PHẠM VI BẢO HỘ NHÃN HIỆU ĐEN – TRẮNG VÀ NHÃN HIỆU MÀU Ở NƯỚC NGOÀI VÀ VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho BRANDVH.

Một số nhận định chung

Theo quy định về bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới, một nhãn hiệu có thể xin đăng ký bảo hộ ở dạng đen-trắng, dạng màu hoặc cả đen-trắng lẫn màu sắc.

Tuy nhiên, các câu hỏi thường được đặt ra là: i) Phạm vi bảo hộ của một nhãn hiệu đen-trắng hoặc một nhãn hiệu trong dạng màu sắc đạt đến mức độ nào, nhãn hiệu nào được bảo hộ mạnh hơn? ii) Mối quan hệ như thế nào giữa một nhãn hiệu đen-trắng với cùng nhãn hiệu đó nhưng được thể hiện ở dạng màu sắc?

Các câu hỏi trên không dễ trả lời một cách chung nhất bởi lẽ không phải luật pháp sở hữu trí tuệ của quốc gia nào cũng có quy định cụ thể về phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu đen-trắng và nhãn hiệu màu, thêm nữa không phải các quy định liên quan đến vấn đề trên cũng giống nhau giữa các quốc gia trên thế giới. Tuy vậy, thông qua quy định luật pháp và thực tiễn áp dụng có thể phân ra hai cách tiếp cận chính của các nước trong việc bảo hộ nhãn hiệu đen-trắng và nhãn hiệu màu.

Cách tiếp cận thứ nhất: Phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu phụ thuôc chặt chẽ vào mẫu nhãn hiệu đã đăng ký, nhãn hiệu đăng ký thế nào sẽ được bảo hộ đúng như vậy. Do đó, chủ một nhãn hiệu đen-trắng không thể tự ý sử dụng nhãn hiệu đó dưới các dạng màu tùy ý, hay nói một cách khác là việc sử dụng như vậy không thuộc quyền được bảo hộ của chủ nhãn hiệu.

Cách tiếp cận thứ hai linh hoạt hơn: Một nhãn hiệu được đăng ký ở dạng đen-trắng thì có nghĩa nội dung (hình/chữ) của nó đã đươc bảo hộ,vì vậy nhãn hiệu có thể được sử dụng ở các màu khác với đen-trắng miễn là các hình/chữ của nó vẫn được giữ nguyên còn màu sắc sử dụng không phải là thành phần phân biệt của nhãn hiệu. Nếu màu sắc lại là thành phần tự thân đóng góp vào tính phân biệt của nhãn hiệu thì nhất thiết nhãn hiệu phải được đăng ký ở dạng màu sắc để đạt đươc sự bảo hộ hiệu quả nhất.

Continue reading

CHẾ TÀI DÂN SỰ ÁP DỤNG CHO HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

Kết quả hình ảnh cho UNFAIR COMPETITIONNGUYỄN LAN ANH – Khoa Luật, Đại học Ngoại thương Hà Nội

Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng cần được coi là hành vi xâm phạm cả lợi ích tư và lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng vừa phải chịu các chế tài hành chính hoặc hình sự và chế tài dân sự. Chế tài dân sự bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại và các biện pháp chế tài phi vật chất. Pháp luật hiện hành của Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ các biện pháp chế tài dân sự. Tuy nhiên, có một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại chưa thực sự phù hợp với thực tế để áp dụng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng. Vì vậy, những quy định này cần được tiếp tục hoàn thiện để có thể sử dụng hiệu quả trong xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.

1. Bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng

Điều 3, khoản 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.” Như vậy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc điểm sau: (1) là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh; (2) là hành vi cạnh tranh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh; và (3) hành vi gây thiệt hại, có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp khác và người tiêu dùng.1 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng đã được quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.2 Điều 9, khoản 3 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 giao cho “Chính phủ quy định cụ thể các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hình thức xử lý các hành vi này.” Trong dự thảo Nghị định quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hình thức xử lý các hành vi này được công bố vào tháng 6/2010 có định nghĩa về “hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng” như sau:

“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là hành vi cạnh tranh của tổ chức và cá nhân có liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng vì quá chạy theo mục tiêu lợi nhuận mà trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, có nguy cơ gây tổn hại hoặc gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khác.”

Continue reading

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ – BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Kết quả hình ảnh cho ecommercePHẠM THỊ HỒNG ĐÀO – Văn phòng Luật sư Thạnh Hưng

Thương mại điện tử (TMĐT) về cơ bản là việc ứng dụng các phương tiện điện tử vào hoạt động kinh doanh, thương mại. Hiện nay, mạng lưới Internet phát triển và phổ cập rộng rãi, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh trực tuyến phát triển và mang lại cho chủ thể kinh doanh những giá trị và lợi ích to lớn. Chủ thể tham gia hoạt động TMĐT bên cạnh việc tuân thủ các quy định trực tiếp về TMĐT, còn phải thực hiện các quy định pháp luật liên quan khác như đầu tư kinh doanh, thương mại, dân sự. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về TMĐT trở nên cần thiết và cấp bách. Pháp luật về TMĐT được xem là công cụ pháp lý bảo vệ, định hướng chủ thể kinh doanh, tạo ra môi trường kinh doanh thông qua TMĐT an toàn.

Theo Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2016 – 2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt, tới năm 2020, 50% doanh nghiệp sẽ có trang thông tin điện tử, 80% doanh nghiệp thực hiện đặt hàng hoặc nhận đơn đặt hàng thông qua các ứng dụng TMĐT. Hầu hết các doanh nghiệp TMĐT đều cho rằng việc phát triển TMĐT trên nền tảng di động là tất yếu. Tùy theo quy mô phát triển kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chọn thời điểm thích hợp để ra mắt ứng dụng mua sắm trên di động. Hiện tại, các doanh nghiệp TMĐT lớn như Lazada, Sendo, Zalora, Hotdeal… đã sớm triển khai các ứng dụng mua sắm qua di động. Ở Việt Nam trong thời gian qua số lượng các vụ tranh chấp về TMĐT có xu hướng ngày càng gia tăng, chủ yếu là các tranh chấp liên quan đến thông tin cá nhân; về hình thức giao kết hợp đồng thương mại; liên quan tới tội phạm trên không gian mạng;… Khảo sát về tình trạng lừa đảo TMĐT tại Việt Nam cho thấy, nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tranh chấp là người bán không chuyển hàng hoặc hàng giao không đúng như mô tả. Do vậy, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) cho rằng việc lựa chọn website uy tín, đảm bảo về chất lượng hàng hóa và giá cả hợp lý là điều quan trọng khi quyết định mua hàng qua mạng. Một website TMĐT uy tín phải hiện thị đầy đủ các thông tin về người bán, thông tin sản phẩm, quy trình mua hàng rõ ràng, quy trình thanh toán và vận chuyển hàng hóa. Đồng thời, phải có chính sách bảo mật thông tin và giải quyết khiếu nại phát sinh hợp lý.

Continue reading

Ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị đối với các quy định về hòa giải TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

Kết quả hình ảnh cho QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬTNGÔ THANH XUYÊN

1. Khát quát các quy định về hòa giải trong Quốc triều hình luật

Pháp luật phong kiến Việt Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển từ nhà nước đầu tiên của Việt Nam là nhà nước Văn Lang –  Âu Lạc, đến thời kì đấu tranh chống đồng hóa của phong kiến Trung quốc (179 TCN – 938) đến các nhà nước phong kiến Đại Việt (từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX), bao gồm các nhà nước thời kì Đinh – Tiền Lê, các triều Đại Lý – Trần – Hồ, nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền thời Lê Sơ (thế kỉ XV – thế kỉ XVI) đến nhà nước trong thời kì nội chiến phân liệt (thế kỉ XVI – thế kỉ XVIII)([1]) và cuối cùng là nhà nước trong nền quân chủ chuyên chế triều Nguyễn (1802 – 1884) đã đạt được những thành tựu phát triển rực rỡ và đã để lại cho chúng ta một hệ thống pháp luật khá đồ sộ.

Trong đó, đặc biệt là hệ thống pháp luật thời kì Hậu Lê từ thế XV đến thế kỉ XVIII, hệ thống pháp luật thời kì này không những đồ sộ về khối lượng, mà còn phong phú về hình thức văn bản và đa đạng về lĩnh vực điều chỉnh. Những thành tựu trong pháp luật thời kì này, nhất là thời kì Lê Sơ mà đỉnh cao là thời kì vua Lê Thánh Tông đã trở thành mẫu mực, mà các triều đại trước đó chưa hề đạt tới, và là cơ sở để nhiều triều đại sau này làm theo. Các luật lệ nhà Lê được ban hành trong thế kỉ XV dưới các đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông (1428 – 1497) không những thể hiện được sự phong phú, đa dạng về các vấn đề liên quan mà còn thể hiện các điểm đặc sắc của các chế định Việt Nam. So với các bộ luật Trung Quốc, như bộ luật nhà Đường mà có ảnh hưởng ở Phương Đông rất lớn, thì nền pháp chế triều Hậu Lê còn tiến bộ hơn cả về mặt kỹ thuật lập pháp([2]). Đồng thời, pháp luật triều Hậu Lê còn là một phản ánh trung thực xã hội Việt Nam, vì nó phù hợp với các điều kiện xã hội và tôn giáo thời kì đó, các bộ luật thời đó có ảnh hưởng rất lớn đối với dân tộc. Ngày nay, một số lớn các tục lệ nước ta về hôn nhân, gia đình… vẫn còn phản chiếu các điều khoản đó.

Pháp luật phong kiến Việt Nam thời kì Hậu Lê đã đạt được những thành tựu to lớn, mà đỉnh cao của nó là dưới triều vua Lê Thánh Tông, đã bao gồm khá đầy đủ các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong đời sống xã hội đương thời từ hình sự đến dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng, thậm chí cả các vấn đề liên quan đến luật hành chính. Trong đó có các quy định về giải quyết mâu thuẫn, các xung đột xã hội, đem lại cho nhân dân cuộc sống hòa thuận, ấm no, hạnh phúc, tinh thần đoàn kết được phát huy cao độ, đó là các quy định về thể chế hòa giải.

Continue reading

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ ĐỐI VỚI CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÒA GIẢI TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

Kết quả hình ảnh cho QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬTNGÔ THANH XUYÊN

1. Khát quát các quy định về hòa giải trong Quốc triều hình luật

Pháp luật phong kiến Việt Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển từ nhà nước đầu tiên của Việt Nam là nhà nước Văn Lang -  Âu Lạc, đến thời kì đấu tranh chống đồng hóa của phong kiến Trung quốc (179 TCN – 938) đến các nhà nước phong kiến Đại Việt (từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX), bao gồm các nhà nước thời kì Đinh – Tiền Lê, các triều Đại Lý – Trần – Hồ, nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền thời Lê Sơ (thế kỉ XV – thế kỉ XVI) đến nhà nước trong thời kì nội chiến phân liệt (thế kỉ XVI – thế kỉ XVIII)([1]) và cuối cùng là nhà nước trong nền quân chủ chuyên chế triều Nguyễn (1802 – 1884) đã đạt được những thành tựu phát triển rực rỡ và đã để lại cho chúng ta một hệ thống pháp luật khá đồ sộ.

Trong đó, đặc biệt là hệ thống pháp luật thời kì Hậu Lê từ thế XV đến thế kỉ XVIII, hệ thống pháp luật thời kì này không những đồ sộ về khối lượng, mà còn phong phú về hình thức văn bản và đa đạng về lĩnh vực điều chỉnh. Những thành tựu trong pháp luật thời kì này, nhất là thời kì Lê Sơ mà đỉnh cao là thời kì vua Lê Thánh Tông đã trở thành mẫu mực, mà các triều đại trước đó chưa hề đạt tới, và là cơ sở để nhiều triều đại sau này làm theo. Các luật lệ nhà Lê được ban hành trong thế kỉ XV dưới các đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông (1428 – 1497) không những thể hiện được sự phong phú, đa dạng về các vấn đề liên quan mà còn thể hiện các điểm đặc sắc của các chế định Việt Nam. So với các bộ luật Trung Quốc, như bộ luật nhà Đường mà có ảnh hưởng ở Phương Đông rất lớn, thì nền pháp chế triều Hậu Lê còn tiến bộ hơn cả về mặt kỹ thuật lập pháp([2]). Đồng thời, pháp luật triều Hậu Lê còn là một phản ánh trung thực xã hội Việt Nam, vì nó phù hợp với các điều kiện xã hội và tôn giáo thời kì đó, các bộ luật thời đó có ảnh hưởng rất lớn đối với dân tộc. Ngày nay, một số lớn các tục lệ nước ta về hôn nhân, gia đình… vẫn còn phản chiếu các điều khoản đó.

Pháp luật phong kiến Việt Nam thời kì Hậu Lê đã đạt được những thành tựu to lớn, mà đỉnh cao của nó là dưới triều vua Lê Thánh Tông, đã bao gồm khá đầy đủ các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong đời sống xã hội đương thời từ hình sự đến dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng, thậm chí cả các vấn đề liên quan đến luật hành chính. Trong đó có các quy định về giải quyết mâu thuẫn, các xung đột xã hội, đem lại cho nhân dân cuộc sống hòa thuận, ấm no, hạnh phúc, tinh thần đoàn kết được phát huy cao độ, đó là các quy định về thể chế hòa giải.

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 03/2015/NQ-HĐTP NGÀY 28 THÁNG 10 NĂM 2015 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ QUY TRÌNH LỰA CHỌN, CÔNG BỐ VÀ ÁP DỤNG ÁN LỆ

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

– Căn cứ vào Luật tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13;

– Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12;

– Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Án lệ và giá trị pháp lý của án lệ

Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.

Điều 2. Tiêu chí lựa chọn án lệ

Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng được các tiêu chí sau đây:

1. Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể;

2. Có tính chuẩn mực;

3. Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.

Điều 3. Rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ

1. Việc rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ được thực hiện như sau:

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 02/2016 NGÀY 30 THÁNG 6 NĂM 2016 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 103/2015/QH13 VỀ THI HÀNH BLTTDS NĂM 2015 VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 104/2015/QH13 VỀ THI HÀNH LUẬT TTHC NĂM 2015

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;

Căn cứ Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;

Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015, Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;

Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Áp dụng pháp luật tố tụng dân sự và tố tụng hành chính để giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, vụ án hành chính

1. Kể từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01-7-2016), Tòa án áp dụng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị quyết số 103/2015/QH13 để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 517 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 thì được áp dụng từ ngày 01-01-2017.

2. Kể từ ngày Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01-7-2016), Tòa án áp dụng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án hành chính, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 371 Luật tố tụng hành chính số93/2015/QH13 thì được áp dụng từ ngày 01-01-2017.

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 03/2016/NQ-HĐTP NGÀY 26 THÁNG 8 NĂM 2016 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT PHÁ SẢN

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2014;

Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy định của Luật phá sản số 51/2014/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2014;

Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này hướng dẫn thi hành một số quy định tại Điều 8, khoản 14 Điều 9, Điều 70 và Điều 104 của Luật phá sản.

Điều 2. Về tài sản ở nước ngoài, người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật phá sản

1. Tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự ở ngoài lãnh thổ của nước Cộng hòaxã hội chủ nghĩa Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

2. Người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài gồm:

a) Cá nhân không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

b) Pháp nhân không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc không có người đại diện theo quy định của pháp luật tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Điều 3. Về vụ việc phá sản có tính chất phức tạp theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 của Luật phá sản và thẩm quyền giải quyết

1. Vụ việc phá sản có tính chất phức tạp là vụ việc không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 8 của Luật phá sản và doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có từ trên 300 (ba trăm) lao động trở lên hoặc có vốn điều lệ từ trên 100.000.000.000 (một trăm tỷ đồng) trở lên;

Continue reading

NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

imageĐÌNH TUYÊN – VĂN PHÒNG TANNDTC

Ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Bộ luật dân sự là một trong những đạo luật quan trọng, là luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ hội nhập quốc tế, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

Để tạo cơ chế pháp lý đầy đủ cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, phát huy được vị trí, vai trò của Bộ luật dân sự, bảo đảm sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật dân sự, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và hội nhập quốc tế trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành, Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định rất cụ thể về nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự từ Điều 4 đến Điều 6như sau:

a) Bộ luật dân sự là luật chung điều chỉnh tất cả các quan hệ dân sự, luật khác có liên quan đến điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng trái với quy định của Bộ luật dân sự thì phải áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự. Quy định như vậy là xuất phát từ các căn cứ sau đây:

Một là, quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực dân sự vốn rất đa dạng, phong phú với nhiều định dạng, biến thể khác nhau, được điều chỉnh không chỉ bởi Bộ luật dân sự mà còn bởi nhiều luật chuyên ngành khác. Vì vậy, để quyền dân sự của các chủ thể được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện thì đòi hỏi phải có sự đồng bộ, thống nhất của cả hệ thống pháp luật tư, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Bộ luật dân sự. Bộ luật này không chỉ đóng vai trò là bộ luật nền, có tính định hướng cho việc hình thành và phát triển của toàn bộ hệ thống pháp luật tư mà còn là cơ sở pháp lý để giải quyết các quan hệ dân sự trong trường hợp không có quy định của luật chuyên ngành;

Continue reading

TIẾNG NÓI NHÀ VĂN: FORMOSA TO BE OR NOT TO BE

VĂN CHINH

Tại Hội nghị Lý luận Phê bình Văn học Tam Đảo lần thứ IV ngày 25 – 6 – 2016, hội trường nóng lên khi nhà thơ Lê Minh Quốc đọc tham luận bằng thơ:

Thơ ở đâu trong những ngày biển động

Xác cá khô nằm xếp lớp buồn rầu

Thơ hoan ca qua bình minh chói sáng

Sao lại quên biên giới trắng hoa lau

Thành ý của Hội Nhà văn Việt Nam cử đoàn nhà văn vào Hà Tĩnh trong những ngày “động biển” đã được nhen nhóm cân nhắc rồi quyết định từ đó.

Sau một tuần nóng sốt Euro 2016, Chủ tịch Hội, nhà thơ Hữu Thỉnh gọi bảo tôi thảo công văn, giấy xin xe cùng danh sách đoàn nhà văn thăm Hà Tĩnh. Té ra viết được văn vào hạng đọc được, nhưng vị tất đã thảo được công văn. Hữu Thỉnh cặm cụi sửa bản thảo, chỉ còn lại đúng hai dòng Quốc hiệu là của tôi. Công văn gửi UBND tỉnh Hà Tĩnh đề ngày 15 tháng 7 của Hội Nhà văn Việt Nam do đó mà không có chữ ký nháy. Không thể ký nháy vào công văn khi chỉ có chẵn hai dòng Quốc hiệu là của mình!

Chúng tôi đi như người ra trận: Thuốc men, bông băng, lương khô, bánh mì, cam chuối và mặt nạ phòng độc. Họp đoàn ngay trên xe, Trưởng đoàn Hoàng Quốc Hải nói:

“Vào Vũng Áng chưa chắc đã viết được gì ngay. Nhưng nhà văn thì không thể không có mặt ở Vũng Áng lúc này, để chia sẻ với mất mát, với nỗi buồn thương của mọi người. Nó là trải nghiệm cần để nuôi dưỡng cảm xúc của giới ta. Nó là nhân cách nhà văn, nên hiện tại Hội hết tiền thì chúng ta Campuchia.” Mọi người nói đồng ý, riêng bác Trần Nhương (.com) còn nhấn mạnh: “Nhất trí với trên!” Hoàng Quốc Hải cười cùng mọi người, sau thì nói: “Làm việc lớn không thể bắt đầu từ việc vặt, thấy gì nghe gì hãy cứ ghi chép lại, không được phê búc phê biếc gì nhá!”.

Continue reading

VIỆT NAM CẦN XÁC ĐỊNH RÕ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ

TÔN THẤT THÔNG

Nhà nước không nên can thiệp vào quá trình hoạt động kinh tế, cũng không nên thả lỏng cho nền kinh tế tự do hoạt động. Chính sách nhà nước để tạo ra một khung hoạt động: đồng ý; kế hoạch nhà nước để điều khiển quá trình hoạt động kinh tế: không! Nhận thức được đâu là sự khác nhau giữa khung hoạt động và quá trình hoạt động để ban hành chính sách, đấy là cốt lõi của vấn đề.

Giáo sư Walter Eucken, sáng lập viên Trường phái Freiburg

Tóm tắt:

Thể chế chính trị và vai trò của nhà nước trong chính sách kinh tế là hai bộ phận đóng vai trò quyết định cho sự phát triển kinh tế. Mặc dù việc thiết kế vai trò nhà nước chỉ là một phần trong toàn bộ chính sách kinh tế nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của chính sách đó.

Bài tham luận sau đây đứng trên góc nhìn của người nghiên cứu lịch sử kinh tế hậu chiến Tây Đức và cố gắng rút ra những bài học có ích lợi thực tiễn mà người Việt Nam có thể tham khảo.

Trước hết, chúng ta so sánh Tây Đức năm 1945 và Việt Nam năm 1975 cũng như đầu thế kỷ 21 để xem đâu là những lĩnh vực khác nhau liên quan đến chính sách mà Việt Nam cần tránh, và đâu là những nét giống nhau mà Việt Nam có thể dựa vào để tham khảo.

Sau đó chúng ta phân tích xem Tây Đức thiết kế vai trò nhà nước như thế nào? Từ xuất phát điểm nào mà Tây Đức thiết kế vai trò nhà nước của họ như chúng ta đang biết? Có phải nó đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế hậu chiến, đồng thới còn làm nền tảng cho vị trí của Đức đến đầu thế kỷ 21? Vai trò của nhà nước mà họ xác định thì nhiều nhưng tựu trung dựa trên hai nguyên tắc chủ đạo. Hai nguyên tắc đó là gì? Ai là tác giả đặt ra những nguyên tắc đó, từ lúc nào? Từ hai nguyên tắc đó, đâu là những vai trò nhiệm vụ trọng điểm của nhà nước trong kinh tế? Cuối cùng chúng ta so sánh (rất khái quát) vai trò nhà nước thời hậu chiến của ba nước Anh, Pháp và Đức. Tại sao và trong lĩnh vực nào họ thành công hoặc thất bại?

Continue reading

MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

Kết quả hình ảnh cho future contractsTỔNG HỢP TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC (Civillawinfor St.)

  I. Khái niệm, đặc điểm, ưu và nhược điểm của Hợp đồng tương lai

  1. Khái niệm

Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với giá được xác định trước.

Như vậy, khi tham gia vào hợp đồng tương lai, bên mua và bên bán đều được biết trước về:

+ Loại hàng hóa (tài sản) sẽ mua – bán là gì;

+ Khối lượng hàng hóa (tài sản) sẽ mua – bán là bao nhiêu;

+ Thời điểm diễn ra giao dịch đó;

+ Giá giao dịch.

2. Đặc điểm của hợp đồng tương lai

a) Tính chuẩn hóa

Hợp đồng tương lai là một công cụ được niêm yết và giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán phái sinh. Vì vậy, các điều khoản của hợp đồng đều được chuẩn hóa. Cụ thể, sở giao dịch nơi niêm yết hợp đồng tương lai sẽ quy định cụ thể các nội dung chi tiết của một hợp đồng, như: loại và chất lượng tài sản cơ sở, quy mô của hợp đồng (số lượng tài sản cơ sở giao dịch tương ứng với một hợp đồng), cách thức giao – nhận cũng như thanh toán giữa hai bên khi hợp đồng đáo hạn…

b) Tính chất cam kết về việc thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

Continue reading

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. NGUYỄN THANH TUẤN

Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, còn có thuật ngữ “nhân quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ khái niệm “human rights” trong tiếng Anh. Vì vậy, nếu cho rằng, chỉ xã hội tư bản mới có nhân quyền còn xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có quyền con người – là không xác đáng.

Cho đến nay ở nước ta nhược điểm chung của các định nghĩa về quyền con người là chưa chỉ ra tính thống nhất trong thuộc tính tự nhiên – xã hội của quyền của con người, và vai trò xã hội – cần phải được chỉ ra của công tác bảo đảm quyền con người. Cần lưu ý là trong định nghĩa về quyền con người không nên dừng ở việc xác định nhân phẩm chung chung, bởi thực tế pháp luật định vị cả nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người, để thông qua đó, dù là những cá nhân hay nhóm người yếu thế, với năng lực hạn chế, cũng luôn được bảo đảm quyền của mình một cách phù hợp thông qua pháp luật; và việc bảo đảm nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và cả năng lực vốn có của mỗi người và mỗi tập thể không tách rời việc bảo đảm quyền của dân tộc Việt Nam.

Vì thế, theo chúng tôi, một định nghĩa phù hợp với Việt Nam có thể là: Quyền con người là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người, được pháp luật công nhận nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, (bảo đảm) thực hiện và thúc đẩy quyền sống, tự do, hạnh phúc của con người và dân tộc Việt Nam.

Mặc dù có những tương đồng nhất định về tính chất, đối tượng và phạm vi điều chỉnh, quyền con người và quyền công dân vẫn sẽ phát triển theo hai “kênh” khác nhau, mà sẽ không bao giờ hoàn toàn hòa nhập với nhau, khi xã hội loài người vẫn còn nhà nước và pháp luật. Thực tế này đòi hỏi cần tiếp tục xây dựng và củng cố các thể chế hợp tác, để cùng thúc đẩy và bảo đảm cả quyền con người và cả quyền công dân trên mọi cấp độ: cơ sở, địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế.

Continue reading

HIỆN TRẠNG NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Kết quả hình ảnh cho BIỂN ĐÔNGTRẦN TRỌNG DƯƠNG

Trong khi giới học thuật Trung Quốc đã chuẩn bị một chiến lược nghiên cứu cơ bản dài hơi về biển Đông bằng việc đào tạo các chuyên gia nghiên cứu biển vài ba chục năm trở lại đây, thì Việt Nam do nhiều điều kiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau, dường như đến giờ mới “tự mở cửa” cho chính mình. Và mặc dù đã được khai phóng tự do trong nghiên cứu học thuật, đã được đầu tư ở nhiều chỗ, song từ góc độ quản lý khoa học, các học giả ở Việt Nam hiện vẫn đang phải tự xoay xở trong những điều kiện khác nhau. Bài viết này là một lược sử diễn giải tình hình nghiên cứu Biển Đông thuộc phạm vi của khoa học xã hội và nhân văn1.

Diện tích nước ta bao gồm cả hai phần lãnh thổ và lãnh hải. Diện tích Biển Đông chiếm một tỷ lệ áp đảo so với đất liền. Nhưng các mối quan tâm của nhà nước và giới nghiên cứu tỏ ra tương đối rời rạc, nếu không muốn nói là nhiều khi bị lãng quên, hoặc cố tình quên lãng.

Để lược thuật được tình hình nghiên cứu Biển Đông của Việt Nam, bài viết này khảo sát trên dưới 12002 công bố khoa học (chủ yếu bằng tiếng Việt), đã công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành và các ấn phẩm (phần lớn là chuyên luận) được phát hành trong nước khoảng 40 năm trở lại đây (từ những năm 1970 đến 2014). Tiêu chí thống kê bao gồm: (1) đầu mục bài nghiên cứu, hoặc chuyên luận nghiên cứu; (2) Các lần xuất bản, công bố (tính cả trường hợp được tái bản).

Một ví dụ tiêu biểu như sau: “Phạm Hoàng Quân. 2008. Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc. Báo Tuổi trẻ, ngày 5/1/2008, tb. 2012. Tạp chí Nghiên cứu Phát triển – Viện NC Phát triển TP.HCM. số 1/2012. tb. 2014a. Trong “Hoàng Sa- Trường Sa: nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc”. Nxb. Văn hóa Văn nghệ. Tp.HCM. tr.7-15”. Đây là một đơn vị điển hình cho mẫu khảo sát. Bài nghiên cứu này được công bố 3 lần ở 3 năm khác nhau (2008, 2012, và 2014) với các mức độ chỉnh sửa, bổ sung khác nhau, được công bố ở 3 kênh xuất bản (báo chí, tạp chí, và chuyên luận). Như thế, bài nhiên cứu này sẽ đồng thời được thống kê ở cả ba năm. Mặt khác, nếu là chuyên luận của một tác giả (một người viết) thì sẽ tương đương với 1 đơn vị; nếu là một tuyển tập bài viết thì các bài viết khác nhau ấy cũng được coi là một đơn vị (như trường hợp các công bố của Phạm Hoàng Quân trong ví dụ trên). Thêm nữa, nếu một chuyên luận được cấu thành từ các chương do nhiều tác giả khác nhau viết, thì mỗi chương sẽ tương ứng với một đơn vị thống kê. Về thời gian khảo sát, chúng tôi chia làm bốn giai đoạn, gồm (1) từ 1970 đến 1975, (2) giai đoạn từ 1980 đến 1984, (3) giai đoạn 1992 đến 1994, (4) giai đoạn từ 2010 đến 2014). Kết quả cụ thể được biểu diễn như biểu chỉ số công bố dưới đây.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

TS. BÙI ĐỨC GIANG – Tập đoàn Rent-A-Port Vietnam

Trong hoạt động ngân hàng và thương mại quốc tế, việc ngân hàng Việt Nam phát hành bảo lãnh cho bên thụ hưởng là tổ chức hay cá nhân nước ngoài đã trở nên khá phổ biến trong thực tế. Cùng với xu hướng hội nhập quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng công nhận quyền của các bên trong quan hệ bảo lãnh được lựa chọn luật áp dụng và tòa án giải quyết tranh chấp cũng như có những quy định điều chỉnh các khía cạnh khác trong mối quan hệ bảo lãnh đặc biệt này.

Quan hệ hợp đồng

Cam kết bảo lãnh quốc tế có thể được phát hành cho bên thụ hưởng nước ngoài trực tiếp bởi một ngân hàng Việt Nam hoặc bởi một ngân hàng tại nước có trụ sở hoặc nơi ở của bên thụ hưởng nước ngoài và ngân hàng Việt Nam cấp bảo lãnh đối ứng. Có thể minh họa quan hệ bảo lãnh này thông qua bảo lãnh hoàn trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ như sau:

Bảo lãnh ngân hàng phát hành trực tiếp bởi một ngân hàng Việt Nam cho bên thụ hưởng nước ngoài và các mối quan hệ hợp đồng phát sinh

Bên mua (M) tại London ký hợp đồng để mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ bên bán (B) tại Hà Nội. Hợp đồng mua bán quy định phải có bảo lãnh do một ngân hàng Việt Nam trực tiếp phát hành để bảo đảm việc hoàn trả cho M số tiền mà M trả cho B. Trong trường hợp này có ba mối quan hệ hợp đồng như sau:

(1) Hợp đồng mua bán giữa M và B.

(2) Thỏa thuận cấp bảo lãnh giữa B và ngân hàng Việt Nam trong đó có thỏa thuận về bắt buộc nhận nợ trả thay.

(3) Cam kết bảo lãnh của ngân hàng Việt Nam cho bên thụ hưởng là M.

Continue reading

PHẢI QUA PHẪU THUẬT MỚI ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ NGƯỜI CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH?

Kết quả hình ảnh cho TransgenderNGUYỄN THÙY DƯƠNG*

Chuyển đổi giới tính là một vấn đề pháp lý mới và phức tạp trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Và một trong những nội dung có khả năng sẽ gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật CĐGT là vấn đề xác định điều kiện để được coi là người đã chuyển đổi giới tính.

Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam, quyền chuyển đổi giới tính đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (BLDS 2015), ban hành ngày 24/11/2015. Với cộng đồng người chuyển giới Việt Nam, những ghi nhận của Bộ luật Dân sự 2015 có ý nghĩa thiêng liêng như những dòng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về quyền con người trong bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, ghi nhận quyền trong BLDS 2015 mới chỉ là sự khởi đầu của một quá trình thực sự công nhận người chuyển giới trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung.

Trước hết, khi BLDS 2015 ghi nhận việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật thì đồng nghĩa với việc sẽ có một luật chuyên ngành về chuyển đổi giới tính tại Việt Nam. Thực tế hiện nay Bộ Y tế đang nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính (Luật CĐGT), dự kiến sẽ trình Quốc hội thông qua vào năm 2018. Và một trong những nội dung có khả năng sẽ gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật CĐGT là vấn đề xác định điều kiện để được coi là người đã chuyển đổi giới tính. Liệu có bắt buộc phải thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính và được cấp chứng nhận y học thì mới được coi là đã chuyển giới hay không? Hiện nay nhiều ý kiến cho rằng phải thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính (thông thường là phẫu thuật triệt sản và có thể là phẫu thuật tạo hình) thì mới được coi là đã chuyển giới. Tuy nhiên, về bản chất, người chuyển giới là người có giới tính mong muốn không trùng với giới tính khi sinh ra và không phụ thuộc tình trạng cơ thể đã phẫu thuật hay chưa1. Một khảo sát tại Việt Nam cũng đã chứng minh không phải tất cả người chuyển giới đều có nhu cầu phẫu thuật chuyển giới2. Sẽ là không thấu đáo nếu áp đặt suy nghĩ phải phẫu thuật (triệt sản hay tạo hình) thì mới được coi là người đã chuyển giới, chưa kể tới quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nói chung và người chuyển giới nói riêng đã được ghi nhận tại Hiến pháp 2013 và BLDS 20153.

Continue reading

VẤN ĐỀ NGƯỜI CHUYỂN GIỚI Ở VIỆT NAM: CẦN CHẤP NHẬN SỰ ĐA DẠNG

NGUYỄN THU QUỲNH

Hiện nay hệ thống pháp lý ở Việt Nam đã có những thay đổi căn bản để bảo vệ quyền của người chuyển giới, nhưng đó mới chỉ là điểm khởi đầu cho nhiều nỗ lực tiếp theo nhằm không chỉ công nhận những quyền hiển nhiên của người chuyển giới mà còn phải thay đổi nhận thức của xã hội trong ứng xử với họ.

Bị kỳ thị khi sống đúng với bản dạng giới

Từ ngoại hình, cử chỉ cho tới cách nói chuyện tự nhiên như bất kỳ người đàn ông nào khác, Phong1, một người chuyển giới nam (transgender2) không hề gợi cho chúng tôi một ý niệm nào về việc trước đây anh từng mang ngoại hình là nữ. Nhưng Phong đã và đang gặp phải rất nhiều khó khăn khi tìm việc làm và chịu đựng nhiều kỳ thị ở công sở cũng như nhiều không gian công cộng khác. “Khi em nộp hồ sơ xin việc, nhìn thấy giới tính của mình khác với giới tính được ghi trong hồ sơ, họ đặt ra câu hỏi về giới tính của em sau đó khẳng định em không phù hợp với công việc đó. Thậm chí khi em đã trúng tuyển, họ rà soát về giới tính và biết em là người chuyển giới thì lại nói rằng khách hàng của công ty không muốn tiếp xúc khi em thể hiện mình là người chuyển giới và yêu cầu em phải điều chỉnh lối ăn mặc và ngoại hình cho phù hợp với công việc thì mới nhận được. Em đã học đại học, có kinh nghiệm làm việc nhất định, nhưng họ không chấp nhận năng lực, vẫn bị từ chối khi xin việc chỉ vì em sống thật với bản thân mình”, Phong nói.
Trường hợp bị kỳ thị trong môi trường công sở như Phong không phải là hiếm. Theo một nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế, môi trường (ISEE)3, có 53% người chuyển giới nữ và 60% người chuyển giới nam bị các nhà tuyển dụng từ chối nhận vào làm việc trong khi đáp ứng đủ các điều kiện về năng lực. Và ngay cả khi được nhận vào làm việc thì có tới 69% người chuyển giới nữ và 66% người chuyển giới nam thường bị kỳ thị, xa lánh ở nơi công sở. Nghiên cứu trên cũng chỉ ra, không chỉ bị phân biệt đối xử ở các không gian công cộng, người chuyển giới còn bị kỳ thị, xa lánh bởi chính người thân, ngay dưới mái nhà họ đang sinh sống. Thống kê xã hội học về kỳ thị đối xử trong gia đình của người chuyển giới cho thấy, 62% người chuyển giới nữ, 80% người chuyển giới nam bị chửi mắng, gây áp lực, 61% người chuyển giới nói chung bị ép thay đổi ngoại hình, cử chỉ, thậm chí có tới 14% trong số họ phải chịu các hành vi bạo lực như nhốt, giam giữ, đánh đập, đuổi khỏi nhà. Riêng ở phạm vi gia đình, các hành vi phân biệt đối xử với người chuyển giới còn nhắm tới việc ngăn chặn thông tin về thành viên trong gia đình là người chuyển giới bị tiết lộ ra ngoài đồng thời cố gắng thay đổi xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ bằng các biện pháp y học, tâm linh hay lối sinh hoạt và ngăn cản các mối quan hệ tình cảm của họ. Nhìn chung, các hành vi phân biệt đối xử xuất phát bởi sự định kiến và dè bỉu các bản dạng giới (gender identity)4 và xu hướng tính dục của người chuyển giới “khác” với các bản dạng giới và xu hướng tính dục được coi là “thông thường”.

Continue reading