CÁC CAM KẾT VỀ MINH BẠCH HÓA CỦA VIỆT NAM TRONG WTO

QHQ – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Minh bạch hoá là vấn đề đặc biệt quan trọng trong WTO và là vấn đề được quan tâm trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam. Minh bạch hoá cũng là một trong những cam kết mà Việt Nam cần phải thực hiện ngay sau khi Việt Nam chính thức trở thành Thành viên của WTO. Bộ Tư pháp được Chính phủ giao là cơ quan chủ trì đàm phán minh bạch hoá pháp luật trong quá trình gia nhập WTO cũng như thực hiện các cam kết này. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp những nội dung chính liên quan đến cam kết về minh bạch hóa của Việt Nam trong WTO.

Các cam kết của Việt Nam về minh bạch hóa trong WTO bao gồm các cam kết về minh bạch được áp dụng chung cho các thành viên WTO được nêu trong các Hiệp định của WTO. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có nghĩa vụ thực hiện các cam kết cụ thể khác được nêu trong Báo cáo của Ban Công tác về gia nhập WTO của Việt Nam (Báo cáo gia nhập). Các cam kết về minh bạch hoá không được quy định riêng trong Hiệp định nào của WTO mà được quy định tại các hiệp định thương mại đa phương và nhiều bên như Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (GATT) Điều X, Hiệp định về các biện pháp kỹ thuật Điều 2.9, Hiệp định về quy tắc xuất xứ hàng hoá Điều 2.g và Điều 3.e, Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng Điều 25, Hiệp định về các biện pháp tự vệ Điều 12, Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và vệ sinh dịch tễ Điều 7, Hiệp định TRIPS Điều 63, Hiệp định nông nghiệp Điều 18.2-3, Hiệp định TRIMS Điều 6.1 và Hiệp định thương mại dịch vụ GATS Điều III….

Về cơ bản, các cam kết minh bạch hóa của Việt Nam trong WTO có thể chia thành những nhóm nội dung cơ bản như sau:

1. Nghĩa vụ đăng tất cả các biệp pháp thương mại

Việt Nam có nghĩa vụ đảm bảo rằng tất cả các luật, quy định, nghị định, quyết định của toà án và các quyết định hành chính có tính áp dụng chung phải được đăng trước khi có hiệu lực hoặc trước khi được thi hành, ngoại trừ những quy định, quyết định của toà án và các quyết định hành chính có tính áp dụng chung và các biện pháp khác có liên quan đến tình trạng khẩn cấp hoặc an ninh quốc gia, hoặc các văn bản mà việc đăng sẽ gây trở ngại cho quá trình thực thi pháp luật.

Việc đăng phải được thực hiện trên các trang điện tử hoặc các tạp chí. Nghĩa vụ này cũng được áp dụng đối với các biện pháp của chính quyền địa phương.

Ngoài các cam kết trên, trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, Việt Nam cam kết đăng một danh sách tất cả các tổ chức chịu trách nhiệm uỷ quyền, cho phép hoặc quản lý các hoạt động dịch vụ trong mỗi ngành dịch vụ và Việt Nam có nghĩa vụ đăng trên Công báo tất cả những thủ tục và điều kiện cấp phép hiện hành của mình.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA WTO ĐẾN QUI TẮC THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT TẠI TRUNG QUỐC

MARTIN G.HU (Nam Chi chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Anh)

Nay đến lượt Việt Nam được gia nhập WTO. So sánh với Trung Hoa, Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về chính trị, kinh tế, và xã hội. WTO ảnh hưởng đến Trung Hoa như thế nào, thì cũng rất có thể ảnh hưởng đến Việt Nam như vậy. Tiểu luận dưới đây của Martin Hu, một luật gia Trung Hoa có tên tuổi tại Hoa Kỳ và Trung quốc, nhận định về ảnh hưởng của WTO tới cải cách luật pháp tại Trung Hoa.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) sẽ chính thức đưa Trung quốc gia nhập hoàn toàn vào hệ thống mậu dịch thế giới. Không giống bất cứ thỏa ước nào khác, đặc điểm duy nhất của WTO là nó có một hệ thống giải quyết tranh chấp vững vàng, có tên gọi là Ban Giải Quyết Tranh Chấp (the Dispute Settlement Body (DSB), được WTO giao quyền phân xử những tranh chấp giữa các nước hội viên và quan trọng hơn nữa là thi hành những phán quyết đã đưa ra. Cứ xem từ trước tới nay nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chưa hề chấp nhận quyền tài phán của một cơ quan quốc tế nào, nói chi tới việc thi hành những phán quyết bất lợi cho họ, nay họ chịu chấp nhận Cơ Quan Giải Quyết Tranh Chấp (DSB) thực quả là một cam kết lớn lao. Hiểu như thế, WTO đã có một tác động chưa từng có tới quy tắc Thượng Tôn Luật Pháp.

Nguyên tắc pháp lý căn bản của WTO

Mặc dù rất nhiều nguyên tắc có thể trích dẫn từ thỏa ước của WTO, những điều sau đây là nổi bật nhất:

  1. Giảm mức thuế quan, một điều khoản hiển nhiên khỏi giải thích.
  2. Thương mại công bình, cấm xuất khầu phá giá hoặc được nhà nước trợ cấp (Các điều khoản 6 và 16 của Hiệp Định Chung Về Thuế Quan và Thương Mại (GATT)
  3. Tính trong sáng, đòi hỏi các nước hội viên phải ban hành và bảo vệ một cách minh bạch các luật lệ, qui ước, quyết định tư pháp và hành chính liên quan tới thương mại.
  4. Chống đối xử phân biệt, bao hàm nguyên tắc đối xử đồng đều, cấm việc xem các sản phẩm ngoại nhập tệ hơn các sản phẩm nội hóa của người trong nước (nationals) về phương diện thuế má, lệ phí, cũng như các luật lệ và điều kiện khác (điều khoản thứ 13 của GATT). Đó chính là viên đá nền tảng của WTO vốn gây nhiều tranh cãi giữa các nước hội viên của WTO.

Tác động của WTO

Tất cả những nguyên tắc pháp lý trên đây của WTO sẽ góp phần hình thành và phát triển tinh thần Thượng Tôn Luật Pháp ở Trung quốc. Một hậu quả trực tiếp của việc giảm thuế quan là tăng cường giao dịch thương mại giữa Trung quốc và thế giới. Tất cả các thành viên trong dây chuyền giao dịch sẽ đòi hỏi để tác quyền và quyền lợi về kinh tế của họ được bảo vệ tốt hơn trong hệ thống pháp lý của Trung quốc. Việc giám mức thuế quan cũng đòi hỏi tăng cường cạnh tranh và cải tiến các xí nghiệp quốc doanh, và tôi hy vọng điều này sẽ làm giảm bớt tham nhũng và bảo vệ công bình hơn tất cả các thành viên trong thị trường, dù là tư doanh hay quốc doanh, do người nước ngoài hay người trong nước làm chủ.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA CAM KẾT VỚI WTO, LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 71/2006/QH11

TS. PHAN HUY HỒNG – PGS.TS. NGUYỄN THÁI PHÚC

Sự vênh nhau giữa quy định của Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam với các cam kết của Việt Nam nêu tại Đoạn 502, 503 Báo cáo của Ban Công tác đã gây ra sự lúng túng trên diện rộng trong áp dụng pháp luật và hoạt động giảng dạy luật. Chúng tôi phân tích các quan điểm liên quan và nêu quan điểm riêng, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu cẩn trọng trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như việc quán triệt các nguyên tắc cơ bản về áp dụng pháp luật.

1. Sự việc

Trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), có thành viên Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Ban Công tác) đã bày tỏ lo ngại sâu sắc về việc một số điều khoản của Luật Doanh nghiệp năm 2005 sẽ ảnh hưởng như thế nào tới khả năng của một cổ đông đa số (tức là sở hữu ít nhất 51% nhưng không quá 65% hoặc 75%) trong việc kiểm soát đầu tư và đưa ra những quyết định cơ bản về hoạt động của doanh nghiệp. Các điều khoản về công ty trách nhiệm hữu hạn trên một thành viên và các điều khoản về công ty cổ phần đã quy định các quyết định cơ bản trong một doanh nghiệp sẽ được đưa ra như thế nào bằng việc quy định những vấn đề cơ bản này sẽ phải được Hội đồng Thành viên hay Đại hội Cổ đông thông qua và quy định rõ tỷ lệ phiếu tối thiểu cần có để Hội đồng Thành viên hoặc Đại hội Cổ đông có thể đưa ra một quyết định như vậy. Theo những điều khoản này, việc đưa ra các quyết định cơ bản về doanh nghiệp đòi hỏi phải đạt tỷ lệ đa số ít nhất là 65% của Hội đồng Thành viên trong trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn trên một thành viên, và 75% của Đại hội Cổ đông trong trường hợp công ty cổ phần.[1]

Đại diện của Việt Nam thừa nhận tính hợp lý của những quan ngại đó, và đã nhân nhượng bằng các cam kết được ghi nhận tại đoạn 502 và 503 Báo cáo của Ban Công tác. Theo đó, kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ bảo đảm rằng, dù đã có những yêu cầu tại Luật Doanh nghiệp năm 2005, các nhà đầu tư thiết lập hiện diện thương mại dưới hình thức liên doanh theo các cam kết trong Biểu Cam kết dịch vụ của Việt Nam sẽ có quyền xác định, trong Điều lệ doanh nghiệp, tất cả những loại quyết định cần phải đệ trình xin phê duyệt của Hội đồng Thành viên hay Đại hội Cổ đông; các quy định về số đại biểu cần thiết, nếu có, trong quy trình bỏ phiếu; và tỷ lệ đa số phiếu chính xác cần có để đưa ra tất cả các quyết định, bao gồm cả tỷ lệ đa số đơn giản là 51%. Đại diện của Việt Nam xác nhận thêm rằng, Việt Nam sẽ đảm bảo những quy định trong Điều lệ doanh nghiệp như vậy sẽ có hiệu lực pháp lý. Bên cạnh đó, trước khi gia nhập, Việt Nam sẽ bảo đảm các nghĩa vụ trong đoạn này có hiệu lực thông qua các biện pháp pháp lý phù hợp. Về vấn đề này, đại diện của Việt Nam lưu ý rằng Điều 3.3 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định rằng các điều ước sẽ được ưu tiên áp dụng trong trường hợp có sự khác biệt giữa các điều khoản của Luật này với các cam kết trong điều ước, và xác nhận rằng, theo Điều 6.3 của Luật Điều ước, khi phê chuẩn Nghị định thư gia nhập, Việt Nam sẽ xác định sự tồn tại của những khác biệt đó và quyết định chúng sẽ được giải quyết thông qua việc áp dụng trực tiếp điều ước hay thông qua việc sửa luật[2].

Continue reading

MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ SAU 2 NĂM HỘI NHẬP WTO

LG. CAO BÁ KHOÁT – Công ty TNHH tư vấn doanh nghiệp K và cộng sự

Sau hai năm kể từ ngày Việt Nam chính thức gia nhập WTO (ngày 11 tháng 01 năm 2007), môi trường pháp lý của Việt Nam đã có những thay đổi trên nhiều lĩnh vực. Nhìn một cách tổng thể thì môi trường pháp lý Việt Nam ngày càng mở rộng về lĩnh vực xã hội được điều chỉnh. Song, theo yêu cầu thượng tôn pháp luật của WTO, môi trường pháp lý của Việt Nam còn có nhiều vấn đề phải bàn, trong đó, nổi cộm hơn cả là chúng ta vẫn chưa đủ các chế tài pháp lý và chất lượng xây dựng các văn bản luật còn quá thấp.

Thực trạng không bình thường

Nguyên trưởng đoàn đàm phán Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ Nguyễn Đình Lương nói trên tuanvietnam.net rằng: "Còn lâu VN mới có được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thông thoáng, đúng luật chơi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, tự do hóa thương mại".

(Nguồn: http://tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/5824/index.aspx) 

Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2009 khu vực Đông Á – Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới (WB) xếp hạng Việt Nam đứng thứ 92 về mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh, giảm một bậc so với xếp hạng năm 2008. Nguyên nhân của việc tụt giảm này không thể loại trừ việc thiếu một môi trường pháp lý minh bạch.

Trước hết, chúng ta chưa có cơ chế để doanh nghiệp và người dân bảo vệ quyền của mình do quyết định sai lầm từ cơ quan hành chính nhà nước. Ví dụ, trong vụ sữa nhiễm melamine, Hanoimilk bị oan và đã được Bộ Y tế chính thức giải oan nhưng thiệt hại của họ thì không ai bồi thường, nông dân đổ sữa đi cũng không biết kêu ai. Giả sử doanh nghiệp có khởi kiện yêu cầu Bộ Y tế bồi thường thiệt hại và thắng kiện đi chăng nữa thì cũng khó có thể nhận được tiền bồi thường vì Luật bồi thường nhà nước chưa được ban hành. Đó mới chỉ là một vụ điển hình, trong thực tế còn hàng nghìn trường hợp, công chức, quan chức cứ vô tư quyết định sai và thiệt hại thì doanh nghiệp và nhân dân gánh chịu!

Continue reading

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÂN HÀNG VÀ CHỨNG KHOÁN

TS. LÊ VŨ NAM – Chủ nhiệm Ngành Luật Tài chính-Ngân hàng-Chứng khoán Khoa Kinh tế, ĐHQG TP. HCM

Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ đâu?

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn biến hết sức phức tạp với sức công phá nặng nề, là nổi ám ảnh đối với nền kinh tế của nhiều nước. Việc ngăn chặn sự tàn phá khủng khiếp của cơn bão Tsunami tài chính này không còn nằm trong phạm vi khả năng của một quốc gia mà trở thành trách nhiệm và sự nỗ lực chung của tất cả các nước, trước hết là các nước có nền kinh tế lớn. Tuy nhiên, đối với mỗi quốc gia, tùy theo đặc thù của nền kinh tế như mức độ hội nhập và trình độ phát triển mà có thể có những giải pháp riêng. Trong đó, các giải pháp liên quan đến hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán (TTCK) – vốn là tâm điểm của cuộc khủng hoảng là rất quan trọng. Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu, khảo sát toàn diện những nguyên nhân, diễn biến và mức độ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính đến hệ thống ngân hàng và TTCK Việt Nam sẽ giúp hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa ra các giải pháp phát huy tối đa tác dụng.

Các yếu tố kinh tế

Nguyên nhân xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là đề tài đang được tranh cãi và mổ xẻ. Một trong những tác nhân chính gây nên tình trạng khủng hoảng hiện nay là các ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tài chính Mỹ thông qua hoạt động cho vay dưới tiêu chuẩn và nghiệp vụ chứng khoán hoá mà nhiều chuyên gia gọi là “Cỗ máy đầu tư cấu trúc” (Structured Investment Vehicle – SIV)[1]. Đây có thể được xem là mô hình chứng khoán hoá bất động sản kiểu Mỹ được hình thành từ những năm 1980. Phương thức kinh doanh của các SIV là huy động vốn ngắn hạn thông qua việc phát hành thương phiếu (commercial paper) với lãi suất thấp để đầu tư vào các loại chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản (asset-backed securities), đa số trường hợp là bất động sản với lãi suất cao. Mô hình và diễn biến của hoạt động chứng khoán hoá bất động sản có thể khái quát như sau:

Continue reading

VỀ NHỮNG TẮC ĐỘNG SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI MỘT SỐ NGÀNH HÀNG Ở VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – TT Bộ Công thương

Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được 2 năm. So với quãng đường 11 năm, kể từ ngày Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO đến khi là thành viên chính thức, thì thời gian trên là quá ngắn ngủi. Tuy nhiên, việc đánh giá tác động của 2 năm đầu tiên gia nhập lại có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng để chúng ta nhìn nhận một cách thực chất hơn về những vấn đề mang tính dự đoán trước đây, từ đó có những giải pháp chiến lược và đối sách phù hợp hơn.

Cách đây 2 năm, chúng ta đã từng chứng kiến một sự kiện quan trọng – đó là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Để có được thành công này, trước hết, phải khẳng định chủ trương đúng đắn và các biện pháp thích hợp của Đảng và Chính phủ trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Một mặt, chúng ta tích cực và chủ động đổi mới từ trong nước; mặt khác, chúng ta kiên trì và khôn khéo trong đàm phán, chủ động đưa ra các bản chào cam kết sao cho có thể mang lại nhiều cơ hội và hạn chế tối đa các thách thức do gia nhập WTO đem lại. Đồng thời, đó cũng là công lao đóng góp rất lớn của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đám phán của ta trong việc tham mưu cho Đảng và Chính phủ để nhận diện rõ hơn, đầy đủ hơn và toàn diện hơn về những mặt thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức, cũng như những điểm mạnh, điểm yếu của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam khi phải thực hiện các cam kết gia nhập WTO.

Đến nay, sau 2 năm là thành viên chính thức của tổ chức này, chúng ta có thể bước đầu đánh giá một cách tổng quát những tác động của việc gia nhập đối với một số ngành hàng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ của Việt Nam như sau:

1 – Về các tác động tích cực và kết quả mang lại

Có thể khẳng định, sau 2 năm gia nhập WTO năng lực sản xuất và kinh doanh của các ngành hàng đã tăng lên rõ rệt. Mặc dù trong thời gian qua, các biến động phức tạp của nền kinh tế toàn cầu, như sự thay đổi "chóng mặt" của giá năng lượng, lương thực và nhiều loại nguyên liệu khác, cùng với sự khủng khoảng của hệ thống tài chính toàn cầu đã và đang có ảnh hưởng lan tỏa đến hầu hết các nền kinh tế và thương mại thế giới. Các tác động này cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế và thương mại của Việt Nam vốn có quy mô nhỏ bé, đang phát triển ở trình độ thấp, nhưng độ mở cao và đang phải mở cửa thị trường để thực hiện cam kết gia nhập WTO. Tuy nhiên, hầu hết các ngành hàng của nước ta đều giữ được tốc độ tăng trưởng cao so với nhiều nước trong khu vực. Theo số liệu ước tính, năm 2008, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 31% so với năm 2007 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá, mức tăng còn 7%); kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỉ USD, tăng 29,5% so với năm 2007; kim ngạch nhập khẩu đạt 79,9 tỉ USD, tăng 27,5% so với năm 2007. Nhìn chung, xuất khẩu các mặt hàng chủ lực thuộc các ngành hàng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đều tăng rõ rệt. Chẳng hạn, hàng điện tử và linh kiện máy tính đạt 2,7 tỉ USD, tăng 25,5% so với năm 2007; hàng dệt may đạt 9,1 tỉ USD, tăng 17,5%; sản phẩm gỗ đạt 2,78 tỉ USD, tăng 15,6%; cà phê đạt 2,02 tỉ USD, tăng 5,8%; cao su đạt 1,6 tỉ USD, tăng 14,6%.

Continue reading

LỰA CHỌN PHÁT TRIỂN SAU KHI GIA NHẬP WTO VÀ TRONG ĐIỀU KIỆN QUỐC TẾ MỚI

TS. TRƯƠNG CÔNG HÙNG – Giám đốc Dự án Quốc gia Hỗ trợ Thể chế cho Việt Nam, Văn phòng Quốc hội

NGUYỄN THỊ VY – Phó Trưởng Ban Chuyên đề cơ sở Tạp chí Cộng sản

Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được gần hai năm cũng là lúc cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ toàn cầu diễn ra buộc các nhà nghiên cứu phải xem xét đến các vấn đề về thể chế. Nhiều nhà nghiên cứu chiến lược đặt vấn đề về sự cần thiết phải đổi mới nhận thức và điều kiện phát triển trong tình hình mới.

Khi đánh giá về cuộc khủng hoảng hiện nay ở Mỹ và các nước phương Tây, U-ma Hây-kiu (Umair Haque), nhà nghiên cứu chiến lược của Mỹ, đã đề cập tới những thay đổi mang tính thể chế. Ông viết: “Mặc dù đó là một khoảng thời gian kinh hoàng, chán nản và đầy thất vọng – người ta vẫn có thể tìm thấy một tia hy vọng trong cơn khủng hoảng, đó là: nó phụ thuộc vào việc chúng ta tái hình dung, thay đổi quan niệm, và tái sáng tạo chúng…”(1).

Nguyên nhân của khủng hoảng bắt nguồn từ những đầu cơ bong bóng vào thị trường nhà, đất ở Mỹ, nhưng gốc rễ của nó chính là sự bất ổn của các thể chế tài chính – tiền tệ của tư bản chủ nghĩa. Các chương trình tái đầu tư, điều chỉnh tái cơ cấu đã được Mỹ và các nước châu Âu đề ra với những nguồn tiền khổng lồ từ ngân sách nhằm ổn định lại thị trường tài chính thế giới, như Quốc hội Mỹ thông qua giải pháp 700 tỉ USD, Cộng hòa Liên bang Đức chi 600 tỉ ơ-rô. Nhiều nước cũng đang kêu gọi sự giúp đỡ khẩn cấp của các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

1. Những thuận lợi và thách thức đối với các nước đang phát triển sau khi gia nhập WTO và trong bối cảnh thế giới năm 2008

Mặc dù quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế thế giới đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, tự do hoá thương mại, tự do hoá tài chính dường như đang tạo ra những cơ hội đầu tư, sản xuất và xuất khẩu to lớn, song các nước đang phát triển không dễ gì đạt được sự phát triển theo cơ cấu kinh tế mà họ mong muốn.

Continue reading

NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – THƯƠNG MẠI CỦA ĐẤT NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA

1. Những tác động về mặt lý thuyết của việc gia nhập WTO đến phát triển kinh tế – thương mại của Việt Nam

Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam là kết quả rõ ràng nhất sau hơn 11 năm đàm phán, đồng thời là tâm điểm chú ý của các đối tác đàm phán bạn bè quốc tế, các tầng lớp dân cư, các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, đại diện các bộ, ngành và cộng đồng các doanh nghiệp. Trước khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã đưa ra nhiều cam kết về kinh tế thương mại để mở cửa thị trường, thúc đẩy cải cách kinh tế trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trong các Hiệp định thương mại và đầu tư song phương (đáng chú ý nhất là hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ) và gần đây trong khuôn khổ ASEAN mở rộng. Bên cạnh đó, Việt Nam còn tham gia nhiều chương trình hợp tác trong Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Diễn đàn Hợp tác Á-ÂU (ASEM). Có thể khẳng định rằng các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam là những cam kết triệt để nhất, toàn diện nhất, đồng thời là điều kiện tiên quyết để nước ta tham gia vào tổ chức kinh tế, thương mại lớn nhất hành tinh, vì vậy, nó có những tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế – thương mại của đất nước. Do đó để đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đến tình hình phát triển kinh tế – thương mại của Việt Nam, trước tiên phải xem xét và phân tích các cam kết gia nhập của Việt Nam. Về kết cấu, các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam có 3 phần chính: Cam kết đa phương; Cam kết về thương mại hàng hoá; Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ. Các cam kết này có thể tóm lược như sau:

a. Cam kết đa phương là các cam kết chung về mặt nguyên tắc, về thể chế chính sách trong việc tham gia WTO. Theo đó, Việt Nam phải cam kết tuân thủ các định chế pháp lý của WTO, mà cụ thể là các Hiệp định đa phương của tổ chức này. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải cam kết về một số lĩnh vực đặc thù riêng. Theo đó, Việt Nam phải sửa đổi hệ thống luật pháp, chính sách sao cho phù hợp với các định chế pháp lý của WTO. Các cam kết đa phương chính của Việt Nam bao gồm các cam kết cụ thể sau đây:

– Cam kết về Chính sách tài chính – tiền tệ, ngoại hối và thanh toán;

– Cam kết đảm bảo các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiếm soát, hoặc được hưởng đặc quyền hay độc quyền, hoàn toàn hoạt động theo tiêu chí thương mại, Nhà nước không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp này…;

– Cam kết thực thi việc quản lý giá phù hợp với các quy định của WTO và bảo đảm tính minh bạch trong kiểm soát giá thông qua việc đăng tải danh mục các mặt hàng chịu sự quản lý giá và các văn bản pháp luật liên quan trên Công báo;

– Cam kết áp dụng trực tiếp hoặc nội luật hoá các cam kết và ưu tiên áp dụng các điều khoản trong cam kết quốc tế…;

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN TÁC ĐỘNG KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ QUỐC LÝ – Vụ trưởng Vụ tài chính – tiền tệ, Bộ kế hoạch và đầu tư

Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ đã diễn ra ngày một sâu rộng trong các tháng qua và đã lan rộng ra khắp thế giới, đã có nhiều tác động không thuận đến các nền kinh tế, trong đó có nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, mức độ phạm vi ảnh hưởng chưa thể đánh giá và dự báo chính xác do tình hình khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đang tiếp tục diễn biến khó lường. Do vậy, trong bài báo này, bước đầu chúng tôi xin phân tích, đánh giá và đề xuất một số giải pháp ngăn chặn tác động khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới đến nền kinh tế nước ta trong thời gian tới.

I.  ĐIỂM LƯỢC TÌNH HÌNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ MỸ VÀ THẾ GIỚI TRONG THỜI GIAN QUA

Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đã có mầm mống khởi nguồn từ trước ngày 6/8/2007 khi Công ty Thế chấp nhà Mỹ (American Home Morgage) làm đơn xin phá sản. Tiếp theo sự khởi nguồn này là nhiều ngân hàng và công ty lâm vào khó khăn và bộc lộ rõ nét là sự sụp đổ và khó khăn của các ngân hàng và công ty tài chính lớn và nổi tiếng ở Mỹ (Wachovia, Washington Mutual Inc, Bear Sterns, Fannie Mae, Fredie Mac, Lehman Brothers, Merrill Lynch, Tâp đoàn bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIG), Goldman Sachs, Morgan Stanley…).

Bên cạnh sự sụp đổ của các tên tuổi lớn, hàng loạt các tổ chức tài chính khác cũng đã đổ theo với các khoản nợ có liên quan tới các vụ sụp đổ nói trên và sự giảm mạnh về giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Ngày 3/10, với 263 phiếu thuận và 171 phiếu chống Hạ viện Mỹ đã thông qua kế hoạch 700 tỷ USD nhằm giải cứu ngành tài chính nước này thoát khỏi khủng hoảng.

Mặc dù đã có rất nhiều biện pháp của Chính phủ Mỹ đã đưa ra nhưng đến đầu tháng 11 này, các cơ quan của Mỹ đã phải đóng của thêm một ngân hàng nữa là Freedom Bank đưa tổng số ngân hàng bị giải thể là 17 ngân hàng. Đến thời điểm hiện nay thì nhiều người dân Mỹ thi nhau xin phá sản, cụ thể là tháng 10/2008, cá nhân nộp đơn xin phá sản tăng 8% so với tháng trước (108.905 lượt người), tức là mỗi ngày có 4.936 đơn xin phá sản, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2007. Tại một số bang của Mỹ, tình hình người dân lâm vào phá sản rất cao, như tại bang Nevada, số đơn xin phá sản trong tháng 10/2008 tăng 70% so với cùng kỳ năm trước, bang California và Florida là 80% và 62%. Tóm lại nền kinh tế Mỹ hiện nay là khá trầm trọng và đã lây lan khủng hoảng này sang hầu khắp các nước trên thế giới.

Các thị trường chứng khoán trên thế giới đồng loạt sụt giảm mạnh trước diễn biến thị trường tài chính Mỹ. Đặc biệt, ngày 17/9, bất chấp nỗ lực giải cứu AIG, thị trường chứng khoán Mỹ đã có mức sụt giảm kỷ lục do đợt bán tháo cổ phiếu được coi là tồi tệ nhất kể từ sau sự kiện 11/9/2001. Continue reading

FDI TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM GIA NHẬP WTO?

TS. NGUYỄN VĂN HOA – Bộ Công thương

I- Đặt vấn đề:
Nếu Việt Nam gia nhập WTO thì toàn bộ nền kinh tế sẽ có những thay đổi cực kỳ sâu sắc. Khi ấy đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) sẽ có vai trò cực kỳ to lớn tác động mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh tế xã hội Việt Nam. Hiện nay còn có nhiều cách nghĩ và hiểu khác nhau về vấn đề này .

II- Vai trò FDI ở Việt Nam ?
FDI được biết ở Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay. Nó được hiểu theo nhiều góc nhìn khác nhau.

Theo Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) thì FDI : “Đầu tư trực tiếp nhằm đạt được quyền lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế nhà đầu tư. Định nghĩa này chỉ “ nghiêng” về quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài, không quan tâm đến lợi ích của nước chủ nhà tiếp nhận đầu tư.

Còn theo cách hiểu theo Luật đầu tư của Việt Nam thì FDI – Đầu tư nước ngoài(ĐTNN) là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp nhận”.

FDI ở Việt Nam phải đáp ứng các mục đích sau đây:

-Thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu;
-Sử dụng kỹ thuật cao, công nhân lành nghề, đầu tư theo chiều sâu để khai thác, tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tế hiện có;
-Sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu, và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Việt Nam;
-Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng;

Continue reading

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA CỦA WTO

1. Thuế quan:

WTO thừa nhận thuế quan (Thuế nhập khẩu) là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước và các hàng rào bảo hộ phi thuế phải được bãi bỏ. Điều này được đặt ra là do thuế quan là biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất và cũng là biện pháp mang tính minh bạch hơn cả.

Thuế quan chia làm nhiều loại khác nhau:

– Thuế phần trăm là một số phần trăm nhất định trên giá trị hàng hóa nhập khẩu (như 10%)

– Thuế cụ thể quy định một khoản tiền cố định phải nộp trên một đơn vị hàng hoá (Ví dụ : 1.000 đồng/kg).

–  Ngoài ra, còn có thuế thay thế có thể áp dụng hoặc thuế phần trăm hoặc thuế cụ thể tuỳ theo loại thuế nào cao hơn (Ví dụ: 10% hoặc 1000 đồng/kg, tuỳ loại nào cao hơn). Trong khi đó, thuế kết hợp buộc người nhập khẩu phải trả cả hai loại thuế phần trăm và cụ thể (Ví dụ: 5% và 1000 đồng/kg).

Tuy nhiên, thuế phần trăm là loại thuế mang tính rõ ràng hơn cả nên được WTO khuyến khích dùng hơn các loại thuế khác. Trong các trường hợp áp dụng các loại thuế khác, cần phải đưa ra mức thuế phần trăm tương đương  nhằm xác định được mức bảo hộ tương ứng.

Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các thành viên WTO.

Continue reading

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

THS. VƯƠNG TỊNH MẠCH

Lời tựa: Tiếp theo bài “Giới thiệu về cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO”, chúng tôi xin giới thiệu chi tiết về thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO.

Các thuật ngữ viết tắt trong bài:

– WTO: World Trade Organizaton – Tổ chức Thương mại Thế giới

– DSB: Dispute Settle Body – Cơ quan giải quyết tranh chấp

– DSU: Dispute Settlement Understanding – Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.

– Tên chính thức của DSU là Understanding on rules and procedures governing the settlement of disputes annex 2 of the WTO Agreement – Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp, phụ lục 2 của Hiệp định thành lập WTO.

Khi một khiếu kiện đã được đệ trình lên WTO, có hai cách để giải quyết tranh chấp: (i) các bên tìm ra một giải pháp hòa giải thống nhất với nhau, đặc biệt trong quá trình tham vấn song phương và (ii) thông qua phán xử bao gồm cả quá trình thực thi các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đã được DSB thông qua. Quá trình giải quyết tranh chấp của WTO có thể chia làm 3 giai đoạn như sau: tham vấn, xét xử và thực thi pháp quyết. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ trình bày các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp của WTO.

Continue reading

CƠ QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHÁP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

THS. VƯƠNG TỊNH MẠCH

Các thuật ngữ viết tắt trong bài:

– WTO: World Trade Organizaton – Tổ chức Thương mại Thế giới

– DSB: Dispute Settle Body – Cơ quan giải quyết tranh chấp

– DSU: Dispute Settlement Understanding – Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.

– Tên chính thức của DSU là Understanding on rules and procedures governing the settlement of disputes annex 2 of the WTO Agreement – Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp, phụ lục 2 của Hiệp định thành lập WTO.

Ngày 01/01/1995, Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organizaton – WTO) được thành lập. Cùng với sự ra đời của WTO, cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (Dispute Settle Body – DSB) cũng được thiết lập. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu khái quát về việc thành lập và chức năng của DSB và các cơ quan trực thuộc DSB.

I. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO

1.1Thành lập Cơ quan giải quyết tranh chấp

Theo khoản 3 Điều IV Hiệp định thành lập WTO, “khi cần thiết Đại hội đồng (General Council) sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body) được quy định tại Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding). Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể có chủ tịch riêng và tự xây dựng những nguyên tắc về thủ tục mà cơ quan này cho là cần thiết để hoàn thành trách nhiệm của họ”.

Continue reading

NHỮNG CAM KẾT WTO CỦA VIỆT NAM VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT

LƯƠNG VĂN TỰ – Nguyên Trưởng đoàn đàm phán WTO của Vit Nam

I. Nhng cam kết chính :

Hiệp định gia nhập WTO của VN ký ngày 7/11/06 gồm 1074 trang.

Tóm lược các cam kết chính :

A – Cam kết chung :

1/ Minh bạch hóa chính sách kinh tế thương mại

2/ Xây dựng pháp luật phù hợp với các hiệp định và quy định của WTO

3/ Vị thế kinh tế của VN

4/ Trợ cấp nông nghiệp

5/ Trợ cấp ngư nghiệp

6/ Doanh nghiệp TM nhà nước

7/ Bỏ các lệnh cấm nhập khẩu

8/ Tham gia các hiệp định IT, SPS, Trip…

B – Cam kết về cắt giảm thuế nhập khẩu

1/ Mức giảm chung : Từ mức trung bình thuế NK hiện hành 17,4% sẽ giảm

xuống 13,4% trong vòng 5-7 năm.

2/ Hạn ngạch thuế quan, thuế quan theo ngành

C – Dịch vụ :

– Mở 11 ngành và 110 phân ngành lên 155 phân ngành của WTO Continue reading

MỘT SỐ NGOẠI LỆ TRONG WTO VÀ QUI ĐỊNH CỦA VIỆT NAM

TRẦN THỊ TÚY

Ngoại lệ của WTO được hiểu là trong một số trường hợp cho phép các nước thành viên được làm khác đi so với các nguyên tắc cơ bản của WTO nhưng phải đảm bảo phù hợp với quy định của Tổ chức thương mại thế giới  nhằm bảo đảm chủ quyền, an ninh, đạo đức, sức khoẻ của con nguời, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm, bảo đảm cán cân thanh toán.

Ngoại lệ đã được đặt ra trong quá trình đàm phán và xây dựng các văn kiện của Tổ chức Thương mại Thế giới, đặc biệt được chú trọng trong các lĩnh vực thương mại quốc tế và quy định tại các văn kiện của WTO trong 3 lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, còn có các ngoại lệ giành riêng cho các nước đang phát triển.

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994)

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 dành một số ngoại lệ cho các Thành viên để đáp ứng yêu cầu về đảm bảo an ninh, lợi ích quốc phòng, bảo vệ các giá trị văn hoá, tinh thần của dân tộc, truyền thống lịch sử, bảo vệ sức khoẻ con người, động vật, thực vật và môi trường, di sản quốc gia, tài nguyên quý hiếm, ngăn chặn gian lận thương mại, bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia, liên quan đến các sản phẩm lao động của tù nhân, chính sách độc quyền, bảo hộ bản quyền, nhãn hiệu thương mại, duy trì hoà bình và an ninh thế giới, tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán, mua sắm nhằm mục đích cho tiêu dùng của Chính phủ và chi trả các khoản trợ cấp. Đây là những vấn đề cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng đến an ninh và sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Các quy định của WTO là bắt buộc nhưng cũng có những ngoại lệ riêng, theo đó các Thành viên có thể áp dụng các biện pháp trái với quy tắc đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong phạm vi cho phép khi thực thi nghĩa vụ của mình.

Continue reading

TỔNG QUAN VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA WTO LIÊN QUAN TỚI THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

BỘ CÔNG THƯƠNG

CỤC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

clip_image002

TỔNG QUAN

Thương mại điện tử và Internet

Thương mại điện tử đã hình thành từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước với việc trao đổi dữ liệu điện tử giữa các doanh nghiệp lớn trên các mạng riêng.[1] Tiếp đó, mạng Internet hình thành vào cuối thập kỷ 80 tại Hoa Kỳ và tới năm 1995 được chính thức công nhận là mạng toàn cầu. Số người sử dụng Internet trên toàn thế giới tăng lên nhanh chóng: năm 1994 là 3 triệu, năm 1996 là 67 triệu và năm 1998 đã là 100 triệu.[2]

Lĩnh vực kinh doanh và thương mại đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội tiềm tàng của Internet. Một mặt, Internet là môi trường tuyệt vời để tiến hành các hoạt động thương mại. Mặt khác, chính các hoạt động thương mại đã góp phần quan trọng vào sự phát triển cực kỳ mau lẹ của Internet.[3] Thương mại điện tử dựa trên nền tảng công nghệ Internet đã trở thành Con – đường – tơ – lụa – mới của thời đại kinh tế tri thức.

Continue reading

WTO! ANH LÀ AI?

image Dũ Lan LÊ ANH DŨNG

Việt Nam vừa gia nhập WTO (07.11.2006) và làm thành viên thứ 150. Trong xu thế chung của thời đại toàn cầu hóa, WTO là chiếc vòng kim cô hay là cánh cửa mở rộng? Vào WTO thì dễ sống hơn hay sẽ khó sống hơn? Đó là những câu hỏi không dễ trả lời ngắn gọn.

Khái quát 

Với trụ sở đặt ở Geneva (thủ đô Thụy Sĩ), và địa chỉ mạng tại http://www.wto.org, WTO (World Trade Organization: Tổ chức Thương mại Thế giới) là tổ chức quốc tế đa phương, thiết lập các nguyên tắc để chi phối hệ thống buôn bán toàn cầu, giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. Trên nguyên tắc, WTO có mục đích tăng cường buôn bán quốc tế bằng cách đẩy mạnh việc giảm thiểu các rào cản thương mại (trade barriers) và cung cấp một diễn đàn (platform) để đàm phán thương mại. Từ giữa thập niên 90 thế kỷ 20, WTO trở thành mục tiêu tấn công của nhiều phong trào, tổ chức quốc tế chống lại những bất công thương mại do WTO áp đặt cho các nước đang phát triển.  

Nguồn gốc WTO 

Từ 01 đến 22.7.1944, Hội nghị tài chính và tiền tệ Liên Hiệp Quốc (the UN Monetary and Financial Conference) đã họp tại khách sạn Mount Washington ở khu Bretton Woods (thị trấn Carroll, bang New Hampshire, Mỹ), vì thế hội nghị này còn được gọi là Hội nghị Bretton Woods. Hội nghị đề xuất thành lập ITO (International Trade Organization: Tổ chức thương mại quốc tế) nhằm thiết lập các quy tắc, luật lệ buôn bán giữa các nước. Hiến chương ITO được nhất trí trong Hội nghị của LHQ về thương mại và việc làm (the UN Conference on Trade and Employment, tháng 3.1948), nhưng Hiến chương (charter) không được Thượng viện Mỹ (the US Senate) phê chuẩn.

Continue reading

TRUNG QUỐC: ĐIỀU TIẾT LẠI MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH QUYỀN VÀ DOANH NGHIỆP SAU KHI GIA NHẬP WTO

DƯƠNG HẢI YẾN

Chính phủ tỏ ra bất lực trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước, nhưng đối với các thành phần kinh tế khác, chính phủ lại tổ chức can thiệp quá sâu. Sự thiếu hòa hợp trong quá trình điều tiết các mối quan hệ trên đã dẫn đến các đơn vị hoạt động kinh tế không thể phát triển một cách thuận lợi và nhanh chóng. Và giải quyết vấn đề này một trong những công việc mà chính phủ Trung Quốc cần thực hiện ngay sau khi gia nhập WTO.

Trung Quốc sau khi chính thức gia nhập WTO, căn cứ theo quy tắc chung của nền kinh tế thị trường, đã và đang tiến hành điều tiết lại phạm vi quản lý trong mối quan hệ giữa chính phủ và các đơn vị sản xuất kinh doanh. Hầu hết các đơn vị hoạt động kinh tế trong nước đều nhận định rằng, hiện tại sở dĩ các doanh nghiệp còn gặp nhiều ràng buộc trong quá trình phát triển một phần không nhỏ là do mối quan hệ giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp chưa được xử lý tốt. Chính phủ tỏ ra bất lực trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước, nhưng đối với các thành phần kinh tế khác, chính phủ lại tổ chức can thiệp quá sâu. Sự thiếu hòa hợp trong quá trình điều tiết các mối quan hệ trên đã dẫn đến các đơn vị hoạt động kinh tế không thể phát triển một cách thuận lợi và nhanh chóng. Và giải quyết vấn đề này một trong những công việc mà chính phủ Trung Quốc cần thực hiện ngay sau khi gia nhập WTO.

Continue reading

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG WTO

WTO TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Lời nói đầu

Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986-1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947). WTO được coi như một thành công đặc biệt trong sự phát triển thương mại và pháp lý cuỗi thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các hiệp định, thoả thuận, danh mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thương mại của các quốc gia thành viên.

Với các mục tiêu đầy tham vọng là thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại trên toàn cầu, nâng cao mức sống của người dân các nước thành viên và giải quyết các bất đồng về lợi ích giữa các quốc gia trong khuôn khổ hệ thống thương mại đa biên, sự vận hành của WTO đã và sẽ có tác động to lớn đối với tương lai lâu dài của kinh tế thế giới cũng như kinh tế của từng quốc gia. Theo tính toán, có tới trên 95% hoạt động thương mại trên thế giới hiện nay được điều chỉnh bởi các Hiệp định của Tổ chức này.

Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của WTO, một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức này đã được thiết lập. Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này.

Continue reading