính chất quy phạm của sự độc lập xét xử đã được công nhận bởi các thành viên soạn thảo hiệp định WTO.

Như các quy tắc DSU đã quy định, Ban hội thẩm được chọn từ một bảng phân công được các chính phủ Thành viên đồng ý. Trong mỗi vụ kiện, các thành viên Ban hội thẩm được Ban Thư ký đề cử tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên tranh chấp. Tuy nhiên, nếu không thể đạt được một thỏa thuận, Tổng Giám đốc sẽ chỉ định Ban hội thẩm và có thể thêm những cái tên khác. Không một thành viên nào của Ban hội thẩm có thể là công dân của các bên tranh chấp, trừ khi các bên đều đồng ý.

DSB chọn Cơ quan Phúc thẩm bảy người. Các thành viên của nó có nhiệm kỳ 4 năm và có khả năng tái bổ nhiệm. Họ không được làm việc trong bất kỳ chính phủ nào. Đến nay, chưa có phụ nữ nào được bổ nhiệm vào cơ quan này. Trong bất kỳ vụ kiện cụ thể nào, một trong ba thành viên được chọn qua một hệ thống luân phiên. Các chính phủ trong một tranh chấp không có vai trò chọn người xét xử kháng cáo.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH VỀ HẦNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI VÀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM

THS. VŨ THẾ QUANG – Cục Hàng hải Việt Nam

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ra đời trên cơ sở Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới, do các nước thành viên của GATT ký ngày 14/4/1994 tại Ma-rốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995 với trụ sở chính đặt tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ. WTO là tổ chức quốc tế, hoạt động dựa trên hệ thống các luật lệ, quy định, quyết định cũng như các phụ lục, giải thích để điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế nhằm tạo ra một cơ chế điều tiết thương mại toàn cầu.

WTO có 4 chức năng chính, đó là:

  1. Hỗ trợ và giám sát việc thực hiện các hiệp định của WTO;
  2. Thúc đẩy tự do hóa thương mại và là diễn đàn cho các cuộc đàm phán thương mại;
  3. Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên;
  4. Rà soát chính sách thương mại của các thành viên.

Mục tiêu hoạt động của WTO là nhằm thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới; thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế; khuyến khích các nước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao mức sống, tạo thu nhập, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động-xã hội tối thiểu được tôn trọng. WTO cũng đưa ra 4 nguyên tắc trong quan hệ thương mại, đó là: Chỉ được phép bảo hộ sản xuất và dịch vụ trong nước bằng thuế quan, không cho phép sử dụng các hạn chế định lượng (trừ trường hợp đặc biệt); thuế quan phải giảm dần và không tăng trở lại; áp dụng đãi ngộ tối huệ quốc; áp dụng đãi ngộ quốc gia.

Để thực hiện tốt chức năng và mục tiêu của mình, hoạt động của WTO chủ yếu dựa trên 18 hiệp định chính và 1 bộ quy tắc, bao gồm cả Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Agreement on Technical Barries to Trade – TBT).

Continue reading

MỘT SỐ TÌNH HUỐNG VỀ PHÁP LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ

FANCY88 – saga (Sưu tầm)

Nội dung sự việc 1:

Tàu được thuê khứ hồi theo mẫu hợp đồng ASBATANK VOY để chở dầu thô đến cảng đến và nhận dầu fuel để vận chuyển về cảng xuất phát. Trong hợp đồng các bên đã thoả thuận là thời gian bắt đầu làm hàng phải được tính ngay sau khi tàu trao TBSS hợp lệ.

Tại cảng đến, sau khi dỡ xong dầu thô, thuyền trưởng đã trao TBSS vào hồi 10h ngày 29/6 nhưng trong thực tế vào thời gian đó tàu vẫn chưa sẵn sàng xếp hàng vì các tăng chứa dầu vẫn còn chưa được tẩy rửa xong hoàn toàn.

8h 30 ngày 5/7 thuyền trưởng điện báo cho đại lý và người nhận hàng (đồng thời cũng là người phải xếp lô hàng mới) với nội dung sau: "Tàu đã thu gom tất cả những hàng còn sót lại trên tàu, sau khi đã làm vệ sinh tẩy rửa các tăng có thể chứa được 300m­­­3. Sẵn sàng giao tại bờ khi tàu vào cầu để bù vào số lượng đã báo thiếu như đã thoả thuận với các ông khi hoàn thành dỡ hàng".

Giữa hai bên xảy ra tranh chấp về việc tính thời gian bắt đầu làm hàng. Chủ tàu cho rằng thời gian làm hàng sẽ được tính từ khi trao TBSS còn người thuê không đồng ý vì khi ddó tàu chưa tẩy rưae xong lô hàng cũ. Tranh chấp được đưa ra trọng tài London.

Phán quyết của trọng tài:

– Tàu được coi là sẵn sàng xếp hàng để có thể trao được TBSS hợp lệ khi các tăng chứa dầu đã được tẩy rửa sạch sẽ, nước và cặn dầu thô đã được thu dọn vào các tăng chứa riêng.

– Thuyền trưởng đã trao TBSS vào ngày 29/6. Tuy nhiên, từ thời gian này trở đi, người xếp hàng cũng như đại lý đều biết rằng tàu đang neo đậu và tẩy rửa các tăng chứa dầu trước khi nhận lô hàng mới xếp xuống tàu theo hợp đồng đã dự kiến. Hơn nữa, vào ngày 5/7, thuyền trưởng lại gửi cho đại lý va người xếp hàng (cũng là người đã nhận lô dầu thô tàu dã chở tới trước đó) bức điện như đã trích dẫn ở trên. Với bức điện này, thuyền trưởng đã tự nhận là tàu chưa được tẩy rửa cho tới ngày 5/7.

Continue reading

“QUI VỀ 0” (ZEROING) TRONG TÍNH TOÁN BIÊN ĐỘ PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG PHÁ GIÁ TẠI MỸ

THS. NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Giảng viên Đại học Luật Hà Nội

Những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn do chính sách bảo hộ mậu dịch của Mỹ và một trong các biện pháp rất hay được sử dụng là áp thuế chống bán phá giá. Một loạt các vụ kiện chống bán phá giá mà Mỹ tiến hành trong thời gian qua như vụ kiện cá ba sa, vụ kiện bán phá giá tôm đông lạnh… đều được tiến hành theo một cách thức chủ quan, cửa quyền và bất công đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Trước tình trạng đó, gần đây Việt Nam đang chuẩn bị kiện Mỹ ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO về ba nội dung trong pháp luật chống bán phá giá của Mỹ, trong đó phương pháp “Quy về 0” (zeroing) là vấn đề được đề cập đầu tiên.

Tìm hiểu về Zeroing là một việc làm cần thiết và mang tính thời sự, góp phần phổ biến kiến thức pháp luật về thương mại quốc tế.

1. Zeroing là gì?

Bán phá giá được định nghĩa một cách đơn giản là khi hàng hóa được bán ở nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá trị thông thường của nó tại thị trường nội địa (thị trường nước xuất khẩu). Tuy nhiên, để xác định được doanh nghiệp xuất khẩu có bán phá giá hay không và biên độ bán phá giá thì rất không đơn giản, bởi doanh nghiệp xuất khẩu thường bán vào nước nhập khẩu nhiều lô hàng và mỗi lô hàng lại có những mức giá khác nhau. Trong một vụ việc bán phá giá thông thường, quá trình tính biên độ bán phá giá luôn trải qua từng bước như sau: (i) tính giá trị thông thường (hoặc giá trị bình quân gia quyền thông thường) của sản phẩm tương tự ở nội địa; (ii) tính giá xuất khẩu của sản phẩm bị kiện; (iii) so sánh giá trị thông thường với giá xuất khẩu theo phương pháp bình quân gia quyền. Đến lúc này, giá xuất khẩu của mỗi giao dịch bán sẽ được so sánh với giá trị thông thường của sản phẩm.

Có thể lấy ví dụ như sau: Một công ty bị kiện bán phá giá đối với sản phẩm S của mình ở Mỹ. Mỹ mở cuộc điều tra vụ kiện này. Trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch của mặt hàng này tại thị trường nước xuất khẩu. Qua đó, giá trị bình quân gia quyền thông thường của S tại thị trường nội địa được xác định là 34,5 USD (sau khi đã quy đổi từ đồng tiền nội địa). Cũng trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch bán sản phẩm S vào Mỹ với số lượng và giá xuất khẩu đã được xác định. Việc tính toán khối lượng bán phá giá và biên độ bán phá giá tại Mỹ được thực hiện như sau: (Xem bảng trang bên.

Continue reading

“QUI VỀ 0” (ZEROING) trong tính toán biên độ phá giá đối với các vụ kiện chống phá giá tại Mỹ

THS. NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Giảng viên Đại học Luật Hà Nội

Những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn do chính sách bảo hộ mậu dịch của Mỹ và một trong các biện pháp rất hay được sử dụng là áp thuế chống bán phá giá. Một loạt các vụ kiện chống bán phá giá mà Mỹ tiến hành trong thời gian qua như vụ kiện cá ba sa, vụ kiện bán phá giá tôm đông lạnh… đều được tiến hành theo một cách thức chủ quan, cửa quyền và bất công đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Trước tình trạng đó, gần đây Việt Nam đang chuẩn bị kiện Mỹ ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO về ba nội dung trong pháp luật chống bán phá giá của Mỹ, trong đó phương pháp “Quy về 0” (zeroing) là vấn đề được đề cập đầu tiên.

Tìm hiểu về Zeroing là một việc làm cần thiết và mang tính thời sự, góp phần phổ biến kiến thức pháp luật về thương mại quốc tế.

1. Zeroing là gì?

Bán phá giá được định nghĩa một cách đơn giản là khi hàng hóa được bán ở nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá trị thông thường của nó tại thị trường nội địa (thị trường nước xuất khẩu). Tuy nhiên, để xác định được doanh nghiệp xuất khẩu có bán phá giá hay không và biên độ bán phá giá thì rất không đơn giản, bởi doanh nghiệp xuất khẩu thường bán vào nước nhập khẩu nhiều lô hàng và mỗi lô hàng lại có những mức giá khác nhau. Trong một vụ việc bán phá giá thông thường, quá trình tính biên độ bán phá giá luôn trải qua từng bước như sau: (i) tính giá trị thông thường (hoặc giá trị bình quân gia quyền thông thường) của sản phẩm tương tự ở nội địa; (ii) tính giá xuất khẩu của sản phẩm bị kiện; (iii) so sánh giá trị thông thường với giá xuất khẩu theo phương pháp bình quân gia quyền. Đến lúc này, giá xuất khẩu của mỗi giao dịch bán sẽ được so sánh với giá trị thông thường của sản phẩm.

Có thể lấy ví dụ như sau: Một công ty bị kiện bán phá giá đối với sản phẩm S của mình ở Mỹ. Mỹ mở cuộc điều tra vụ kiện này. Trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch của mặt hàng này tại thị trường nước xuất khẩu. Qua đó, giá trị bình quân gia quyền thông thường của S tại thị trường nội địa được xác định là 34,5 USD (sau khi đã quy đổi từ đồng tiền nội địa). Cũng trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch bán sản phẩm S vào Mỹ với số lượng và giá xuất khẩu đã được xác định. Việc tính toán khối lượng bán phá giá và biên độ bán phá giá tại Mỹ được thực hiện như sau: (Xem bảng trang bên.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN TRONG CÁC TRANH CHẤP LIẾN QUAN TỚI THUẾ ĐỐI KHÁNG

KEN MATSUMOTO – Chủ tịch Tập đoàn Hợp tác Quốc tế KM, Nguyên Giám đốc Trung tâm Thương mại Bình đẳng Nhật Bản

I. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong các tranh chấp về thuế Chống trợ cấp

(1) Nhật Bản với vị trí nguyên đơn trong các vụ kiện giữa các doanh nghiệp Nhật Bản và doanh nghiệp của các quốc gia khác.

Trước đây, Nhật Bản ít khi sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại trong hạn chế hàng nhập khẩu. Chỉ có một vài cuộc điều tra về thuế Chống bán phá giá (dưới đây gọi là AD) và một vụ kiện về thuế Chống trợ cấp (dưới đây gọi là CVD) đối với sản phẩm bộ nhớ tiếp cận ngẫu nhiên năng động (DRAM) của Hàn Quốc được sản xuất và xuất khẩu bởi Công ty Hinix Semiconductor (dưới đây gọi là Hinix). Cuộc điều tra CVD được khởi xướng vào tháng 8 – 2004. Thời gian áp thuế từ tháng 1-2006 đến tháng 12-2010 với mức thuế là 27.2%. Nhóm điều tra của Chính phủ Nhật Bản gồm các quan chức đến từ Bộ Tài chính và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI).

Liên quan tới vấn đề nền kinh tế phi thị trường, năm 1993, Nhật Bản đã công nhận Trung Quốc là nước có nền kinh tế thị trường trong vụ kiện sản phẩm Hợp kim Mangan-Silicon, chất phụ gia trong sản xuất thép. Trong một vụ kiện AD khác về MnO2 điện phân (EMD), nguyên liệu để sản xuất pin, năm 2009, Chính phủ Nhật Bản cũng đã công nhận Trung Quốc có nền kinh tế thị trường.

(2) Nhật Bản trong vai trò là Bị đơn

(A) Bị áp thuế chống trợ cấp

Trong những năm 70, đã có 9 cuộc điều tra CVD đối với các sản phẩm của Nhật Bản do Hoa Kỳ tiến hành, trong đó có 3 trường hợp bị áp thuế chống trợ cấp. Chi tiết về các vụ kiện đã không được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, cho dù có báo cáo về các vụ kiện này thì cũng không có ý nghĩa tham khảo nào bởi các vụ kiện diễn tra trước khi Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng có hiệu lực theo khuôn khổ WTO năm 1995.

Continue reading

VỤ KIỆN TỰ VỆ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM – THỰC TIỄN VÀ KINH NGHIỆM

TS. HOÀNG THỊ THANH THỦY – Giảng viên Khoa Luật Đại học KTQD Hà Nội, LS tư vấn tại Văn phòng Luật Gide Loyrette Nouel

Sau gần 3 năm gia nhập WTO, thị trường Việt Nam đã có đủ thời gian để kiểm chứng những tác động của tự do hóa thương mại đem lại. Bên cạnh việc hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam được hưởng những ưu đãi thương mại khi xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên khác của WTO, mức nhập siêu trong 11 tháng đầu năm 2009 đạt 10,417 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 20,30% kim ngạch xuất khẩu) theo số liệu thống kê của Bộ công thương cũng phần nào thể hiện sức ép cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu đối với sản xuất và khu vực dịch vụ trong nước.

Trong lĩnh vực Thương mại quốc tế, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI cũng đánh giá 2009 là năm kỷ lục về số lượng các vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt nam.[1] Do các ưu thế về giá thành nguyên liệu đầu vào và giá lao động cạnh tranh, hàng hóa Việt Nam thường bị các nước nhập khẩu điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Bên cạnh việc đối phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại tại các thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới, doanh nghiệp và các hiệp hội cũng nên chủ động trong việc áp dụng các công cụ pháp lý hợp pháp theo qui định của WTO, tận dụng cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngay trên thị trường nội địa. Một trong những công cụ đó là thủ tục áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại trong trường hợp khẩn cấp, khi hàng hóa nhập khẩu có sự gia tăng đột biến, không lường trước được, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất trong nước. Giữa năm 2009, Công ty kính nổi Viglacera (VIFG) và Công ty Kính nổi Việt Nam (VFG) đã chính thức nộp đơn yêu cầu Bộ công thương tiến hành điều tra áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đối với sản phẩm kính nổi nhập khẩu (Float Glass). Tuy rằng các biện pháp tự vệ thương mại đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu theo đơn yêu cầu của nguyên đơn không được Bộ công thương chấp nhận do kết quả điều tra cuối cùng cho thấy không đủ điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại theo qui định của WTO. Song đối với hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam, đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng bởi lần đầu tiên doanh nghiệp trong nước đã chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình theo qui định của pháp luật WTO. Đây cũng là lần đầu tiên kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam chính thức tiến hành thủ tục điều tra và cân nhắc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại với tư cách quốc gia nhập khẩu.

Continue reading

ĐÀM PHÁN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

LS. NGÔ VĂN HIỆP – Văn phòng luật sư Hiệp và  Liên danh

Đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một loại đàm phán trong đó có ít nhất hai bên chủ thể có trụ sở thương mại ở những nước khác nhau tham gia đàm phán để xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hoặc tài sản là đối tượng của hợp đồng ở nước ngoài đối với các bên hay sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ giao dịch ở nước ngoài đối với các bên.

Đặc điểm của đàm phán

Hoạt động đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bên cạnh những đặc điểm chung như đàm phán các loại hợp đồng thông thường khác thì cũng có những đặc điểm riêng biệt, đó là:
– Các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường chịu sự điều chỉnh của một hoặc một số điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương, hoặc quy định của hệ thống pháp luật một quốc gia nhất định với tư cách là khuôn khổ pháp lý.
– Đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế luôn chịu sự chi phối, tác động của các quy luật kinh tế. Bên cạnh đó, nó còn bị chi phối, ảnh hưởng bởi phương pháp và thủ thuật kinh doanh, đặc biệt là phương pháp marketing quốc tế và cạnh tranh.
– Đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của nền kinh tế và thị trường quốc tế có tính chất thường xuyên, liên tục.
– Đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường chịu ảnh hưởng của các yếu tố chính trị và ngoại giao do có yếu tố quốc tế và thường liên quan tới ít nhất hai quốc gia khác nhau.

Các yếu tố cơ bản của hoạt động đàm phán

– Bối cảnh đàm phán là tổng hợp các yếu tố khách quan có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động đàm phán và thường bao gồm các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị… Trong đó thời gian, địa điểm và ngôn ngữ đàm phán là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc đàm phán.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ HÀNG DỆT MAY TRONG WTO VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ VŨ HÀ – Khoa Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế,  Đại học Quốc gia Hà Nội

TÓM TẮT. Dệt may là một ngành hàng quan trọng của Việt Nam trong việc giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cho người dân, song mặt hàng này lại chịu sự cạnh tranh rất lớn và thường xảy  ra  tranh  chấp. Do  vậy,  nghiên  cứu  các  tranh  chấp  về  hàng  dệt may  trong WTO  và  đưa  ra  các  khuyến nghị cho Việt Nam là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước  nguy cơ bị kiện bán phá giá hàng dệt may và cũng đang chịu tác động của việc bán phá giá hàng  dệt may của Trung Quốc vào  thị  trường nội địa.

Bài viết tổng kết về các  tranh chấp xảy  ra  trong WTO về hàng dệt may và trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam như: chủ động  khởi kiện  nếu  thấy hàng dệt may bị  bán phá  giá  trên  thị  trường  nội địa,  tích cực  theo kiện, giải  quyết tranh chấp không thông qua Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm; nghiêm chỉnh thực hiện  các phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO.

1. Tranh chấp về hàng dệt may trong WTO

Tính đến ngày 30/12/2008, theo số liệu của Tổ  chức  Thương mại  Thế  giới  (WTO)  thì  có 390  vụ  tranh  chấp  thương mại khác  nhau diễn ra tại WTO. Các vụ tranh chấp này có liên quan đến nhiều  lĩnh vực  trong đó chủ yếu  tập  trung  vào các vấn đề và mặt hàng như: các biện pháp chống  bán  phá  giá;  tự  vệ;  thép;  các  sản  phẩm nông nghiệp; TRIPs; các biện pháp đối kháng; dệt may; các biện pháp nhập khẩu; xe ô tô; bằng phát minh… (xem biểu đồ 1). Trong các vấn đề và lĩnh vực tranh chấp tại WTO, thì dệt may là một lĩnh vực xảy ra nhiều tranh  chấp  (đứng  thứ  7  trong  số  các  vấn  đề  tranh chấp) và là mặt hàng có nhiều tranh chấp nhất  (chỉ  đứng  sau mặt  hàng  thép  và  các  sản phẩm nông nghiệp). Tính đến ngày 30/12/2008, đã có 19 vụ  tranh chấp  liên quan đến hàng dệt may (xem bảng 1).

Các tranh chấp về dệt may  trong WTO xảy ra nhiều nhất là giữa nhóm các nước phát triển và các nước đang phát triển (10 vụ), tiếp đến là giữa các nước đang phát  triển với nhau  (6 vụ) và cuối cùng là giữa các nước phát triển (3 vụ). Trong đó, Mỹ là nước bị kiện nhiều nhất (7 vụ) và Ấn Độ là nước đi khởi kiện nhiều nhất (6 vụ) (xem biểu đồ 2). Bên  cạnh  đó,  các  tranh  chấp  về  hàng  dệt may chủ yếu diễn ra đối với các sản phẩm như: dệt may và các sản phẩm trang trí trên quần áo (5  vụ),  vải  cotton  (5  vụ),  dệt may  và  các  sản phẩm  dệt  (4  vụ).  Ngoài  ra,  còn  có một  số  vụ liên quan đến các  sản phẩm cụ  thể như: áo  sơ mi, áo khoác  len, chăn, ga  trải giường, đồ đi ở chân (tất), đồ lót, sợi cotton trải…

Continue reading

CÁC QUI ĐỊNH QUỐC TẾ VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CẤM NHẬP KHẨU, CẤM LƯU THÔNG CÁC HÀNG HÓA ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI TRƯỜNG

1. Các Điều ước quốc tế về môi trường về cấm nhập khẩu và lưu thông hàng hoá.

Cho đến thời điểm hiện nay đã có trên 140 Hiệp định quốc tế về môi trường và các công cụ quốc tế về lĩnh vực môi trường, trong số đó có khoảng 20 Hiệp định có các quy định liên quan đến thương mại quốc tế. Các biện pháp môi trường trong các hiệp định môi trường quốc tế được áp dụng đối với việc vận chuyển buôn bán, trao đổi, khai thác các sản phẩm có ảnh hưởng đến môi trường như chất thải độc hại, động vật hoang dã, các nguồn gen thực động vật, các chất phá huỷ tầng ô zôn…

Những Hiệp định môi trường quốc tế có thể được phân thành 3 nhóm chính:

– Các Hiệp định kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới hoặc để bảo vệ môi toàn cầu, ví dụ như Công ước Viên bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư Montreal về các chất huỷ hoại tầng ôzôn thực hiện Công ước trên và Hiệp định về thay đổi môi trường.

– Các Hiệp định bảo vệ các chủng loại bị đe doạ, các loài chim di trú, và các loại cá và động vật biển. Ví dụ như Hiệp định về thương mại quốc tế đối với những loài có nguy cơ bị diệt chủng (CITES) và Công ước quốc tế quy định về săn bắt cá voi. Trong số các điều khoản của các Hiệp định này là các hướng dẫn về cách thức bắt và giết các loại động vật hoang dã và cá.

– Các Hiệp định về quản lý việc sản xuất và thương mại các sản phẩm và các chất nguy hiểm. Ví dụ là Hiệp định Basel về Quản lý di chuyển và thải các chất thải nguy hiểm xuyên biên giới, Hướng dẫn Luân Đôn về việc trao đổi thông tin về các chất hoá học trong thương mại quốc tế.

Một số Công ước cụ thể:

– Công ước quốc tế về buôn bán các loại động vật, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES);

– Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm;

– Công ước đa dạng hoá sinh học (CBD);

– Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn;

– Công ước An toàn sinh học;

– Công ước Quốc tế về Bảo vệ thực vật;

Continue reading

TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN?

NGUYỄN THÀNH HƯNG (Tổng hợp)

Dịch vụ, từ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến các dịch vụ tài chính ngân hàng, đã và đang trở thành ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nước trên thế giới. Dịch vụ không chỉ tạo công ăn việc làm và thu nhập tại nhiều quốc gia mà còn đóng vai trò là đầu vào (input) quan trọng để sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác (ví dụ: dịch vụ viễn thông). Do vậy một ngành dịch vụ hiệu quả cao là rất cần thiết cho tổng thể nền kinh tế. Và chính vì vậy, những thoả thuận về mở cửa thị trường dịch vụ có vai trò quyết định sự thành bại của các cuộc đàm phán thương mại toàn cầu hiện nay.

Mở cửa thị trường dịch vụ sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các nền kinh tế, bao gồm cả các nước đang phát triển, với điều kiện được thực hiện một cách thận trọng. Tuy nhiên mở cửa thị trường dịch vụ là một vấn đề cực kỳ phức tạp. Trong bất cứ cuộc đàm phán nào về thương mại dịch vụ đều đặt ra một câu hỏi hóc búa rằng liệu những người cung cấp dịch vụ (các y tá, luật sư hoặc kỹ sư bảo trì máy tính…) có thể tới quốc gia khác để hành nghề hay không.

Các vòng đàm phán thương mại toàn cầu trước đây chỉ đạt được kết quả khiêm tốn trong mở cửa thị trường dịch vụ. Tuy nhiên sự phát triển của công nghệ đã tạo ra một xung lực riêng biệt cho việc mở cửa thị trường dịch vụ. Các dịch vụ trực tuyến (online services) (ví dụ: các trung tâm dịch vụ khách hàng qua điện thoại, qua e-mail) không nhất thiết phải được thiết lập ở trong cùng một quốc gia, thậm chí là cùng một châu lục. Các thị trường dịch vụ được mở cửa thông qua các hiệp định song phương và khu vực, thông qua các chương trình cải cách từ bên trong từng quốc gia.

Hiện tại các cuộc đàm phán tự do hoá thương mại dịch vụ trong khuôn khổ Chương trình nghị sự Đôha vì sự phát triển (DDA) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tạo cơ hội cho tất cả các nước ở những trình độ phát triển khác nhau đánh giá lại toàn bộ quá trình phát triển dịch vụ và thực thi mở cửa mạnh mẽ hơn nữa thị trường dịch vụ.

Ai hưởng lợi từ việc tự do hoá thương mại dịch vụ?

Những năm gần đây tỷ trọng dịch vụ trong nền kinh tế thế giới tăng đáng kể, và hiện nay dịch vụ chiếm khoảng 70% tổng giá trị sản xuất của các nước phát triển OECD. Ngành dịch vụ cũng ngày càng có vai trò quan trọng tại các nước có thu nhập trung bình và thấp, thay thế dần nông nghiệp và công nghiệp.

Continue reading

VIỆT NAM CẢM NHẬN MẶT TRÁI CỦA THƯƠNG MẠI TỰ DO

image TRẦN LÊ ANH

Với việc thực thi Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế của Việt Nam giờ đã hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu. Thương mại hàng hoá chiếm hơn 150% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2008, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam tăng hơn ba lần, đạt gần 63 tỉ USD trong năm 2008. Sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã đẩy xuất khẩu của Việt Nam xuống dưới 57 tỉ USD trong năm ngoái, nhưng nó được dự báo là sẽ phục hồi trở lại trong năm nay khi nhu cầu ở Mỹ và các thị trường xuất khẩu quan trọng khác tăng lên.

Mặc dù vậy, điều này không làm giảm bớt những lo ngại về thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam, khi mà con số này đã lên đến bằng 12,8% GDP trong năm 2008. Thâm hụt thương mại đều đặn không hẳn là tiêu cực, đặc biệt là khi nó đưa đến việc nhập khẩu máy móc và công nghệ để thúc đẩy tăng trưởng, trường hợp của Việt Nam là có vấn đề với những lý do sau:

Việt Nam nhập khẩu số lượng lớn nguyên liệu và phụ tùng để phục vụ cho guồng máy xuất khẩu, đặc biệt là cho các ngành công nghiệp may mặc và giày dép. Điều này chứng tỏ Việt Nam thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ cần thiết để thu lợi ích kinh tế lớn hơn từ xuất khẩu và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá. Sự lệ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu đầu vào cũng làm cho kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương bởi những thay đổi từ thị trường bên ngoài, bao gồm cả sự biến đổi nhanh chóng của giá cả hàng nguyên liệu.

Thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam với Trung Quốc kể từ năm 2001 là một nguyên nhân đặc biệt đáng quan tâm. Trong năm 2009, thâm hụt với Trung Quốc lớn hơn 11 tỷ USD, chiếm hơn 91% tổng thâm hụt thương mại của Việt Nam.
Thách thức từ hàng nhập khẩu Trung Quốc, vốn đã đe dọa sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước, có thể gia tăng khi Việt Nam tham gia vào tự do hóa thương mại hơn nữa thông qua Khu vực Thương mại Tự do Asean-Trung Quốc – điều này sẽ cho phép một tỷ lệ lớn hơn của hàng hóa Trung Quốc vào thị trường Việt Nam mà không phải chịu thuế nhập khẩu từ năm 2015.

Continue reading

VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO

PHẠM GIA KHIÊM – Chủ tịch Ủy ban quốc gia Hợp tác kinh tế quốc tế

Việt Nam sau hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới Phó Thủ tướng, Chủ tịch UBQG-HTKTQT Phạm Gia Khiêm Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11-1-2007 là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Những thành tựu đạt được trong hai năm qua cho thấy, việc Việt Nam tham gia vào WTO là phù hợp với thực tế khách quan và xu thế hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trên thế giới hiện nay.

Trên tinh thần chủ động hội nhập, cùng với việc tham gia Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Thỏa thuận ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc,… thực hiện các thỏa thuận song phương như Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện với Nhật Bản, tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế liên khu vực ASEM, APEC, Việt Nam đã thật sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Ngay sau khi gia nhập WTO, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế. Ngày 5-2-2007, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/T.Ư về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO”. Theo đó, Chính phủ, các bộ, ngànhvà địa phương cũng đã ban hành các Chương trình hành động theo các định hướng lớn của Ðảng.

Ðể thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh chính sách thương mại theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn, ban hành nhiều luật và các văn bản dưới luật để thực hiện các cam kết đa phương, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập.
Mặc dù thời gian hai năm chưa đủ để có thể đánh giá toàn diện những tác động kinh tế – xã hội của việc gia nhập WTO, nhưng chúng ta cũng có thể thấy một số kết quả tích cực như sau:

Continue reading