THÔNG TƯ SỐ 01/2017/TT-TANDTC NGÀY 28 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO QUY ĐỊNH VỀ PHÒNG XỬ ÁN

Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao;

Chánh án Tòa án nhân dân ti cao ban hành Thông tư quy định về phòng xử án,

Điều 1. Phm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về việc sắp xếp vị trí của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa, phiên họp trong quá trình Tòa án xét xử vụ án hình sự, hành chính; xét xử và giải quyết vụ việc dân sự, phá sản; xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và một số quy định khác về phòng xử án.

Điều 2. Phòng xử án

1. Phòng xử án là không gian tổ chức xét xử vụ án hình sự, hành chính; xét xử, giải quyết vụ việc dân sự, phá sản và xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án.

2. Phòng xử án bao gồm phòng xử án giám đốc thẩm, tái thẩm; phòng xử án sơ thẩm, phúc thẩm.

3. Phòng xử án sơ thẩm, phúc thẩm bao gồm:

a) Phòng xử án hình sự;

b) Phòng xử án hành chính, dân sự, giải quyết việc dân sự, phá sản và xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

c) Phòng xử án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên.

TẢI VĂN BẢN ĐẦY ĐỦ TẠI ĐÂY

TƯ DUY LẠI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

Picture  PHẠM CHI LAN (Nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng)

Điều đáng sợ nhất của chúng ta hiện nay là đứng yên trong khi cả thế giới đang chuyển động, đó là chia sẻ từ một số đồng chí cán bộ quản lý cấp cao khi trao đổi với tôi. Chúng ta không thể đứng yên để giữ ổn định được, bởi đứng yên đồng nghĩa với tụt hậu.

Nhìn lại nội hàm của đổi mới trong ba mươi năm qua

Đổi mới trong ba mươi năm qua thực chất là đổi mới từ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, từ kinh tế một thành phần sang đa thành phần, trong đó khu vực tư nhân là động lực rất mạnh để phát triển; từ kinh tế khép kín sang mở cửa, hội nhập;từ quản lý tập trung sang phân cấp, phân quyền (vừa với hàm nghĩa phân cấp phân quyền để cho người dân được tự do làm những điều luật pháp không cấm, đặc biệt là quyền kinh doanh, vừa là phân cấp phân quyền trong bộ máy nhà nước như giữa trung ương và địa phương). Thực chất của quá trình đổi mới chính là mở rộng quyền và cơ hội lựa chọn trong hoạt động đầu tư và kinh doanh của người dân và điều chỉnh dần vai trò của nhà nước.
Tuy nhiên, trên thực tế đổi mới trong thời gian qua mới chủ yếu về kinh tế, trong khi giáo dục, văn hóa, xã hội… còn ít và chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu, thậm chí cản trở sự phát triển của đất nước. Điển hình như lĩnh vực giáo dục đã góp phần khiến đất nước rơi vào bẫy lao động giá rẻ, không thể thoát khỏi tình trạng sản xuất gia công, nguồn nhân lực có chất lượng luôn bị thiếu thốn bấy lâu nay. Đại hội Đảng lần thứ 11, rồi Đại hội 12 đều nhấn mạnh Chiến lược 10 năm 2011-2020, trong đó ba đột phá chiến lược là cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng. Trong ba mục tiêu đó, cải cách thể chế thực sự đến giờ vẫn còn nhiều bế tắc, nên Thủ tướng luôn phải đưa vấn đề này vào chương trình hành động hằng năm, các diễn đàn ở Quốc hội và nhiều nơi khác cũng thường xuyên đề cập đến cải cách thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, và Hội nghị TW 5 vừa rồi cũng vậy.

Continue reading

VĂN BẢN SỐ 1066/TTg-CN NGÀY 20 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ TRẢ LỜI CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI DƯƠNG TRUNG QUỐC VỀ GRAB VÀ UBER

Kính gửi: – Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc;
– Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
– Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai.

Thủ tướng Chính phủ nhận được Công văn số 991/TTKQH-GS ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Tổng Thư ký Quốc hội gửi ý kiến chất vấn của Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai với nội dung như sau:

“Kính thưa Thủ tướng,

mới đây, tại cuộc tiếp xúc với doanh nhân, Thủ tướng có phát biểu khuyến khích việc để GRAB và UBER thử nghiệm như thể hiện sự cởi mở trong chính sách đầu tư của Việt Nam, nên tôi không đặt câu hỏi tại hội trường trong buổi Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình trả lời chất vấn. Tôi xin gửi tới Thủ tướng:

Tôi xin đặt câu hỏi về chủ trương của Chính phủ cho phép thử nghiệm phương thức kinh doanh chở khách của GRAB & UBER. Tôi không đề cập tới phương thức kinh doanh hay những xung đột lợi ích với các hãng xe taxi truyền thống là các hãng kinh doanh theo quy định hiện hành của nhà nước mà tôi được biết đã có nhiều kiến nghị của các hiệp hội taxi hay các sở giao thông của nhiều địa phương gửi Chính phủ.

Tôi chỉ bàn về chủ trương cho phép thử nghiệm của chính phủ dưới góc độ quản lý nhà nước. Chủ trương cho phép GRAB và UBER thử nghiệm vào thời điểm sự phát triển của taxi truyền thống trên những địa bàn đô thị quan trọng ở nước ta đã tới ngưỡng của sự cần thiết phải giới hạn về số lượng tương quan với nhu cầu và hạ tầng giao thông. Với GRAB và UBER được hoạt động thử nghiệm thì số lượng xe tham gia vận chuyển hành khách cả dưới dạng taxi truyền thẳng hay hợp đồng vận chuyển sẽ tăng lên gấp bội (GRAB và UBER khó kiểm soát vì nó "tàng hình" khó biết con số cụ thể nhưng chắc chắn sẽ nhiều hơn cả xe taxi truyền thống đang hoạt động); từ đó nảy sinh xung đột lợi ích và nhất là xung đột với mục tiêu quản lý nhà nước trên cơ sở quy hoạch về số lượng, sẽ làm trầm trọng hơn áp lực quá tải lên hạ tầng và ách tắc giao thông.

Continue reading

TỪ CHỐI CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ DƯỚI GÓC NHÌN CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

Kết quả hình ảnh cho Intellectual property rights and competition law  BÙI THỊ HẰNG NGA – Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế – Luật Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Quyền SHTT nói chung đã từ lâu được coi là một dạng sở hữu tư nhân. Thông qua các văn bằng bảo hộ được cấp cho các đối tượng SHTT, pháp luật công nhận cho chủ sở hữu quyền SHTT có vị trí độc quyền trong việc sử dụng đối tượng SHTT để bồi hoàn công sức, chi phí mà họ đã bỏ ra và thu lợi nhuận, kể cả hành vi từ chối chuyển giao (cấp phép) quyền SHTT. Việc từ chối chuyển giao quyền SHTT được công nhận dựa trên ba yếu tố: (i) quyền tự do lựa chọn đối tác kinh doanh và định đoạt đối với tài sản của mình; (ii) nghĩa vụ bắt buộc chuyển giao áp dụng trong mọi trường hợp sẽ làm suy yếu (phá bỏ) động cơ đầu tư và sáng tạo; (iii) Tòa án sẽ không là cơ quan thực thi pháp luật khi nghĩa vụ chuyển giao được áp đặt một cách thường xuyên.

Nói cách khác, từ chối chuyển giao quyền SHTT phải được thừa nhận như một trong những quyền cơ bản, cốt lõi của chủ sở hữu quyền SHTT. Mặc dù vậy, trong một số trường hợp cụ thể, chủ thể nắm giữ quyền SHTT có thể lạm dụng điều này để tác động xấu đến môi trường cạnh tranh, ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của người tiêu dùng. Nếu điều đó xảy ra, chủ sở hữu có thể bị tước bỏ quyền này (đổi lại, họ bị bắt buộc phải chuyển giao). Bởi lẽ, trong trường hợp này, khi mục đích hành động nhằm tạo dựng vị thế độc quyền hoặc nhằm duy trì vị thế độc quyền trên thị trường liên quan, bóp méo môi trường cạnh tranh và xâm hại quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng, hành vi từ chối chuyển giao quyền SHTT cho bên thứ ba có thể bị xem là hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh hoặc luật chống độc quyền.

Tuy nhiên, các trường hợp nêu trên được xem là các trường hợp ngoại lệ thay vì quy định của pháp luật, do đó, nó phải được xem xét, quyết định bởi Tòa án, Cục SHTT và Cơ quan quản lý cạnh tranh. Bởi lẽ, việc xử phạt hành vi từ chối chuyển giao một cách cứng nhắc mà không tính đến các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể sẽ dẫn đến nguy cơ loại trừ động lực đầu tư, sáng tạo của các chủ thể. Điều này không chỉ gây hại cho lợi ích của người tiêu dùng mà còn tác động xấu đến môi trường cạnh tranh, đi ngược lại mục đích của pháp luật cạnh tranh.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 152/TANDTC-PC NGÀY 19 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG, XỬ LÝ NỢ XẤU

Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân cấp cao;
– Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của một số Tòa án, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một số tổ chức tín dụng và Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam về vướng mắc khi giải quyết tranh chấp nhằm xử lý tài sản bảo đảm của các hợp đồng tín dụng.

Liên quan vấn đề nêu trên, ngày 19-6-2014, Quốc hội thông qua Luật Phá sản số 51/2014/QH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2015; ngày 24-11-2015, Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật Dân sự năm 2015) và Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2017; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2016 trừ một số quy định có liên quan đến quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2017; Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành các Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của các đạo luật này. Đặc biệt, ngày 21-6-2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, trong đó giao cho Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu quy định tại Nghị quyết này.

Để bảo đảm giải quyết các tranh chấp hiệu quả, góp phần xử lý nợ xấu, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, các Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục triển khai thực hiện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Phá sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành; trong đó, lưu ý một số nội dung sau đây:

Continue reading

CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015

Hình ảnh có liên quanTS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Đại học Luật Hà Nội

1. Phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Thủ tục rút gọn (TTRG) là thủ tục TTDS được tòa án áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động có đủ các điều kiện do pháp luật quy định trong một thời hạn ngắn do một thẩm phán tiến hành với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết vụ án dân sự nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng và đúng pháp luật. Do đó, nguyên tắc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án dân sự theo TTRG là: (i) áp dụng các quy định tại Chương XVIII để giải quyết vụ án theo TTRG; (ii) nếu Chương XVIII không có quy định thì áp dụng các quy định khác của Bộ luật TTDS để giải quyết. Ngoài ra, nếu các văn bản pháp luật khác quy định tranh chấp dân sự được giải quyết theo TTRG thì việc giải quyết tranh chấp đó được thực hiện theo TTRG quy định trong Bộ luật TTDS năm 2015.

2. Điều kiện áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Loại việc được tòa án áp dụng để giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn là những tranh chấp dân sự nhưng đó là các tranh chấp có tính chất đơn giản, rõ ràng về sự việc, áp dụng pháp luật và không có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật TTDS năm 2015, các vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục tố tụng rút gọn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

– Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;

– Các đương sự đều có địa chỉ cư trú, trụ sở rõ ràng;

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 146/TANDTC-PC NGÀY 11 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆN DẪN, ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG XÉT XỬ

Kính gửi:

                          – Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;

                          – Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Tại Hội nghị tập huấn từ ngày 25 đến ngày 28-5-2017, Tòa án nhân dân tối cao đã nhận được phản ánh của một số Tòa án đề nghị hướng dẫn việc viện dẫn, áp dụng án lệ trong xét xử. Về vấn đề này, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và các đạo luật tố tụng thì khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự; bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự phải được giải quyết như nhau.

Việc viện dẫn, áp dụng hoặc không áp dụng án lệ khi xét xử, giải quyết những vụ việc cụ thể phải được thực hiện theo đúng hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28-10-2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, khi xét xử, giải quyết những vụ việc đã có án lệ thì Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu án lệ đó để quyết định việc viện dẫn, áp dụng hoặc không áp dụng. Trường hợp áp dụng án lệ thì số án lệ, số bản án, quyết định của Toà án có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ (nội dung khái quát của án lệ) phải được viện dẫn, phân tích trong phần “Nhận định của Tòa án”; tùy từng trường hợp cụ thể có thể trích dẫn nguyên văn những nội dung hạt nhân của án lệ để làm rõ quan điểm của Tòa án trong việc xét xử, giải quyết các vụ việc tương tự.

Continue reading

HẠN MỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI – NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

Hình ảnh có liên quanTS. VŨ VĂN LONG

Hạn mức bảo hiểm được hiểu là khoản tiền tối đa mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi (B HTG) trả cho tất cả các khoản tiền gửi của một người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại một tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Việc chi trả BHTG cho người gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi bị mất khả năng thanh toán là một trong những hoạt động bảo vệ quyền lợi của người gửi tin

.

Nguyên tắc xác định hạn mức BHTG

Tháng 6 năm 2009, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) và Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI) đã phối hợp xây dựng Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả (Những nguyên tắc cơ bản) và Phương pháp đánh giá việc tuân thủ các nguyên tắc này vào tháng 12/2010. Hai tài liệu trên (gọi tắt là Bộ nguyên tắc cơ bản) được nhiều tổ chức BHTG trên thế giới sử dụng như kim chỉ nam để đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống BHTG, từ đó tìm ra những điểm hạn chế trong quá trình hoạt động và cách thức khắc phục những hạn chế đó.

Ngoài ra, Bộ nguyên tắc cơ bản đã được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) sử dụng trong phạm vi Chương trình đánh giá khu vực tài chính (FSAP) với mục tiêu đánh giá tính hiệu quả của hệ thống BHTG tại các quốc gia. Là một bộ phận trong Báo cáo Xem xét Sáng kiến về các Tiêu chuẩn và Quy tắc mới được hoàn tất gần đây, IMF và WB cũng khẳng định sẽ đánh giá việc tuân thủ các Tiêu chuẩn này trong khuôn khổ chương trình Các báo cáo về việc đáp ứng các tiêu chuẩn và quy tắc (ROSC).

Khủng hoảng tài chính 2008 đã làm thay đổi cấu trúc hệ thống tài chính cũng như vai trò của hệ thống BHTG trên thế giới, từ đó đặt ra yêu cầu cập nhật Bộ nguyên tắc cơ bản. Đến tháng 10/2014, Bộ nguyên tắc cơ bản đã được sửa đổi với sự tham gia của đại diện các tổ chức BCBS, EC, Diễn đàn các tổ chức BHTG châu Âu, FSB, IMF, WB.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM BÍ MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

Kết quả hình ảnh cho Confidential customer information  NGUYỄN THỊ KIM THOA – Trường Đại học Ngân hàng tp. HCM

Đảm bảo bí mật thông tin khách hàng là một trong các vấn đề mang tính “sống còn” trong kế hoạch phát triển kinh doanh của các tổ chức tín dụng (TCTD). Trên thực tế, việc rò rỉ thông tin khách hàng đã khiến một số TCTD mất đi nhiều khách hàng tiềm năng, khách hàng trung thành mà họ đã phải mất một khoảng thời gian dài để xây dựng mối quan hệ ấy1. Về phía khách hàng của các TCTD, việc rò rỉ thông tin sẽ khiến họ phải gánh chịu nhiều hệ lụy trong cuộc sống cũng như hoạt động kinh doanh của họ.

Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của của khoa học công nghệ và truyền thông, các TCTD cũng đã triển khai nhiều dịch vụ thanh toán mới phù hợp với xu thế thanh toán của các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển các dịch vụ đó là các hành vi khai thác thông tin cũng tinh vi hơn, việc xâm phạm bí mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng càng trở nên phổ biến hơn, vì vậy, việc đảm bảo bí mật những thông tin và dữ liệu của khách hàng là điều vô cùng cần thiết.

1. Khuôn khổ pháp luật về đảm bảo bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam

Đảm bảo bí mật thông tin của khách hàng sẽ giúp cho các TCTD tối thiểu hóa được các thiệt hại khi có rủi ro xảy ra, đồng thời, tối đa được các lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh. Bảo đảm các bí mật thông tin của khách hàng cũng chính là bảo vệ sự phát triển liên tục và bền vững của các TCTD. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động đảm bảo bí mật thông tin khách hàng trong sự phát triển của các TCTD và của nền kinh tế, khuôn khổ pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng không ngừng được củng cố và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước.

Nội dung của đảm bảo bí mật thông tin khách hàng được ghi nhận ở nhiều cấp độ văn bản khác nhau. Hiến pháp Việt Nam hiện hành đã có quy định về quyền được đảm bảo bí mật thông tin của cá nhân: “mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác”2. Mặc dù quy định này chỉ ghi nhận quyền của cá nhân đối với bí mật thư tín, điện thoại, điện tín nhưng nó có ý nghĩa cho phép các nhà làm luật trên cơ sở này xây dựng những quy định về đảm bảo bí mật thông tin trong nhiều lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh vực ngân hàng.

Continue reading

BÀN VỀ QUYỀN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ KIẾN NGHỊ

Kết quả hình ảnh cho Right to imageTHS. LS. LÊ VĂN SUAĐoàn luật sư tỉnh Tiền Giang

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân,… bảo đảm phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên… Đây là Bộ luật được đánh giá có tính đột phá, thể hiện được đầy đủ vai trò là luật chung của hệ thống luật tư; xác lập, bảo vệ quyền dân sự, trong đó có quyền nhân thân đối với hình ảnh cá nhân.

Quyền cá nhân đối với hình ảnh được pháp luật ghi nhận và bảo vệ có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân, đây là yếu tố tinh thần gắn liền với mỗi cá nhân, hình ảnh của mỗi cá nhân bị xâm phạm không chỉ ảnh hưởng về mặt tinh thần mà còn ảnh hưởng đên danh dự, nhân phẩm…Vì vậy, việc pháp luật dân sự ghi nhận và bảo vệ cho mỗi cá nhân quyền đối với hình ảnh đảm bảo quyền nhân thân, hạn chế một cách tối đa nhất hành vi xâm phạm. Ngoài ra, còn góp phần đảm bảo trật tự xã hội và giáo dục ý thức pháp luật cho mọi người tôn trọng quyền đối với hình ảnh của cá nhân, khi có hành vi xâm phạm, tùy theo tính chất mức độ, hậu quả xảy ra mà bị xử lý theo quy định của pháp luật tương ứng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định cụ thể về tiêu chí phân biệt hình ảnh cá nhân với hình ảnh sinh hoạt tập thể;  quyền của cá nhân đối với hình ảnh bị giới hạn trong trường hợp xung đột với quyền lợi chung, quyền lợi của bên thứ ba hoặc với trường hợp đương sự từ bỏ quyền của mình đối với hình ảnh;… Do vậy, việc hiểu và áp dụng trong thực tiễn chưa có sự thống nhất. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến quy định về quyền của cá nhân, kể cả trẻ em đối với hình ảnh theo quy định tại Điều 32 BLDS năm 2015; Điều 21 Luật Trẻ em năm 2016, trên cơ sở đó, đề xuất các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất chung về nhận thức quy định này, tránh những vướng mắc phát sinh không cần thiết.
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh, Điều 32 BLDS năm 2015 quy định:
“1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

Continue reading

XÂY DỰNG VĂN PHÒNG THỰC HÀNH LUẬT – BƯỚC ĐI CẦN THIẾT TRONG ĐÀO TẠO LUẬT

Image result for TRAINING LAW  ĐỖ VIẾT ANH THÁI – Đại học Ngoại thương

1. Khái quát về văn phòng thực hành luật

Đầu thế kỷ XX, khi các cơ sở đào luật bị chỉ trích phải chịu trách nhiệm về sản phẩm đào tạo của mình là các cử nhân luật không đáp ứng được nhu cầu công việc và không làm hài lòng nhà tuyển dụng cũng như các khách hàng thì hai giáo sư luật học là Giáo sư Alexander I. Lyublinsky[1] và Giáo sư William Rowe[2] đã đề xuất ý tưởng về xây dựng văn phòng thực hành luật. Trong các bài nghiên cứu của mình, hai vị giáo sư đã chỉ ra những điểm bất cập, những hạn chế trong phương pháp giáo dục pháp luật truyền thống, từ đó, họ phác họa nên mô hình văn phòng thực hành luật. Mô hình văn phòng thực hành luật được lấy ý tưởng từ việc đào tạo trong ngành y, nơi mà để tốt nghiệp, mọi sinh viên bắt buộc phải trải qua quá trình thực hành trong một tổ chức y tế nào đó. Ý tưởng này sau đó được ủng hộ mạnh mẽ bởi các nhà khoa học ở Mỹ vào những năm 1930. Jerome Frank là đại diện tiêu biểu cho phong trào ủng hộ đưa mô hình văn phòng thực hành luật vào các trường đại học, ông khẳng định rằng đã đến lúc phải từ bỏ lối giảng dạy thuần túy lý thuyết, sách vở, và đã đến lúc các cơ sở đào tạo phải bắt đầu một phương pháp giảng dạy luật học thực tiễn và cụ thể hơn[3]. Tuy nhiên, phải chờ đến tận năm 1947, hai văn phòng thực hành luật đầu tiên mới được ra đời tại hai trường đại học ở Hoa Kỳ là Đại học Duke và Tennesse[4]. Nhận thấy những lợi ích mà văn phòng thực hành luật đem lại, năm 1997, Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (American Bar Association) đã đưa ra điều kiện để một trường đại học luật được chứng nhận đạt yêu cầu về chất lượng đào tạo là phải để sinh viên tiếp xúc với khách hàng thật hoặc tập hành nghề luật trên những vụ việc có thật[5]. Những sinh viên tốt nghiệp từ những trường đại học luật được chứng nhận bởi Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ sẽ được phép tham dự kỳ thi để trở thành luật sư và được đánh giá cao hơn các trường đại học khác khi xin việc.

Sau Hoa Kỳ, mô hình văn phòng thực hành luật đã dần dần lan rộng ra toàn thế giới, trước tiên là trong khối Thịnh vượng chung (Úc, Canada, Anh …) và sau đó là các nước khác ở Châu Phi (Nam Phi, Nigeria, Senegal …), Châu Á (Thái Lan, Trung Quốc …) hay các nước Nam Mỹ (Ác-hen-ti-na, Chi-lê, Pê-ru…), và cuối cùng là các nước Châu Âu lục địa (Tây Ban Nha, Ba Lan, Pháp…). Tại Việt Nam, tính đến cuối năm 2014 đã có 9 văn phòng thực hành luật được xây dựng và triển khai tại các trường đại học đào tạo luật[6]. Vậy, điều gì đã làm nên sự thành công và sức lan tỏa của các văn phòng thực hành luật?

Continue reading

TỪ PHÂN TÍCH LAO ĐỘNG VÀ NGÂN SÁCH, TÌM HIỂU VỀ THỂ CHẾ VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG THAY ĐỔI

Kết quả hình ảnh cho LABOR  VŨ QUANG VIỆT

Tóm tắt:

Bài này đánh giá và xem xét thông tin về toàn bộ số người nhận lương hay nhận trợ cấp từ ngân sách, cơ sở để có thể tính đến cải cách nền kinh tế mà chi tiêu của nhà nước đang là xương sống. Điều cũng muốn rút ra là số công chức, viên chức, cán bộ trong hệ thống tổ chức chính trị xã hội nhà nước – Đảng Việt Nam trong quản lý xã hội nhằm mục tiêu không chỉ kinh tế, xã hội mà còn chính trị.

Bài viết về cơ bản là giải trình số liệu năm 2012 về hoạt động nhà nước do Tổng cục Thống kê (TCTK) công bố và số liệu của Bộ Nội vụ cung cấp cho Hội nghị 7 Trung ương, Khóa 11 dựa theo bài của ông Văn Tất Thu, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ.1 Một vài điều có thể rút ra từ nghiên cứu này là dựa vào số liệu từ nhiều nguồn khác nhau:

– Thứ nhất, tổng cộng số người hưởng lương và trợ cấp từ ngân sách nhà nước tương đương với 7.5 triệu người trong đó 5.1 triệu là đang làm việc và 2.4 triệu đang hưởng lương hoặc trợ cấp hưu trí.

– Thứ hai, số viên chức trong các hoạt động sự nghiệp công lập về giáo dục và y tế, v.v. là 2.161 triệu người, rất lớn và tăng trưởng nhanh.

– Thứ ba, có đến 1.561 triệu người làm trong cơ quan đảng, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng (theo Tổng cục Thống kê). Trong số này:

530 ngàn người là số công chức thực sự làm hành chính theo đúng nghĩa hành chính ở Việt Nam, chỉ bằng 0.6% dân số so với Mỹ là 2.4%: đây có thể là con số rất thấp sẽ gây ngạc nhiên với nhiều người;

111 ngàn người làm công tác Đảng và đoàn thể;

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 42/2017/QH14 NGÀY 21 THÁNG 6 NĂM 2017 CỦA QUỐC HỘI VỀ THÍ ĐIỂM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

QUỐC HỘI

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Căn cứ Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13;

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này quy định thí điểm một số chính sách về xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng; quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

2. Tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu).

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Continue reading

VĂN BẢN SỐ 927/TTg-CN NGÀY 06 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TRẢ LỜI CHẤT VẤN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRƯƠNG TRỌNG NGHĨA

Kính gửi:

– Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa, Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh;
– Tổng Thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc.

Ngày 08 tháng 6 năm 2017, Tổng Thư ký Quốc hội có Công văn số 837/TTKQH-GS đề nghị Thủ tướng Chính phủ có văn bản trả lời Phiếu chất vấn của Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa, Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh. Về việc này, Thủ tướng Chính phủ xin trả lời như sau:

NỘI DUNG CHẤT VẤN 1

Thời gian qua việc cấp phép khai thác cát tràn lan, nạn hút cát trái phép, xuất khẩu cát với số lượng lớn kéo dài nhiều năm, đây là một trong những tác nhân gây xói lở bờ sông, bờ biển, làm sụp đổ nhà cửa, vườn tược của nhiều người dân trên cả nước.

Xin cho biết việc quy hoạch cấp phép và quản lý khai thác cát có những sai phạm gì? Chính phủ đã và sẽ xử lý ra sao, có những giải pháp gì để bảo vệ an toàn cho môi trường và đời sống người dân, đồng thời bảo đảm nhu cầu cát xây dựng?

TRẢ LỜI

Trên cơ sở Luật khoáng sản, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 158/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản (thay thế Nghị định số 15/2012/NĐ-CP), trong đó quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập, phê duyệt và cấp phép khai thác cát khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, trong đó có cát, sỏi và quy định cụ thể trách nhiệm quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác của Ủy ban nhân dân các cấp, bao gồm cả cát, sỏi lòng sông; ban hành Nghị định số 33/2017/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 142/2013/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, trong đó bổ sung các hành vi cần xử phạt, tăng mức xử phạt đối với các hành vi khai thác cát, sỏi trái phép lên 2-3 lần. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2015 về việc tăng cường hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản, theo đó đã chỉ đạo các Bộ, ngành, các địa phương thực hiện các giải pháp nhằm ngăn chặn hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, trong đó có cát, sỏi lòng sông.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 144/TANDTC-PC NGÀY 4 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC THI HÀNH NGHỊ QUYẾT SỐ 03/2017/ND-HĐTP

 
 
Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP về việc công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17-02-2017; có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2017 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết). Để bảo đảm thực hiện đúng và thống nhất Nghị quyết, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề sau đây:

1. Về bản án, quyết định được công bố hoặc không công bố trên Cng thông tin điện tử của Tòa án

Việc xác định bản án, quyết định thuộc trường hợp được công bố hay không được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án phải căn cứ vào các điều 2, 3 và 4 của Nghị quyết, trong đó cần lưu ý:

a) Về bản án, quyết định có chứa đựng nội dung thuộc danh mục bí mật Nhà nước

Để xác định bản án, quyết định có chứa đựng nội dung thuộc danh mục bí mật Nhà nước không được công bố theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị quyết thì phải căn cứ vào Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước năm 2002; Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28-3-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước; Thông tư số 33/2015/TT-BCA ngày 20-7-2015 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 33/2002/NĐ-CP; các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ Tuyệt mật, Tối mật của các cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương; các Quyết định, Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an về danh mục bí mật nhà nước độ Mật của các cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương và các quy định khác của pháp luật về bí mật nhà nước; trong đó, theo quy định tại Quyết định số 01/2004/QĐ-TTg ngày 05-01-2004 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật của Tòa án nhân dân thì không công bố những bản án, quyết định liên quan đến việc xét xử các vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

b) Về bản án, quyết định có nội dung liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Các bản án, quyết định của Tòa án đã được mã hóa theo hướng dẫn tại Điều 7 của Nghị quyết và mục 2 của Công văn này thì các thông tin liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình đã được bảo đảm và việc công bố bản án, quyết định đó trên Cổng thông tin điện tử không vi phạm quy định về bảo đảm bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Continue reading

QUY ĐỊNH XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI GIỮ CHỨC DANH TƯ PHÁP TRONG TÒA ÁN NHÂN DÂN BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 120/QĐ-TANDTC NGÀY 19 THÁNG 6 NĂM 2017 CỦA CHÁNH ÁN TOÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy định này điều chỉnh việc áp dụng nguyên tắc, hình thức, hậu quả, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân có hành vi vi phạm do thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật.

2. Quy định này không điều chỉnh việc xử lý trách nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và người giữ chức danh tư pháp trong các Tòa án quân sự.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Quy định này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

1. Người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án (sau đây gọi là người giữ chức danh tư pháp).

2. Người đứng đầu là người giữ chức vụ quản lý cao nhất tại cơ quan, đơn vị trong các Tòa án nhân dân bao gồm: Vụ trưởng các Vụ Giám đốc, kiểm tra thuộc Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện.

3. Bản án, quyết định do Tòa án có thẩm quyền hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán là những bản án, quyết định bị hủy, sửa nhưng không thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Do phát sinh tình tiết mới của vụ, việc mà quá trình giải quyết, xét xử Thẩm phán không thể biết;

Continue reading

VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ, ĐÌNH CHỈ XÉT ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015

TS. NGÔ QUỐC CHIẾN & ĐỖ VIẾT ANH THÁI

Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, trong đó, các bên thống nhất trao cho một hoặc một số trọng tài viên giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại của mình. Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên trao cho các nước thành viên quy định thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định/phán quyết trọng tài ở nước mình. Một nghiên cứu cho thấy “các quốc gia thành viên quy định rất khác nhau về thủ tục thi hành một quyết định trọng tài thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Sự thống nhất về vấn đề này dường như chỉ là mong muốn chứ không khả thi”[1].

Tại Việt Nam, tỷ lệ các phán quyết của trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành trong thời gian vừa qua là rất thấp[2] do các bất cập trong các quy định của BLTTDS 2004. Nếu so với các nước là thành viên của công ước thì tỷ lệ không công nhận ở Việt Nam là cao một cách bất thường[3]. Để khắc phục tình trạng này, BLTTDS 2015[4] đã có những thay đổi quan trọng theo hướng tạo thuận lợi hơn cho việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Nhiều quy định trong BLTTDS đã gần gũi hơn với Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng Bộ luật vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ những điểm bất cập của liên quan đến các quy định về tạm đình chỉ và đình chỉ việc xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 72/TANDTC-PC NGÀY 11 THÁNG 4 NĂM 2017 VỀ VIỆC THỐNG NHẤT ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ ÁN PHÍ TRONG VỤ ÁN LY HÔN

 

Kính gửi:        – Các Tòa án nhân dân cấp cao;
– Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
–  Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày 30-12-2016, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trong quá trình triển khai thực hiện, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh vướng mắc về việc xác định án phí trong trường hợp các đương sự thuận tình ly hôn khi giải quyết vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Để bảo đảm áp dụng thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm”.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí”.

Quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 là kế thừa, giữ nguyên quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Do không có sự thay đổi về nội dung của luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chưa có hướng dẫn khác nên đối với vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn thì áp dụng tương tự hướng dẫn tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án, cụ thể trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa và các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định).

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 04/2017/TT-NHNN NGÀY 28 THÁNG 6 NĂM 2017 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BÃI BỎ MỘT SỐ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BAN HÀNH, LIÊN TỊCH BAN HÀNH

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

Căn cứ Nghị định số 16/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Pháp chế;

Sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Y tế, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, liên tịch ban hành.

Điều 1. Bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật

Bãi bỏ toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành, liên tịch ban hành sau đây:

1. Quyết định số 181/QĐ-NH ngày 10/10/1991 ban hành Quy tắc tổ chức và kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng.

2. Quyết định số 394/1997/QĐ-NHNN1 ngày 28/11/1997 về cho vay theo chỉ định đợt I cho các ngân hàng thương mại quốc doanh nhằm khắc phục hậu quả cơn bão số 5.

Continue reading