BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ: Nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng Luật HADOPI của Cộng hòa Pháp

unnamedTS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN – Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP.HCM

Mở đầu

Quyền tác giả được luật pháp ghi nhận và bảo vệ. Đó là quyền dành cho các tác giả sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học. Cụ thể quyền này dành cho các nhà văn, nhạc sĩ, nhà xuất bản… sản xuất và xuất bản các tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật… Quyền tác giả bao gồm hai nội dung: quyền tài sản và quyền tinh thần. Trong đó, quyền tài sản cho phép tác giả hoặc người nắm giữ quyền được sản xuất, công bố tác phẩm của mình và khai thác các lợi ích tài chính trong một thời hạn nhất định cho đến khi tác phẩm rơi vào lĩnh vực công cộng.

Với tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, sự xuất hiện của Internet đã hình thành một môi trường đặc biệt – môi trường kỹ thuật số – làm cho việc bảo hộ quyền tác giả khó khăn và phức tạp hơn. Môi trường kỹ thuật số giúp cho việc sao chép, tải về máy cá nhân một cách bất hợp pháp dễ dàng hơn, vì vậy gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả nhiều hơn. Pháp luật Việt Nam về vấn đề này vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện. Việc nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia khác về Quyền tác giả và Internet – môi trường kỹ thuật số (1) – cho phép có một cái nhìn tổng quát hơn về các chế định cũng như các biện pháp để tăng cường bảo hộ quyền tác giả trong bối cảnh mới. Bài viết này sẽ trình bày một số kinh nghiệm lập pháp, bối cảnh lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật (2) của một số quốc gia trên thế giới.

1. Quyền tác giả và xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số

a. Tác phẩm kỹ thuật số trong môi trường mạng Internet

Tác động của Internet đối với quyền tác giả có thể tích cực cũng có thể không, tùy theo lập trường của người quan sát. Bởi vì, một cách tổng quát, ở góc độ là phương tiện truyền thông, Internet là một phương tiện hiện đại tiếp nhận các sáng tạo tinh thần; ở góc độ là một công nghệ, Internet là môi trường lý tưởng để đưa tác phẩm tiếp cận với công chúng nhanh chóng và đông đảo nhất. Có thể thấy tác động của môi trường kỹ thuật số qua ba hình thức tương đối phổ biến: nhân bản không giới hạn tác phẩm; sửa đổi, cắt xén tác phẩm theo ý chí riêng; và tải về để lưu trữ trên máy tính cá nhân. Làm rõ khái niệm “tác phẩm kỹ thuật số” (1) cho phép xác định phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm này chống lại sự xâm phạm quyền trong môi trường Internet (2) trên cơ sở hiểu biết rõ ràng hơn về một số phương tiện kỹ thuật, công nghệ cho phép tiến hành các hành vi có nguy cơ gây tổn hại đến quyền tác giả (3).

Continue reading

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ: NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM ÁP DỤNG LUẬT HADOPI CỦA CỘNG HÒA PHÁP

TS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN – Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TPHCM

Mở đầu

Quyền tác giả được luật pháp ghi nhận và bảo vệ. Đó là quyền dành cho các tác giả sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học. Cụ thể quyền này dành cho các nhà văn, nhạc sĩ, nhà xuất bản… sản xuất và xuất bản các tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật… Quyền tác giả bao gồm hai nội dung: quyền tài sản và quyền tinh thần. Trong đó, quyền tài sản cho phép tác giả hoặc người nắm giữ quyền được sản xuất, công bố tác phẩm của mình và khai thác các lợi ích tài chính trong một thời hạn nhất định cho đến khi tác phẩm rơi vào lĩnh vực công cộng.

Với tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, sự xuất hiện của Internet đã hình thành một môi trường đặc biệt – môi trường kỹ thuật số – làm cho việc bảo hộ quyền tác giả khó khăn và phức tạp hơn. Môi trường kỹ thuật số giúp cho việc sao chép, tải về máy cá nhân một cách bất hợp pháp dễ dàng hơn, vì vậy gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả nhiều hơn. Pháp luật Việt Nam về vấn đề này vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện. Việc nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia khác về Quyền tác giả và Internet – môi trường kỹ thuật số (1) – cho phép có một cái nhìn tổng quát hơn về các chế định cũng như các biện pháp để tăng cường bảo hộ quyền tác giả trong bối cảnh mới. Bài viết này sẽ trình bày một số kinh nghiệm lập pháp, bối cảnh lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật (2) của một số quốc gia trên thế giới.

1. Quyền tác giả và xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số

a. Tác phẩm kỹ thuật số trong môi trường mạng Internet

Tác động của Internet đối với quyền tác giả có thể tích cực cũng có thể không, tùy theo lập trường của người quan sát. Bởi vì, một cách tổng quát, ở góc độ là phương tiện truyền thông, Internet là một phương tiện hiện đại tiếp nhận các sáng tạo tinh thần; ở góc độ là một công nghệ, Internet là môi trường lý tưởng để đưa tác phẩm tiếp cận với công chúng nhanh chóng và đông đảo nhất. Có thể thấy tác động của môi trường kỹ thuật số qua ba hình thức tương đối phổ biến: nhân bản không giới hạn tác phẩm; sửa đổi, cắt xén tác phẩm theo ý chí riêng; và tải về để lưu trữ trên máy tính cá nhân. Làm rõ khái niệm “tác phẩm kỹ thuật số” (1) cho phép xác định phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm này chống lại sự xâm phạm quyền trong môi trường Internet (2) trên cơ sở hiểu biết rõ ràng hơn về một số phương tiện kỹ thuật, công nghệ cho phép tiến hành các hành vi có nguy cơ gây tổn hại đến quyền tác giả (3).

Continue reading

BÚN BÒ HUẾ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NHÃN HIỆU!


Logo của mẫu nhãn hiệu chứng nhận được in trong quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Bún bò Huế”
TS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN – Giảng viên Trường Đại học Luật TP HCM

Bất kỳ người thứ ba nào có lợi ích liên quan, chẳng hạn như các cơ sở cung cấp dịch vụ ăn uống có bún bò Huế trên cả nước, đều có quyền nộp đơn yêu cầu Cục Sở hữu Trí tuệ không cấp giấy chứng nhận hoặc ra quyết định hủy bỏ “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Bún bò Huế”

Tiếp theo việc UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế ban hành “Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Bún bò Huế” theo Quyết định số 1623/QĐ-UBND ngày 13-7- 2016, dư luận cho rằng việc dùng Bún bò Huế như nhãn hiệu chứng nhận có thể sẽ hạn chế quyền của những cơ sở cung cấp dịch vụ ăn uống có bán bún bò Huế. Cũng có ý kiến cho rằng việc đăng ký bảo hộ và sử dụng thuật ngữ “Bún bò Huế” như nhãn hiệu là không phù hợp quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Căn cứ pháp lý nào cho phép đưa ra kết luận này, chúng ta hãy cùng tìm hiểu.

Nhãn hiệu hàng hóa một loại tài sản đặc biệt: tài sản trí tuệ. Đây là một khái niệm tương đối mới, xuất hiện chính thức và được pháp luật công nhn trước đây chưa lâu trong pháp luật dân sự và từ năm 2005 khi Quốc hội thông qua Luật Sở hữu Trí tuệ (Luật SHTT). Trong phạm vi bài viết này cần xác định lại khái niệm cơ bản về nhãn hiệu và nhãn hiệu chứng nhận, cũng như xem xét mục đích sử dụng của loại nhãn hiệu này trước khi bàn về tính chính danh của nhãn hiệu chứng nhận “Bún bò Huế” và quyền được sử dụng thuật ngữ “bún bò Huế” của những cơ sở cung cấp dịch vụ ăn uống có bún bò Huế.

Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam quy định “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Như vậy, chức năng chính của nhãn hiệu là để phân biệt. Cần thấy rằng mục đích của việc gán nhãn hiệu lên hàng hóa hay dịch vụ chính là để “trung thành hóa” khách hàng, có nghĩa là để khách hàng đã sử dụng sẽ dễ dàng tìm lại mặt hàng hay dịch vụ mình yêu thích hoặc hài lòng và để khách hàng tiềm năng dễ dàng nhận ra hàng hóa hay dịch vụ đó khi muốn tìm đến để sử dụng. Nhãn hiệu không có chức năng bảo đảm về chất lượng hàng hóa.

Continue reading

MỘT SỐ NỘI DUNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NHẬT BẢN VÀ KHUYẾN NGHỊ ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

THS. LÊ ANH TUẤN – TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, BỘ TƯ PHÁP

Qua nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật của Nhật Bản cho thấy quy định pháp thi hành dân sự Nhật Bản có những nội dung tương đồng với pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam, tuy nhiên có nhiều nội dung mang tính đặc trưng, đặc thù của Nhật Bản. Ở Nhật Bản pháp luật quy định là thi hành dân sự còn ở Việt Nam là thi hành án dân sự. Xin giới thiệu một số nội dung pháp luật về thi hành dân sự Nhật Bản và khuyến nghị áp dụng tại Việt Nam.

1. Khái lược lịch sử của chế độ thi hành dân sự Nhật Bản 

Lịch sử của chế độ thi hành dân sự Nhật Bản trải qua các giai đoạn lịch sử, từ thời EDO năm 1742 (thế kỷ thứ 17) người có nghĩa vụ phải nộp tiền hai lần mỗi tháng vào ngày 04 và 21 để Toà án giao cho người có quyền, nếu không thanh toán đúng thời hạn thì cùm tay người đó từ 30 ngày đến dưới 100 ngày hoặc bị giam lỏng ở nhà từ 20 ngày đến dưới 100 ngày; nếu vẫn không thi hành thì bị áp dụng quy tắc “thân đại hạn” (shindaikagiri), đó là việc lấy tài sản của người có nghĩa vụ để thanh toán cho người có quyền. Đến thời Minh Trị (1872 thế kỷ thứ 18) có sửa đổi và hiện nay là Luật Thi hành dân sự năm 1979, với 19 lần sửa đổi bắt đầu từ năm 1996 đến lần sửa đổi sau cùng vào năm 2004, là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thi hành dân sự ở Nhật Bản.

2.  Căn cứ pháp luật của thi hành dân sự

– Luật Thi hành dân sự và Quy tắc thi hành dân sự

Quy định pháp luật về thủ tục thi hành dân sự và tổ chức đảm nhận thi hành dân sự của Nhật Bản nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật, quy tắc và thậm chí là cả ở trong các điều ước quốc tế nhưng thủ tục thi hành dân sự hiện nay chủ yếu căn cứ vào hai văn bản chính là “Luật Thi hành dân sự” do Quốc hội ban hành và “Quy tắc thi hành dân sự” do Tòa án tối cao ban hành.
Luật Thi hành dân sự về nguyên tắc quy định các nội dung làm cơ sở cho thủ tục và các nội dung có ảnh hưởng quan trọng đến quyền, lợi nghĩa vụ của đương sự và của những người liên quan khác. Luật Thi hành dân sự quy định các nội dung cần thiết về thủ tục thi hành dân sự, còn đối với những nội dung không được quy định trong Luật Thi hành dân sự hoặc đối với các nội dung nhất định cụ thể thì do Tòa án tối cao ban hành Quy tắc thi hành dân sự.

Continue reading

ĐẠI HỌC ĐỂ LÀM GÌ

Hình ảnh có liên quanGIẢN TƯ TRUNG – Viện IRED TP. HCM

Để “đổi mới” hay “thay đổi” giáo dục đại học thì việc tiên quyết nhất là phải có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về đại học và nền đại học. Nếu nhận thức sai lệch và ấu trĩ thì việc “đổi mới” này sẽ không thể thực hiện được hoặc nếu có thực hiện được đi nữa thì cũng sẽ gây ra những hậu quả tai hại về nhiều mặt.

Hiện nay, có rất nhiều góc nhìn khác nhau về khái niệm đại học và mục đích của đại học, mỗi góc nhìn đưa ra một cách hiểu về đại học và nền đại học. Việc có được nhiều góc nhìn về cùng một vấn đề như vậy là rất hữu ích bởi nó cho chúng ta cơ hội để hiểu vấn đề đó một cách đầy đủ và sâu sắc hơn. Trong phạm vi bài viết này, tôi muốn đóng góp một góc nhìn để góp phần làm rõ khái niệm đại học và nền đại học ở ít nhất ba điểm cơ bản sau: Vai trò của đại học trong xã hội, sứ mệnh của đại học đối với xã hội, và vị trí của đại học trong xã hội.

Vai trò của đại học trong xã hội?

Có thể có nhiều quan điểm về vai trò của đại học trong xã hội, nhưng tôi cho rằng, nền đại học có hai vai trò quan trọng bậc nhất đó là: (1) Lãnh đạo/Dẫn dắt xã hội về mặt trí tuệ và tư tưởng; (2) Đại diện cho chân lý, công lý và lương tri của loài người.
Tất nhiên, ngay cả trong những xã hội văn minh nhất ở những nước phát triển nhất thì không phải “trường đại học” nào cũng dễ dàng làm được những điều này (chẳng hạn như ở đâu đó trong những xã hội này vẫn có cả những “trường đại học” chỉ chuyên “bán bằng”). Nhưng xét trên bình diện chung thì một “nền đại học” đúng nghĩa phải nắm được và thể hiện được những vai trò đó trong xã hội. “Xã hội” ở đây không chỉ được hiểu là một cộng đồng, một địa phương, một quốc gia, mà còn được hiểu là xã hội toàn cầu.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC KINH DOANH Ở VIỆT NAM: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỄ – Trưởng phòng Triết học xã hội, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Việt Nam hiện nay vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển. Quá trình đổi mới của Việt Nam cũng chính là quá trình Việt Nam đang dần hoàn thiện cả về phương thức hoạt động của kinh tế thị trường, cả về thể chế xã hội dựa trên nền kinh tế đó. Vì thế, đạo đức kinh doanh ở Việt Nam đã và đang đặt ra những vấn đề cả trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn khác với những nước phát triển.

Trên cơ sở luận giải những vấn đề này, tác giả rút ra kết luận: Để thực hiện đạo đức kinh doanh ở Việt Nam hiện nay thì việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và các văn bản dưới luật rõ ràng là cần thiết nhưng chưa đủ, mà phải đưa ra được những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức kinh doanh đủ sức để hướng dẫn những hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp. Việc giáo dục phải làm thế nào để các doanh nghiệp tự ý thức được rằng, thực hiện đạo đức kinh doanh chính là đầu tư cho tương lai và cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Khi bàn về khái niệm đạo đức kinh doanh đã có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, đạo đức kinh doanh bao gồm những quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong thế giới kinh doanh, hoặc “đạo đức kinh doanh là hành vi đầu tư vào tương lai. Khi doanh nghiệp tạo tiếng tốt sẽ lôi kéo khách hàng. Và đạo đức xây dựng trên cơ sở khơi dậy nét đẹp tiềm ẩn trong mỗi con người luôn được thị trường ủng hộ”(1). Stoner và các đồng tác giả lại đưa ra định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là quan tâm tới kết quả ảnh hưởng mà mỗi quyết định điều hành – quản trị tác động lên người khác, cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đó cũng là việc xem xét quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, các nguyên tắc nhân văn cần tuân thủ trong quá trình ra quyết định và bản chất các mối quan hệ giữa con người với con người”. Còn mạng kinh doanh trực tuyến bnet.com thì định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là hệ thống các nguyên tắc luân lý được áp dụng trong thế giới thương mại, chỉ dẫn các hành vi được chấp nhận trong cả chiến lược và vận hành hàng ngày của tổ chức. Phương thức hoạt động có đạo đức ngày càng trở nên cần thiết trong tìm kiếm thành công và xây dựng hình ảnh tích cực của doanh nghiệp”(2). Giáo sư Phillip V.Lewis, sau khi đúc rút từ 185 định nghĩa khác nhau về đạo đức kinh doanh, đã đưa ra định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định”(3). Từ những nội dung trên có thể thấy, cách hiểu về khái niệm đạo đức kinh doanh trên cốt lõi cơ bản lúc đầu là hướng về tính nhân văn trong kinh doanh thì về sau, nó còn trở thành chính phương thức kinh doanh của doanh nghiệp, nếu muốn phát triển theo hướng thu được lợi nhuận một cách ổn định và bền vững. Ở đây, vai trò đạo đức kinh doanh đã được nhấn mạnh trong những trường hợp đưa ra những quyết định mở rộng hoặc thu hẹp kinh doanh của các chủ doanh nghiệp. Việc tuân thủ đạo đức kinh doanh sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trên con đường kiếm tìm ngày càng nhiều lợi nhuận cho mình.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC KINH DOANH Ở VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỄ – Trưởng phòng Triết học xã hội, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Việt Nam hiện nay vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển. Quá trình đổi mới của Việt Nam cũng chính là quá trình Việt Nam đang dần hoàn thiện cả về phương thức hoạt động của kinh tế thị trường, cả về thể chế xã hội dựa trên nền kinh tế đó. Vì thế, đạo đức kinh doanh ở Việt Nam đã và đang đặt ra những vấn đề cả trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn khác với những nước phát triển. Trên cơ sở luận giải những vấn đề này, tác giả rút ra kết luận: Để thực hiện đạo đức kinh doanh ở Việt Nam hiện nay thì việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và các văn bản dưới luật rõ ràng là cần thiết nhưng chưa đủ, mà phải đưa ra được những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức kinh doanh đủ sức để hướng dẫn những hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp. Việc giáo dục phải làm thế nào để các doanh nghiệp tự ý thức được rằng, thực hiện đạo đức kinh doanh chính là đầu tư cho tương lai và cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Khi bàn về khái niệm đạo đức kinh doanh đã có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, đạo đức kinh doanh bao gồm những quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong thế giới kinh doanh, hoặc “đạo đức kinh doanh là hành vi đầu tư vào tương lai. Khi doanh nghiệp tạo tiếng tốt sẽ lôi kéo khách hàng. Và đạo đức xây dựng trên cơ sở khơi dậy nét đẹp tiềm ẩn trong mỗi con người luôn được thị trường ủng hộ”(1). Stoner và các đồng tác giả lại đưa ra định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là quan tâm tới kết quả ảnh hưởng mà mỗi quyết định điều hành – quản trị tác động lên người khác, cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đó cũng là việc xem xét quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, các nguyên tắc nhân văn cần tuân thủ trong quá trình ra quyết định và bản chất các mối quan hệ giữa con người với con người”. Còn mạng kinh doanh trực tuyến bnet.com thì định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là hệ thống các nguyên tắc luân lý được áp dụng trong thế giới thương mại, chỉ dẫn các hành vi được chấp nhận trong cả chiến lược và vận hành hàng ngày của tổ chức. Phương thức hoạt động có đạo đức ngày càng trở nên cần thiết trong tìm kiếm thành công và xây dựng hình ảnh tích cực của doanh nghiệp”(2). Giáo sư Phillip V.Lewis, sau khi đúc rút từ 185 định nghĩa khác nhau về đạo đức kinh doanh, đã đưa ra định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định”(3). Từ những nội dung trên có thể thấy, cách hiểu về khái niệm đạo đức kinh doanh trên cốt lõi cơ bản lúc đầu là hướng về tính nhân văn trong kinh doanh thì về sau, nó còn trở thành chính phương thức kinh doanh của doanh nghiệp, nếu muốn phát triển theo hướng thu được lợi nhuận một cách ổn định và bền vững. Ở đây, vai trò đạo đức kinh doanh đã được nhấn mạnh trong những trường hợp đưa ra những quyết định mở rộng hoặc thu hẹp kinh doanh của các chủ doanh nghiệp. Việc tuân thủ đạo đức kinh doanh sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trên con đường kiếm tìm ngày càng nhiều lợi nhuận cho mình.

Continue reading