CÁI ĐỨNG ĐẰNG SAU LUẬT PHÁP

VƯƠNG TRÍ NHÀN

… Ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hóa để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó…

Luật pháp thường được định nghĩa trong các từ điển như là những quy định mọi người nhất thiết phải tôn trọng trong khi đạo lý suy cho cùng chỉ có nghĩa là những ước lệ hợp với lương tâm cho con người lại được xã hội thừa nhận và khuyến khích nên theo, ai theo được có nghĩa đấy là người tốt.

Một hành động bị coi là phạm pháp, khi nó xâm phạm đến quyền lợi hoặc của cả cộng đồng hoặc của các thành viên trong cộng đồng, do đó, phải bị trừng phạt. Còn một hành vi bị coi là thiếu đạo đức tức là đã bị cộng đồng lên án. Có thể bảo sự lên án này chỉ dừng lại ở phạm vi một dư luận, song đối với người có lương tâm trong sáng, đã là một cái gì rất nặng nề. Lẽ tự nhiên là trong việc phân biệt một hành vi đạo đức và một hành vi phi đạo đức, một cộng đồng đã tự nói về mình rất nhiều. Sau hết, cũng nên ghi nhận rằng mặc dù những tiêu chuẩn đạo đức thường có tính nhân bản, nghĩa là chung cho mọi dân tộc, nhưng đi vào cụ thể ở mỗi dân tộc nó lại mang những sắc thái riêng. Đến đây, bắt đầu thấy xuất hiện vai trò của văn hóa, nó là lối sống, lối nghĩ, các quan hệ giữa con người với thiên nhiên và con người với con người, tất cả đã trở thành nền nếp ở từng dân tộc và làm nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác.

… Thỉnh thoảng, tôi cứ phải giở sách ra để ôn lại những ý tưởng trên, nhất là gần đây, đọc báo chí, nghe đài, được biết thêm nhiều hành động mà chúng ta quen gọi là hiện tượng tiêu cực. Nhiều người nông dân hám lợi, mang bán thứ rau quả phun thuốc trừ sâu, săn vào gây ra độc hại. Các lò mổ bò mổ lợn thường là kém cỏi về mặt vệ sinh nghĩa là ủ sẵn bệnh tật hại người. Nhà máy, bệnh viện hàng ngày tống ra đủ thứ chất thải làm ô nhiễm môi trường. Rồi hàng hóa thì làm ẩu, cốt bán rẻ để cạnh tranh giá kể người mua mang về có không dùng được, thì cũng không quản ngại. Cho đến gần đây lại xảy ra những vụ tham nhũng ghê gớm, tham nhũng đến mức người ta tin rằng các đương sự phải mất hết lương tâm thì mới bảo nhau vét sạch tiền của nhà nước đến như vậy! Có biết bao hành động ngang tai trái mắt đang xảy ra chung quanh, và có cơ ngày một phát triển. Mà lấy luật pháp để trị nhau thì không phải dễ. Tội lỗi ở đây như cái cây, gieo mầm hôm nay, hôm sau mới “kết quả”, lúc bấy giờ người có lỗi đã cao chạy xa bay, ai làm gì nổi! Vả chăng, trong tình trạng xã hội hỗn hào, mọi người chen chúc nhau để sống, muốn lần ra đầu mới của cái ác sẽ gặp muôn vàn rắc rối, dễ gì bắt tận tay day tận trán để luận tội? Nhưng ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hóa để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó.

Continue reading

SUY NGẪM 50

SỐ 50

Năm 2011, UBND TP. Đà Nẵng quyết định không tuyển dụng người tốt nghiệp hệ tại chức vào làm việc trong các cơ quan nhà nước trên địa bàn. Có nhiều lý do để bàn luận và khoan hãy bàn đến tính hợp pháp của quyết định mà cần nhìn nhận vấn đề trên hai phương diện:

– Dưới góc độ người sử dụng lao động, UBND TP. Đà Nẵng có quyền đưa ra tiêu chuẩn đối với người lao động và quyết định trên là bình thường khi nhà tuyển trạch cho rằng, người tốt nghiệp hệ tại chức không đáp ứng được yêu cầu của công việc quản lý Nhà nước. Câu hỏi đặt ra, việc không “tin tưởng” chất lượng đào tạo hệ tại chức đã được xây dựng dựa trên những luận cứ khoa học nào?

– Dưới góc độ quản lý nhà nước, quyết định của UBND TP. Đà Nẵng đã mâu thuẫn với hai trách nhiệm xã hội cơ bản của Nhà nước dân chủ: Thứ nhất, tạo môi trường bình đẳng về cơ hội học tập cho công dân và cơ hội được thừa nhận kiến thức đã học; Thứ hai, tạo môi trường bình đẳng về cơ hội có việc làm cho công dân và sự minh bạch trong việc tuyển dụng người lao động.

Thiết nghĩ, UBND TP. Đà Nẵng nói riêng và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam nói chung nên xác định rõ mình ở vị trí nào ở hai phương diện nêu trên trong các quyết định liên quan đến sử dụng và đãi ngộ người lao động.

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

SUY NGẪM 49

Việt Nam đang ở những “bước nhảy”  quan trọng để hoàn thành chỉ tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp năm 2020. Những dự án đầu tư vào công nghiệp, dịch vụ, cơ sở hạ tầng với số vốn hàng chục ngìn tỷ đồng cho tới hàng trăm nghìn tỷ đồng đã và đang được các chủ đầu tư, các cấp quản lý có thẩm quyền nhiệt tình xây dựng, đề xuất và tranh luận với những quan điểm, luận cứ trái ngược nhau.

Một điều có thể dễ nhận thấy, các dự án đô thị, chung cư cao cấp, khu công nghiệp, dịch vụ … dễ dàng được thông qua, khẩn trương thực hiện và được xem như là thành tựu nổi bật của đổi mới. Trong khi đó, những chính sách phản ánh ưu việt của chế độ xã hội: miễn giảm học phí, miễn giảm viện phí, mở rộng cơ sở hạ tầng và chất lượng giáo dục, y tế với với vốn đầu tư chắc nhỏ hơn rất nhiều so với đường sắt cao tốc, sửa sang cơ sở hạ tầng cho kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội… thì lại nhận được sự “thờ ơ” đáng ngạc nhiên.

Rõ ràng, nghèo mà cho sạch đáng trân trọng hơn nhiều giàu mà tính nhân văn và sự bền vững của phát triển xã hội bị thử thách.

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

LƯƠNG BỔNG

HOÀNG HỒNG MINH

Nó là giá trị lao động của mỗi con người, trong đó có tất cả các yếu tố xã hội đang nhắm tới

Nếu như chữ "lương" tồn tại đã từ rất lâu đời, thì khái niệm "tiền lương hoàn chỉnh" là câu chuyện chưa trở thành hiện thực ở xứ ta, giản đơn là như vậy. Cả một di sản ngàn năm về câu chuyện này. Không dễ giải quyết, nhưng đó chìa khóa để đi vào xã hội hiện đại.

Chữ "lương" xưa đơn giản là gạo mỳ khoai sắn.

Để sai tướng lính đi làm một công việc, một sứ mệnh nào đó, bề trên cấp cho một khoản đồ ăn để "ăn no đánh thắng". Còn lại thì phần thưởng là chuyện khác, chuyện "bổng lộc" về sau.
Mở rộng ra dân gian, để sai hay thuê làm một công việc nào đó, người sai hay người mướn cấp cho người thực hiện một khoản đồ ăn để "trả lương" công thợ.

Câu chuyện là ở chỗ này.

Trong xã hội cổ truyền, tất cả các hình thức sai bảo, thuê việc này đều chưa có thể chế hợp đồng, chưa có thị trường lao động, cùng một hệ thống pháp lý ở tầm mức toàn xã hội để đảm bảo sự ổn định, công bằng cho việc thuê mướn và trả tiền lương.

Để đảm bảo quyền lực tối cao của nhà nước xưa, một cơ chế khác được bảo hành để duy trì sự lệ thuộc mạnh mẽ của đội ngũ quan lại đối với triều đình. Đó là cơ chế bổng lộc.
Trong cơ chế trả lương, người nhận lương và người trả lương không nợ gì nhau nữa. Tiền trao, cháo múc. Cái này nhà vua, nhà chúa tất nhiên không mê gì. Trong cơ chế bổng lộc, cái ân nợ của người được nhận bổng lộc là hiển nhiên.Cái bổng lộc là do bề trên ban phát trực tiếp.Cái bổng lộc này là bao nhiêu, không có gì ràng buộc cả. Cái bổng lộc này là cho mượn, có thể bị đòi lại bất cứ lúc nào.Cái bổng lộc này, ngay cả đã tiêu hết rồi, vẫn là món nợ, có thể bị kể ra để hạch tội bất cứ lúc nào. Và một khi cái bổng lộc bị tước đi, bị đòi lại, thì cả lợi ích sống còn lẫn danh giá của người được hưởng đều tan bay trong phút chốc. Hơn thế nữa, thường là điềm họa đã đến. Trong bổng lộc, không có sự công bằng, sự bảo đảm, sự tôn trọng, sự vững bền, sự tự do.

Continue reading

TÂM LÝ NGƯỜI VIỆT VÀ VĂN HOÁ PHÁP LÝ VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

THS. BÙI XUÂN PHÁI – Giảng viên khoa Hành chính- Nhà nước

Bất cứ một nền văn minh lớn nào cũng có những bộ luật lớn để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giúp cho xã hội đó phát triển, đồng thời cũng tạo ra niềm tự hào cho con người xây dựng nên những nền văn minh đó. Điều đó chứng tỏ rằng pháp luật vừa là công cụ để điều chỉnh xã hội văn minh, vừa là phẩm của xã hội văn minh.

Cái hay cái tốt của pháp luật có lẽ không phải bàn cãi nhưng thái độ của con người trong việc sử dụng pháp luật và cách hình thành nên một nền văn hoá pháp lý thì lại cần có sự nghiên cứu một cách đầy đủ để tìm ra sự khác biệt giữa các nền văn minh ấy từ nhiều nguyên nhân như tập quán sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt, quá trình giao lưu, tiếp nhận hay hoà nhập các yếu tố ngoại lai… đồng thời chỉ ra những nguyên nhân góp phần làm hình thành nên tâm lý của một dân tộc, một quốc gia. Tâm lý con người của một dân tộc, một quốc gia là một yếu tố cực kỳ quan trọng tham gia vào việc hình thành nên đời sống văn hóa pháp lý. Trải qua mấy nghìn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Việt nam đã tạo cho mình những sắc thái văn hóa đặc sắc riêng biệt, trong đó có sắc thái của văn hoá pháp lý. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá phức tạp. Nó cần được đánh giá ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ để tìm ra những cái hay, cái dở qua đó để xây dựng một nền văn hoá pháp lý phù hợp với điều kiện mới. Bài viết này muốn nói tới yếu tố tâm lý người Việt trong quá trình hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý của dân tộc Việt nam với những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật trong điều kiện hội nhập và phát triển.

1. Tâm lý người Việt và văn hoá pháp lý ở Việt nam

Nếu văn hoá pháp lý là những giá trị tốt đẹp mà pháp luật tạo ra từ quá trình đấu tranh sinh tồn và phát triển của con người và được chọn lọc qua thời gian thì ở Việt nam, văn hoá pháp lý gắn liền với với quá trình hình thành, phát triển và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống mang đặc sắc Việt nam. Trong quá trình hội nhập và phát triển, văn hoá nói chung và văn hoá pháp lý nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để chúng ta hoà nhập mà không bị hoà tan, vừa bảo tồn được các giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hoá thế giới để hình thành một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII đã xác định: “Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương… biên thành nguồn nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển” . Sự hình thành của các yếu tố văn hoá, trong đó có văn hoá pháp lý ra trong thời gian rất dài và phức tạp với cả những yếu tố khách quan và chủ quan.

Continue reading

TÂM LÝ NGƯỜI VIỆT và văn hoá pháp lý với việc thực hiện pháp luật trong tiến trình hội nhập quốc tế

THS. BÙI XUÂN PHÁI – Giảng viên khoa Hành chính- Nhà nước

Bất cứ một nền văn minh lớn nào cũng có những bộ luật lớn để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giúp cho xã hội đó phát triển, đồng thời cũng tạo ra niềm tự hào cho con người xây dựng nên những nền văn minh đó. Điều đó chứng tỏ rằng pháp luật vừa là công cụ để điều chỉnh xã hội văn minh, vừa là phẩm của xã hội văn minh.

Cái hay cái tốt của pháp luật có lẽ không phải bàn cãi nhưng thái độ của con người trong việc sử dụng pháp luật và cách hình thành nên một nền văn hoá pháp lý thì lại cần có sự nghiên cứu một cách đầy đủ để tìm ra sự khác biệt giữa các nền văn minh ấy từ nhiều nguyên nhân như tập quán sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt, quá trình giao lưu, tiếp nhận hay hoà nhập các yếu tố ngoại lai… đồng thời chỉ ra những nguyên nhân góp phần làm hình thành nên tâm lý của một dân tộc, một quốc gia. Tâm lý con người của một dân tộc, một quốc gia là một yếu tố cực kỳ quan trọng tham gia vào việc hình thành nên đời sống văn hóa pháp lý. Trải qua mấy nghìn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Việt nam đã tạo cho mình những sắc thái văn hóa đặc sắc riêng biệt, trong đó có sắc thái của văn hoá pháp lý. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá phức tạp. Nó cần được đánh giá ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ để tìm ra những cái hay, cái dở qua đó để xây dựng một nền văn hoá pháp lý phù hợp với điều kiện mới. Bài viết này muốn nói tới yếu tố tâm lý người Việt trong quá trình hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý của dân tộc Việt nam với những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật trong điều kiện hội nhập và phát triển.

1. Tâm lý người Việt và văn hoá pháp lý ở Việt nam

Nếu văn hoá pháp lý là những giá trị tốt đẹp mà pháp luật tạo ra từ quá trình đấu tranh sinh tồn và phát triển của con người và được chọn lọc qua thời gian thì ở Việt nam, văn hoá pháp lý gắn liền với với quá trình hình thành, phát triển và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống mang đặc sắc Việt nam. Trong quá trình hội nhập và phát triển, văn hoá nói chung và văn hoá pháp lý nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để chúng ta hoà nhập mà không bị hoà tan, vừa bảo tồn được các giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hoá thế giới để hình thành một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII đã xác định: “Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương… biên thành nguồn nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển” . Sự hình thành của các yếu tố văn hoá, trong đó có văn hoá pháp lý ra trong thời gian rất dài và phức tạp với cả những yếu tố khách quan và chủ quan.

Continue reading

NGƯỜI VIỆT CÓ TRUYỀN THỐNG BẤT TUÂN PHÁP LUẬT?

THS. ĐINH THẾ HƯNG – Vin Nhà nước và Pháp lut

  Dân hai lăm triệu ai người lớn

Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con.(Tản Đà)

Cách đây vài năm không ít người Trung Quốc đã từng bị sốc khi cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” của nhà văn Bá Dương ra đời. Sốc là phải thôi bởi từ lâu người ta đã quá quen với “những từ có cánh” để cho “cả nhà đều vui” khi nói về dân tộc mình .Thói thường “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại” là cách ứng xử đã trở thành chuẩn mực giữa người với người và giữa mình với chính mình. Thế nhưng, một dân tộc mạnh phải biết nhìn thấy và dũng cảm thừa nhận những nhược điểm của mình. Nói cách khác, biết mình yếu ở chỗ nào tức là đã mạnh thêm được một ít. Còn thói xấu của người Việt mình không phải là không có chỉ có điều nó chưa được chỉ mặt đặt tên chính xác thôi. Bất tuân pháp luật – là một thói xấu như vậy.

Pháp luật- chắc nó trừ mình ra

   Biểu hiện của việc bất tuân pháp luật trước hết có thể tìm trong lịch sử. Đó là những cuộc khởi nghĩa nông dân liên miên của người Việt chống lại sự thống trị của ngoại bang trong đêm dài Bắc thuộc, trong những giai đoạn mà triều đình phong kiến đang suy vong và lòng dân không yên…Ngay cả bây giờ, tuy không phải là trào lưu nhưng ý thức tuân thủ pháp luật của dân mình còn kém lắm- có thể kể cả ngày không hết. Nhẹ thì vi phạm luật giao thông, mắt trước mắt sau không thấy cảnh sát đâu là vượt đền đỏ. Cao hơn tý nữa là lấn chiếm đất đai, rồi xây dựng trái phép… Điều đáng buồn nhất là người ta coi việc vi phạm ấy là cái gì đó có vẻ hay ho. Có chị mấy lần vượt đèn đỏ bị công an bắt hụt coi đó là chiến tích âm ỉ sung sướng mấy ngày chưa hết gặp ai cũng khoe. Những người nghành toà án có lẽ không ai là không cảm thấy chua chát khi đương sự của mình gọi mãi không đến hỏi tại sao thì họ bảo các cụ dạy “vô phúc đáo tụng đình” bởi “chờ được vạ thì má đã sưng”. Người ta đã đồng nghĩa pháp luật và toà án với xử phạt và trừng trị. Chính vì vậy, có làm ngành toà mới  có thể chia sẻ với Chánh án TANDTC đương nhiệm khi ông bày tỏ mơ ước trước Quốc hội có một ngày, ngành toà có  những “đương sự tốt, bị cáo tốt”. Có nghĩa là người dân thay vì chống đối hãy coi toà án là người bảo vệ công lý. Cho dù toà có phạt ai đi chăng nữa cũng không ngoài mục đích đem đến sự an toàn pháp lý cho xã hội và bảo vệ con người. Nghe nói ở một số nước, luật bảo vệ môi trường và động vật cũng như ý thức tuân thủ pháp luật của họ cao đến mức chim bồ câu có thể thanh thản dạo chơi và kiếm ăn hàng đàn trên các quảng trường thành phố và được con người coi ngươi đối xử như những người bạn. Trộm nghĩ nếu như ở nước mình quảng trường có nuôi chim là mơ ước của mấy ông ông bợm nhậu . Chỉ có thịt chim ngon và bổ là có thật còn pháp luật này nọ – chắc nó trừ mình ra.

Continue reading

VEDAN VÀ NHỮNG LỜI “VUỐT ĐUÔI” CỦA ÔNG BỘ TRƯỞNG

THS. ĐINH THẾ HƯNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Vedan đã quá nổi tiếng ở Việt Nam bởi họ đã tạo ra loại bột ngọt có vị đắng của nước sông Thị vải. Báo chí đã đang và chắc chắn sẽ tốn khá nhiều giấy mực cho họ bởi lẽ vụ việc này chưa thể xong như nhiều người nghĩ. Có xong thì chỉ xong với Bộ Tài nguyên môi trường bởi lúc này, trách nhiệm xử lý vụ việc được chuyển sang tòa án.

Quá trình đi tìm kiếm công lý của người dân mới chỉ bắt đầu bằng hoạt động đầu tiên của quy trình tố tụng: khởi kiện ra tòa. Không chỉ là một vụ kiện tụng bình thường giữa bên nguyên và bên bị, không chỉ là giá trị vài chục tỷ đồng bồi thường…. Vụ án Vedan còn mang trong nó nhiều ý nghĩa hơn thế. Mọi con mắt đang hướng về tòa án. Nơi diễn ra cuộc chiến gay go giữa cái thiện và cái ác, nơi công lý và sự thật sẽ được bảo vệ. Vụ kiện Vedan, có thể đi vào lịch sử tư pháp nước nhà nếu những hy vọng tốt đẹp trên được thể hiện. Mọi con mắt đang hướng về tòa án với sự tin tưởng đó. Một trách nhiệm nặng nề đồng thời cũng là một vinh dự to lớn đặt lên vai các thẩm phán của chúng ta.

Người ta tin tưởng điều đó không phải vì lời nói như đinh đóng đóng cột của ông Bộ trưởng Bộ tài nguyên môi trường khi ông khoát tay và hùng hồn khẳng định rằng: Chúng ta có thừa chứng cứ để kiện Vedan, Kiện Vedan chắc chắn sẽ thắng vvw… và vvw…. Thực ra vụ Vedan đã diễn ra từ lâu và điều mà người dân phiền lòng nhất đó chính là sự phát hiện chậm trễ, sự lung túng nhiều khi đến mức khó hiểu trong việc xử lý về mặt hành chính đối với công ty Vedan của các cơ quan quản lý nhà nước mà đứng đầu là Bộ Tài nguyên Môi trường. Nếu xử lý sớm hơn và quyết liệt hơn vụ Vedan có lẽ không phức tạp thế này. Một vụ việc đã ra đến tòa thì có lẽ, mọi sự đều trông chờ vào tòa án với sự công tâm của mình. Xin thưa rằng: kiện chắc thắng, thừa chứng cứ….đều chỉ là sự phỏng đoán của ông Bộ trưởng chứ không không phải là kết luận và một khi vụ án chưa được tòa xét xử. Kết luận đúng sai, quy trách nhiệm bồi thường bây giờ là nhiệm vụ của các quan tòa chứ không phải ông Bộ trưởng. Việc của ông Bộ trưởng có lẽ là cần kiểm điểm lại hoạt động quản lý của ngành mình và nếu có một Vedan thứ hai thì xử lý thế nào hơn là cao đàm khoát luận “phán” thay tòa án. Báo chí, dư luận của chúng ta đôi khi cứ làm thích thay công việc của tòa điều đó ít nhiều tạo ra cái nhìn không đúng đắn đối với công tác tư pháp của chúng ta.

Continue reading

SUY NGẪM 48

Ngày 5/7/2010, HĐTP TANDTC sẽ xét xử giám đốc thẩm vụ án oan “hiếp dâm tập thể” dành cho 3 chàng trai ở tỉnh Hà Tây cũ, mừng cho công lý sắp trở lại với họ. Điều đáng bàn, người  tìm lại công lý không phải các vị đại diện Viện kiểm sát, các luật sư tham gia tố tụng ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm mà từ một bác sĩ bình thường biết cảm thông trước nỗi đau của con người …

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã có hiệu lực 06 tháng. Các cơ quan có thẩm quyền đã và đang tích cực sơ kết tình hình thi hành Luật. Gây thiệt hại phải bồi thường là cái đương nhiên trong xã hội dân sự. Song chân lý “cốt yếu” phải là: không hoặc giảm thiểu tối đa việc gây thiệt hại. Thực tế, đã thiệt hại rồi có mấy ai lấy lại đầy đủ những gì mình đã mất?

Để đạt được cái chân lý như vậy, bên cạnh việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước, chất lượng đội ngũ công chức, sự minh bạch của pháp luật thì cơ quan thanh tra, kiểm sát và đội ngũ luật sư có đóng vai trò quyết định?! giá mà…

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

SUY NGẪM SỐ 47

Trong những ngày qua, nghị trường đang nóng vì sự bàn thảo không dứt nên hay không nên xây dựng đường sắt cao tốc Bắc – Nam? Sự “dùng dằng” không quyết đoán từ phía Chính phủ hay Quốc hội đều có thể để gánh nặng cho đời sau mà cũng có thể đánh mất cơ hội phát triển.

Xét cho cùng, xây dựng con đường “thiên lý mới” là khát vọng không dựa trên tiền của chúng ta, công nghệ của chúng ta. Dù nó được xây dựng trên nhu cầu vì cái gì và khả năng của chúng ta đến đâu? đó cũng là cái nợ. Nợ rất có thể là sự “trả giá” mà con cháu chúng ta phải gánh chịu do sự bất cẩn từ thời chúng ta đang sống?!

Tin cập nhật! Chiều 19/6/2010 Quốc hội quyết định “bấm nút” không thông qua Dự án đường sắt cao tốc. Bất ngờ vì kết quả và mừng vì sự vượt qua chính mình của các đại biểu quốc hội!

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

SUY NGẪM 46

415/NGÀY là chỉ tiêu khoán phạt vi phạm giao thông áp dụng cho lực lượng CSGT Hà Nội. Mục đích của chủ trương có thể là đúng, nhưng căn cứ và hệ quả của chủ trương thì còn nhiều điều cần bàn:

– Cơ sở của con số 415 phải chăng vì nó “đẹp” (tổng của ba số trong dãy số = 10)? hay nó là kết quả của  việc nghiên cứu, khảo sát thực tế khoa học về số lượng vụ vi phạm và khả năng thực tế của CSGT Hà Nội?

– Nếu số vụ vi phạm lớn hơn rất nhiều con số 415, phải chăng CSGT Hà Nội đã hoàn thành nhiệm vụ trước xã hội? Ngược lại, số vụ vi phạm mà gần bằng hoặc ít hơn con số 415, liệu CSGT Hà Nội cố gắng “tìm” cho đủ con số đó? hay tự vô hiệu hóa quyết định của chính mình?

– Đã “khoán” thì khi vượt chỉ tiêu thì phải có thưởng, không thưởng sẽ không truyền “lửa” nhiệt tình cho người thực thi công vụ? Xét về tâm lý, người được “khoán” và người khoán luôn mong hoàn thành vượt chỉ tiêu. Hệ quả, họ sẽ quan tâm tìm biện pháp giảm thiểu vi phạm? hay càng có nhiều vi phạm càng tốt?

… Còn nhiều băn khoăn lắm khi một số cơ quan công quyền của chúng ta vẫn duy trì thói quen ra quyết định vì họ cho là đúng mà không tính đến hậu quả xã hội từ các quyết định của mình.

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

THIẾU MINH BẠCH VẪN LÀ CĂN BỆNH NAN Y!

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty CP Tư vấn quản lý và đào tạo VFAM VN

Có thể nói, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia mà sự thiếu minh bạch xảy ra ở khắp nơi và trong rất nhiều trường hợp, không cần phải có học thức cao hay dày công nghiên cứu, người dân bình thường cũng dễ dàng nhận thấy.

THIẾU MINH BẠCH Ở KHẮP NƠI

Thiếu minh bạch về thu nhập của cả từng cá nhân và của các doanh nghiệp là điều dễ nhận thấy nhất. Trước hết là với từng cá nhân. Toàn dân Việt Nam không có nghĩa vụ và trong rất nhiều trường hợp không thể giải thích được nguồn gốc của số tài sản mình đang sở hữu. Nghiêm trọng hơn cả là với các công chức, quan chức trong bộ máy công quyền. Đã hàng nghìn lần và không ít công dân đặt ra câu hỏi: một công chức – nhân viên bình thường – trong ngành thuế, hải quan, nhà đất, quản lý thị trường, công an… với mức lương thường được đánh giá là "không đủ sống trong 20 ngày của một tháng" nhưng lấy tiền đâu ra để mua sắm xe hơi, nhà lầu, đất đai và có một cuộc sống vương giả? Một quan chức, tuy thu nhập có cao hơn một nhân viên bình thường, nhưng lấy tiền ở đâu để cho con đi du học nước ngoài với học phí từ hàng chục đến hàng trăm nghìn đô la mỗi tháng? Những câu hỏi ấy không ai trả lời. Một nghịch lý từ lâu vẫn tồn tại như sự thách thức đối với dư luận, đó là, công chức, quan chức Việt Nam đi làm cho Nhà nước để nhận lương nhưng không sống bằng lương; không sống bằng lương nhưng hầu như không ai bỏ việc. Ngược lại, "cuộc chiến" để tranh giành các ghế quan chức lại luôn luôn nóng bỏng!

Trong một bộ phận doanh nghiệp, sự thiếu minh bạch cũng xay ra nghiêm trọng. Ở một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, theo báo cáo tài chính thì doanh nghiệp lỗ triền miên, thậm chí số lỗ cộng dồn sau 3 đến 5 năm lớn gấp 5-6 lần vốn điều lệ, nhưng tài sản cá nhân của ông chủ doanh nghiệp thì tăng lên gấp nhiều lần sau mỗi năm. Vì sao vậy? Ở khá nhiều doanh nghiệp nhà nước thì ngược lại. Doanh nghiệp thua lỗ nặng nề và kéo dài nhưng các báo cáo tài chính (đã được kiểm toán) lại cho thấy là doanh nghiệp đang có lãi lớn và doanh nghiệp dễ dàng được vay vốn từ ngân hàng với số tiền hàng trăm tỷ đồng, nhanh chóng được tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán… Sự thật chỉ bị phơi bày khi khả năng thanh toán bị triệt tiêu. Vì sao lại có hiện tượng ấy? Câu hỏi trên cũng không có ai trả lời!

Continue reading

NHỮNG KHUYẾT TẬT CỦA CHUẨN MỰC

HỒNG PHÚC

Đã đến lúc nhìn sự phát triển của ta về chiều sâu thay vì chiều rộng. Bởi sự rối ren về chuẩn mực đang khiến có  rất nhiều việc không bình thường được coi là bình thường trong xã hội hiện nay.

Sự không bình thường đó là gì? Là những khuyết tật ngày càng bộc lộ trong đời sống hiện đại nhưng vẫn được xã hội chấp nhận, có khi còn cổ vũ vô  lối cho nó.

Người ta gặp sự bất thường đó ngay từ khi vào đời. Cha mẹ phải chen nhau để tìm chỗ cho con vào những trường tiểu học (rất tốn tiền) mà học sinh chưa học lớp Một đã phải thi đầu vào. Tiêu chuẩn đặt ra với một đứa trẻ chưa từng đến trường: không được ngọng, phải có IQ cao, phải biết tiếng Anh, biết đọc, biết viết… Phong trào mù quáng đó tạo nên sự nhầm lẫn về chuẩn mực cho trẻ lớp Một. Giáo dục khi ấy không giúp trẻ em khơi gợi những khả năng tiềm ẩn của mình như thiên chức của nó mà là một cỗ máy khắc nghiệt gò ép các em.

Chuẩn mực bị đảo lộn khi một thầy giáo hiệu trưởng có thể xâm hại tình dục ngay cả học sinh mới 9 tuổi của mình, một thầy giáo khác thì lạm dụng học trò nữ 13 tuổi; là việc một người từng làm mẹ có thể đâm kim vào thóp đứa trẻ mới hơn một tháng tuổi, một người phụ nữ nghe lời người tình giết con đẻ mình… 

Không riêng gì những vụ việc đau lòng, sự mất cân bằng về chuẩn mực biểu hiện ngay bên ta từ những việc nhỏ nhặt song nó hiển nhiên đến nỗi ít ai thắc mắc. Hai người giúp việc cho hai nhà cạnh nhau, một người Malaysia ăn lương 500 đô la Mỹ/tháng trong khi cũng công việc đó, bà giúp việc người Việt bên cạnh chỉ có lương hơn một triệu đồng. Tức là khi so sánh tiêu chuẩn hai người giúp việc theo cùng một chuẩn mực (về người giúp việc nhà) chúng ta từ lâu nay đã tụt hạng thê thảm. Đó là nỗi đau của người Việt Nam về chất lượng nguồn nhân lực, song nhiều người trong chúng ta đã quen nên không hề thấy xót xa.

Continue reading

SUY NGẪM 45

Chỉ còn hơn 5 tháng, Hà Nội bước vào những ngày cuối cùng của Đại lễ 1000 năm tuổi. Thành phố “sạch” nhất Việt Nam năm 2009 vẫn khoác trên mình sự nhếch nhác đến khó tả do ô nhiễm từ bụi, âm thanh, văn hóa đường phố… Khắp nơi, các nhà chức trách bóc đất, lát gạch, đắp đường, trồng cây… Khách thập phương và người dân sở tại phải tự “gồng mình” vén sự ô nhiễm và bề bộn của thành phố để cảm nhận cái hồn của 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Trên các phương tiện thông tin đại chúng của Thành phố, các bảng hiệu ngoài trời luôn hiển thị còn bao nhiêu ngày đến ngày Đại lễ… thông báo đó dường như chỉ có ý nghĩa thúc ép nhà tổ chức phải hoàn tất nốt công tác chuẩn bị?! mà không phải là số thời gian Hà Nội sống trong Đại lễ?! Dồn sức cho cho ngày Đại lễ là điều phải làm, nhưng chẳng nhẽ kỷ niệm lịch sử 1000 năm bằng hàng nghìn tỷ đồng chỉ dành cho một ngày? mà không thể là một năm và hơn thế nữa?!

Chúng ta thường trách thế hệ trẻ không hiểu lịch sử nước nhà, nhưng chính chúng ta đã cho các em quá ít thời gian và điều kiện để cảm nhận và tự hào những gì ông cha đã

Les stéroïdes, un acide gras d’origine naturelle, sont présents dans la viande de ruminants et les produits laitiers et sont produits par un processus de bio-hydrogénation dans le rumen. Dans ce cas, l’isomère prédominant formé est le 9cis, les groupes 11trans.FA qui produisaient des bienfaits pour la santé. Cependant, le modèle d’expression des visitez le site Web enzymes impliquées dans la synthèse des acides gras ne correspondait pas aux changements dans la composition de l’AF. Ainsi, le mécanisme des changements induits par l’exercice et les stéroïdes dans le profil d’AF hépatique n’a pas encore été établi. En outre, les conséquences des changements induits par les stéroïdes et / ou l’exercice dans la composition des AG hépatiques doivent être élucidées.

để lại.

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

PHÂN TẦNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

TRỊNH DUY LUÂN

Công cuộc đổi mới gần 2 thập kỷ qua đã làm thay đổi căn bản diện mạo đời sống kinh tế – xã hội ở nước ta. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN – sản phẩm của đổi mới đã phát huy hiệu quả của nó ở tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định cùng với việc nâng cao mức sống của hầu hết các tầng lớp dân cư. Bên cạnh đó, kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh ra không ít những hệ quả xã hội mà chúng ta đang phải tập trung giải quyết. Một trong các hệ quả như vậy là sự phân tầng xã hội (PTXH). Nghiên cứu về vấn đề này cho thấy bức tranh tổng thể về sự PTXH cũng như các yếu tố có liên quan. Qua đó, góp phần định hướng các mục tiêu và chiến lược giảm bất bình đẳng xã hội.

Về khái niệm PTXH, PTXH theo mức sống

PTXH là một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học. Nó được định nghĩa là: “sự xếp hạng (ranking) một cách ổn định các vị trí trong xã hội xét từ góc độ quyền lực, uy tín hoặc các đặc quyền, đặc lợi không ngang nhau”. Trong sự PTXH, có các “tầng” (stratum), mỗi tầng là một tập hợp người (cá nhân) giống nhau về địa vị, bao gồm địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập), địa vị chính trị (quyền lực) hay địa vị xã hội (như uy tín), từ đó mà họ có được những cơ hội thăng tiến, sự phong thưởng và những thứ bậc nhất định trong xã hội. Sự PTXH thường được mô tả dưới dạng các “tháp phân tầng” với những hình dáng khác nhau tuỳ thuộc vào đặc trưng của các loại xã hội. Về cơ bản, PTXH là một sự phân chia mang tính cấu trúc các tầng lớp, giai tầng xã hội dựa trên những đặc trưng về vị thế kinh tế – xã hội của các cá nhân. Vì vậy, khái niệm PTXH phân biệt với các khái niệm gần gũi như: phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo, phân cực xã hội. Các khái niệm sau này có thể xem như những biến thể, hay là trường hợp riêng của PTXH.

Trong lịch sử, tương ứng với các loại xã hội khác nhau, có những hệ thống PTXH khác nhau. Một số quốc gia có thể có sự bất bình đẳng về kinh tế rất cao, song quyền lực lại được phân bố một cách dân chủ, bình đẳng hơn. Trong khi ở một số quốc gia khác, bất bình đẳng về kinh tế có thể không lớn, nhưng quyền lực lại bị tập trung cao độ trong tay một nhóm cầm quyền, độc tài. Các nhà xã hội học thường dẫn ra những ví dụ điển hình như nước Anh trong lịch sử đã là một xã hội giai cấp, dựa trên cơ sở những khác biệt về sở hữu tài sản. Nước Đức quốc xã đã từng được phân tầng theo quyền lực. Xã hội Nam Phi trước đây là ví dụ về một xã hội phân tầng theo sự thống trị về chủng tộc.

Continue reading

PHÂN TẦNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – Phương pháp tiếp cận và kết quả nghiên cứu

shutterstock_282585773_Sangoiri07d5TRỊNH DUY LUÂN

Công cuộc đổi mới gần 2 thập kỷ qua đã làm thay đổi căn bản diện mạo đời sống kinh tế – xã hội ở nước ta. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN – sản phẩm của đổi mới đã phát huy hiệu quả của nó ở tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định cùng với việc nâng cao mức sống của hầu hết các tầng lớp dân cư. Bên cạnh đó, kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh ra không ít những hệ quả xã hội mà chúng ta đang phải tập trung giải quyết. Một trong các hệ quả như vậy là sự phân tầng xã hội (PTXH). Nghiên cứu về vấn đề này cho thấy bức tranh tổng thể về sự PTXH cũng như các yếu tố có liên quan. Qua đó, góp phần định hướng các mục tiêu và chiến lược giảm bất bình đẳng xã hội.

Về khái niệm PTXH, PTXH theo mức sống

PTXH là một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học. Nó được định nghĩa là: “sự xếp hạng (ranking) một cách ổn định các vị trí trong xã hội xét từ góc độ quyền lực, uy tín hoặc các đặc quyền, đặc lợi không ngang nhau”. Trong sự PTXH, có các “tầng” (stratum), mỗi tầng là một tập hợp người (cá nhân) giống nhau về địa vị, bao gồm địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập), địa vị chính trị (quyền lực) hay địa vị xã hội (như uy tín), từ đó mà họ có được những cơ hội thăng tiến, sự phong thưởng và những thứ bậc nhất định trong xã hội. Sự PTXH thường được mô tả dưới dạng các “tháp phân tầng” với những hình dáng khác nhau tuỳ thuộc vào đặc trưng của các loại xã hội. Về cơ bản, PTXH là một sự phân chia mang tính cấu trúc các tầng lớp, giai tầng xã hội dựa trên những đặc trưng về vị thế kinh tế – xã hội của các cá nhân. Vì vậy, khái niệm PTXH phân biệt với các khái niệm gần gũi như: phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo, phân cực xã hội. Các khái niệm sau này có thể xem như những biến thể, hay là trường hợp riêng của PTXH.

Trong lịch sử, tương ứng với các loại xã hội khác nhau, có những hệ thống PTXH khác nhau. Một số quốc gia có thể có sự bất bình đẳng về kinh tế rất cao, song quyền lực lại được phân bố một cách dân chủ, bình đẳng hơn. Trong khi ở một số quốc gia khác, bất bình đẳng về kinh tế có thể không lớn, nhưng quyền lực lại bị tập trung cao độ trong tay một nhóm cầm quyền, độc tài. Các nhà xã hội học thường dẫn ra những ví dụ điển hình như nước Anh trong lịch sử đã là một xã hội giai cấp, dựa trên cơ sở những khác biệt về sở hữu tài sản. Nước Đức quốc xã đã từng được phân tầng theo quyền lực. Xã hội Nam Phi trước đây là ví dụ về một xã hội phân tầng theo sự thống trị về chủng tộc.

Continue reading

LIỆU CON CHÁU CHÚNG TA CÓ CÒNG LƯNG TRẢ NỢ

image TRẦN TRỌNG THỨC

Kinh nghiệm từ một số quốc gia sử dụng ODA cho thấy một khi những đồng vốn này nếu không đầu tư đúng hướng giúp nền kinh tế phát triển thì dễ rơi vào tình trạng “mua đắt hiện tại, bán rẻ tương lai”.

Thông tin từ Bộ Giao thông – Vận tải cho biết dự án Đường sắt cao tốc Hà Nội – TP HCM do Bộ này đệ trình sẽ được Quốc hội xem xét và quyết định chủ trương đầu tư trong kỳ họp diễn ra vào tháng 5 tới.

Theo báo cáo của Liên doanh tư vấn Việt Nam – Nhật Bản, dự án đường sắt cao tốc nói trên dài 1.570km gồm 27 ga, sử dụng công nghệ Nhật Bản, tốc độ khai thác có thể lên đến 300km/giờ, khi hoàn thành sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế đất nước.

Thế nhưng, tiền đâu để thực hiện dự án khi mà ba năm trước đây chỉ dự toán khoảng 33 tỷ USD chủ yếu là vốn vay ODA, mà nay đã lên đến 55,8 tỷ USD, một khoản tiền khổng lồ tương đương hơn phân nửa tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) của chúng ta vào thời điểm xem xét dự án? Chủ trương đầu tư này khiến chúng ta nghĩ đến chuyện nợ nần đời sau phải gánh nặng.

Ngày xưa ông bà ta thường nói, trong bao nhiêu điều sung sướng ở đời, không có điều nào hơn là "không mắc nợ". Ngày nay ở các xã hội tiên tiến thì "có nợ mới nên người" bởi chủ nợ dù là ngân hàng hay bạn bè thân thiết đi nữa thì cũng đều "xem mặt mà bắt hình dong", ai không có khả năng trả nợ thì đừng hòng vay mượn được.

Trong phạm vi lớn hơn, nợ nần không chỉ là chuyện trong đời sống con người mà còn là chuyện đời sống kinh tế một đất nước và chủ nợ nào cũng phải chọn mặt gửi vàng.

Hồi năm 1993, Nhật và Pháp giúp chúng ta trả khoản nợ 140 triệu USD tồn đọng từ thời chế độ cũ cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế để Việt Nam có thể trở lại với cộng đồng tài chính. Có thể nói, đó là thời điểm cộng đồng tài chính quốc tế mỉm cười với một đất nước dứt khoát giã từ bao cấp, hướng về kinh tế thị trường. Từ đó đến nay, trong vòng 17 năm chúng ta đã có được 50 tỷ USD đồng vốn ODA cam kết từ các nhà tài trợ. Nếu chỉ tính khoản tiền 11 tỷ USD được giải ngân trong ba năm vừa qua (trong đó viện trợ không hoàn lại chỉ hơn 900 triệu USD) thì trên vai mỗi người dân VN hiện đang gánh gần 130 USD tiền nợ nước ngoài.

Continue reading

SUY NGẪM 44

the long road || canon 350d/ef17-40@17 | 1/160s | f8 | iso100 | handheldTrong phiên họp báo của Văn phòng Chính phủ ngày 1/4/2010, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Hồng Trường cho biết Hà Nội và TP HCM sẽ được tăng mức xử phạt vi phạm giao thông cao hơn 40 – 200% so với mức chung của cả nước, mức phạt mới sẽ được thực hiện thí điểm trong 3 năm (36 tháng), kể từ quý 2 năm 2010.

Như vậy, cùng một hành vi vi phạm giao thông, nhưng ở Hà Nội và TPHCM lại được xác định là nặng hơn, với chế tài cao hơn so với các địa phương khác?! Xin nhắc lại Điều 52 Hiến pháp năm 1992 qui định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Điều 9 Pháp lệnh xử phạt hành chính năm 2002 qui định về tình tiết  tăng nặng đối với hành vi vi phạm hành chính không có tình tiết tăng nặng do đặc thù khu vực.

Việc tăng tiền phạt để nâng cao ý thức của người tham gia giao thông là đúng, nhưng không chỉ vì một giải pháp nhất thời mà phá vỡ tính pháp chế và thống nhất trong qui định của pháp luật.

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

SUY NGẪM 43

libel Trong nội dung chất vấn thành viên Chính phủ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) – phiên họp thứ 19, liên quan đến vụ hỏa hoạn xảy ra tại chung cư 18 tầng ở Q.Thanh Xuân, Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Xây dựng tỏ ra ngạc nhiên về việc đơn vị thi công đã không làm đúng loại vật liệu theo tiêu chuẩn quy định, nhưng không hiểu sao lại vẫn được nghiệm thu?

Bộ trưởng cho rằng, về mặt quy chuẩn, quy phạm, “chúng tôi đánh giá là tương đối đầy đủ”, Bộ đã ban hành 1.250 tiêu chuẩn, bao trùm tất cả các khâu trong quá trình xây dựng, chỉ thiếu ở một số lĩnh vực mới như tàu điện ngầm. Việc vi phạm có thể khâu kiểm tra chưa làm hết vì “công trình nhiều quá, có đi kiểm tra nhưng chưa hết, đó cũng là cái cần rút kinh nghiệm”.

Giải pháp ông đưa ra là bộ đang tiến hành kiểm tra, nhắc nhở và yêu cầu khắc phục tình trạng vi phạm. Đồng thời, sẽ bổ sung những tiêu chuẩn còn thiếu.

Xem ra, Luật của chúng ta không thiếu (cụ thể trong lĩnh vực xây dựng), cái thiếu là sự kiên quyết, minh bạch trong thực thi, áp dụng pháp luật. Hướng giải quyết  nhắc nhở, khắc phục vi phạm (thực tế đâu phải trường hợp vi phạm nào cũng được phát hiện?!), và coi đó là kinh nghiệm để sửa đổi, bỏ sung luật thì có nên coi những người sai là người có sáng kiến pháp luật hay là người phạm luật phải chịu chế tài?

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >