TS. NGUYỄN THU NAM – Khoa Dân số và Phát triển, Viện chiến lược và chính sách y tế, Bộ Y Tế
Theo nghiên cứu mới đây của Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường năm 2012 về thái độ xã hội với người đồng tính, đa số người tham gia nghiên cứu đều cho rằng những người đồng tính có quyền được sống với nhau theo nguyện vọng tình cảm của họ. Tuy nhiên, vẫn còn e ngại hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới có thể ảnh hưởng đến xã hội bao gồm:
1) suy giảm dân số do số lượng kết hôn đồng giới sẽ tăng liên tục và những cặp đồng tính không thể sinh con; 2) kết hôn là để tạo lập gia đình và gia đình phải đảm bảo chức năng nuôi dưỡng và xã hội hóa trẻ em, nhưng các cặp đồng tính không thể đảm đương vai trò này. Bên cạnh đó, các giá trị của hôn nhân truyền thống có thể bị phá vỡ. Những thông tin cung cấp dưới đây là các bằng chứng nghiên cứu khoa học được đăng tải trên các tạp chí có hội đồng khoa học đánh giá (peer-review) và báo cáo quốc gia về hôn nhân đồng giới và tác động xã hội ở các nước đã công nhận các hình thức chung sống của người đồng tính để cho thấy rằng những lo ngại này là không có cơ sở.
Xu hướng đa dạng các hình thức chung sống trong xã hội nói chung
Bên cạnh hình thức hôn nhân truyền thống (nam nữ kết hôn ở tuổi trưởng thành) để hình thành gia đình, các hình thức gia đình khác như gia đình bố mẹ đơn thân (single parent), kết hợp dân sự (civil union), sống chung có đăng ký (registered partnership), sống chung không đăng ký (unregistered partnership) bắt đầu tăng lên, đặc biệt ở các nước phát triển qua số liệu nhân khẩu học trong suốt 30 năm gần đây. Ví dụ ở Nhật, tỷ lệ gia đình bố hoặc mẹ đơn thân có con tăng từ 4,9% năm 1970 lên 10,2% năm 2008 trong tổng số các gia đình có con[1]. Tuy nhiên, gia đình được tạo dựng bởi các cặp đăng ký kết hôn khác giới vẫn chiếm đa số trong xã hội. Ở rất nhiều nước châu Âu, khi các cặp đăng ký hoặc không đăng ký sống chung có con, họ có xu hướng chuyển sang hình thức gia đình đăng ký kết hôn, ví dụ ở Thụy Điển 70% các cặp đang chung sống quay sang đăng ký kết hôn trong vòng 5 năm đầu sau khi có con[2].
Filed under: CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI, Kết hôn | Leave a comment »














Các quy định của pháp luật được dẫn chiếu trong các bài viết được đăng trên Trang Thông tin này có thể còn hiệu lực, không còn hiệu lực hoặc chỉ là dự thảo quy phạm pháp luật. Rất mong các bạn khi khai thác thông tin cần cẩn trọng với nội dung của từng bài viết - SO SÁNH VÀ PHẢN BIỆN KHOA HỌC LÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.
TRẦN XUÂN NAM – Phó Giám đốc Câu lạc bộ CFO Việt Nam
LS. NGUYỄN TIẾN LẬP
LƯ QUANG VINH
HUỲNH THẾ DU
GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM
Người Mỹ đã và đang chứng kiến những phản kháng [ở các nước như Ai Cập, Libya, …] chống lại sự áp đặt của chính quyền nhằm thâu tóm một khối lượng lớn của cải vào tay một nhóm ít người. Tuy nhiên trong bản thân xã hội dân chủ của Mỹ, gần một phần tư tổng thu nhập quốc dân tập trung vào tay của 1% dân số – tình trạng bất bình đẳng tới mức ngay cả những người giàu cũng có lý do để lo ngại.
GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM
VŨ QUỐC TUẤN
PGS.TS. NGUYỄN MINH HÒA – THS. MINH QUANG – THS. HẢI NGUYÊN (Khoa Đô thị học và Quản lý đô thị, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, TP. HCM)
5 nốt thăng năm 2010:


Các bạn thân mến, vì lý do thời gian tôi đã và đang chậm hồi đáp nhiều vấn đề được nêu trên trang thông tin. Rất mong các bạn thông cảm vì sự chậm trễ này. Qua đây, hy vọng các bạn cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức nhiều hơn nữa vì lợi ích chung của cộng đồng nghiên cứu Luật học.
Civillawinfor đã nhận được sự chấp thuận chính thức của Giáo sư Trần Hữu Dũng, quản trị Tạp chí Thời đại mới, Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viên Triết học Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang thông tin chungta.com về việc sử dụng lại các bài viết. Để bảo vệ bản quyền cho cơ quan phát hành và các tác giả, đề nghị các bạn khi khai thác thông tin cần nêu rõ nguồn trích, tên tác giả, không biên tập lại nội dung bài viết. Riêng các bài viết thuộc Tạp chí Thời đại mới, các bạn nghiên cứu bài viết trực tiếp trên trang thông tin, không in bài viết thành văn bản, không phổ biến dưới mục đích thương mại.










