TRANH CHẤP DÂN SỰ, GIẢI QUYẾT THIẾU… DÂN SỰ

imageNGUYÊN TẤN

Trong thời buổi kinh tế sóng gió ba đào như hiện nay, hoạt động kinh doanh trên thương trường chắc chắn sẽ gặp nhiều rủi ro, bất trắc và do vậy rất dễ phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp.

Những vụ việc rộ lên gần đây như Bình An, An Khang… có thể nói là những ví dụ điển hình. Nông dân bán cá cho các công ty này, đến hạn, họ lại không được thanh toán theo đúng thỏa thuận. Đây là một loại tranh chấp dân sự liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa. Thế nhưng, lạ lùng thay cách thức giải quyết của các bên trong vụ việc tranh chấp lại dường như không… dân sự một chút nào.

Theo các nguồn tin, Công ty cổ phần Thủy sản Bình An nợ hàng trăm tỉ đồng tiền bán cá tra của hàng chục hộ nông dân tại các tỉnh khu vực ĐBSCL. Tuy nhiên, chỉ có ba hộ khởi kiện vụ án ra tòa để yêu cầu giải quyết, trong khi phần lớn những hộ còn lại thì đâm đơn “kêu cứu khẩn cấp đến lãnh đạo các cấp nhờ can thiệp” (Thanh Niên, 7-3-3012).

Tương tự, trước đó liên quan đến vụ Công ty TNHH An Khang ở Cần Thơ vỡ nợ, 23 hộ nông dân bán cá tra nguyên liệu cho công ty này cũng gửi đơn đến UBND thành phố Cần Thơ nhờ can thiệp (Tuổi Trẻ, 25-11-2011).

Ngay cả Công ty Bình An cũng chọn cách trông cậy vào sự can thiệp của chính quyền trước những tranh chấp đang bủa vây. Tại cuộc họp với đại diện UBND thành phố Cần Thơ vào ngày 10-3-2012, ông Trần Văn Trí, Tổng giám đốc Bình An, đã đề nghị chính quyền can thiệp để công ty và ông K. (một hộ bán cá tra) có cuộc gặp thương lượng nhằm trả chậm, tránh siết nợ, kiện tụng vì số tiền mà công ty nợ tiền bán cá của hộ này lên đến 40 tỉ đồng. Ông Trí cũng đề nghị chính quyền đứng ra làm cầu nối, chủ trì để công ty và nông dân gặp nhau cùng tháo gỡ các khoản nợ một cách hợp lý về thời gian (Tuổi Trẻ, 11-3-2012). Và đáp lại sự khẩn khoản của Công ty Bình An, UBND thành phố Cần Thơ cũng lập một đoàn công tác để nắm tình hình nợ nần và tham gia giải quyết cùng doanh nghiệp.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐÊ CẦN BÀN VỀ TRƯỜNG HỢP ỦY QUYỀN THAM GIA TỐ TỤNG TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

PHAN VŨ LINH – TÒA ÁN NHÂN DÂN CẦN THƠ

Khi tham gia tố tụng trong các vụ án dân sự thì các đương sự có thể tự mình trực tiếp tham gia hoặc vì một lý do nào đó mà đương sự trong vụ kiện có thể ủy quyền cho người khác. Việc ủy quyền tham gia tố tụng trong các vụ án dân sự được quy định tại các Điều 73, 74, 75, 76, 77 và 78 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) và các Điều 581 đến 589 của Bộ luật Dân sự năm 2006. Tuy nhiên, qua công tác áp dụng và giải quyết các vụ án dân sự có ủy quyền trên thực tế đã tồn tại một số vướng mắc nhất định, trong phạm vi bài viết này tác giả xin đưa ra một số vướng mắc, bất cập về nội dung ủy quyền, những trường hợp chấm dứt ủy quyền và thời hạn ủy quyền:

1/ Nội dung ủy quyền

Theo quy định tại khoản 3 Điều 73 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì người đại diện theo ủy quyền trong Bộ luật Dân sự là người đại diện ủy quyền trong tố tụng dân sự, tuy nhiên khi đối chiếu với Mục 12 (quy định về Hợp đồng ủy quyền) của Bộ luật Dân sự thì trong mục này không có quy định về nội dung ủy quyền cụ thể là những nội dung gì? Mà theo Điều 581 quy định “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền…”, nhưng cụ thể gồm những công việc gì? Giới hạn cụ thể ra sao thì chưa có quy định cụ thể?

Ví dụ: Ông T khởi kiện bà V về việc chia di sản của cha mẹ để lại là cụ H và M (cụ H chết năm 1989 và cụ M chết năm 2001, giữa cụ H và M có với nhau 08 người con), trong 08 người con của cụ H và M thì có bà H và ông Th đang định cư sinh sống tại nước ngoài. Để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự Tòa án đã yêu cầu bà H và ông Th có ý kiến của mình về nội dung vụ kiện. Sau khi nhận được văn bản của Tòa bà H và ông Th có văn bản ủy quyền cho Luật sư K nhân danh mình đến Tòa án tham gia tố tụng trong vụ kiện trên, theo văn bản ủy quyền đó thì bà H và ông Th ủy quyền cho Luật sư K có nội dung “…ông K được nhân danh bà H và ông Th đến Tòa án tham gia tố tụng trong vụ kiện và toàn quyền quyết định, định đoạt mọi vấn đề trong vụ kiện trên; đồng thời yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật Việt Nam…”.

Từ ví dụ trên đã có hai quan điểm khác nhau về nội dung ủy quyền của bà H và ông Th cho Luật sư K:

Continue reading

ÁP DỤNG ĐIỀU 474 BỘ LUẬT DÂN SỰ NHƯ THẾ NÀO ĐỂ TÍNH LÃI SUẤT NỢ QUÁ HẠN

NGUYỄN THÀNH DUY

Ðiều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Ðịa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thỏa thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Ngày 11/01/2012, Viện kiểm sát nhân dân huyện C có văn bản kiến nghị số 01/KN-VKS, kiến nghị vi phạm trong giải quyết án dân sự đối với Toà án nhân dân huyện C. Nội dung kiến nghị: Tại các bản án số 05/2011/DSST ngày 23/9/2011 của Toà án nhân dân huyện C, giải quyết vụ “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn Huỳnh Tấn Lang với bị đơn Vũ Ngọc Lễ; bản án số 06/2011/DSST ngày 30/9/2011 của TAND huyện C, giải quyết vụ “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn Nguyễn Thành Vinh với bị đơn Vũ Ngọc Lễ.

Các đương sự xác lập hợp đồng vay tiền có thời hạn và có lãi. Viện kiểm sát huyện C cho rằng: Đối với lãi suất nợ quá hạn được tính bằng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố từ thời điểm quá hạn đến ngày xét xử sơ thẩm mới đúng quy định của khoản 5 Điều 474 của Bộ luật dân sự.

Ngày 18/01/2012, Toà án nhân dân huyện C có văn bản phúc đáp số 01/2012/TA-PĐKN, có nội dung: Vụ án mà Viện kiểm sát đã nêu thuộc trường hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi (lãi suất 3%/tháng). Toà án nhân dân huyện C viện dẫn khoản 5 Điều 474, khoản 1 Điều 476 của Bộ luật dân sự và điểm b khoản 4 mục I Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính, hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản để lập luận rằng: “khi đến hạn bên vay không trả tiền cho bên cho vay là hoàn toàn do lỗi của bên vay. Nếu tính lãi quá hạn theo cách tính của Viện kiểm sát kiến nghị thì gây thiệt hại cho bên cho vay (Lãi suất quá hạn khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ thanh toán lại thấp hơn lãi suất trong hạn – khi bên vay chưa vi phạm nghĩa vụ là không hợp lý). Toà án áp dụng lãi suất cơ bản x 150% để tính lãi suất chậm trả là khách quan, phù hợp với quy định của pháp luật mà Toà án đã viện dẫn, phù hợp với bản án, quyết định trước đây của Toà án các cấp”.

Continue reading