CHẤT LƯỢNG, QUI CÁCH CỦA HÀNG HÓA VÀ VẤN ĐỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Trong mua bán hàng hóa quốc tế, mỗi một loại sản phẩm đều có tên gọi riêng, có chất lượng xác định với một số lượng nhất định. Mua bán hàng hóa quốc tế khác với việc mua bán ở siêu thị hay cửa hàng.

Hàng hóa trong mua bán quốc tế thường với số lượng lớn và phải thông qua một quá trình vận chuyển. Do vậy, hàng hóa cần phải được đóng gói theo đúng quy cách để bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển. Thế nên trong khi đàm phán, ký kết hợp đồng những vấn đề liên quan đến tên gọi, chất lượng, quy cách đóng gói và vấn đề kiểm định chất lượng hàng hóa không thể bỏ qua và phải được các bên qui định chi tiết và cụ thể.

1. Tên của hàng hóa

Khi xây dựng điều khoản tên hàng, tùy từng trường hợp các bên có thể liệt kê ra tên hàng hoặc đưa ra tên hàng kèm theo các đặc điểm về mẫu mã, đẳng cấp, loại, thương hiệu… Dù đặt tên hàng như thế nào, các bên cần lưu ý các qui tắc sau:

Tên hàng phải được biểu đạt rõ ràng, cụ thể.

– Miêu tả về hàng hóa phải có khả năng thực hiện được trên thực tế, tránh sử dụng những câu từ xáo rỗng, không thể thực hiện được.

– Tên hàng cần phù hợp với tên gọi quốc tế, tránh sử dụng tên địa phương của hàng hóa.

– Cần lưu ý đến việc đặt tên hàng làm sao có lợi cho mình trong việc tính thuế nhập khẩu hoặc xuất khẩu và cước phí vận chuyển. Bởi vì thực tế, cùng một loại hàng hóa nhưng có tên gọi khác nhau với mã số HS khác nhau sẽ có mức thuế suất xuất khẩu hoặc nhập khẩu khác nhau và có thể sẽ được áp dụng mức cước phí vận chuyển khác nhau.

Continue reading

CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ QUA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM, CÔNG ƯỚC CISG VÀ BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT

NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH – Khoa Luật, Đại học Huế

Đối với hợp đồng thương mại quốc tế, khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng, một trong những chế tài được áp dụng phổ biến là bồi thường thiệt hại (1). Luật Thương mại Việt Nam 1997 và 2005 đều dành điều khoản (Điều 229 Luật 1997 và Điều 320 Luật 2005) để quy định vấn đề này. Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước CISG) cũng dành Mục II Chương 5 cho chế tài bồi thường thiệt hại. Bộ nguyên tắc của Unidroit (2) về hợp đồng thương mại quốc tế (sau đây gọi tắt là Bộ nguyên tắc Unidroit) dành Mục 4 Chương 7 để thống nhất các vấn đề về bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, những quy định trên lại có những điểm khác biệt trong thuật ngữ, trong cách giải thích và trong thực tế áp dụng. Nằm trong nỗ lực hài hòa hóa pháp luật cho hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, bài viết sẽ phân tích những điểm còn khác biệt giữa những quy định trên.

1. Sự khác biệt và bổ trợ giải thích cho nhau giữa ba văn bản về chế tài bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm do không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới áp dụng3. Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định về chế tài bồi thường thiệt hại tại Điều 302. Chế tài này sẽ được áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi luật điều chỉnh hợp đồng là luật Việt Nam.

“Điều 302: Bồi thường thiệt hại

1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm4”.

Continue reading

BÀI HỌC TỪ MỘT HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU

LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC

Các doanh nghiệp (DN) xuất nhập khẩu Việt Nam (VN) cần mạnh dạn chuyển sang mua FOB bán CIF thay cho thực tế là đại bộ phận hợp đồng đều mua CIF bán FOB. Bởi lẽ, khi phía VN mua hàng theo điều kiện CIF hoặc CFR thì người bán nước ngoài sẽ tìm thuê những con tàu nhiều tuổi, lai lịch không rõ ràng với giá cước thấp. Câu chuyện dưới đây là minh chứng.

Cuối năm 2006 một DN ở Hà Nội  nhập  lô hàng thức ăn chăn nuôi trị giá 1.400.000 USD, từ một Cty  ở Singapore theo điều kiện CFR-Incoterms 2000,  cảng TP HCM và Hải Phòng. Người bán đã mua hàng này của nhà sản xuất ở Ấn Độ. Hai bên đã nhanh chóng giao kết hợp đồng mua bán. Trong các điều khoản về vận tải, không có điều nào đề cập về tình trạng pháp lý của con tàu cũng như chủ tàu. Theo điều kiện CFR, người bán  đã thuê tàu PLJ của chủ tàu BJS ở Hong Kong chở lô hàng về VN. Sau khi tàu PLJ rời cảng xếp hàng, người bán nhanh chóng chuyển vận đơn cùng bộ chứng từ cho người mua và nhận đủ tiền hàng theo phương thức thanh toán bằng L/C. Nhưng 4 ngày trước khi tàu PLJ cập cảng VN, khi đang đi qua eo biển Malaysia, tàu bị cảnh sát Malaysia bắt giữ vì có bằng chứng đây là con tàu của một chủ tàu Indonesia bị hải tặc cưỡng đoạt 4 năm trước.

Ngay lập tức người bán thông báo cho người mua  biết vụ việc. Họ  giải thích rằng họ đã nhận đủ tiền bán hàng và phía người mua cũng đã nhận đủ bộ chứng từ hợp lệ, điều này cũng đồng nghĩa là họ đã hoàn thành mọi nghĩa vụ giao hàng và về măt pháp lý họ không chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra vì theo điều kiện CFR rủi ro về hư hỏng mất mát hàng hóa đã chuyển tư người bán sang người mua kể từ khi hàng qua lan can tàu ở cảng xếp hàng. Phía người mua ngay lập tức phản đối lập luận của người bán và yêu cầu họ phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Tuy vậy khi đọc lại hợp đồng mua bán  không thấy có quy định nào buộc người bán phải bồi thường trong trường hợp này. Cũng có ý kiến cho rằng cần làm việc với hãng bảo hiểm để đòi bồi thường (lô hàng  được mua bảo hiểm của BMI và BVI ở VN). Tuy nhiên phía bảo hiểm khẳng định  theo điều kiện bảo hiểm ICC 1982 (Institute Cargo  Clauses 1982, Mục 6.2, Điều khoản miễn trừ) phía bảo hiểm được miễn mọi trách nhiệm trong trường hợp hàng hóa bị hư hỏng, mất mát khi tàu bị bắt giữ. Một số ý kiến khác lại cho rằng cần nhanh chóng khởi kiện hãng tàu để đòi bồi thường. Tuy vậy theo Bộ luật hàng hải VN (Điều 78, Khoản 2, Mục g) cũng như thông lệ quốc tế (Công ước Hague-Visby Rules, Quy tắc IV, Khoản 2, Mục g) người vận chuyển cũng được thoát trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa xảy ra trong trường hợp tàu bị bắt giữ.

Continue reading

PHÂN BỔ NGHĨA VỤ LIÊN QUAN ĐẾN VẬN CHUYỂN, BẢO HIỂM HÀNG HÓA VÀ CHUYỂN GIAO RỦI RO TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Thực tế, các nhà xuất khẩu khập đã quá quen thuộc với Incoterms 2000 và đặc biệt là với FOB, CIF và CFR. Ngoài ra đối với hàng hóa được vận chuyển theo phương thức vận tải đa phương thức công – ten – nơ thì các điều kiện thương mại FCA, CPT và CIP cũng thường được sử dụng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu phân tích về các điều kiện FOB, CIF và CFR và giới thiệu qua về FCA, CPT và CIP.

1. FOB (Free on board – Giao hàng lên tàu)

Điều kiện FOB (viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh “Free on Board” dịch sang tiếng Việt là “Giao hàng lên tàu”) có nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hóa đã qua lan can tàu tại cảng bốc hàng chỉ định. Vậy quy định như thế này có ý nghĩa gì trong việc phân bổ chi phí, rủi ro liên quan đến hàng hóa trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

1.1. Ranh giới phân định rủi ro – Lan can tàu

“Lan can tàu” là ranh giới được sử dụng lâu đời trong tập quán thương mại quốc tế để phân định rủi ro vì nó rõ rang, dễ hiểu và dễ chấp nhận. “Lan can tàu” là ranh giới phân định rủi ro được hiểu như sau:

-    Bên bán phải chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hóa cho tới thời điểm hàng hóa qua lan can tàu tại cảng bốc hàng chỉ định.

-    Bên mua chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hóa kể từ thời điểm hàng hóa qua lan can tàu tại cảng bốc hàng chỉ định.

Các trường hợp thông thường thì cứ chiếu theo qui tắc trên để phân chia rủi ro, tuy nhiên trong trường hợp sau đây thì rủi ro sẽ được phân chia như thế nào:

Continue reading

CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ NHÌN DƯỚI GÓC ĐỘ LỢI ÍCH VÀ RỦI RO ĐỐI VỚI NHÀ XUẤT KHẨU HOẶC NHÀ NHẬP KHẨU

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, thu chi tiền hàng là quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của hai bên mua (nhập khẩu) và bán (xuất khẩu). Vì vậy, khi đàm phán về phương thức thanh toán, các bên đều nỗ lực thỏa thuận điều kiện thanh toán có lợi cho mình. Không đề cập đến đồng tiền thanh toán, công cụ thanh toán, hay các thủ tục và quy trình thanh toán, mà bài viết này chỉ tập trung phân tích một số vấn đề liên quan đến lợi ích và rủi ro mà mỗi phương thức thanh toán mang lại cho nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu và các gợi ý cân bằng lợi ích giữa hai bên để tham khảo.

1. Phương thức chuyển tiền (remittance)

Trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, theo phương thức này, nhà nhập khẩuyêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do nhà nhập khẩu quy định.

Phương thức chuyển tiền có thể là bộ phận của phương thức thanh toán khác như phương thức nhờ thu, tín dụng dự phòng, tín dụng chứng từ… nhưng cũng có thể là một phương thức thanh toán độc lập.

Thực tế, nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu sẽ không chuyển tiền hàng cho nhà xuất khẩu cho đến khi nhận đầy đủ hàng. Đây là một lợi thế của nhà nhập khẩu nhưng lại là rủi ro của nhà xuất khẩu khi hàng hóa đã được chuyển giao nhưng tiền hàng không được thanh toán, bị chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ. Tuy vậy, bên nhập khẩu cũng có thể gánh chịu rủi ro, đặc biệt trong trường hợp chuyển tiền trước khi giao hàng như: nhận toàn bộ tiền hàng trước khi giao hàng, đặt cọc, tạm ứng… Trong trường hợp này nhà nhập khẩu có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro nếu tiền đã chuyển mà hàng không được giao đúng thời hạn, đúng chất lượng hoặc số lượng…

Continue reading

KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai chủ thể có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có rủi ro rất lớn. Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, doanh nghiệp cần xây dựng một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hợp pháp, đầy đủ và chi tiết.

Với khuôn khổ một bài viết, chúng tôi không thể đề cập được một cách cụ thể và toàn diện về các nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ trình bày những vấn đề quan trọng nhất trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà các doanh nghiệp cần lưu tâm trong quá trình soạn thảo.

1.   Xác định chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Khi giao kết, tham gia bất kỳ một hợp đồng nào, điều đầu tiên mà các bên phải kiểm tra đó chính là đối tác giao kết, tham gia và thực hiện hợp đồng.

1.1.    Bên bán và bên mua

Trong thực tế giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhiều khi xẩy ra hiện tượng:

a)    Công ty mẹ là bên bán/mua đích thực (bên có và thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng với tư cách là bên bán/bên mua) nhưng bên ký hợp đồng lại là công ty con.

b)    Bên bán/bên mua là pháp nhân nhưng bên đứng ra ký kết hợp đồng chỉ là đơn vị trực thuộc của pháp nhân như chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng kinh doanh,…

c)    Bên ký kết hợp đồng là một công ty nhưng bên thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng lại là một công ty liên kết của công ty ký kết hợp đồng.

Continue reading

BÀI HỌC TỪ MỘT HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU

LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC

Các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) Việt Nam cần mạnh dạn chuyển sang mua FOB bán CIF thay cho thực tế là đại bộ phận hợp đồng đều mua CIF bán FOB. Bởi lẽ, khi phía Việt Nam mua hàng theo điều kiện CIF hoặc CFR thì người bán nước ngoài sẽ tìm thuê những con tàu nhiều tuổi, lai lịch không rõ ràng với giá cước thấp. Câu chuyện dưới đây là minh chứng.

Bốc dỡ gạo xuất khẩu tại cảng

Cuối năm 2006 một Doanh nghiệp ở Hà Nội nhập lô hàng thức ăn chăn nuôi trị giá 1.400.000 USD, từ một Cty ở Singapore theo điều kiện CFR-Incoterms 2000, cảng TP HCM và Hải Phòng. Người bán đã mua hàng này của nhà sản xuất ở Ấn Độ. Hai bên đã nhanh chóng giao kết hợp đồng mua bán. Trong các điều khoản về vận tải, không có điều nào đề cập về tình trạng pháp lý của con tàu cũng như chủ tàu. Theo điều kiện CFR, người bán đã thuê tàu PLJ của chủ tàu BJS ở Hong Kong chở lô hàng về Việt Nam. Sau khi tàu PLJ rời cảng xếp hàng, người bán nhanh chóng chuyển vận đơn cùng bộ chứng từ cho người mua và nhận đủ tiền hàng theo phương thức thanh toán bằng L/C. Nhưng 4 ngày trước khi tàu PLJ cập cảng Việt Nam, khi đang đi qua eo biển Malaysia, tàu bị cảnh sát Malaysia bắt giữ vì có bằng chứng đây là con tàu của một chủ tàu Indonesia bị hải tặc cưỡng đoạt 4 năm trước.

Ngay lập tức người bán thông báo cho người mua biết vụ việc. Họ giải thích rằng họ đã nhận đủ tiền bán hàng và phía người mua cũng đã nhận đủ bộ chứng từ hợp lệ, điều này cũng đồng nghĩa là họ đã hoàn thành mọi nghĩa vụ giao hàng và về măt pháp lý họ không chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra vì theo điều kiện CFR rủi ro về hư hỏng mất mát hàng hóa đã chuyển tư người bán sang người mua kể từ khi hàng qua lan can tàu ở cảng xếp hàng. Phía người mua ngay lập tức phản đối lập luận của người bán và yêu cầu họ phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Tuy vậy khi đọc lại hợp đồng mua bán không thấy có quy định nào buộc người bán phải bồi thường trong trường hợp này. Cũng có ý kiến cho rằng cần làm việc với hãng bảo hiểm để đòi bồi thường (lô hàng được mua bảo hiểm của BMI và BVI ở Việt Nam). Tuy nhiên phía bảo hiểm khẳng định theo điều kin bảo hiểm ICC 1982 (Institute Cargo Clauses 1982, Mục 6.2, Điều khoản miễn trừ) phía bảo hiểm được miễn mọi trách nhiệm trong trường hợp hàng hóa bị hư hỏng, mất mát khi tàu bị bắt giữ. Một số ý kiến khác lại cho rằng cần nhanh chóng khởi kiện hãng tàu để đòi bồi thường. Tuy vậy theo Bộ luật hàng hải Việt Nam (Điều 78, Khoản 2, Mục g) cũng như thông lệ quốc tế (Công ước Hague-Visby Rules, Quy tắc IV, Khoản 2, Mục g) người vận chuyển cũng được thoát trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa xảy ra trong trường hợp tàu bị bắt giữ.

Continue reading

CHIẾN LƯỢC TỔNG THỂ VÀ CHÍNH SÁCH BẢO HỘ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TRONG NƯỚC PHÙ HỢP CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ, QUI ĐỊNH CỦA WTO GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020

(Trích dẫn nội dung Quyết định số 160/2008/QQD-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ)

I. QUAN ĐIỂM

1. Các biện pháp bảo hộ sản xuất phải hợp lý, có điều kiện và có lộ trình cắt giảm phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các cam kết khác của Việt Nam.

2. Các biện pháp bảo hộ của Nhà nước phải hướng tới thúc đẩy và tạo lập lợi thế cạnh tranh cho các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn nói riêng và cho ngành công nghiệp Việt Nam nói chung trên thị trường trong nước và quốc tế.

3. Các biện pháp bảo hộ phải được thực hiện thống nhất bình đẳng đối với mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

4. Gắn bảo hộ sản xuất trong nước với việc tiếp tục điều chỉnh chức năng quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

II. MỤC TIÊU

1. Tạo điều kiện trợ giúp các nhà sản xuất trong nước từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và từng bước mở rộng thị trường ngoài nước.

2. Tạo điều kiện huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào việc khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

3. Góp phần ổn định kinh tế – xã hội đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống người lao động, đáp ứng nhu cầu hàng hoá của nền kinh tế.

Continue reading

TÌM HIỂU CÁC QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÀI HÒA HÓA VỚI CÁC QUI ĐỊNH CỦA WTO

LÊ DUY

Từ khi tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành lập, Trung Quốc đã nỗ lực không ngừng để thiết lập hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại thông qua những thay đổi về cơ cấu tổ chức và luật pháp. Bằng những thay đổi này, Trung Quốc có thể làm chi tiết hơn các điều khoản chống bán phá giá của WTO bao gồm cả điều khoản định nghĩa về ngành sản xuất nội địa. Hơn nữa, nhìn chung các biện pháp mang tính thủ tục đã được tăng cường trong hệ thống các biện pháp chống bán phá giá của Trung Quốc.

Cho dù đã có những cải thiện tổng thể hệ thống biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc thì vấn thiếu khái niệm về một số thuật ngữ luật quan trọng bao gồm khái niệm “các nhà sản xuất có liên quan”, “tiêu chuẩn nhập khẩu không đáng kể” và các yếu tố điều chỉnh để có sự so sánh công bằng giữa giá thông thường và giá xuất khẩu và một số vấn đề về luật liên quan đến các cam kết về giá và hệ thống các biện pháp đối kháng vẫn đang tiếp tục được giải quyết. Trung Quốc sẽ tiếp tục nhiệm vụ làm minh bạch và cải thiện các quy định thương mại của mình.

Trong nỗ lực gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và do áp lực từ phía các đối tác thương mại, Trung Quốc đang từng bước cải cách và hiện đại hoá hệ thống các luật lệ thương mại của mình. Do Trung Quốc thúc đấy quá trình tự do hoá thị trường sau khi WTO được thành lập nên các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong thương mại đã được nới lỏng. Vì vậy Trung Quốc cần bảo hộ các ngành sản xuất nội địa không thể cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu nước ngoài và đưa ra các biện pháp để khắc phục thiệt hại mà các doanh nghiệp trong nước phải gánh chịu do thương mại bất bình đẳng. Do đó Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại trong các quy định thương mại vừa mới được ban hành của mình.

Continue reading

MỘT SỐ LÝ THUYẾT KINH TẾ và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

GS.TS. ĐỖ HOÀI NAM – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực chất, nguyên nhân và hệ quả của cuộc khủng hoảng. Các kết quả đạt được là rất đáng kể. Tuy nhiên, không phải tất cả đều đã đi tới nhất trí và đồng thuận, kể cả trên những nét lớn. Cho dù vậy, trên quan điểm mác-xít chúng ta cũng vẫn có cơ sở để khẳng định những lý luận của C.Mác về tư bản và chủ nghĩa tư bản, của Lê-nin về chủ nghĩa đế quốc vẫn giữ nguyên giá trị và là cơ sở để xác định nguyên nhân sâu xa, mang tính bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước tư bản phát triển nhất hiện nay. Ngoài ra, xin được nhấn mạnh thêm một số điểm sau đây:

Trước hết, về quy mô của cuộc khủng hoảng

Đây là cuộc khủng hoảng toàn cầu, với sức tàn phá và quy mô tác động mà chỉ có cuộc Đại Suy thoái 1929 – 1933 mới có thể so sánh. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lần này lại có những đặc trưng nổi bật trên nhiều phương diện – cơ chế lan truyền, sức lan tỏa, những đặc điểm cấu trúc, hệ quả và phương thức khắc phục.

Thực tế cho thấy, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này không đơn thuần là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu như nhiều cuộc khủng hoảng trước. Phải chăng sự khác biệt là ở chỗ cuộc khủng hoảng toàn cầu lần này là sản phẩm của chính quá trình toàn cầu hóa? Nếu đúng là như vậy thì điều đó có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng lần này có những đặc trưng rất mới. Tức là nó có những nét mới trong tính chất, trong cơ chế vận hành, trong nguyên nhân và hậu quả. Phải có những cách tiếp cận mới đến những vấn đề lý luận mới làm cơ sở cho việc thiết kế hệ giải pháp thoát khỏi khủng hoảng trong những điều kiện thế giới đã có những thay đổi sâu sắc dưới tác động của toàn cầu hóa. Nói khác đi, không thể chỉ dừng lại ở luận điểm cho rằng về thực chất, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này cơ bản cũng giống như những cuộc khủng hoảng trước đây, vẫn chỉ là do những mâu thuẫn có tính bản chất của chủ nghĩa tư bản nói chung, do mất cân đối tiền – hàng nghiêm trọng, do thị trường tự do “lộng hành” quá mức hay do nhà nước quá chủ quan, buông lỏng quản lý v.v.., để rồi chỉ cần dựa vào những lý thuyết đã có để có các giải pháp “giải cứu”, “kích cầu” như hiện nay nhiều nước đang áp dụng là đủ.

Continue reading

MỘT SỐ LÝ THUYẾT KINH TẾ VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU

GS.TS. ĐỖ HOÀI NAM – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực chất, nguyên nhân và hệ quả của cuộc khủng hoảng. Các kết quả đạt được là rất đáng kể. Tuy nhiên, không phải tất cả đều đã đi tới nhất trí và đồng thuận, kể cả trên những nét lớn. Cho dù vậy, trên quan điểm mác-xít chúng ta cũng vẫn có cơ sở để khẳng định những lý luận của C.Mác về tư bản và chủ nghĩa tư bản, của Lê-nin về chủ nghĩa đế quốc vẫn giữ nguyên giá trị và là cơ sở để xác định nguyên nhân sâu xa, mang tính bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước tư bản phát triển nhất hiện nay. Ngoài ra, xin được nhấn mạnh thêm một số điểm sau đây:

Trước hết, về quy mô của cuộc khủng hoảng

Đây là cuộc khủng hoảng toàn cầu, với sức tàn phá và quy mô tác động mà chỉ có cuộc Đại Suy thoái 1929 – 1933 mới có thể so sánh. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lần này lại có những đặc trưng nổi bật trên nhiều phương diện – cơ chế lan truyền, sức lan tỏa, những đặc điểm cấu trúc, hệ quả và phương thức khắc phục.

Thực tế cho thấy, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này không đơn thuần là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu như nhiều cuộc khủng hoảng trước. Phải chăng sự khác biệt là ở chỗ cuộc khủng hoảng toàn cầu lần này là sản phẩm của chính quá trình toàn cầu hóa? Nếu đúng là như vậy thì điều đó có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng lần này có những đặc trưng rất mới. Tức là nó có những nét mới trong tính chất, trong cơ chế vận hành, trong nguyên nhân và hậu quả. Phải có những cách tiếp cận mới đến những vấn đề lý luận mới làm cơ sở cho việc thiết kế hệ giải pháp thoát khỏi khủng hoảng trong những điều kiện thế giới đã có những thay đổi sâu sắc dưới tác động của toàn cầu hóa. Nói khác đi, không thể chỉ dừng lại ở luận điểm cho rằng về thực chất, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này cơ bản cũng giống như những cuộc khủng hoảng trước đây, vẫn chỉ là do những mâu thuẫn có tính bản chất của chủ nghĩa tư bản nói chung, do mất cân đối tiền – hàng nghiêm trọng, do thị trường tự do “lộng hành” quá mức hay do nhà nước quá chủ quan, buông lỏng quản lý v.v.., để rồi chỉ cần dựa vào những lý thuyết đã có để có các giải pháp “giải cứu”, “kích cầu” như hiện nay nhiều nước đang áp dụng là đủ.

Continue reading

HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ – NHỮNG NỘI DUNG DOANH NGHIỆP CẦN QUAN TÂM

MINH ĐỨC

Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc tế. Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao công nghệ… Sau đây là nội dung Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, một trong những loại Hợp đồng thương mại quốc tế thường gặp có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

1. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (còn được gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu) là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế (có yếu tố nước ngoài, có nhân tố nước ngoài). Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được hiểu không giống nhau tuỳ theo quan điểm của luật pháp từng nước.

– Theo Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế các động sản hữu hình:tính chất quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như: các bên giao kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hoá, đối tượng của hợp đồng, được chuyển qua biên giới một nước, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết hợp đồng giữa các bên được lập ở những nước khác nhau (Điều 1 của Công ước).

Nếu các bên giao kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ. Yếu tố quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH THỰC THI ĐIỀU VII CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI – GATT (1994)

Giới thiệu chung

1. Cơ sở chủ yếu để xác định trị giá thuế quan, theo Hiệp định này là “giá trị giao dịch” như định nghĩa tại Điều 1 được hiểu cùng với Điều 8, ngoài các nội dung khác, quy định về sự điều chỉnh giá thanh toán thực tế hoặc giá phải thanh toán, trong trường hợp người mua chịu một số chi phí cấu thành cụ thể nào đó, được coi là đã tạo thành một phần của giá trị mà hải quan dùng để tính thuế, nhưng hiện chưa tính vào giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng nhập khẩu. Điều 8 cũng quy định giá trị giao dịch bao gồm cả các chi phí mà người mua thanh toán cho người bán dưới dạng hàng hóa hay dịch vụ cụ thể nào đó chứ không phải dưới dạng tiền. Từ Điều 2 đến Điều 7 quy định các phương pháp xác định trị giá thuế quan khác một khi không thể xác định trị giá này theo các quy định của Điều 1.

2. Khi trị giá thuế quan không thể được xác định theo các quy định của Điều 1, thì thông thường cơ quan hải quan sẽ trao đổi với người nhập khẩu để đạt được cơ sở tính trị giá theo các quy định của Điều 2 hoặc Điều 3. Thí dụ, có thể xảy ra trường hợp nhà nhập khẩu có thông tin về trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự mà cơ quan hải quan tại cảng nhập không có ngay được. Ngược lại, cơ quan hải quan có thể có thông tin về trị giá thuế quan của những mặt hàng giống hệt hoặc tương tự mà nhà nhập khẩu chưa có. Quá trình tham vấn giúp hai bên trao đổi thông tin với tinh thần vẫn đáp ứng được yêu cầu bảo mật thương mại, nhằm định ra một cơ sở để xác định trị giá thuế quan thích hợp.

3. Điều 5 và Điều 6 quy định hai cơ sở để xác định trị giá thuế quan trong trường hợp không thể xác định được bằng cách dựa trên giá trị giao dịch của hàng nhập khẩu, hay của hàng nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự. Theo khoản 1 Điều 5, trị giá thuế quan được xác định trên cơ sở giá bán hàng hóa, trong điều kiện là hàng nhập khẩu, cho một người mua không có liên hệ tại nước nhập khẩu. Nhà nhập khẩu cũng có quyền yêu cầu hàng đã được tiếp tục chế biến sau khi nhập khẩu được định giá thuế quan theo Điều 5. Theo Điều 6, trị giá tính thuế được xác định trên cơ sở giá trị tính toán. Cả hai phương pháp trên đều có những khó khăn nhất định và do đó, theo qui định tại Điều 4, người nhập khẩu được phép trao quyền lựa chọn áp dụng phương pháp nào trước.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH CỦA WTO VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT VÀ MAY MẶC

Các Thành viên,

Nhắc lại thoả thuận của các Bộ Trưởng tại Punta del Este là "các cuộc đàm phán trong lĩnh vực hàng dệt, may nhằm tạo ra phương thức cho phép lĩnh vực này được điều chỉnh hoàn toàn theo GATT trên cơ sở các nguyên tắc và quy định của GATT đã được tăng cường, đồng thời qua đó góp phần vào mục tiêu tự do hóa thương mại hơn nữa";

Nhắc lại Quyết định của Uỷ ban Đàm phán Thương mại vào tháng Tư năm 1989 thống nhất tiến trình hội nhập sẽ bắt đầu sau khi Vòng Đàm phán Thương mại Đa biên Urugoay kết thúc và sẽ thực hiện từng bước;

Nhắc lại thoả thuận dành đối xử đặc biệt cho các Thành viên chậm phát triển;

Bằng Hiệp định này thoả thuận như sau:

Điều 1

1. Hiệp định này đặt ra các quy định được các Thành viên áp dụng trong thời gian quá độ của việc hội nhập lĩnh vực hàng dệt, may vào GATT 1994.

2. Các Thành viên nhất trí sử dụng các quy định tại khoản 18 Điều 2 và điểm 6(b) Điều 6 theo hướng cho phép tạo ra sự tăng trưởng đáng kể về khả năng tiếp cận thị trường cho các nhà cung cấp quy mô nhỏ và sự phát triển các cơ hội kinh doanh thương mại cho các đối tượng mới tham gia lĩnh vực thương mại hàng dệt và may mặc.[1]

3.Các Thành viên sẽ quan tâm thích đáng đến hoàn cảnh của các Thành viên chưa công nhận các Nghị định thư gia hạn Hiệp định về Thương mại Quốc tế Hàng dệt (trong Hiệp định này gọi tắt là "MFA") từ năm 1986, và trong phạm vi có thể, dành cho các Thành viên này đối xử đặc biệt trong khi áp dụng các quy định của Hiệp định này.

Continue reading

THỎA THUẬN WTO GHI NHẬN VỀ CÁC QUY TẮC VÀ THỦ TỤC ĐIỀU CHỈNH VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SU

Phụ lục 2

Các Thành viên nhất trí như sau:

Điều I

PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ÁP DỤNG

1. Các quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này phải được áp dụng cho những tranh chấp được đưa ra theo các quy định về tham vấn và giải quyết tranh chấp của những hiệp định được liệt kê trong Phụ lục 1 của Thỏa thuận này (trong Thoả thuận này được gọi là những “hiệp định có liên quan”). Những quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này cũng được áp dụng cho việc tham vấn và giải quyết tranh chấp giữa các Thành viên về quyền và nghĩa vụ của họ theo các quy định của Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (trong Thỏa thuận này được gọi là “Hiệp định WTO”) và của Thỏa thuận này được xem xét riêng hoặc cùng với bất cứ hiệp định có liên quan nào khác.

2. Các quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này phải được áp dụng với điều kiện phải tuân theo những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh chấp được ghi trong các hiệp định có liên quan được nêu trong Phụ lục 2 của Thỏa thuận này. Trong chừng mực có sự khác nhau giữa những quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này và những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung trong Phụ lục 2, thì những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung trong Phụ lục 2 phải được ưu tiên áp dụng. Đối với những tranh chấp liên quan đến những quy tắc và thủ tục của hai hay nhiều hiệp định có liên quan, nếu có mâu thuẫn giữa những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung trong những hiệp định có liên quan đang được xem xét đó, và khi các bên tranh chấp không thỏa thuận được với nhau về các quy tắc và thủ tục trong vòng 20 ngày kể từ khi thành lập ban hội thẩm, thì trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của 1 trong 2 bên, Chủ tịch của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp  quy định tại khoản 1 Điều 2 (trong Thỏa thuận này được gọi là “DSB”), sau khi tham vấn với các bên tranh chấp phải quyết định những quy tắc và thủ tục nào phải tuân theo. Chủ tịch phải quyết định theo hướng dẫn của nguyên tắc là những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung cần phải được sử dụng khi có thể, và những quy tắc và thủ tục được nêu trong Thỏa thuận này cần được sử dụng ở mức cần thiết để tránh xảy ra mâu thuẫn. Continue reading

HIỆP ĐỊNH VỀ QUY TẮC XUẤT XỨ

Các  Thành viên,

Ghi nhận rằng, ngày 20 tháng 9 năm 1986 các Bộ trưởng đã thoả thuận rằng mục tiêu của Vòng Đàm phán Thương mại Đa biên Uruguay là nhằm "tự do hóa và mở rộng hơn nữa thương mại thế giới", " tăng cường vai trò của GATT" và " nâng cao khả năng đáp ứng của hệ thống GATT đối với việc phát triển môi trường kinh tế quốc tế";

Mong muốn tiếp tục thực hiện các mục tiêu của GATT 1994;

Thừa nhận rằng những quy tắc xuất xứ rõ ràng và dự đoán được trước và việc áp dụng chúng sẽ thúc đẩy dòng chảy thương mại quốc tế;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ tự chúng không tạo ra trở ngại không cần thiết với thương mại;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ không vô hiệu hóa hay ảnh hưởng đến các quyền của các Thành viên được quy định trong GATT 1994;

Thừa nhận mong muốn các luật, qui định và thực tiễn áp dụng qui tắc xuất xứ được minh bạch;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ phải được chuẩn bị và áp dụng một cách vô tư, công khai, có thể dự đoán trước được, nhất quán và trung lập;

Công nhận tính sẵn có của cơ chế tham vấn và thủ tục để giải quyết nhanh chóng, hiệu quả và công bằng các tranh chấp phát sinh  trong phạm vi Hiệp định này;

Mong muốn làm hài hoà và làm rõ các qui tắc xuất xứ;

Bằng Hiệp định này, thoả thuận  như sau:

Phần I

Các định nghĩa và phạm vi áp dụng

Điều 1

Qui tắc xuất xứ

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH THƯ SỬA ĐỔI CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ ĐỂ THỐNG NHẤT MỘT SỐ QUY TẮC VỀ VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN

(Nghị định thư VISBY 1968)

Các bên ký kết.

Xét thấy cần phải sửa đổi bổ sung cho Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc luật pháp liên quan đến vận đơn, ký tại Brussels ngày 25-08-1924.

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1.

Trong Điều 3. Mục 4, thêm:

“Tuy nhiên, khi vận đơn đã được chuyển sang bên thứ ba hành động với thiện ý thì chứng minh ngược lại sẽ không được thừa nhận”.

2. Trong Điều 3, mục 6, Tiểu mục 4 xóa bỏ và được thay bằng:

“Trừ quy định tại mục 6 bis, người chuyên chở và tàu, trong bất cứ trường hợp nào cũng được giải thoát khỏi trách nhiệm đối với hàng hóa, trừ khi việc kiện cáo được đưa ra trong vòng một năm kể từ ngày giao hàng hoặc từ ngày đáng lẽ hàng được giao. Tuy nhiên, các bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn này sau khi nguyên nhân kiện cáo phát sinh”.

3. Trong Điều 3, sau mục 6, thêm mục 6 bis như sau: “Việc kiện tụng đòi một người thứ ba bồi thường có thể đưa ra ngay cả khi hết thời hạn một năm quy định trong mục trên nếu việc đó được đưa ra trong thời gian được luật của Tòa án thụ lý vụ việc cho phép. Tuy nhiên, thời gian cho phép không ít hơn 3 tháng kể từ ngày người đứng ra kiện tụng đòi bồi thường đã thanh toán khiếu nại hoặc đã nhận được đơn kiện mình”. Continue reading

QUI TẮC XUẤT XỨ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ: VẤN ĐỀ ĐANG NỔI LÊN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM

THS. NGUYỄN CHIẾN THẮNG – Viện Kinh tế Việt Nam

1. Mở đầu

Nếu như quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa đã có ý nghĩa quan trọng từ lâu trong các hiệp định thương mại quốc tế, thì quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ mới chỉ thu hút sự chú ý trong thời gian gần đây, khi vai trò của thương mại dịch vụ ngày càng gia tăng và thế giới đang chứng kiến sự ra đời đến chóng mặt các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và khu vực, đặc biệt là khu vực châu á – Thái Bình Dương, như một lối thoát đối với một số nước trong khu vực trước những bước tiến chậm chạp của quá trình tự do hóa thương mại trong khuôn khổ đàm phán đa phương WTO. Vấn đề các nước quan tâm là quy tắc xuất xứ cần phải được thiết kế như thế nào để đưa vào các hiệp định thương mại tự do, nhằm hạn chế việc các bên thứ ba hưởng những ưu đãi thương mại trong dịch vụ mà đáng ra chỉ được trao cho các bên ký kết hiệp định.

Đối với trường hợp Việt Nam, hiện nay chúng ta đang tham gia vào Hiệp định thương mại tự do khu vực ASEAN và cũng đang xúc tiến tìm kiếm các thỏa thuận thương mại tự do song phương với các đối tác quan trọng như Nhật Bản hay một số đối tác thương mại khác. Trước xu thế thương mại dịch vụ ngày càng gia tăng, việc áp dụng quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ trong Hiệp định Khung về thương mại dịch vụ ASEAN (ASEAN Framework Agreement on Services, gọi tắt là AFAS) hay các hiệp định thương mại tự do song phương khác mà Việt Nam đang tìm kiếm là một điều hoàn toàn có thể. Do vậy, việc tìm hiểu rõ nội dung của khái niệm này cùng với tác động của nó đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ là hết sức cần thiết.

Với mục đích trên, nghiên cứu này được chia làm 2 phần. Phần đầu trình bày khái niệm quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ, tầm quan trọng của quy tắc này trong thương mại quốc tế, và các tiêu chí áp dụng trong thực tế. Trong phần thứ hai, tác giả mô phỏng tác động của các tiêu chí trên (nếu được áp dụng trong Hiệp định AFAS) đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (ĐTNN) từ các nước ngoài khối ASEAN trong ngành vận tải biển của Việt Nam – là một ngành dịch vụ có mức độ hội nhập sâu với nền kinh tế trong khu vực cũng như thế giới.

Continue reading

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở EU

SAGA.VN – ĐỖ MINH TUẤN (Asia Law)

Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã phải va chạm với các vụ kiện chống bán phá giáở EU. Để giúp các doanh nghiệp có những hiểu biết ban đầu để có định hướng khi vướng phải vụ việc bán chống bán phá giá, chúng tôi xin chia sẻ một vài hiểu biết cơ bản về các cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thủ tục giải quyết vụ việc chống bán phá giá ở EU.

Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc chống bán phá giá của EU

Vụ việc chống bán phá giá được khởi xướng bằng đơn kiện của thể nhân, pháp nhân hoặc hiệp hội hành động nhân danh ngành sản xuất nội địa của EU và được giải quyết thông qua các thủ tục luật định bởi các cơ quan có thẩm quyền của EU.

1. Ủy ban Châu Âu (European Commission):

Ủy ban Châu Âu (UBCA) là cơ quan tiếp nhận đơn kiện và có các thẩm quyền chính sau:

-    Quyết định khởi xướng điều tra; chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức điều tra chống bán phá giá bao gồm cả điều tra về việc bán phá giá và điều tra thiệt hại; Tổ chức phiên họp điều trần để nguyên đơn và bị đơn đối thoại, tranh luận trực tiếp với nhau;
-    Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
-    Chấp nhận cam kết về giá;
-    Quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời nếu có sự vi phạm hoặc rút lại cam kết về giá khi việc điều tra chưa kết thúc; quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức khi có sự vi phạm hoặc rút lại cam kết về giá và việc điều tra đã kết thúc;
-    Quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ việc;
-    Đề xuất Hội đồng Châu Âu ra quyết định áp dụng biện pháp chính thức (áp đặt thuế chống bán phá giá);
-    Quyết định hoãn biện pháp chống bán phá giá vì lợi ích cộng đồng;
-    Quyết định bắt đầu và tiến hành “rà soát hoàng hôn” hoặc “rà soát lại”

Continue reading