ĐỖ VIẾT ANH THÁI – Đại học Ngoại thương
1. Khái quát về văn phòng thực hành luật
Đầu thế kỷ XX, khi các cơ sở đào luật bị chỉ trích phải chịu trách nhiệm về sản phẩm đào tạo của mình là các cử nhân luật không đáp ứng được nhu cầu công việc và không làm hài lòng nhà tuyển dụng cũng như các khách hàng thì hai giáo sư luật học là Giáo sư Alexander I. Lyublinsky[1] và Giáo sư William Rowe[2] đã đề xuất ý tưởng về xây dựng văn phòng thực hành luật. Trong các bài nghiên cứu của mình, hai vị giáo sư đã chỉ ra những điểm bất cập, những hạn chế trong phương pháp giáo dục pháp luật truyền thống, từ đó, họ phác họa nên mô hình văn phòng thực hành luật. Mô hình văn phòng thực hành luật được lấy ý tưởng từ việc đào tạo trong ngành y, nơi mà để tốt nghiệp, mọi sinh viên bắt buộc phải trải qua quá trình thực hành trong một tổ chức y tế nào đó. Ý tưởng này sau đó được ủng hộ mạnh mẽ bởi các nhà khoa học ở Mỹ vào những năm 1930. Jerome Frank là đại diện tiêu biểu cho phong trào ủng hộ đưa mô hình văn phòng thực hành luật vào các trường đại học, ông khẳng định rằng đã đến lúc phải từ bỏ lối giảng dạy thuần túy lý thuyết, sách vở, và đã đến lúc các cơ sở đào tạo phải bắt đầu một phương pháp giảng dạy luật học thực tiễn và cụ thể hơn[3]. Tuy nhiên, phải chờ đến tận năm 1947, hai văn phòng thực hành luật đầu tiên mới được ra đời tại hai trường đại học ở Hoa Kỳ là Đại học Duke và Tennesse[4]. Nhận thấy những lợi ích mà văn phòng thực hành luật đem lại, năm 1997, Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (American Bar Association) đã đưa ra điều kiện để một trường đại học luật được chứng nhận đạt yêu cầu về chất lượng đào tạo là phải để sinh viên tiếp xúc với khách hàng thật hoặc tập hành nghề luật trên những vụ việc có thật[5]. Những sinh viên tốt nghiệp từ những trường đại học luật được chứng nhận bởi Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ sẽ được phép tham dự kỳ thi để trở thành luật sư và được đánh giá cao hơn các trường đại học khác khi xin việc.
Sau Hoa Kỳ, mô hình văn phòng thực hành luật đã dần dần lan rộng ra toàn thế giới, trước tiên là trong khối Thịnh vượng chung (Úc, Canada, Anh …) và sau đó là các nước khác ở Châu Phi (Nam Phi, Nigeria, Senegal …), Châu Á (Thái Lan, Trung Quốc …) hay các nước Nam Mỹ (Ác-hen-ti-na, Chi-lê, Pê-ru…), và cuối cùng là các nước Châu Âu lục địa (Tây Ban Nha, Ba Lan, Pháp…). Tại Việt Nam, tính đến cuối năm 2014 đã có 9 văn phòng thực hành luật được xây dựng và triển khai tại các trường đại học đào tạo luật[6]. Vậy, điều gì đã làm nên sự thành công và sức lan tỏa của các văn phòng thực hành luật?
Filed under: Kinh nghiệm đào tạo | Leave a comment »














Các quy định của pháp luật được dẫn chiếu trong các bài viết được đăng trên Trang Thông tin này có thể còn hiệu lực, không còn hiệu lực hoặc chỉ là dự thảo quy phạm pháp luật. Rất mong các bạn khi khai thác thông tin cần cẩn trọng với nội dung của từng bài viết - SO SÁNH VÀ PHẢN BIỆN KHOA HỌC LÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.


Các bạn thân mến, vì lý do thời gian tôi đã và đang chậm hồi đáp nhiều vấn đề được nêu trên trang thông tin. Rất mong các bạn thông cảm vì sự chậm trễ này. Qua đây, hy vọng các bạn cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức nhiều hơn nữa vì lợi ích chung của cộng đồng nghiên cứu Luật học.
Civillawinfor đã nhận được sự chấp thuận chính thức của Giáo sư Trần Hữu Dũng, quản trị Tạp chí Thời đại mới, Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viên Triết học Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang thông tin chungta.com về việc sử dụng lại các bài viết. Để bảo vệ bản quyền cho cơ quan phát hành và các tác giả, đề nghị các bạn khi khai thác thông tin cần nêu rõ nguồn trích, tên tác giả, không biên tập lại nội dung bài viết. Riêng các bài viết thuộc Tạp chí Thời đại mới, các bạn nghiên cứu bài viết trực tiếp trên trang thông tin, không in bài viết thành văn bản, không phổ biến dưới mục đích thương mại.










