LỢI ÍCH VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM GIA NHẬP TWO

image TS. NGÔ THỊ NGỌC HUYỀN

Lợi ích

Khi tham gia vào WTO, chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng lớn trên cả cấp vĩ mô và vi mô. Lợi ích lớn nhất mà Việt Nam thu được từ hội nhập là thị trường xuất khẩu thuận lợi cho Việt Nam mở rộng. Do VN được hưởng qui chế MFN vô điều kiện, theo đó hàng hóa Việt Nam sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ khác, không còn vướng nhiều rào cản về thuế và hạn ngạch như hiện nay nữa (Hiện nay, thương mại giữa các nước thành viên WTO chiếm tới 90% khối lượng thương mại thế giới). Từ đó sẽ tăng cường tiềm lực kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài. Cụ thể:

– Hiệp định đa sợi MFA qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng đối với hàng dệt may.

– WTO qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng thay thế bằng thuế đối với sản phẩm gạo.

– WTO qui định mức thuế thấp đối với sản phẩm sử dụng nhiều lao động.

Continue reading

CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI WTO TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM

1. Cung cấp dịch vụ qua biên giới

Theo Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Ban công tác về việc gia nhập WTO của VN, sau 5 năm gia nhập,doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ được phép thành lập các chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ tại VN. Tuy nhiên ngay từ thời điểm VN gia nhập WTO, các hãng bảo hiểm nước ngoài đã được tham gia thị trường VN qua phương thức “cung cấp qua biên giới” (dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một thành viên này sang lãnh thổ của một thành viên khác).

Cụ thể các công ty bảo hiểm nước ngoài được cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người nước ngoài làm việc tại VN, được cung cấp dịch vụ tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm, dịch vụ tư vấn, tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường. Riêng đối với dịch vụ bảo hiểm vận tải quốc tế, các hãng bảo hiểm nước ngoài được tham gia bảo hiểm cho các rủi ro liên quan đến vận tải biển quốc tế, vận tải hàng không thương mại quốc tế và bảo hiểm hàng hóa đang vận chuyển quá cảnh quốc tế.

Continue reading

CÁC DOANH NGHIỆP DO NHÀ NƯỚC SỞ HỮU HOẶC KIỂM SOÁT, HOẶC ĐƯỢC HƯỞNG ĐẶC QUYỀN HOẶC ĐỘC QUYỀN

TRÍCH Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO

image 1. Đại diện của Việt Nam cho biết Việt Nam đang chuyển đổi từ một hệ thống mang tính kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Đến 31/12/2004, ở Việt Nam có khoảng 120.000 doanh nghiệp, trong đó có 3364 doanh nghiệp nhà nước. Số doanh nghiệp đã tăng lên khoảng 200.000 doanh nghiệp (gồm 2.663 doanh nghiệp nhà nước) vào cuối năm 2005. Theo luật Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước là những doanh nghiệp, gồm cả các công ty cổ phần, trong đó nhà nước sở hữu trên 50% cổ phần. Doanh nghiệp nhà nước chiếm 39,2% GDP năm 2004 (38,4% năm 2005), khu vực tư nhân (tức là các doanh nghiệp do tư nhân Việt Nam đầu tư toàn bộ) chiếm 45,6% GDP (45,7% năm 2005) và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 15,2% (15,9% năm 2005). Kinh doanh cá thể và hộ gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nhỏ ở Việt Nam. Phía Việt Nam cũng cung cấp các số liệu thống kê giá trị sản lượng, xuất nhập khẩu theo loại hình doanh nghiệp tại Bảng 3 và thông tin về các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát theo quy định tại Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg ngày 24/8/2004 tại Bảng4.

Continue reading

RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG TRỢ CẤP, TRỢ CẤP VÀ CẠNH TRANH VỚI CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TRONG WTO

TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Ban Pháp chế VCCI

I/ RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH VỀ CHÔNG BÁN PHÁ GIÁ – CHỐNG TRỢ CẤP

I.1. Cam kết WTO của Việt Nam về các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp

Về vấn đề chống bán phá giá, chống trợ cấp của Việt Nam đối với hàng hoá nước ngoài nhập khẩu, các cam kết và nghĩa vụ liên quan của Việt Nam trong WTO tập trung trong các nhóm quy định sau:

(i) Cam kết gia nhập của Việt Nam về vấn đề liên quan: bao gồm các Đoạn 251, 252, 253, 254 và 255 Báo cáo của Ban Công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam;

(ii) Hiệp định về chống bán phá giá của WTO; và

(iii) Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng của WTO.

Theo đúng nguyên tắc áp dụng giữa các nhóm quy định trong WTO (chủ yếu là giữa các Hiệp định chung của tổ chức này với các cam kết gia nhập cụ thể), các quy định thuộc nhóm (i) được ưu tiên áp dụng so với các tiêu chí (ii) và (iii).

Continue reading

LUẬT MẪU VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

LUẬT MẪU

VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

Phòng Xây dựng Quy định

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trung tâm William Rappard

Rue de Lausanne 154

CH-1211 Geneva 21

Thuỵ sĩ

Mục lục

PHẦN I: CÁC ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC NGUYÊN TẮC

Điều 1- Các định nghĩa

Điều 2 – Các nguyên tắc

Continue reading

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 71/2006/QH11 CỦA QUỐC HỘI KHÓA 11

NGUYỄN XUÂN CÔNG

Bộ Tư Pháp Ngày 29 tháng 11 năm 2006, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết số 71/2006/QH11 về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước CHXHCN Việt Nam – Nghị quyết 71/2006/QH11. Sau khi Nghị quyết ra đời, liên quan đến việc áp dụng các quy định tại Nghị quyết số 71/2006/QH11 và Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Cụ thể tại Phụ lục Nội dung áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam, còn nhiều nội dung cần được giải thích để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp khi áp dụng vào thực tiễn. Để làm rõ vấn đề này, Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau về quan hệ giữa Luật Doanh nghiệp và Nghị quyết số 71/2006/QH11:

1. Về việc áp dụng quy định tại Nghị quyết 71/2006/QH11

Thứ nhất, về mặt pháp lý, theo quy định tại Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế (văn bản được xem là luật chuyên ngành để xử lý vấn đề này) thì nếu văn bản pháp luật nội địa và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì điều ước quốc tế đó được ưu tiên áp dụng (Điều 6(1)). Thực tế, có 3 văn bản liên quan, là Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị quyết 71/2006 và cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, đều đề cập đến vấn đề tỷ lệ số đại diện tham dự họp, thông qua quyết định trong doanh nghiệp, nên thứ tự ưu tiên áp dụng sẽ như sau:

Continue reading

TỔNG QUAN HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG HOA KỲ-VIỆT NAM (1)

MARK E. MANYIN, nhà phân tích các vấn đề châu Á
Trích từ báo cáo của Ban Nghiên cứu Phục vụ Quốc hội Hoa Kỳ, ngày 20/6/2001

Hiệp định thương mại gồm 4 phần: tiếp cận thị trường, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư.

1. Tiếp cận Thị trường

Việt Nam đồng ý tiến hành những bước sau nhằm mở cửa thị trường:

  • Dành quy chế đối xử tối huệ quốc cho các hàng hoá của Mỹ;
  • Ðối xử với các hàng hoá nhập khẩu giống như hàng hoá sản xuất trong nước (còn được gọi là “đối xử quốc gia”);
  • Loại bỏ hạn ngạch đối với tất cả hàng hoá nhập khẩu trong thời hạn từ 3 đến 7 năm;
  • Minh bạch hơn quy trình mua sắm của chính phủ;
  • Lần đầu tiên cho phép tất cả các doanh nghiệp Việt Nam được phép kinh doanh xuất nhập khẩu mọi hàng hoá;
  • Lần đầu tiên cho phép các công ty Mỹ và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ được phép xuất nhập khẩu hầu hết các sản phẩm (với lộ trình từ 3-6 năm).
  • (Hiện tại, các công ty nước ngoài phải phụ thuộc vào các nhà nhập khẩu Việt Nam được cấp giấy phép, hầu hết là doanh nghiệp nhà nước.)
  • Ðảm bảo doanh nghiệp nhà nước sẽ tuân thủ các quy định của WTO;

Continue reading

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CAM KẾT VỚI WTO, LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 71/2006/QH11

TS. PHAN HUY HỒNG – PGS.TS. NGUYỄN THÁI PHÚC

Sự vênh nhau giữa quy định của Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam với các cam kết của Việt Nam nêu tại Đoạn 502, 503 Báo cáo của Ban Công tác đã gây ra sự lúng túng trên diện rộng trong áp dụng pháp luật và hoạt động giảng dạy luật. Chúng tôi phân tích các quan điểm liên quan và nêu quan điểm riêng, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu cẩn trọng trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như việc quán triệt các nguyên tắc cơ bản về áp dụng pháp luật.

1. Sự việc

Trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), có thành viên Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Ban Công tác) đã bày tỏ lo ngại sâu sắc về việc một số điều khoản của Luật Doanh nghiệp năm 2005 sẽ ảnh hưởng như thế nào tới khả năng của một cổ đông đa số (tức là sở hữu ít nhất 51% nhưng không quá 65% hoặc 75%) trong việc kiểm soát đầu tư và đưa ra những quyết định cơ bản về hoạt động của doanh nghiệp. Các điều khoản về công ty trách nhiệm hữu hạn trên một thành viên và các điều khoản về công ty cổ phần đã quy định các quyết định cơ bản trong một doanh nghiệp sẽ được đưa ra như thế nào bằng việc quy định những vấn đề cơ bản này sẽ phải được Hội đồng Thành viên hay Đại hội Cổ đông thông qua và quy định rõ tỷ lệ phiếu tối thiểu cần có để Hội đồng Thành viên hoặc Đại hội Cổ đông có thể đưa ra một quyết định như vậy. Theo những điều khoản này, việc đưa ra các quyết định cơ bản về doanh nghiệp đòi hỏi phải đạt tỷ lệ đa số ít nhất là 65% của Hội đồng Thành viên trong trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn trên một thành viên, và 75% của Đại hội Cổ đông trong trường hợp công ty cổ phần.[1]

Continue reading

TÌM HIỂU HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ (GATS) VÀ QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP THẬN TRỌNG TRONG ĐÀM PHÁN WTO ĐỐI VỚI DỊCH VỤ TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG ĐỂ VẬN DỤNG CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Hiện nay, Việt nam đã có cam kết trong ASEAN (1995), đã ký kết Hiệp định thương mại Việt nam Hoa kỳ (2001), đã gia nhập WTO (7/11/2006), trong đó cơ sở pháp lý để Việt nam đưa ra các cam kết trong đàm phán WTO về dịch vụ ngân hàng là Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS). Đó là một hệ thống các quy định mang tính đa biên để điều chỉnh các hoạt động thương mại dịch vụ. Hiệp định này được đàm phán tại vòng đàm phán Uruguay bao gồm các nghĩa vụ và nguyên tắc cơ bản, các phụ lục của từng chuyên ngành, các cam kết cụ thể của mỗi nước nhằm mục đích mở cửa thị trường. 29 điều khoản của GATS được áp dụng cho tất cả các ngành dịch vụ trong đó có phân ngành dịch vụ ngân hàng. Các điều khoản này quy định các nguyên tắc mà tất cả các nước phải tuân thủ một cách « đa phương » .

Tại Hiệp định nói trên, dịch vụ ngân hàng được xác định theo 4 phương thức sau: (i) dịch vụ ngân hàng được cung cấp từ nước này sang nước khác gọi là “cung cấp qua biên giới”; (ii) người tiêu dùng hoặc công ty sử dụng dịch vụ ngân hàng ở nước ngoài gọi là “tiêu dùng ở nước ngoài”; (iii) các tổ chức tín dụng nước ngoài thành lập chi nhánh hoặc công ty, liên doanh để cung cấp dịch vụ ngân hàng ở một nước khác gọi là “hiện diện thương mại”; (iv) các cá nhân đi từ một nước sang một nước khác để cung cấp dịch vụ ngân hàng gọi là “hiện diện thể nhân”.

Continue reading

10 LỢI ÍCH CỦA HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI WTO

Hệ thống GATT/WTO là một chủ thể kiến tạo niềm tin quan trọng. Các cuộc chiến tranh thương mại những năm 1930 là bằng chứng cho thấy rằng chủ nghĩa bảo hộ có thể dễ dàng đẩy các nước vào một tình thế trong đó không có kể thắng mà chỉ toàn người thua.

1. Hệ thống này giúp gìn giữ hoà bình

Hoà bình phần nào là một thành quả của hai nguyên tắc cơ bản nhất của hệ thống thương mại: giúp thương mại được thuận buồm xuôi gió và đưa đến cho các nước một lối thoát bình đẳng và mang tính xây dựng để giải quyết những bất đồng về các vấn đề thương mại. Đó cũng là một kết quả của sự hợp tác và lòng tin quốc tế do hệ thống này tạo ra và duy trì.

Lịch sử bị vấy bẩn bởi những tranh chấp thương mại dẫn đến chiến tranh. Một trong những ví dụ sống động nhất là cuộc chiến tranh thương mại những năm 1930, khi các nước cạnh tranh với nhau nhằm tăng thêm các hàng rào mậu dịch để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước và để trả đũa rào cản của các nước khác. Điều này càng làm cho cuộc đại suy thoái thêm tồi tệ và cuối cùng góp phần làm bùng nổ Chiến tranh Thế giới thứ 2.

Continue reading

VẤN ĐỀ CHỦ THỂ HỢP ĐỒNG BOT TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN WTO

NGUYỄN THỊ LÁNG

Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Sự kiện này đã mở ra cánh cửa để Việt Nam bước ra và hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế toàn cầu. Việc hội nhập kinh tế quốc tế và làn sóng đầu tư ngày càng tăng cao đòi hỏi Việt Nam phải đổi mới về pháp luật, trong đó có pháp luật về hợp đồng BOT.

Để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng BOT, một trong những vấn đề cơ bản và trọng tâm là phải nhận diện những đặc thù về mặt chủ thể của hợp đồng BOT, từ đó có hướng điều chỉnh pháp luật thích hợp. Từ yêu cầu khách quan đó, chúng tôi xin được phân tích những đặc trưng cơ bản của chủ thể hợp đồng BOT, thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề này và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề chủ thể hợp đồng BOT trong pháp luật Việt Nam hiện hành.

Continue reading

MỘT SỐ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN WTO – PHẦN 3

Một số các thuật ngữ liên quan đến lĩnh vực dịch vụ và các tổ chức khu vực trong WTO.

Dịch vụ

GATS: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO.

Cam kết: cam kết tự do hóa thương mại dịch vụ mà các nước thành viên sẵn sàng thực hiện.

Danh sách các cam kết cụ thể: danh sách các cam kết của một thành viên WTO về mở của thị trường và các ràng buộc về chế độ đối xử quốc gia.

Danh sách quốc gia: các danh sách thuế quan trong phụ lục của Hiệp định GATT xác định các cam kết đã được các thành viên WTO chấp nhận một cách tự nguyện hoặc thông qua đàm phán.

Phương thức cung cấp: cách thức mà sản phẩm dịch vụ được cung cấp hoặc tiêu thụ trong trao đổi thương mại quốc tế. Phương thức 1: qua biên giới. Phương thức 2: tiêu thụ ở nước ngoài. Phương thức 3: qua cơ quan đại diện thương mại ở nước ngoài. Phương thức 4: qua sự di chuyển của các thể nhân.

Continue reading

CÁC THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN WTO – PHẦN 2

Dệt may

MFA – Hiệp định đa sợi (1974-1994) Trong khuôn khổ hiệp định này, các nước có thị trường dệt may bị rối loạn do việc gia tăng hàng nhập khẩu từ một nước khác, có thể tiến hành đàm phán để hạn chế số lượng hàng nhập khẩu.

ATC – Hiệp định dệt may của WTO – nhằm đưa thương mại hàng dệt may vào khuôn khổ các qui định của GATT trong thời gian 10 năm.

ITCB – Văn phòng quốc tế về dệt may – Tổ chức có trụ sở ở Giơnevơ gồm 20 thành viên là các nước đang phát triển xuất khẩu hàng dệt may.

CTG – Hội đồng Thương mại hàng hoá – có nhiệm vụ giám sát việc áp dụng các Hiệp định của WTO về thương mại hàng hoá, kể cả ATC.

Lách luật: Hành động né tránh các qui định về hạn ngạch và các hạn chế khác bằng cách thay đổi nguồn gốc xuất xứ sản phẩm.

Continue reading

CÁC THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN WTO – PHẦN 1

Các thuật ngữ xung quanh các quy định, nguyên tắc, hiệp định của wto

Hội nghị Bộ trưởng: Cơ quan quyết định tối cao của WTO, bao gồm các Bộ trưởng của tất cả các thành viên, nhóm họp ít nhất 2 năm 1 lần.

Đại hội đồng: Cơ quan quyết định tối cao của WTO trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị Bộ trưởng; bao gồm các đại diện của các thành viên WTO, thường là các nhà ngoại giao thường trú tại Giơnevơ.

Vòng đàm phán Uruguay: Vòng đàm phán thương mại đa phương bắt đầu từ tháng 9 – 1986 tại thành phố Punta del Esta ở Uruguay, và kết thúc tại Giơnevơ vào tháng 12 – 1993. Các Bộ trưởng đã ký Biên bản cuối cùng ghi nhận các kết quả đạt được tại vòng đàm phán này tại hội nghị Bộ trưởng ở Marrakesh (Marốc) tháng 4 năm 1994.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH VỀ CHỐNG PHÁ GIÁ CỦA WTO

Hiệp định thực thi Điều VI của

Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994

Các Nước Thành viên dưới đây thoả thuận như sau:

Phần I

Điều 1

Các nguyên tắc

Một biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng trong hoàn cảnh được qui định tại Điều VI của GATT 1994 và phải tiếp nhận việc điều tra được bắt đầu[1] và tiến hành theo đúng các qui định của Hiệp định này. Các qui định sau đây điều tiết việc áp dụng Điều VI của GATT 1994 khi có một hành động được thực thi theo luật hoặc các qui định về chống bán phá giá.

Điều 2

Xác định việc bán phá giá

2.1 Trong phạm vi Hiệp định này, một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường.

Continue reading

CÁC NGUYÊN TẮC PHÁP LÝ CỦA WTO

Về phương diện pháp lý, Định ước cuối cùng của Vòng đàm phán Uruguay ký ngày 15-4-1999 tại Marrakesh là một văn kiện pháp lý có phạm vi điều chỉnh rộng lớn nhất và có tính chất kỹ thuật pháp lý phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao và luật pháp quốc tế. Về dung lượng, các hiệp định được ký tại Marraakesh và các phụ lục kèm theo bao gồm 50.000 trang, trong đó riêng 500 trang quy dịnh về các nguyên tắc và nghĩa vụ pháp lý chung của các nước thành viên như sau:

Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới;

20 hiệp định đa phương về thương mại hàng hoá;

4 hiệp định đa phương về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, kiểm điểm chính sách thương mại;

4 hiệp định nhiều bên về Hàng không dân dụng, mua sắm của chính phủ, sản phẩm sữa và sản phẩm thịt bò;

23 tuyên bố (declaration) và quyết định (decision) liên quan đến một số vấn đề chưa đạt được thoả thuận trong Vòng đàm phán Uruguay.

Continue reading

Các nguyên tắc pháp lý CỦA WTO

Về phương diện pháp lý, Định ước cuối cùng của Vòng đàm phán Uruguay ký ngày 15-4-1999 tại Marrakesh là một văn kiện pháp lý có phạm vi điều chỉnh rộng lớn nhất và có tính chất kỹ thuật pháp lý phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao và luật pháp quốc tế. Về dung lượng, các hiệp định được ký tại Marraakesh và các phụ lục kèm theo bao gồm 50.000 trang, trong đó riêng 500 trang quy dịnh về các nguyên tắc và nghĩa vụ pháp lý chung của các nước thành viên như sau:

Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới;

20 hiệp định đa phương về thương mại hàng hoá;

4 hiệp định đa phương về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, kiểm điểm chính sách thương mại;

4 hiệp định nhiều bên về Hàng không dân dụng, mua sắm của chính phủ, sản phẩm sữa và sản phẩm thịt bò;

23 tuyên bố (declaration) và quyết định (decision) liên quan đến một số vấn đề chưa đạt được thoả thuận trong Vòng đàm phán Uruguay.

Continue reading

WTO LÀ GÌ?

WTO là tên viết tắt từ tiếng Anh của Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization). WTO được thành lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới ký tại Marrakesh (Marốc) ngày 15/4/1994. WTO chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995.

Có thể hình dung một cách đơn giản về WTO như sau:

· WTO là nơi đề ra những quy định:

Ðể điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toàn thế giới hoặc gần như toàn thế giới. Tính đến thời điểm 31/12/2005, WTO có 148 thành viên. (Xem thêm Phụ lục Danh sách các thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ).  

· WTO là một diễn đàn để các nước, các thành viên đàm phán:

Người ta thường nói, bản thân sự ra đời của WTO là kết quả của các cuộc đàm phán. Sau khi ra đời, WTO đang tiếp tục tổ chức các cuộc đàm phán mới. “Tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán”. Có thể nói, WTO chính là một diễn đàn để các quốc gia, các thành viên tiến hành thoả thuận, thương lượng, nhân nhượng nhau về các vấn đề thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…, để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên.  

· WTO gồm những quy định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế:

Ra đời với kết quả được ghi nhận trong hơn 26.000 trang văn bản pháp lý, WTO tạo ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viên hoạch định và thực thi chính sách nhằm mở rộng thương mại, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân các nước thành viên. Các văn bản pháp lý này  bản chất là các “hợp đồng”, theo đó các chính phủ các nước tham gia ký kết, công nhận (thông qua việc gia nhập và trở thành thành viên của WTO) cam kết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thoả thuận. Tuy là do các chính phủ ký kết nhưng thực chất mục tiêu của những thoả thuận này là để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ, các nhà xuất nhập khẩu thực hiện hoạt động kinh doanh, buôn bán của mình. (Xem thêm Phụ lục 2: Hệ thống văn bản pháp lý của WTO).

· WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp:

Nếu “mục tiêu kinh tế” của WTO là nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại hàng hoá, dịch vụ, trao đổi các sáng chế, kiểu dáng, phát minh…(gọi chung là quyền tài sản sở hữu trí tuệ) thì các hoạt động của WTO nhằm giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên theo các quy định đã thoả thuận, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế và luật lệ của WTO chính là ?mục tiêu chính trị? của WTO. Mục tiêu cuối cùng của các mục tiêu kinh tế và chính trị nêu trên là nhằm tới “mục tiêu xã hội” của WTO là nhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường.

SOURCE: http://wto.dddn.com.vn/Web/ContentDetail.aspx?distid=64&lang=vi-VN

CÁC HIỆP ĐỊNH CỦA WTO

Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn đề về thương mại quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được ký kết tại Marrakesh, Maroc vào ngày 15-4 -1994.

Bốn phụ lục đó bao gồm: Các hiệp định quy định các quy tắc luật lệ trong thương mại quốc tế, cơ chế giải quyết tranh chấp, cơ chế rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên, các thỏa thuận tự nguyện của một số thành viên về một số vấn đề không đạt được đồng thuận tại diễn đàn chung.

Các nước muốn trở thành thành viên của WTO phải ký kết và phê chuẩn hầu hết những hiệp định này, ngoại trừ các thỏa thuận tự nguyện.

Sau đây sẽ là một số hiệp định của WTO:

Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994)
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS)
Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS)
Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMS)
Hiệp định về Nông nghiệp (AoA)
Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC)
Hiệp định về Chống bán Phá giá
Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp chống Trợ cấp
Hiệp định về Tự vệ
Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu
Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch (SPS)
Hiệp định về các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT)
Hiệp định về Định giá Hải quan
Hiệp định về Kiểm định Hàng trước khi Vận chuyển
Hiệp định về Xuất xứ Hàng hóa (ROO)
Thỏa thuận về Cơ chế Giải quyết Tranh chấp.

SOURCE: http://wto.dddn.com.vn/Web/ContentDetail.aspx?distid=168&lang=vi-VN