SỔ TAY HƯỚNG DẪN THẨM PHÁN VÀ THƯ KÝ TÒA ÁN TẠI HOA KỲ TRONG SOẠN THẢO VĂN BẢN TỐ TỤNG

Kết quả hình ảnh cho Judicial Writing ManualTRUNG TÂM TƯ PHÁP LIÊN BANG (HOA KỲ) – DỰ ÁN USAID STAR-Plus (Dịch từ bản gốc tiếng Anh là Judicial Writing Manual)*

Lời nói đầu

Mối liên hệ giữa Tòa án và người dân được thể hiện bằng những gì được viết ra dưới dạng văn bản, đó là những văn bản tố tụng mà tòa án muốn trao đổi với các bên tranh tụng, luật sư, các tòa án khác và với người dân nói chung. Cho dù hiến định và luật định về thẩm quyền của tòa án là gì đi chăng nữa thì cuối cùng văn bản do tòa án viết ra vẫn là khởi nguồn và là thước đo thẩm quyền của tòa án.

Chính vì vậy, một quyết định chính xác của tòa án vẫn là chưa đủ – quyết định đó phải công bằng, hợp lý và dễ hiểu. Một phán quyết mà tòa đưa ra phải được giải thích, thuyết phục và làm cho cả thế giới hài lòng vì quyết định đó là quyết định đúng đắn và có cơ sở. Tòa án viết gì và viết như thế nào là những vấn đề quan trọng không kém so với những gì tòa án quyết định. Điều này không chỉ quan trọng đối với người đọc mà cả đối với người soạn thảo văn bản. Bởi vì đây là văn bản do chính tòa án viết ra thể hiện tư duy sâu xa của tòa án. Đúng như Ambrose Bierce đã nói trong tác phẩm Viết cho Đúng cách (Write It Right) của mình: “Soạn thảo văn bản đúng cách, về cơ bản, là sự hiện hữu hóa tư duy mạch lạc”

Nhằm phục vụ cho việc soạn thảo văn bản tư pháp, Trung tâm Tư pháp Liên bang đã soạn thảo cuốn sổ tay này. Đây không phải là một công bố chính thống về phương thức soạn thảo đúng cách – vốn là một nội dung đã được đề cập trong nhiều văn bản. Thực chất, đây là sự chắt lọc những kinh nghiệm và thể hiện quan điểm của một nhóm các thẩm phán có kinh nghiệm với sự hỗ trợ của một ban biên tập có chuyên môn. Cuốn sổ tay này không tiếp cận vấn đề soạn thảo một văn bản tố tụng đúng đắn cũng như sẽ không mô tả một cách chính xác về quy trình soạn thảo này giống như cách mà những người khác đã làm, bởi quy trình này là một quy trình mang đậm dấu ấn cá nhân của từng thẩm phán. Tuy nhiên, những quy tắc và nguyên tắc đã được mọi người cùng chấp nhận trong việc soạn thảo một văn bản tố tụng đúng đắn sẽ được thể hiện và được nêu trong tài liệu này.

Chúng tôi hy vọng rằng Cuốn sổ tay này sẽ có tác dụng đối với các thẩm phán và thư ký tòa án.

William W Schawarzer

Continue reading

VĂN BẢN GIẢI ĐÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH, TỐ TỤNG DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO


Số: 02/GĐ-TANDTC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 
             Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2016

GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH, TỐ TỤNG DÂN SỰ

Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến về một số vấn đề vướng mắc như sau:

I. Vướng mắc liên quan đến quy định của Luật tố tụng hành chính

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là quyết định hành chính không? Có được coi là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không?

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính được hiểu như sau:

“1. Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đóban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

2. Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”

Theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 thì: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.

Căn cứ vào các quy định nêu trên thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính; nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Continue reading

QUYỀN CHỦ SỞ HỮU VÀ CÔNG KHAI TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN NHÀ NƯỚC

Kết quả hình ảnh cho state enterprises  PHẠM DUY KHÁNH

Tình hình thực hiện quyền chủ sở hữu và công khai tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước đang có những chuyển biến tích cực cả về khuôn khổ pháp lý và  triển khai thực hiện. Tuy nhiên, để doanh nghiệp có vốn nhà nước hoạt động hiệu quả, công khai đầy đủ, kịp thời tình hình tài chính và công tác giám sát tài chính của Nhà nước đối với các doanh nghiệp này đi vào thực chất cần tiếp tục hoàn thiện 2 vấn đề cốt lõi đó là: Lựa chọn mô hình tổ chức thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp và công khai thông tin tài chính.

Thực trạng quyền chủ sở hữu và công khai tài sản tại doanh nghiệp có vốn nhà nước

Có thể kể đến quy định về quyền chủ sở hữu và công khai tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại các văn bản pháp quy hiện hành như: Luật Quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp (DN) (số 69/2014/QH13) được Quốc hội thông qua năm 2014, có hiệu lực thi hành từ 01/07/2015;

Nghị định số 87/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/10/2015 về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào DN, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính DNNN và DN có vốn nhà nước; Nghị định 81/2015/NĐ-CP về công bố thông tin của DNNN…. đến các báo cáo của Chính phủ, các Bộ, các Ủy ban giám sát của Quốc hội trình bày tại các kỳ họp Quốc hội.

Mặc dù đã rất nỗ lực cải cách và hoàn thiện, tuy nhiên, đến nay số lượng các DNNN vẫn còn lớn, nguồn lực tài chính chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn lực của nền kinh tế, nhưng hiệu quả hoạt động kinh doanh lại chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực hiện có khả năng sinh lời thấp…

Có hai nguyên nhân căn bản làm cho hoạt động kinh doanh của các DNNN hiệu quả thấp là tình trạng “vô chủ” và công tác công khai, minh bạch thông tin chưa đầy đủ, kịp thời:

Continue reading