BẢN CHẤT TƯ CỦA HỘI ĐOÀN DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho partnershipTHS.LS. PHẠM QUANG HUY – Trưởng Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

“Hội đoàn dân sự” (HĐDS) và “Xã hội dân sự” (XHDS) là những khái niệm mới được du nhập vào Việt Nam gần đây. Kể từ “Đổi Mới”, tại Việt Nam, sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ (NGO) vào hoạt động xóa đói giảm nghèo, nở rộ hoạt động của các đoàn hội dân sự tư nhân là một đối tượng cần nghiên cứu về khía cạnh pháp lý. Tiếp đến, khi Việt Nam gia nhập Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP), việc đảm bảo các cam kết về XHDS được thực thi và truyền tải vào hoạt động lập pháp cần được nghiêm túc nghiên cứu và làm rõ, đặc biệt là vị trí của HĐDS trong dự thảo Luật về Hội…

1. Khái niệm “Hội đoàn dân sự”

1.1. Quan điểm Hoa Kỳ

Để hiểu khái niệm “hội đoàn dân sự” (civil/civic associations/organization), ta cần tìm hiểu khái niệm XHDS theo cách nhìn của người Mỹ. Theo đó, xuất phát từ quan điểm về chính quyền của John Locke “…hễ khi nào có một lượng người hợp nhất trong một xã hội, với tính cách là mỗi người rút khỏi quyền thực thi luật tự nhiên của mình và trao quyền lực đó cho cộng đồng, thi khi đó – và chỉ khi đó, nó là một xã hội chính trị, tức là một xã hội dân sự”[1], XHDS là “các yếu tố như tự do ngôn luận, tư pháp độc lập, vv, tạo nên một xã hội dân chủ” và “tổng hợp các tổ chức và định chế phi chính phủ thể hiện quyền lợi và ý chí của công dân; các cá nhân và tổ chức trong một xã hội mà độc lập với chính phủ”[2]; . Ví dụ, điển hình “Nước Mỹ vốn là một đất nước của các hội tự nguyện”[3], theo đó, câu “Hãy đăng ký gia nhập một hội nào đi!” [4] là lời khuyên của người Mỹ đối với hoạt động công cộng tại địa phương. Nguồn gốc của câu chuyện này đã được Alexis de Tocqueville chỉ ra rất rõ ràng “Những người Mỹ, bất luận lứa tuổi bao nhiêu, hoàn cảnh và địa vị xã hội thế nào, đều tham gia không mệt mỏi vào các hội. Khỏi nói đến các hội thương mại và kỹ nghệ là những đoàn thể mà hết thảy ai ai cũng là đoàn viên cả, bên cạnh đó còn cả nghìn hội khác, nào là tôn giáo, đạo đức, rất nghiêm túc hoặc rất thô sơ về ý nghĩa, mức độ rất bao trùm hoặc rất hẹp, quy mô khổng lồ hoặc rất nhỏ…Nếu ở bên Pháp, người ta thấy ở bất kỳ một hoạt động nào đều có một cơ quan chính phủ đứng ra chỉ đạo, và ở bên Anh, khu vực nào cũng có một vị trưởng quan, thì tại nước Mỹ, ở bất cứ vị trí tương tự nào như vậy đều có một hội” [5] (trong trích đoạn nêu trên, dịch giả Anh ngữ dùng từ “civil associations” để chỉ những hội này).

Continue reading

VÀI NÉT VỀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT Ở CANADA

Kết quả hình ảnh cho CONSTRUCTION PROCESS OF LAW IN CANADATS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG – Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

I. Khái quát về các cơ quan tham gia vào quy trình xây dựng luật

Canada là quốc gia theo chế độ đại nghị (parliamentary system). Cơ cấu bộ máy quốc gia được tổ chức theo Hiến pháp năm 1867 và 1982. Chính quyền ở Canada là chính quyền 3 cấp: Liên bang, Bang (tỉnh) và địa phương. Mỗi cấp đều có hiến pháp hoặc hiến chương riêng, trong đó ghi khá rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền. Ví dụ, chính quyền liên bang lo các vấn đề thuộc về đối ngoại và các vấn đề có tính chất liên bang (như quốc phòng, đối ngoại, phát hành tiền, ngân hàng, quy chế quốc tịch/công dân, luật hình sự, bưu chính v.v.). Chính quyền bang lo các công việc như quản lý tài nguyên thiên nhiên, chính sách y tế, giáo dục, thực thi pháp luật ở địa phương, quyền sở hữu tài sản và quyền dân sự, quản lý tư pháp, tổ chức các chương trình phúc lợi v.v. Chính quyền địa phương (chính quyền cấp thành phố – municipal) lo các công việc thuộc về quy hoạch thành phố, phòng cháy chữa cháy, thư viện, ban hành các quy chế địa phương (local by-laws), cấp thoát nước, thu gom rác thải v.v.

Hoạt động xây dựng các đạo luật ở Canada (các đạo luật liên bang) liên quan tới 4 loại chủ thể cơ bản sau: (1) Chính phủ (Nội các) (đứng đầu là Thủ tướng); (2) Hạ viện (308 thành viên được dân chúng bầu đại diện cho cử tri các địa hạt bầu cử với nhiệm kỳ không quá 5 năm); (3) Thượng viện (gồm 105 thành viên được hình thành theo cơ chế bổ nhiệm để đại diện cho các vùng miền của Canada và được phục vụ trong Thượng viện kể từ khi bổ nhiệm cho tới khi nghỉ hưu vào năm 75 tuổi);[1] và (4) Đại diện của nữ hoàng (toàn quyền).

Trong thực tế, các sáng kiến lập pháp (dự thảo luật trình trước Nghị viện) thường đến từ phía Chính phủ (do các Bộ quản lý ngành đề xuất). Đây cũng là các dự luật mà khả năng được Nghị viện chấp thuận, thông qua là cao nhất. Sau khi dự luật được trình trước Nghị viện, mọi dự luật đều phải trải qua quá trình thảo luận, xem xét, đánh giá, thông qua hoặc không thông qua ở cả hai viện là Hạ viện và Thượng viện. Những dự luật được Hạ viện và Thượng viện thông qua sau đó sẽ được chuyển cho đại diện của Nữ hoàng (Toàn quyền) chuẩn thuận và công bố.

Continue reading

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho compensation liability of the stateTHS. LƯƠNG DANH TÙNG – Luật sư, Công ty luật hợp danh Đông Nam Á , Đoàn Luật sư TP. Hà Nội

Luật Trách nhiệm bồi thường (TNBT) của Nhà nước năm 2010 là văn bản pháp luật quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có căn cứ pháp lý thực hiện TNBT của mình đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án. Tuy nhiên, do Luật TNBT của Nhà nước năm 2010 được xây dựng trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005; phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, điều kiện làm việc và thực thi công vụ thời kỳ trước năm 2010, do vậy, đến nay đã bộc lộ một số khiếm khuyết cần được sửa đổi, bổ sung.

1. Các kết quả quan trọng đạt được khi thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Việc Quốc hội ban hành Luật TNBT của Nhà nước năm 2010 có ý nghĩa sâu sắc, khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước trong thực hiện các mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Trong đó, có quyền được bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra khi thi hành công vụ, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.

Sau hơn 6 năm thi hành, về cơ bản Luật TNBT của Nhà nước năm 2010 đã đi vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu và mục tiêu tạo cơ chế khả thi để người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường; bảo đảm sự ổn định của hoạt động công vụ, giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp bị thiệt hại. Thông qua việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước, công chức nhà nước tiếp tục có sự chuyển biến về ý thức trách nhiệm trong thi hành công vụ, nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa, vai trò của pháp luật về TNBT của Nhà nước, qua đó, nâng cao trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân theo tinh thần: để tránh phát sinh TNBT nhà nước thì không có hành vi trái pháp luật trong thi hành công vụ. Người bị thiệt hại thuận lợi hơn trong thực hiện quyền yêu cầu bồi thường trong cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án[1]. Một số trường hợp điển hình về thực hiện TNBT của Nhà nước có thể kể đến như:

Continue reading

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẢO TRONG PHÂN ĐỊNH BIỂN – NHÌN TỪ CÁC ÁN LỆ QUỐC TẾ GẦN ĐÂY VÀ LIÊN HỆ VỚI CÁC ĐẢO Ở BIỂN ĐÔNG

Kết quả hình ảnh cho biển Việt NamTHS. LÊ THỊ ANH ĐÀO – Khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội

Ảnh hưởng của đảo trong phân định biển không được quy định rõ ràng trong UNCLOS[1]. Tuy nhiên, các án lệ gần đây của cơ quan tài phán quốc tế đã cho thấy các đảo có vai trò hạn chế trong phân định biển, đặc biệt là đối với các đảo nhỏ, xa bờ và nằm về sai phía của đường phân định. Trong bất kỳ diễn tiến nào, tất cả các đảo ở Biển Đông nước ta đều có hiệu lực hạn chế trong phân định biển. Nhận thức được triển vọng này có thể giúp các bên xem xét lại yêu sách chủ quyền của mình đối với các đảo để quản lý tốt hơn các tranh chấp ở Biển Đông cũng như cố gắng xây dựng cơ chế hợp tác phát triển chung trong khu vực.

Luật quốc tế hiện nay không quy định cụ thể về ảnh hưởng của đảo trong phân định vùng biển chồng lấn giữa các quốc gia đối diện hoặc liền kề, mà chỉ gián tiếp đề cập đến thông qua “các hoàn cảnh đặc biệt/liên quan”[2]. Trên thực tế, sự hiện diện của đảo luôn được các quốc gia viện dẫn để yêu cầu sử dụng phương pháp phân định khác với phương pháp đường trung tuyến/cách đều hoặc để điều chỉnh đường trung tuyến/cách đều theo hướng có lợi cho quốc gia sở hữu đảo. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực tiễn cơ quan tài phán quốc tế giải quyết vấn đề ảnh hưởng của đảo trong phân định biển có ý nghĩa quan trọng nhằm làm rõ quy định của luật quốc tế có liên quan và tìm ra xu hướng chung trong việc xác định ảnh hưởng của đảo trong phân định biển.

1. nh hưởng của đảo đối với việc thiết lập đường trung tuyến/cách đều tạm thời

Đặc trưng đáng kể của luật quốc tế về phân định biển là được phát triển qua án lệ của các cơ quan tài phán quốc tế. Các án lệ này thể hiện ngày càng rõ xu hướng chuyển từ cách tiếp cận “hướng đến kết quả công bằng” (không ưu tiên phương pháp phân định nào) sang cách tiếp cận “điều chỉnh để đạt được kết quả công bằng”, nghĩa là cách tiếp cận bao gồm ba giai đoạn: (i) thiết lập đường trung tuyến/cách đều tạm thời; (ii) xem xét liệu có các hoàn cảnh đặc biệt/liên quan đòi hỏi điều chỉnh đường trung tuyến/cách đều tạm thời nhằm đạt được kết quả công bằng; (iii) kiểm tra liệu đường phân định có dẫn đến kết quả không công bằng hay không bằng cách áp dụng yếu tố tỷ lệ[3]. Khi thực hiện quá trình ba giai đoạn này, cơ quan tài phán quốc tế sẽ dựa trên cơ sở nguyên tắc công bằng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của đảo trong phân định.

Continue reading

BÀN VỀ ÁP DỤNG THỜI HIỆU KHỞI KIỆN, THỜI HIỆU YÊU CẦU CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Kết quả hình ảnh cho The statute of limitations  VĨNH SƠN

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Bộ luật dân sự năm 2015 có một số quy định về thời hiệu khởi kiện khác với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 và của Bộ luật dân sự năm 2005; đó là:

Quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

“Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.

“Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”.

(Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 không có quy định này).

– Quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

(Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 02 năm).

Quy định tại Điều 588 Bộ luật dân sự năm 2015

Continue reading

SỔ TAY HƯỚNG DẪN THẨM PHÁN VÀ THƯ KÝ TÒA ÁN TẠI HOA KỲ TRONG SOẠN THẢO VĂN BẢN TỐ TỤNG

Kết quả hình ảnh cho Judicial Writing ManualTRUNG TÂM TƯ PHÁP LIÊN BANG (HOA KỲ) – DỰ ÁN USAID STAR-Plus (Dịch từ bản gốc tiếng Anh là Judicial Writing Manual)*

Lời nói đầu

Mối liên hệ giữa Tòa án và người dân được thể hiện bằng những gì được viết ra dưới dạng văn bản, đó là những văn bản tố tụng mà tòa án muốn trao đổi với các bên tranh tụng, luật sư, các tòa án khác và với người dân nói chung. Cho dù hiến định và luật định về thẩm quyền của tòa án là gì đi chăng nữa thì cuối cùng văn bản do tòa án viết ra vẫn là khởi nguồn và là thước đo thẩm quyền của tòa án.

Chính vì vậy, một quyết định chính xác của tòa án vẫn là chưa đủ – quyết định đó phải công bằng, hợp lý và dễ hiểu. Một phán quyết mà tòa đưa ra phải được giải thích, thuyết phục và làm cho cả thế giới hài lòng vì quyết định đó là quyết định đúng đắn và có cơ sở. Tòa án viết gì và viết như thế nào là những vấn đề quan trọng không kém so với những gì tòa án quyết định. Điều này không chỉ quan trọng đối với người đọc mà cả đối với người soạn thảo văn bản. Bởi vì đây là văn bản do chính tòa án viết ra thể hiện tư duy sâu xa của tòa án. Đúng như Ambrose Bierce đã nói trong tác phẩm Viết cho Đúng cách (Write It Right) của mình: “Soạn thảo văn bản đúng cách, về cơ bản, là sự hiện hữu hóa tư duy mạch lạc”

Nhằm phục vụ cho việc soạn thảo văn bản tư pháp, Trung tâm Tư pháp Liên bang đã soạn thảo cuốn sổ tay này. Đây không phải là một công bố chính thống về phương thức soạn thảo đúng cách – vốn là một nội dung đã được đề cập trong nhiều văn bản. Thực chất, đây là sự chắt lọc những kinh nghiệm và thể hiện quan điểm của một nhóm các thẩm phán có kinh nghiệm với sự hỗ trợ của một ban biên tập có chuyên môn. Cuốn sổ tay này không tiếp cận vấn đề soạn thảo một văn bản tố tụng đúng đắn cũng như sẽ không mô tả một cách chính xác về quy trình soạn thảo này giống như cách mà những người khác đã làm, bởi quy trình này là một quy trình mang đậm dấu ấn cá nhân của từng thẩm phán. Tuy nhiên, những quy tắc và nguyên tắc đã được mọi người cùng chấp nhận trong việc soạn thảo một văn bản tố tụng đúng đắn sẽ được thể hiện và được nêu trong tài liệu này.

Chúng tôi hy vọng rằng Cuốn sổ tay này sẽ có tác dụng đối với các thẩm phán và thư ký tòa án.

William W Schawarzer

Continue reading

VĂN BẢN GIẢI ĐÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH, TỐ TỤNG DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO


Số: 02/GĐ-TANDTC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 
             Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2016

GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH, TỐ TỤNG DÂN SỰ

Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến về một số vấn đề vướng mắc như sau:

I. Vướng mắc liên quan đến quy định của Luật tố tụng hành chính

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là quyết định hành chính không? Có được coi là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không?

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính được hiểu như sau:

“1. Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đóban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

2. Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”

Theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 thì: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.

Căn cứ vào các quy định nêu trên thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính; nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Continue reading

QUYỀN CHỦ SỞ HỮU VÀ CÔNG KHAI TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN NHÀ NƯỚC

Kết quả hình ảnh cho state enterprises  PHẠM DUY KHÁNH

Tình hình thực hiện quyền chủ sở hữu và công khai tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước đang có những chuyển biến tích cực cả về khuôn khổ pháp lý và  triển khai thực hiện. Tuy nhiên, để doanh nghiệp có vốn nhà nước hoạt động hiệu quả, công khai đầy đủ, kịp thời tình hình tài chính và công tác giám sát tài chính của Nhà nước đối với các doanh nghiệp này đi vào thực chất cần tiếp tục hoàn thiện 2 vấn đề cốt lõi đó là: Lựa chọn mô hình tổ chức thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp và công khai thông tin tài chính.

Thực trạng quyền chủ sở hữu và công khai tài sản tại doanh nghiệp có vốn nhà nước

Có thể kể đến quy định về quyền chủ sở hữu và công khai tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại các văn bản pháp quy hiện hành như: Luật Quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp (DN) (số 69/2014/QH13) được Quốc hội thông qua năm 2014, có hiệu lực thi hành từ 01/07/2015;

Nghị định số 87/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/10/2015 về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào DN, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính DNNN và DN có vốn nhà nước; Nghị định 81/2015/NĐ-CP về công bố thông tin của DNNN…. đến các báo cáo của Chính phủ, các Bộ, các Ủy ban giám sát của Quốc hội trình bày tại các kỳ họp Quốc hội.

Mặc dù đã rất nỗ lực cải cách và hoàn thiện, tuy nhiên, đến nay số lượng các DNNN vẫn còn lớn, nguồn lực tài chính chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn lực của nền kinh tế, nhưng hiệu quả hoạt động kinh doanh lại chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực hiện có khả năng sinh lời thấp…

Có hai nguyên nhân căn bản làm cho hoạt động kinh doanh của các DNNN hiệu quả thấp là tình trạng “vô chủ” và công tác công khai, minh bạch thông tin chưa đầy đủ, kịp thời:

Continue reading