NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN KÊNH CHUYỂN KIỀU HỐI – KINH NGHIỆM NGHIÊN CỨU ĐẾN MỘT SỐ NƯỚC VÀ CỦA VIỆT NAM

THS. ĐĂNG THU HẰNG, THS. VŨ THANH HÀ, THS.PHAN HOÀNG YẾN & THS. NGUYỄN THÙY DƯƠNG – Học viện Ngân Hàng

I- Những vấn đề cơ bản về kiều hối

Trong những năm gần đây, kiều hối đã trở thành một hiện tượng được giới tài chính quốc tế quan tâm. Mặc dù, trên thực tế trong nhiều thập kỉ qua, những người di cư thuộc các nước đang phát triển vẫn gửi tiền về gia đình, nhưng số lượng tiền gửi về đã và đang gia tăng nhanh chóng. Và đây chính là vấn đề khiến nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu. Những khoản tiền này được chuyển về nước như thế nào và tới tay ai? Những nguồn tài chính từ bên ngoài này có vai trò như thế nào đối với sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận? Những ảnh hưởng trước mắt và lâu dài của lượng kiều hối đối với các thị trường đang nổi là gì?… Bài viết đi vào nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới kênh chuyển kiều hối, dựa theo kinh nghiệm nghiên cứu của một số nước trên thế giới và tại Việt Nam.

Trước khi đi vào trả lời câu hỏi trên, một số vấn đề cơ bản liên quan tới kiều hối sẽ được nêu lên trong phần dưới đây.

1. Kiều hối là gì?

Về cơ bản, kiều hối là một lượng tiền hoặc tương đương tiền của người lao động ở nước ngoài gửi về nước (Puri, 1999). Ví dụ, người Trung Đông sống ở châu Âu, người Mỹ Latin sống ở Mỹ, người Việt Nam sống ở Mỹ hoặc Úc gửi tiền về trong nước.

IMF đã đưa ra một định nghĩa rộng về kiều hối bao gồm 3 khía cạnh:

(i) là lượng tiền hoặc tương đương tiền được người lao động chuyển về gia đình họ hàng của mình ở trong nước; (ii) khoản tiền bồi thường cho người lao động hoặc lương thưởng dưới dạng tiền hoặc tương đương trả cho cá nhân làm việc ở nước ngoài; và (iii) là lượng tài sản tài chính do người cư trú tạm thời mang theo khi họ di chuyển từ một nước tới nước khác và sống tại nước đó nhiều hơn 1 năm.

Lãnh sự Việt Nam tại Hoa Kì đưa ra nhận định rằng “Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì, ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo…“.

Continue reading

TRANH CHẤP THỪA KẾ: MỘT ÔNG 3 BÀ, AI LÀ VỢ ĐỂ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ?

TIẾN HIỂU

Có tòa cho rằng ba bà đều là vợ, tòa thì bảo chỉ có hai bà… Bà E. sống chung với ông C. từ năm 1979 và có với nhau bốn người con nhưng không được pháp luật công nhận là vợ chồng…

Hơn năm năm trước, sau khi ông C. mất, gia đình ông đã vướng vào một vụ kiện đòi chia di sản của ông để lại. Sự việc càng phức tạp hơn bởi khoảng năm 1950 và 1960, ông C. sống như vợ chồng với hai phụ nữ khác…

Cả ba đều là vợ

Tháng 5-2005, TAND huyện Củ Chi (TP.HCM) xử sơ thẩm, dù không nhận định gì đến vai trò của ba bà vợ ông C. nhưng đã công nhận các con chung. Về việc chia thừa kế, tòa nhận định tài sản đòi chia là mảnh đất không phải của ông C. nên không thể chia cho các thừa kế.

TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm đã hủy án sơ thẩm vì cho rằng tòa cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng, không triệu tập đủ người liên quan.

Tháng 12-2007, TAND huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm lại vụ án và lần này xác định ông C. có ba bà vợ. Hai bà ông sống từ những năm 1950 và 1960; bà còn lại là bà E., ông sống từ năm 1979 cho đến khi mất. Đồng thời, tòa chấp nhận chia cho các đồng thừa kế phần di sản ông C. để lại.

Tháng 3-2008, TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm vụ án cũng đã xác định ông C. có ba bà vợ như trên nhưng lập luận tại sao ba bà là vợ của ông C. thì tòa không đề cập tới. Cạnh đó, tòa cũng nhận định phần chia thừa kế tòa cấp sơ thẩm đã xử đúng…

Chỉ còn lại hai bà

Sau án phúc thẩm, tháng 5-2009, viện trưởng VKSND Tối cao quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Kháng nghị cho rằng nếu có việc ông C. chung sống với bà thứ hai từ năm 1960 thì cũng không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Bà E. sống với ông C. từ năm 1979 nên cũng không được công nhận là vợ chồng… Riêng bà còn lại, ông C. sống từ năm 1950 thì phải được coi là vợ ông C.

Tháng 7-2009, TAND Tối cao ra quyết định giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm của TAND TP.HCM, giao cho tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại. Quyết định cho rằng theo Nghị quyết số 02 ngày 19-10-1990 của TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế thì hai bà sống với ông C. từ những năm 1950, 1960 nêu trên mới là vợ chính thức của ông C. Mặc dù bà E. sống chung với ông C. từ năm 1979 và có với nhau bốn người con nhưng không được pháp luật công nhận là vợ chồng vì sống chung sau khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959.

Continue reading