QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ – BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Kết quả hình ảnh cho ecommercePHẠM THỊ HỒNG ĐÀO – Văn phòng Luật sư Thạnh Hưng

Thương mại điện tử (TMĐT) về cơ bản là việc ứng dụng các phương tiện điện tử vào hoạt động kinh doanh, thương mại. Hiện nay, mạng lưới Internet phát triển và phổ cập rộng rãi, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh trực tuyến phát triển và mang lại cho chủ thể kinh doanh những giá trị và lợi ích to lớn. Chủ thể tham gia hoạt động TMĐT bên cạnh việc tuân thủ các quy định trực tiếp về TMĐT, còn phải thực hiện các quy định pháp luật liên quan khác như đầu tư kinh doanh, thương mại, dân sự. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về TMĐT trở nên cần thiết và cấp bách. Pháp luật về TMĐT được xem là công cụ pháp lý bảo vệ, định hướng chủ thể kinh doanh, tạo ra môi trường kinh doanh thông qua TMĐT an toàn.

Theo Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2016 – 2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt, tới năm 2020, 50% doanh nghiệp sẽ có trang thông tin điện tử, 80% doanh nghiệp thực hiện đặt hàng hoặc nhận đơn đặt hàng thông qua các ứng dụng TMĐT. Hầu hết các doanh nghiệp TMĐT đều cho rằng việc phát triển TMĐT trên nền tảng di động là tất yếu. Tùy theo quy mô phát triển kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chọn thời điểm thích hợp để ra mắt ứng dụng mua sắm trên di động. Hiện tại, các doanh nghiệp TMĐT lớn như Lazada, Sendo, Zalora, Hotdeal… đã sớm triển khai các ứng dụng mua sắm qua di động. Ở Việt Nam trong thời gian qua số lượng các vụ tranh chấp về TMĐT có xu hướng ngày càng gia tăng, chủ yếu là các tranh chấp liên quan đến thông tin cá nhân; về hình thức giao kết hợp đồng thương mại; liên quan tới tội phạm trên không gian mạng;… Khảo sát về tình trạng lừa đảo TMĐT tại Việt Nam cho thấy, nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tranh chấp là người bán không chuyển hàng hoặc hàng giao không đúng như mô tả. Do vậy, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) cho rằng việc lựa chọn website uy tín, đảm bảo về chất lượng hàng hóa và giá cả hợp lý là điều quan trọng khi quyết định mua hàng qua mạng. Một website TMĐT uy tín phải hiện thị đầy đủ các thông tin về người bán, thông tin sản phẩm, quy trình mua hàng rõ ràng, quy trình thanh toán và vận chuyển hàng hóa. Đồng thời, phải có chính sách bảo mật thông tin và giải quyết khiếu nại phát sinh hợp lý.

Continue reading

Ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị đối với các quy định về hòa giải TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

Kết quả hình ảnh cho QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬTNGÔ THANH XUYÊN

1. Khát quát các quy định về hòa giải trong Quốc triều hình luật

Pháp luật phong kiến Việt Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển từ nhà nước đầu tiên của Việt Nam là nhà nước Văn Lang –  Âu Lạc, đến thời kì đấu tranh chống đồng hóa của phong kiến Trung quốc (179 TCN – 938) đến các nhà nước phong kiến Đại Việt (từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX), bao gồm các nhà nước thời kì Đinh – Tiền Lê, các triều Đại Lý – Trần – Hồ, nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền thời Lê Sơ (thế kỉ XV – thế kỉ XVI) đến nhà nước trong thời kì nội chiến phân liệt (thế kỉ XVI – thế kỉ XVIII)([1]) và cuối cùng là nhà nước trong nền quân chủ chuyên chế triều Nguyễn (1802 – 1884) đã đạt được những thành tựu phát triển rực rỡ và đã để lại cho chúng ta một hệ thống pháp luật khá đồ sộ.

Trong đó, đặc biệt là hệ thống pháp luật thời kì Hậu Lê từ thế XV đến thế kỉ XVIII, hệ thống pháp luật thời kì này không những đồ sộ về khối lượng, mà còn phong phú về hình thức văn bản và đa đạng về lĩnh vực điều chỉnh. Những thành tựu trong pháp luật thời kì này, nhất là thời kì Lê Sơ mà đỉnh cao là thời kì vua Lê Thánh Tông đã trở thành mẫu mực, mà các triều đại trước đó chưa hề đạt tới, và là cơ sở để nhiều triều đại sau này làm theo. Các luật lệ nhà Lê được ban hành trong thế kỉ XV dưới các đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông (1428 – 1497) không những thể hiện được sự phong phú, đa dạng về các vấn đề liên quan mà còn thể hiện các điểm đặc sắc của các chế định Việt Nam. So với các bộ luật Trung Quốc, như bộ luật nhà Đường mà có ảnh hưởng ở Phương Đông rất lớn, thì nền pháp chế triều Hậu Lê còn tiến bộ hơn cả về mặt kỹ thuật lập pháp([2]). Đồng thời, pháp luật triều Hậu Lê còn là một phản ánh trung thực xã hội Việt Nam, vì nó phù hợp với các điều kiện xã hội và tôn giáo thời kì đó, các bộ luật thời đó có ảnh hưởng rất lớn đối với dân tộc. Ngày nay, một số lớn các tục lệ nước ta về hôn nhân, gia đình… vẫn còn phản chiếu các điều khoản đó.

Pháp luật phong kiến Việt Nam thời kì Hậu Lê đã đạt được những thành tựu to lớn, mà đỉnh cao của nó là dưới triều vua Lê Thánh Tông, đã bao gồm khá đầy đủ các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong đời sống xã hội đương thời từ hình sự đến dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng, thậm chí cả các vấn đề liên quan đến luật hành chính. Trong đó có các quy định về giải quyết mâu thuẫn, các xung đột xã hội, đem lại cho nhân dân cuộc sống hòa thuận, ấm no, hạnh phúc, tinh thần đoàn kết được phát huy cao độ, đó là các quy định về thể chế hòa giải.

Continue reading

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ ĐỐI VỚI CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÒA GIẢI TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

Kết quả hình ảnh cho QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬTNGÔ THANH XUYÊN

1. Khát quát các quy định về hòa giải trong Quốc triều hình luật

Pháp luật phong kiến Việt Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển từ nhà nước đầu tiên của Việt Nam là nhà nước Văn Lang -  Âu Lạc, đến thời kì đấu tranh chống đồng hóa của phong kiến Trung quốc (179 TCN – 938) đến các nhà nước phong kiến Đại Việt (từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX), bao gồm các nhà nước thời kì Đinh – Tiền Lê, các triều Đại Lý – Trần – Hồ, nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền thời Lê Sơ (thế kỉ XV – thế kỉ XVI) đến nhà nước trong thời kì nội chiến phân liệt (thế kỉ XVI – thế kỉ XVIII)([1]) và cuối cùng là nhà nước trong nền quân chủ chuyên chế triều Nguyễn (1802 – 1884) đã đạt được những thành tựu phát triển rực rỡ và đã để lại cho chúng ta một hệ thống pháp luật khá đồ sộ.

Trong đó, đặc biệt là hệ thống pháp luật thời kì Hậu Lê từ thế XV đến thế kỉ XVIII, hệ thống pháp luật thời kì này không những đồ sộ về khối lượng, mà còn phong phú về hình thức văn bản và đa đạng về lĩnh vực điều chỉnh. Những thành tựu trong pháp luật thời kì này, nhất là thời kì Lê Sơ mà đỉnh cao là thời kì vua Lê Thánh Tông đã trở thành mẫu mực, mà các triều đại trước đó chưa hề đạt tới, và là cơ sở để nhiều triều đại sau này làm theo. Các luật lệ nhà Lê được ban hành trong thế kỉ XV dưới các đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông (1428 – 1497) không những thể hiện được sự phong phú, đa dạng về các vấn đề liên quan mà còn thể hiện các điểm đặc sắc của các chế định Việt Nam. So với các bộ luật Trung Quốc, như bộ luật nhà Đường mà có ảnh hưởng ở Phương Đông rất lớn, thì nền pháp chế triều Hậu Lê còn tiến bộ hơn cả về mặt kỹ thuật lập pháp([2]). Đồng thời, pháp luật triều Hậu Lê còn là một phản ánh trung thực xã hội Việt Nam, vì nó phù hợp với các điều kiện xã hội và tôn giáo thời kì đó, các bộ luật thời đó có ảnh hưởng rất lớn đối với dân tộc. Ngày nay, một số lớn các tục lệ nước ta về hôn nhân, gia đình… vẫn còn phản chiếu các điều khoản đó.

Pháp luật phong kiến Việt Nam thời kì Hậu Lê đã đạt được những thành tựu to lớn, mà đỉnh cao của nó là dưới triều vua Lê Thánh Tông, đã bao gồm khá đầy đủ các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong đời sống xã hội đương thời từ hình sự đến dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng, thậm chí cả các vấn đề liên quan đến luật hành chính. Trong đó có các quy định về giải quyết mâu thuẫn, các xung đột xã hội, đem lại cho nhân dân cuộc sống hòa thuận, ấm no, hạnh phúc, tinh thần đoàn kết được phát huy cao độ, đó là các quy định về thể chế hòa giải.

Continue reading