TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO: ĐÔI ĐIỀU TRĂN TRỞ

Kết quả hình ảnh cho AGRICULTURAL ECONOMY IN VIETNAMTRẦN ĐỨC VIÊN

Trong lúc còn đang lúng túng để tìm ra một động lực mới cho phát triển nông nghiệp, người ta tin rằng những mảnh ruộng nhỏ bé với tư duy manh mún kiểu ‘tiểu nông’ của người nông dân cá thể và công nghệ sản xuất hiện tại đang là lực cản cho phát triển nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế thị trường, và thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao (CNC) để nâng cao giá trị gia tăng nông sản là nhu cầu bức thiết. Vậy có phải tích tụ ruộng đất, nới hạn điền, có phải nông nghiệp CNC thực sự là cứu cánh cho nền nông nghiệp đang bị trì trệ và không bền vững của chúng ta?

PHẦN I: TÍCH TỤ ĐẤT ĐAI VÀ HẠN ĐIỀN 

Tư duy cần phát triển “đại nông” để gỡ bế tắc cho nông nghiệp

Nhiều người cho rằng, để gỡ bế tắc trong phát triển nông nghiệp hiện nay, cần phải phát triển nền ‘đại nông’ theo kiểu phương Tây, nghĩa là phát triển tư bản nông nghiệp. Để làm được điều này thì cần phải xóa bỏ hay nới rộng hạn điền, cần phải tập trung ruộng đất vào tay những người ‘biết làm ruộng’, những người có vốn, có công nghệ, biết tổ chức sản xuất. Thậm chí ở một số địa phương, chính quyền đứng ra thuê đất của nông dân trên 20 năm, rồi giao cho doanh nghiệp (DN) thuê lại [1]. Việc chính quyền tham gia vào quá trình tích tụ này được coi là bước đi đột phá, là sáng tạo. Cũng có nơi DN trực tiếp thuê đất của nông dân hoặc thông thông qua chính quyền địa phương làm trung gian để thuê đất của nông dân [2].

Những người cổ súy cho trào lưu này tin rằng: (1) Tích tụ ruộng đất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp, áp dụng công nghệ cao, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa là xu hướng tất yếu, cần có chính sách khuyến khích để phát triển nông nghiệp theo hướng này; Nông nghiệp công nghiệp áp dụng CNC sẽ thay thế cho nông nghiệp tiểu nông; (2) Các DN, tập đoàn lớn đầu tư vào nông nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai, thúc đẩy tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đẩy nhanh sản xuất hàng hóa, khẳng định vị thế của nông sản Việt Nam (VN) trên thị trường nông sản thế giới.

Continue reading

PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP: TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT KHÔNG PHẢI LÀ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH

Hình ảnh có liên quan NGUYỄN MINH NHỊ – Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang

Gần đây, có nhiều kiến nghị về chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững của nông nghiệp Việt Nam. Tôi cho rằng, không hoàn toàn như vậy. Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bắt đầu từ con người, từ niềm tin chứ không phải từ đất – hạn điền, tiền vốn hay khoa học công nghệ nào khác.

Vài năm gần đây, những mô hình sản xuất lớn như “Cánh đồng (lúa) mẫu lớn” do tập đoàn Lộc Trời hợp tác với nông dân, làm lúa giống kết hợp trồng cỏ nuôi bò trên quy mô lớn của ông Sáu Đức, nuôi heo theo mô hình hiện đại của ông Huỳnh Chánh Huy ở An Giang… hay những chủ trang trại nuôi cá tra với sản lượng hàng ngàn, thậm chí cả vạn tấn/năm/hộ đang xuất hiện nhiều hơn. Các doanh nghiệp này có mô hình khép kín, tự cung cấp từ con giống, thức ăn, tự nuôi thương phẩm và được ưu đãi hoàn thuế VAT. Tuy nhiên, nhiều hộ sản xuất và cả các doanh nghiệp có qui mô lớn đó… lại đang rất “bí” đầu ra, đang chờ… khó khăn mới.
Hiện nay, hầu như không có doanh nghiệp nào kêu bí “hạn điền” cả. Mặc dù về lâu dài, cũng có tâm lý chưa an tâm về “quyền tài sản” đối với đất, nhưng trước mắt Điều 129 và 130 Luật đất đai 2013 đã cho phép sang nhượng, nhận quyền sử dụng đất cao hơn 10 lần hạn điền cũ, tức là tối đa 30 ha đất sản xuất cây hằng năm, 100 ha đất cây ăn quả và 300 ha đất trồng rừng. Thiết nghĩ, một hộ sản xuất lớn sở hữu quy mô chừng đó là cũng có phần quá sức so với thực tế; còn nếu muốn sản xuất ở quy mô lớn hơn thì các hộ sản xuất phải đăng ký thành doanh nghiệp, lúc đó thì đâu có hạn điền nào bó buộc. Vì vậy việc nông sản các nước ồ ạt vào Việt Nam, thị trường nông sản của Việt Nam ở các nước khác đang bị teo tóp hoặc bị mất chủ yếu do thiếu chữ tín, chất lượng hàng hóa không ổn định và thường là thấp kém… chứ không thể “đổ tội” cho hạn điền. Thậm chí, sản xuất lớn, đưa sản lượng tăng vọt mà sản phẩm chưa khẳng định được chỗ đứng trên thị trường mới càng khiến giá rơi thảm hại, người sản xuất lao đao. Bài học gạo, cá… và mới đây là chuối, heo cho thấy rõ điều này.

Continue reading

QUY CHẾ TỔ CHỨC PHIÊN TÒA – Ban hành kèm theo Thông tư số 02/2017/TT-TANDTC ngày 28 tháng 7 năm 2017 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Quy chế tổ chức phiên tòa này quy định về nguyên tắc tổ chức phiên tòa, nội quy phòng xử án, việc bảo vệ phiên tòa và thực hiện các quyết định của Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử.

2. Quy chế tổ chức phiên tòa này được áp dụng đối với các phiên tòa, phiên họp trong quá trình Tòa án xét xử vụ án hình sự, hành chính; xét xử và giải quyết vụ việc dân sự, phá sản; xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 2. Nguyên tắc tổ chức phiên tòa

1. Phiên tòa phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm và thành phần những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp hoãn phiên tòa thì thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa phải ghi rõ trong giấy báo mở lại phiên tòa.

2. Phiên tòa được tổ chức công khai, trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự, bị cáo thì Tòa án có thể xét xử kín.

3. Việc tổ chức phiên tòa phải bảo đảm các yêu cầu về an ninh, trật tự, sự tôn nghiêm của Tòa án; bảo đảm cho việc xét xử được tiến hành bình đẳng, dân chủ, nghiêm minh, khách quan, đúng pháp luật; góp phần tuyên truyền, giáo dục công dân chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của đời sống xã hội, nâng cao ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.

Continue reading