HIỆP ĐỊNH CỦA WTO VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT VÀ MAY MẶC

Các Thành viên,

Nhắc lại thoả thuận của các Bộ Trưởng tại Punta del Este là "các cuộc đàm phán trong lĩnh vực hàng dệt, may nhằm tạo ra phương thức cho phép lĩnh vực này được điều chỉnh hoàn toàn theo GATT trên cơ sở các nguyên tắc và quy định của GATT đã được tăng cường, đồng thời qua đó góp phần vào mục tiêu tự do hóa thương mại hơn nữa";

Nhắc lại Quyết định của Uỷ ban Đàm phán Thương mại vào tháng Tư năm 1989 thống nhất tiến trình hội nhập sẽ bắt đầu sau khi Vòng Đàm phán Thương mại Đa biên Urugoay kết thúc và sẽ thực hiện từng bước;

Nhắc lại thoả thuận dành đối xử đặc biệt cho các Thành viên chậm phát triển;

Bằng Hiệp định này thoả thuận như sau:

Điều 1

1. Hiệp định này đặt ra các quy định được các Thành viên áp dụng trong thời gian quá độ của việc hội nhập lĩnh vực hàng dệt, may vào GATT 1994.

2. Các Thành viên nhất trí sử dụng các quy định tại khoản 18 Điều 2 và điểm 6(b) Điều 6 theo hướng cho phép tạo ra sự tăng trưởng đáng kể về khả năng tiếp cận thị trường cho các nhà cung cấp quy mô nhỏ và sự phát triển các cơ hội kinh doanh thương mại cho các đối tượng mới tham gia lĩnh vực thương mại hàng dệt và may mặc.[1]

3.Các Thành viên sẽ quan tâm thích đáng đến hoàn cảnh của các Thành viên chưa công nhận các Nghị định thư gia hạn Hiệp định về Thương mại Quốc tế Hàng dệt (trong Hiệp định này gọi tắt là "MFA") từ năm 1986, và trong phạm vi có thể, dành cho các Thành viên này đối xử đặc biệt trong khi áp dụng các quy định của Hiệp định này.

Continue reading

THỎA THUẬN WTO GHI NHẬN VỀ CÁC QUY TẮC VÀ THỦ TỤC ĐIỀU CHỈNH VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SU

Phụ lục 2

Các Thành viên nhất trí như sau:

Điều I

PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ÁP DỤNG

1. Các quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này phải được áp dụng cho những tranh chấp được đưa ra theo các quy định về tham vấn và giải quyết tranh chấp của những hiệp định được liệt kê trong Phụ lục 1 của Thỏa thuận này (trong Thoả thuận này được gọi là những “hiệp định có liên quan”). Những quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này cũng được áp dụng cho việc tham vấn và giải quyết tranh chấp giữa các Thành viên về quyền và nghĩa vụ của họ theo các quy định của Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (trong Thỏa thuận này được gọi là “Hiệp định WTO”) và của Thỏa thuận này được xem xét riêng hoặc cùng với bất cứ hiệp định có liên quan nào khác.

2. Các quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này phải được áp dụng với điều kiện phải tuân theo những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh chấp được ghi trong các hiệp định có liên quan được nêu trong Phụ lục 2 của Thỏa thuận này. Trong chừng mực có sự khác nhau giữa những quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này và những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung trong Phụ lục 2, thì những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung trong Phụ lục 2 phải được ưu tiên áp dụng. Đối với những tranh chấp liên quan đến những quy tắc và thủ tục của hai hay nhiều hiệp định có liên quan, nếu có mâu thuẫn giữa những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung trong những hiệp định có liên quan đang được xem xét đó, và khi các bên tranh chấp không thỏa thuận được với nhau về các quy tắc và thủ tục trong vòng 20 ngày kể từ khi thành lập ban hội thẩm, thì trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của 1 trong 2 bên, Chủ tịch của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp  quy định tại khoản 1 Điều 2 (trong Thỏa thuận này được gọi là “DSB”), sau khi tham vấn với các bên tranh chấp phải quyết định những quy tắc và thủ tục nào phải tuân theo. Chủ tịch phải quyết định theo hướng dẫn của nguyên tắc là những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung cần phải được sử dụng khi có thể, và những quy tắc và thủ tục được nêu trong Thỏa thuận này cần được sử dụng ở mức cần thiết để tránh xảy ra mâu thuẫn. Continue reading

HIỆP ĐỊNH VỀ QUY TẮC XUẤT XỨ

Các  Thành viên,

Ghi nhận rằng, ngày 20 tháng 9 năm 1986 các Bộ trưởng đã thoả thuận rằng mục tiêu của Vòng Đàm phán Thương mại Đa biên Uruguay là nhằm "tự do hóa và mở rộng hơn nữa thương mại thế giới", " tăng cường vai trò của GATT" và " nâng cao khả năng đáp ứng của hệ thống GATT đối với việc phát triển môi trường kinh tế quốc tế";

Mong muốn tiếp tục thực hiện các mục tiêu của GATT 1994;

Thừa nhận rằng những quy tắc xuất xứ rõ ràng và dự đoán được trước và việc áp dụng chúng sẽ thúc đẩy dòng chảy thương mại quốc tế;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ tự chúng không tạo ra trở ngại không cần thiết với thương mại;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ không vô hiệu hóa hay ảnh hưởng đến các quyền của các Thành viên được quy định trong GATT 1994;

Thừa nhận mong muốn các luật, qui định và thực tiễn áp dụng qui tắc xuất xứ được minh bạch;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ phải được chuẩn bị và áp dụng một cách vô tư, công khai, có thể dự đoán trước được, nhất quán và trung lập;

Công nhận tính sẵn có của cơ chế tham vấn và thủ tục để giải quyết nhanh chóng, hiệu quả và công bằng các tranh chấp phát sinh  trong phạm vi Hiệp định này;

Mong muốn làm hài hoà và làm rõ các qui tắc xuất xứ;

Bằng Hiệp định này, thoả thuận  như sau:

Phần I

Các định nghĩa và phạm vi áp dụng

Điều 1

Qui tắc xuất xứ

Continue reading

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

THANH MAI (Tổng hợp)

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đang được các nước đang phát triển sử dụng như một công cụ có hiệu quả để giải quyết tranh chấp thương mại với các nước phát triển. Xét về toàn cục thì Cơ chế này là một bước phát triển tiến bộ theo hướng công bằng hơn trong quan hệ thương mại quốc tế. Các nước đang phát triển đã trở thành nhóm các nước sử dụng nhiều nhất cơ chế giải quyết tranh chấp mới của WTO. Tính đến ngày 31-12-1998, các nước đang phát triển dẫn đầu số lượng các vụ kiện (37%) nhiều hơn Mỹ (34%) và EU (21%) và 80% trong số đó kết thúc thắng lợi.

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên bốn nguyên tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp, phù hợp với mục tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa vụ, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan trên cơ sở tuân thủ các quy phạm của luật tập quán quốc tế về giải thích điều ước quốc tế.

Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB):

Cơ quan này thực chất là Đại hội đồng WTO, bao gồm đại diện của tất cả các quốc gia thành viên. DSB có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và của Cơ quan phúc thẩm, giám sát việc thi hành các quyết định, khuyến nghị giải quyết tranh chấp, cho phép đình chỉ thực hiện các nghĩa vụ và nhượng bộ (trả đũa). Tuy nhiên, DSB chỉ là cơ quan thông qua quyết định chứ không trực tiếp thực hiện việc xem xét giải quyết tranh chấp. Các quyết định của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ quyết. Đây là một nguyên tắc mới theo đó một quyết định chỉ không được thông qua khi tất cả thành viên DSB bỏ phiếu không thông qua.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ANH ĐỨC

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thời gian qua đã hỗ trợ Việt Nam thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội quan trọng. Tuy nhiên, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của ta vừa qua cũng còn những tồn tại bất cập. Chính vì vậy, mục tiêu thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta những năm sắp tới được đặt ra là rất cấp bách và quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được trình bày một số tác động của việc gia nhập WTO đến việc thu hút và sử dụng ODA.

Vai trò của nguồn vốn ODA đối với phát triển kinh tế – xã hội

Nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển của mỗi quốc gia được phân định thành nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài. Đối với nguồn vốn nước ngoài có các hình thức thu hút và sử dụng chủ yếu là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII); Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Vay thương mại từ các ngân hàng nước ngoài hoặc từ thị trường tài chính quốc tế…; Viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ (NGO);… Mỗi hình thức thu hút và sử dụng vốn nước ngoài đều có bản chất, đặc điểm riêng và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Do những đặc điểm của mình, nguồn vốn ODA hỗ trợ cho quá trình phát triển kinh tế của các nước kém phát triển (LDCs) rất nhiều, đặc biệt là tác động lan toả của nguồn vốn này khi được đầu tư vào các kết cấu hạ tầng. Nguồn vốn này cũng đóng vai trò giúp các nước LDCs thoát ra khỏi khủng hoảng, thúc đẩy cải cách, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Continue reading

VÀI NHẬN XÉT VÀ SUY NGHĨ VỀ CÔNG BẰNG TRONG MẬU DỊCH (FAIR TRADE)

NGÔ VĨNH LONG

Trong bài về sự bí ẩn trong “thế giới hàng hóa” của Marx,[1] tác giả Lữ Phương có viết những dòng sau đây về trao đổi hàng hóa (trang 1):

Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi, mình cần cái mình không có mà không bị thiệt thòi. Muốn như vậy thì phải tìm ra một chuẩn mực chung giữa hai hàng hoá để làm cơ sở cho cuộc trao đổi đó. 

Chuẩn mực chung đó là gì?  Trong trao đổi đơn giản, Marx cho rằng nếu đó là sự chi phí sức lao động tính bằng độ lâu (durée) về thời gian của các loại lao động riêng biệt thì trong xã hội mà sự trao đổi hàng hoá đã trở thành hiện tượng “chi phối”, phổ biến, sự chi phí về sức lao động đó đã biểu hiện như một hình thái đồng nhất, trừu tượng mang ý nghĩa của một bản thể xã hội gọi là giá trị. Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.

             Đoạn trích ở trên có hai câu gây cho tôi ít nhiều suy nghĩ: “Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi” và “Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội.” Lữ Phương đã trình bày rất chi tiết phân tích của Marx về “hình thái giá trị” đề cập ở trên; và việc đánh giá nguyên tắc ngang giá của Marx như thế nào là tùy người “đọc.” .

Continue reading

HIỆP ĐỊNH MARAKESH THÀNH LẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI NĂM 1947

Các Bên Ký Kết Hiệp định này,

Thừa nhận rằng tất cả những mối quan hệ của họ trong lĩnh vực kinh tế và thương mại phải được thực hiện với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn bảo đảm việc sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi bên ở các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau,

Thừa nhận thêm rằng cần phải có nỗ lực tích cực để bảo đảm rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của các quốc gia đó,

Mong muốn đóng góp vào những mục tiêu này bằng cách tham gia vào những thoả thuận tương hỗ và cùng có lợi theo hướng giảm đáng kể thuế và các hàng rào cản trở thương mại khác và theo hướng loại bỏ sự phân biệt đối xử trong các mối quan hệ thương mại quốc tế,

Do đó, quyết tâm xây dựng một cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định, và khả thi hơn, bao gồm Hiệp định chung về thuế quan và thương mại, kết quả của những nỗ lực tự do hoá thương mại từ trước tới nay và toàn bộ kết quả của Vòng Uruguay về Đàm phán Thương mại Đa biên,

Quyết tâm duy trì những nguyên tắc cơ bản và tiếp tục theo đuổi những mục tiêu đang đặt ra cho cơ chế thương mại đa biên này,

Continue reading

ĐỊA VỊ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG CÁC CUỘC ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

LƯU HƯƠNG LY

Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong tất cả các điều khoản gia nhập WTO, có một cam kết ít được bàn luận nhưng lại có vị trí rất quan trọng, đó là việc Việt Nam chấp nhận bị coi là một nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm, kể từ khi gia nhập (không muộn hơn năm 2019). Vậy “nền kinh tế phi thị trường” nghĩa là gì và việc chúng ta cam kết như vậy sẽ có những tác động như thế nào đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là trong các cuộc điều tra chống bán phá giá? Bước đầu, xin được làm rõ vấn đề trên.

Nền kinh tế phi thị trường – hay còn được gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung – là tên gọi được dùng đến cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 cho nền kinh tế các nước Trung và Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác, trong đó, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm thông thường do một cơ quan giống như ủy ban kế hoạch Nhà nước soạn thảo. Đa số các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung nay đã chuyển thành nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình hướng tới mục tiêu đó.

Hiện nay, trong WTO chỉ có hai thành viên cam kết về địa vị nền kinh tế phi thị trường là Việt Nam và Trung Quốc. Trong Báo cáo về việc gia nhập WTO có đoạn: “Một số thành viên ghi nhận Việt Nam đã liên tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Những thành viên này cũng ghi nhận rằng, sẽ gặp những khó khăn đặc thù trong việc xác định chi phí và giá cả hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam trong các cuộc điều tra chống bán phá giá hay áp dụng các biện pháp đối kháng. Những thành viên này cho rằng, trong trường hợp đó nước nhập khẩu có thể nhận định rằng việc sử dụng chi phí và giá cả tại Việt Nam có thể sẽ không hợp lý”[2].

Continue reading

Pháp luật cạnh tranh trong WTO VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

NGUYỄN THANH TÚ

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thương mại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thươngmại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

Các quy định về tự do hóa thương mại của WTO, được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc không phân biệt đối xử, tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia và minh bạch, nhằm giảm bớt và loại trừ các hàng rào của chính phủ đối với thương mại quốc tế. Trong khi đó, các quy định về cạnh tranh công bằng điều chỉnh điều kiện cạnh tranh và hành vi của các doanh nghiệp trong một quốc gia (haytrong một khu vực) nhằm loại trừ những hàng rào tư gây tổn hại đến quá trình tự do hoá thương mại. Hai nhóm quy định này bổ sung cho nhau nhằm đạt đến mục tiêu chung là đem lại lợi ích và thịnh vượng chung cho các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế quốc tế.

Continue reading

PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG WTO VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

NGUYỄN THANH TÚ

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thương mại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thươngmại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

Các quy định về tự do hóa thương mại của WTO, được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc không phân biệt đối xử, tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia và minh bạch, nhằm giảm bớt và loại trừ các hàng rào của chính phủ đối với thương mại quốc tế. Trong khi đó, các quy định về cạnh tranh công bằng điều chỉnh điều kiện cạnh tranh và hành vi của các doanh nghiệp trong một quốc gia (haytrong một khu vực) nhằm loại trừ những hàng rào tư gây tổn hại đến quá trình tự do hoá thương mại. Hai nhóm quy định này bổ sung cho nhau nhằm đạt đến mục tiêu chung là đem lại lợi ích và thịnh vượng chung cho các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế quốc tế.

Continue reading

MỘT SAI SÓT GÂY RẮC RỐI

NGUYÊN TẤN

Phụ lục kèm theo Nghị quyết của Quốc hội phê chuẩn Nghị định gia nhập WTO của Việt Nam viện dẫn sai một số đoạn trong Báo cáo của Ban công tác đang gây không ít lúng túng cho việc thực thi các cam kết với WTO.

Lịch sử

Thẩm quyền của hội đồng thành viên (hay hội đồng quản trị), thủ tục bỏ phiếu và tỷ lệ số phiếu cần thiết để thông qua các quyết định cơ bản là những vấn đề tối quan trọng đối với bộ máy hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Vấn đề này đặc biệt càng được quan tâm bởi tính lịch sử của nó.

Trước đây, pháp luật về đầu tư nước ngoài của Việt Nam yêu cầu áp dụng nguyên tắc nhất trí trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Tức là những quyết định quan trọng nhất của doanh nghiệp liên doanh phải được tất cả các thành viên của hội đồng quản trị nhất trí thông qua mới có giá trị pháp lý.

Đến năm 2005, quy định về việc áp dụng nguyên tắc nhất trí bị bãi bỏ bởi Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, để ngăn ngừa khả năng cổ đông đa số chèn ép cổ đông thiểu số, ngoài quy định về thẩm quyền của hội đồng thành viên (hoặc hội đồng quản trị) và thể thức bỏ phiếu, luật này vẫn yêu cầu phải đảm bảo một tỷ lệ cần thiết về số phiếu, cụ thể là phải đạt tỷ lệ số phiếu đại diện ít nhất từ 65-75% tổng số vốn góp (hoặc vốn điều lệ) của các thành viên dự họp chấp thuận (tùy trường hợp) khi thông qua các quyết định quan trọng, cơ bản trong công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.

Các quyết định quan trọng ở đây được quy định như: sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; quyết định phương hướng phát triển công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch hội đồng thành viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức giám đốc hoặc tổng giám đốc; thông qua báo cáo tài chính hàng năm; tổ chức lại hoặc giải thể công ty…

Continue reading

THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

GS.TS. HỒ VĂN VĨNH – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

I. Một số khái niệm về thương mại, dịch vụ

Trong khuôn khổ của GATT/WTO, tại vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, các nước thành viên của GATT đã thông qua Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS). Hiệp định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó. Đối với nước ta, thương mại dịch vụ là một thuật ngữ còn khá mới mẻ. Trong quan niệm hiện đại, cơ cấu kinh tế quốc dân được chia ra ba khu vực chính, đó là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Theo Hệ thống kế toán quốc gia (SNA) thì nền kinh tế nước ta có 20 ngành cấp 1, trong đó nông nghiệp có 2 ngành (nông nghiệp và thủy sản), công nghiệp có 4 ngành (công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất và cung cấp điện và nước và ngành xây dựng), còn dịch vụ có tới 14 ngành, có những ngành khá quen thuộc như thương mại, du lịch, vận tải, ngân hàng, thông tin liên lạc…, nhưng cũng có những ngành mới xếp vào lĩnh vực dịch vụ như giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, hoặc như hoạt động của các đoàn thể xã hội… Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến việc phục vụ cho một ngành sản xuất, là một ngành kinh tế độc lập, hiện nay đang chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và không ngừng được tăng cao.

Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể.

Continue reading

BÁO CÁO VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CAM KẾT WTO VỀ THỦ TỤC ĐẦU TƯ

CIEM – DANIDA PROJECT

I. WTO VÀ CÁC CAM KT LIÊN QUAN ÐẾN ÐẦU TU TRC TIP NUỚC NGOÀI DÀNH CHO CÁC NUỚC ÐANG PHÁT TRIN

1. Các hip dịnh liên quan dến đu tư trc tiếp nuớc ngoài

Việc gia nhập WTO có ảnh huởng trực tiếp dến dầu tu trực tiếp nuớc ngoài thông qua bốn hiệp dịnh của WTO sau dây.

Hip đnh v tr cp và các bin pháp đi kháng (SCM): Các chính phủ có thể dùng trợ cấp dể dạt các mục dích khác nhau nhung không duợc làm méo mó th uong mại. Hiệp dịnh không hạn chế quyền hạn của chính phủ phê duyệt trợ cấp nhung cấm dùng trợ cấp gây bất lợi về thuong mại cho các n uớc khác. Các nuớc dang phát triển có thời kỳ quá dộ 8 nam dể chuyển dổi các loại trợ cấp cho phù hợp với Hiệp dịnh này, nhung trong thời gian này không duợc tang trợ cấp xuất khẩu. Quy tắc chống trợ cấp không sử dụng dối với các nuớc chậm phát triển và có GDP bình quân dầu nguời duới 1000USD.

Theo Hiệp dịnh này, các biện pháp khuyến khích dầu tu (bao gồm uu dãi về thuế, hỗ trợ tài chính và các biện pháp hỗ trợ gián tiếp) sẽ bị coi là trợ cấp nếu nhu các hoạt dộng liên quan tới dóng góp tài chính của chính phủ hoặc của một co quan nhà nuớc không nhất quán với những hoạt dộng mang tính thuong mại mà các nhà dầu tu tu nhân có thể chấp nhận. Các biện pháp dó bao gồm giao vốn trực tiếp (cấp vốn, các khoản cho vay hoặc góp vốn của chính phủ), bảo lãnh các khoản vay, chính phủ miễn thuế các khoản thu dáng lẽ phải dóng, chính phủ cung ứng hàng hóa dịch vụ hay mua hàng với giá thấp hon giá thị truờng.

Continue reading

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO (2007 – 2008)

PGS. TS. NGUYỄN SINH CÚC – Tổng cục Thống kê

Sau 2 năm vào WTO, tình hình kinh tế Việt Nam có nhiều khởi sắc đáng ghi nhận. Tốc độ tăng trưởng khá cao, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt kỷ lục, xuất khẩu tăng trưởng cao, tình hình tài chính lành mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, nền kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập.

1. Những thành tựu đáng ghi nhận

Tổng sản phẩm trong n ước (GDP), năm 2007 tăng 8,46%; năm 2008 tăng 6,18%. Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế chuyển dịch theo hư ớng tích cực, năm 2007, tỷ trọng GDP khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm còn 20,0% so với 20,81% năm 2006; 20,97% năm 2005; 21,81% năm 2004 và 22,54% năm 2003. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng dần và chiếm 41,7% so với 41,56%; 41,02% ; 40,21% và 39,47% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,30% so với 38,08%; 38,01%; 37,98% và 37,99% các năm t ương ứng. Nét mới trong năm 2007 là tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng cao trong điều kiện có nhiều khó khăn nhiều mặt, nhất là dịch vụ vận tải, du lịch, th ương mại, tài chính ngân hàng. Năm 2008 lại có xu h ướng chuyển dịch ngư ợc lại do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu là khó tránh khỏi.

Do kinh tế tăng trư ởng cao nên tình hình tài chính 2 năm qua khá lành mạnh. Thu chi ngân sách nhà n ước cân đối, bội chi ngân sách trong phạm vi Quốc hội cho phép.

Đạt được kết quả trên đây là do sau khi vào WTO các ngành sản xuất và dịch vụ có chuyển biến tích cực theo hướng hội nhập với kinh tế thế giới.

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển toàn diện, tăng trưởng khá và chuyển dịch theo hướng hàng hoá. Tranh thủ thời cơ thuận lợi do WTO tạo ra, 2 năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã từng bước chuyển thành nền nông nghiệp đa canh, có tỷ suất hàng hoá ngày càng cao gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu. Số lượng sản phẩm tăng nhanh, chủng loại sản phẩm đa dạng, chất lượng ngày càng cao, cơ cấu sản phẩm có nhiều thay đổi, điều kiện và tính chất của các yếu tố sản xuất cũng có nhiều điểm mới so với trước.

Sau khi vào WTO, nông nghiệp Việt Nam bước đầu mang dáng dấp của một nền sản xuất hàng hoá có những nét hiện đại đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong nước với nhu cầu cao hơn về chất lượng. Tốc độ tăng trưởng của khu vực này theo GDP năm 2007 tăng 3,76%, năm 2008 tăng 4,07%, theo giá trị sản xuất, tăng 4% và 6% theo 2 năm tương ứng, cao hơn tốc độ tăng các năm trước. Sản phẩm nông nghiệp sản xuất bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia trong mọi tình huống dù cho cuộc khủng hoảng lương thực thế giới cuối năm 2007 đầu năm 2008 diễn ra gay gắt. Continue reading

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NHÀ ĐẤT TRUNG QUỐC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA WTO

TRUNG TÂM TIN HỌC – BỘ XÂY DỰNG

I. S phát trin ca ngành nhà đất Trung Quc

1. Khái quát:

Năm 1978 Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách mở cửa nền kinh tế. Những quan điểm như thương mại hoá nhà ở và quyền về bất động sản nhà đất đã được các nhà lý luận đưa ra. Năm 1990 "Quỹ tích tụ nhà ở" đư ợc thành lập ở Thư ợng Hải. Giai đoạn từ 1987 đến 1991 là giai đoạn khởi đầu của thị trư ờng bất động sản Trung Quốc.

Năm 1992, Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách nhà ở, "Quỹ tích tụ nhà ở" cũng được triển khai trên diện rộng. Ngành bất động sản nhà đất của Trung Quốc trong giai đoạn này phát triển rất nhanh, tuy nhiên ở một số thị trường địa phương bắt đầu xuất hiện những yếu tố không bền vững, một số nơi có hiện tượng phát triển bong bóng trong lĩnh vực bất động sản. Vào cuối năm 1993, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra thực hiện "chính sách kinh tế vĩ mô", mà hậu quả của chính sách này là tốc độ tăng trư ởng đầu tư trong lĩnh vực bất động sản của Trung Quốc bị suy giảm dần. Thị trường bất động sản nhà đất sau đó phát triển rất chậm.

Sự tiếp tục cải cách sâu rộng chính sách nhà ở, trong bối cảnh thu nhập của ngư ời dân không ngừng tăng lên, đã khiến cho mức độ tiêu thụ nhà ở trở thành điểm nóng kinh tế ở Trung Quốc. Sau năm 1998, hệ thống cũ "phân phối nhà ở" đã bị bãi bỏ, và Trung Quốc chuyển sang thực hiện "hệ thống bán nhà" (người dân mua nhà từ thị trường). Ngành bất động sản nhà đất Trung Quốc đã bư ớc vào giai đoạn phát triển nhanh và vững chắc, nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế chủ lực của nền kinh tế quốc dân.

Từ năm 2003, giá cả trên thị trường bất động sản Trung Quốc tăng nhanh chóng, thậm chí tăng trư ởng quá nóng. Để kiểm soát tình hình, Chính phủ Trung Quốc một lần nữa đã ban hành những chính sách để điều tiết ngành này.

2. Th trưng bt động sn nhà đất Trung Quc

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài thì việc kinh doanh ở Trung Quốc là rất khó khăn. Bên cạnh những rào cản về ngôn ngữ và văn hoá, nhiều doanh nghiệp nước ngoài còn phải đối mặt với nhiều trở ngại khác như hệ thống các quy định và pháp luật chư a thực sự minh bạch, hệ thống thuế quá phức tạp và các cơ quan công quyền mang đậm tính chất quan liêu, mặc dù Trung Quốc đã đạt đư ợc bư ớc tiến lớn kể từ khi mở cửa ra thế giới bên ngoài từ cuối thập niên 1970 và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã gần 30 năm. 10 năm trư ớc đây, có lẽ rất ít người dân Trung Quốc nghĩ đến việc sở hữu một ngôi nhà. Hiện nay, với tỷ lệ sở hữu nhà đã đạt đến trên 60% ở các đô thị, Trung Quốc đã chứng tỏ là một quốc gia thành công nhất thế giới trong việc phát triển thị trường xây dựng nhà ở tư nhân trong một thời gian ngắn như vậy.

2.1. Th trư ng bt động sn nhà đất và s phát trin kinh tế.

Ngay sau khi nước CHND Trung Hoa mới đư ợc thành lập năm 1949, hầu hết các thửa ruộng của tư nhân hoặc thuộc sở hữu tư nhân đều đư ợc tập thể hoá đưa vào hợp tác xã. Sở hữu tư nhân về nhà ở trong các đô thị gần như bị xoá bỏ. Nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, Chính phủ Trung Quốc trong các thập niên 1960 và 1970 đã nỗ lực đầu tư. Một phần lớn sản lư ợng kinh tế của đất nư ớc do chính phủ sắp xếp và quản lý. Chính phủ đề ra mục tiêu sản xuất, quản lý giá và phân phối các nguồn lực cho toàn bộ nền kinh tế. Do đó, đến năm 1978, gần 3/4 sản lư ợng công nghiệp là do các doanh nghiệp Nhà nư ớc sản xuất (SOEs) trên cơ sở các chỉ tiêu sản ư ợng kế hoạch hoá tập trung. Các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp vốn đầu tư nư ớc ngoài hầu như không tồn tại. Một trong những mục tiêu chính của Chính phủ Trung Quốc khi đó là xây dựng một nền kinh tế độc lập tự cường.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH THỰC THI CÁC CAM KẾT TRONG WTO TỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ TƯ PHÁP TRUNG QUỐC

BÙI HƯƠNG QUẾ – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Sau 15 năm đàm phán căng thẳng, Trung Quốc chính thức trở thành thành viên thứ 143 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/12/2001. Kể từ khi gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này, đầu tư và thương mại của Trung Quốc đã có sự tăng trưởng vượt bậc. Trong giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng GDP bình quân mỗi năm đạt 9,5% (năm 2006 ước đạt 10,5%). Tính theo USD, GDP của Trung Quốc đã tăng gấp đôi, từ 1.325 tỷ USD năm 2001 lên 2.235 tỷ USD năm 2005. Trước đây, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới, sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã đứng hàng thứ ba. Trung Quốc cũng đã trở thành nước thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất thế giới.

Trong lĩnh vực pháp luật, việc gia nhập WTO đã tác động lớn đến hệ thống pháp luật và thể chế của Trung Quốc. Để thực hiện các cam kết của WTO, Trung Quốc đã tiến hành một đợt rà soát pháp luật toàn diện. Hàng nghìn văn bản pháp luật, Bgiải thích pháp luật của toà án có liên quan tới WTO đã được đối chiếu, rà soát với các cam kết của WTO. Trung Quốc cũng đã ban hành rất nhiều luật có liên quan tới thương mại như các luật có liên quan tới công ty, phá sản, ngân hàng, thể chế tài chính. Bên cạnh đó, hệ thống tư pháp và bổ trợ tư pháp của Trung Quốc cũng đã được cải tổ theo xu hướng hiện đại. Số lượng cán bộ pháp luật ở Trung Quốc cũng tăng nhanh trong thời gian vừa qua đặc biệt là luật sư. Số lượng luật sư của Trung Quốc dự kiến sẽ tăng lên khoảng 200.000 vào năm 2010 so với 175.000 vào năm 1999.

Để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật và tư pháp Trung Quốc, bài viết dưới đây xin trình bày về những cam kết chính của Trung Quốc đối với WTO, trên cơ sở đó sẽ đưa ra những đánh giá và bình luận về tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật và tư pháp của Trung Quốc. Những kinh nghiệm của Trung Quốc sau 5 năm thực hiện cam kết gia nhập WTO sẽ là bài học quý báu cho quá trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.

I. Cam kết của Trung Quốc với WTO

WTO là hệ thống thương mại đa biên nhằm nâng cao sự thịnh vượng của các quốc gia thành viên thông qua việc cắt giảm các hạn chế của Chính phủ đối với thương mại. Các nghĩa vụ trong WTO bao trùm lên các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, minh bạch hoá và quyền khiếu kiện với 2 nghĩa vụ chính: (a) nghĩa vụ tiếp cận thị trường (các nước thành viên cam kết mở cửa thị trường trong nước cho các hàng hoá và dịch vụ cụ thể của các nước thành viên khác) (b) nghĩa vụ quy tắc, là những quy tắc của WTO để điều hành các  hoạt động thương mại quốc tế. Các cam kết về tiếp cận thị trường ở các nước thành viên có thể khác nhau và được đàm phán nhưng quy tắc ứng xử của WTO là thống nhất và việc thay đổi nó không hề dễ dàng. Các quy tắc của WTO khá rộng không chỉ bao trùm lên các biện pháp biên giới ví dụ như thuế quan và hạn chế nhập khẩu mà còn bao gồm các biện pháp nội địa ảnh hưởng tới thương mại ví dụ như thuế và quy định nội địa, tiêu chuẩn về kỹ thuật và sức khoẻ, trợ cấp chính phủ, yêu cầu về đầu tư và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc thực thi các nghĩa vụ WTO sẽ được đảm bảo thực thi thông qua cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Cơ quan này có thẩm quyền bắt buộc và quyết định của cơ quan này có giá trị ràng buộc đối với các bên. Nếu bên thua kiện không thực hiện các phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp WTO, thì WTO cho phép được áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại. WTO cũng yêu cầu các nước thành viên phải thông báo các hoạt động thương mại và rà soát thương mại định kỳ.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH THỰC THI CÁC CAM KẾT TRONG WTO tới hệ thống pháp luật và tư pháp của Trung Quốc

BÙI HƯƠNG QUẾ – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Sau 15 năm đàm phán căng thẳng, Trung Quốc chính thức trở thành thành viên thứ 143 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/12/2001. Kể từ khi gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này, đầu tư và thương mại của Trung Quốc đã có sự tăng trưởng vượt bậc. Trong giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng GDP bình quân mỗi năm đạt 9,5% (năm 2006 ước đạt 10,5%). Tính theo USD, GDP của Trung Quốc đã tăng gấp đôi, từ 1.325 tỷ USD năm 2001 lên 2.235 tỷ USD năm 2005. Trước đây, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới, sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã đứng hàng thứ ba. Trung Quốc cũng đã trở thành nước thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất thế giới.

Trong lĩnh vực pháp luật, việc gia nhập WTO đã tác động lớn đến hệ thống pháp luật và thể chế của Trung Quốc. Để thực hiện các cam kết của WTO, Trung Quốc đã tiến hành một đợt rà soát pháp luật toàn diện. Hàng nghìn văn bản pháp luật, Bgiải thích pháp luật của toà án có liên quan tới WTO đã được đối chiếu, rà soát với các cam kết của WTO. Trung Quốc cũng đã ban hành rất nhiều luật có liên quan tới thương mại như các luật có liên quan tới công ty, phá sản, ngân hàng, thể chế tài chính. Bên cạnh đó, hệ thống tư pháp và bổ trợ tư pháp của Trung Quốc cũng đã được cải tổ theo xu hướng hiện đại. Số lượng cán bộ pháp luật ở Trung Quốc cũng tăng nhanh trong thời gian vừa qua đặc biệt là luật sư. Số lượng luật sư của Trung Quốc dự kiến sẽ tăng lên khoảng 200.000 vào năm 2010 so với 175.000 vào năm 1999.

Để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật và tư pháp Trung Quốc, bài viết dưới đây xin trình bày về những cam kết chính của Trung Quốc đối với WTO, trên cơ sở đó sẽ đưa ra những đánh giá và bình luận về tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật và tư pháp của Trung Quốc. Những kinh nghiệm của Trung Quốc sau 5 năm thực hiện cam kết gia nhập WTO sẽ là bài học quý báu cho quá trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.

I. Cam kết của Trung Quốc với WTO

WTO là hệ thống thương mại đa biên nhằm nâng cao sự thịnh vượng của các quốc gia thành viên thông qua việc cắt giảm các hạn chế của Chính phủ đối với thương mại. Các nghĩa vụ trong WTO bao trùm lên các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, minh bạch hoá và quyền khiếu kiện với 2 nghĩa vụ chính: (a) nghĩa vụ tiếp cận thị trường (các nước thành viên cam kết mở cửa thị trường trong nước cho các hàng hoá và dịch vụ cụ thể của các nước thành viên khác) (b) nghĩa vụ quy tắc, là những quy tắc của WTO để điều hành các  hoạt động thương mại quốc tế. Các cam kết về tiếp cận thị trường ở các nước thành viên có thể khác nhau và được đàm phán nhưng quy tắc ứng xử của WTO là thống nhất và việc thay đổi nó không hề dễ dàng. Các quy tắc của WTO khá rộng không chỉ bao trùm lên các biện pháp biên giới ví dụ như thuế quan và hạn chế nhập khẩu mà còn bao gồm các biện pháp nội địa ảnh hưởng tới thương mại ví dụ như thuế và quy định nội địa, tiêu chuẩn về kỹ thuật và sức khoẻ, trợ cấp chính phủ, yêu cầu về đầu tư và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc thực thi các nghĩa vụ WTO sẽ được đảm bảo thực thi thông qua cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Cơ quan này có thẩm quyền bắt buộc và quyết định của cơ quan này có giá trị ràng buộc đối với các bên. Nếu bên thua kiện không thực hiện các phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp WTO, thì WTO cho phép được áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại. WTO cũng yêu cầu các nước thành viên phải thông báo các hoạt động thương mại và rà soát thương mại định kỳ.

Continue reading

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ QUỐC LÝ – LÊ VĂN CƯƠNG

Trong giai đoạn 2008-2009, tình hình kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn. Khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới bắt đầu từ năm 2007 và đang tiếp tục diễn biến ngày một phức tạp và lan rộng. Một trong những tác động rõ nhất đó là tình trạng sụt giảm của thương mại toàn cầu thể hiện ở sự sụt giảm nhập khẩu hàng loạt hàng hoá tiêu dùng và các nguyên vật liệu từ thị trường bên ngoài. Điều này ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và việc làm của người lao động ở các nước, trong đó có Việt Nam.

Hội nhập kinh tế quốc tế

Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn do khủng hoảng, nhưng giai đoạn 2006-2010, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng ổn định, hợp tác để cùng phát triển tác động mạnh đến sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Hơn hai năm Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là cơ hội tốt để Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, được đối xử bình đẳng trên “sân chơi chung” của thế giới. Hội nhập đem lại nhiều cơ hội việc làm, đặc biệt là việc làm theo hướng công nghiệp với hàm lượng vốn, tri thức cao; các rào cản pháp lý về di chuyển pháp nhân, thể nhân được nới lỏng, các quan hệ kinh tế, đối ngoại, lao động… được thiết lập tạo điều kiện cho lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Gia nhập WTO đã đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho Việt Nam, đặc biệt đối với lĩnh vực lao động và việc làm, cụ thể:

Gia nhập WTO tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam và thúc đẩy thương mại phát triển. Việt Nam có cơ hội xuất khẩu những mặt hàng tiềm năng ra thế giới nhờ được hưởng những thành quả của các vòng đàm phán giảm thuế và hàng rào phi thuế, tăng cường tiếp cận thị trường của WTO, đặc biệt trong các lĩnh vực hàng dệt may và nông sản. Cơ hội xuất khẩu bình đẳng có những ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, sản xuất sẽ được mở rộng và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động.

Tạo ra cơ hội gia tăng các giá trị tài sản vô hình cho bản thân người lao động và các doanh nghiệp thông qua các hoạt động hợp tác, chuyển giao công nghệ với các nước có nền công nghiệp tiên tiến trên thế giới. Đó là các chuẩn mực, mô hình hệ thống tổ chức quản lý hiện đại được áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất…

Tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động và nâng cao chất lượng nhân lực cho lao động của Việt Nam, đặc biệt là lao động kỹ thuật trình độ cao. Việt Nam gia nhập WTO sẽ đẩy nhanh hơn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, sẽ có một lượng lớn lao động nông nghiệp, thanh niên nông thôn nhàn rỗi, thiếu việc làm tham gia vào hoạt động kinh tế trong các doanh nghiệp, các hộ gia đình, đơn vị kinh doanh cá thể… Điều này đồng nghĩa với mang lại nhiều cơ hội thay đổi công việc và tăng thu nhập cho một bộ phận lớn lao động nông nghiệp hiện nay. Hơn nữa, sự phát triển nhanh chóng về công nghệ và thiết bị sản xuất và các hoạt động trao đổi chuyên gia giữa các nước với Việt Nam sẽ làm cho trình độ chuyên môn kỹ thuật. Hợp tác quốc tế về lao động có cơ hội phát triển, từ đó góp phần nâng cao chất lượng nhân lực, để có thể làm chủ các công nghệ và thiết bị tiên tiến trên thế giới.

Continue reading

NHỮNG BƯỚC TIẾN QUAN TRỌNG SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO

VŨ KHOAN – Nguyên BTTWĐ, Phó Thủ tướng Chính phủ

Nước ta gia nhập WTO mới trên 2 năm. Đó là một thời đoạn quá ngắn, vả lại không giống như Trung Quốc gia nhập WTO khi kinh tế thế giới phục hồi, nước ta gia nhập WTO vào thời điểm kinh tế thế giới đầy xáo động rồi lâm vào cuộc suy thoái trầm trọng nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II nên khó bề đánh giá chuẩn xác. Bên cạnh đó còn phải kể đến nhiều nhân tố khác tác động tới kinh tế nước ta, kể cả sự yếu kém vốn có từ lâu của nền kinh tế và những cam kết quốc tế khác… nên càng khó bóc tách rạch ròi. Do vậy mọi sự đánh giá chỉ mang tính tương đối.

Để đánh giá có thể dựa trên 4 căn cứ khác nhau: (i) theo những cơ hội và thách thức chúng ta đã dự báo; (ii) theo những quan điểm chỉ đạo đã được đề ra; (iii) theo những cam kết ta đã nhận và (iv) theo những chủ trương, chính sách lớn được Đảng và Chính phủ nêu lên. Vì đây là cuộc hội thảo của các Văn phòng ở TW cho nên, có lẽ nên lấy căn cứ (iv) thì hợp lý hơn.

Thực hiện cơ bản Nghị quyết của Đảng và Chương trình hành động của Chính phủ

Sau khi nước ta gia nhập WTO, Hội nghị TW 4 khoá X họp tháng Giêng 2007 đã ra Nghị quyết “ về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên WTO”, trong đó nêu ra 10 chủ trương, chính sách lớn. Tiếp đó, Chính phủ đã thông qua Chương trình hành động để thực hiện. Nay ta thử nhìn lại xem đã làm được gì, điều gì chưa làm được theo những chủ trương, chính sách ấy ở những nội dung liên quan trực tiếp tới việc gia nhập WTO.

1. Về chủ trương “Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân” nay đã đạt được sự đồng thuận rộng rãi về nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; đã có sự hiểu biết nhất định về “luật chơi” và ở chừng mực nào đó đã thích ứng với chúng.

Tuy nhiên, về mặt này cũng còn tồn tại một số vấn đề. Lúc đầu đã nẩy sinh tâm tư kỳ vọng quá lớn; không ít người cứ tưởng gia nhập WTO sẽ phồn vinh ngay; trái lại khi gặp khó khăn do giá cả thế giới tăng cao và nhất là khi nổ ra cuộc khủng hoảng toàn cầu lại nẩy sinh tâm tư cho rằng, mọi khó khăn đều do gia nhập WTO. Nói một cách khác chưa thật quán triệt nhận thức rằng, gia nhập WTO chỉ là một phương tiện, nội lực mới có ý nghĩa quyết định.

Bên cạnh đó nhiều người, kể cả những người liên quan trực tiếp chưa hiểu thật sâu những cam kết khi gia nhập WTO. Đặc biệt là chưa phát huy cao độ tinh thần chủ động sáng tạo để biến cơ hội thành hiện thực; nhiều chương trình hành động mang tính hình thức, chưa được quan tâm thực hiện; chưa biết tận dụng những công cụ WTO cho phép để bảo vệ lợi ích của mình như các tiêu chuẩn kỹ thuật, chống bán phá giá, độc quyền…

2. Về chủ trương “khẩn trương bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế” đã nêu ra 4 nhiệm vụ cụ thể; trong đó đã và chưa đạt được những mặt sau:

(i) chưa bao giờ việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật lại được tiến hành với cường độ cao như vừa qua; về đại thể những điều bổ sung, hoàn thiện đều phù hợp với những cam kết khi gia nhập và được thực hiện nghiêm chỉnh, chưa một đối tác nào chê trách.

Mặt khác vẫn tồn tại những căn bệnh cố hữu là các văn bản dưới luật chậm được ban hành; nhiều quy định trùng chéo, mâu thuẫn nhau; sự hiểu biết pháp luật chưa sâu và việc thực thi pháp luật chưa tốt.

Continue reading