HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT)

TRẦN TRÍ DŨNG

Giả sử S là giá trị của một tài sản và S dao động bất định phụ thuộc vào tác động của thị trường. T là thời gian đáo hạn. Một quyền chọn là một hợp đồng giữa người nắm giữ và người viết, bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm t = 0, trong đó người nắm giữ quyền chọn có quyền đòi một lợi nhuận X ngẫu nhiên nào đó. X phụ thuộc vào sự tiến triển của S tại một thời điểm trong tương lai, bao gồm cả thời điểm T.

Như vậy, quyền chọn bản chất là một vụ cá cược tinh vi và có thể kết luận: hợp đồng quyền chọn phải có một giá trị nhất định đối với người nắm giữ nó. Người viết hợp đồng có thể đánh phí rất cao để phòng vệ nhằm chống lại rủi ro chi trả nhiều một cách thường xuyên. Nhưng nếu như vậy thì người viết hợp đồng quyền chọn dường như có lợi hơn và thị trường sẽ đổ xô bán quyền chọn chứ không mua. Ngược lại, nếu người bán quyền chọn không đưa ra một mức giá đủ cao thì những khách hàng tham vọng sẽ tìm cơ hội mua quyền chọn đó với số lượng lớn. Cả hai trường hợp trên đều là ví dụ về đầu cơ, trong khi những nhà đầu tư khác trên thị trường thì đều mong muốn một cơ chế xác lập giá công bằng.

Bản chất là một công cụ tài chính, ưu điểm của quyền chọn thể hiện trong 3 hình thức giao dịch của 3 nhóm người trên thị trường quyền chọn:

Người phòng hộ. Những người này mua quyền chọn như một dạng hợp đồng bảo hiểm trước những thay đổi bất thường của thị trường. Nếu một công ty có quan hệ ngoại thương thì nó sẽ mua hợp đồng quyền chọn tiền tệ để được chi trả một khoản chắc chắn khi tỷ giá hối đoái trở nên bất lợi. Theo cách này, bạn có thể phòng vệ nhiều hay ít tùy thuộc vào việc bạn mua quyền chọn trị giá bao nhiêu. Ví dụ, nếu ta muốn nhập khẩu 1 tỷ yên hàng điện tử của Nhật trong thời hạn 1 năm kể từ bây giờ với tỷ giá 200 yên/bảng, có thể thực hiện một quyền chọn cam kết chi trả cho bạn 1 tỷ yên sau một năm nếu tỷ giá hối đoái chỉ còn 181.23 yên/bảng tại bất kỳ thời điểm nào trong 1 năm đó.

Điều này có nghĩa là, khi giá đồng yên tăng tương đối với đồng bảng thì có thể thực thi quyền chọn và mua hàng hóa. Còn nếu tỷ giá tiếp tục duy trì ở mức thấp thì sẽ mất số tiền bỏ ra để mua quyền chọn và sẽ mua hàng tại tỷ giá đã được sẵn sàng chi trả. Chi phí của chiến lược phòng hộ này chỉ là mua một quyền chọn với giá tương đối rẻ so với những biến động lớn của thị trường tiền tệ.

Nhà đầu cơ. Là những người đánh cược vào sự biến động của giá các loại tài sản. Họ tham gia vào một vị thế nhất định thị trường tùy thuộc vào niềm tin của mình, lỗ hoặc lãi hoàn toàn ngẫu nhiên. Họ coi chứng khoán phái sinh như một công cụ tăng ga cho hoạt động đầu tư của họ. Bởi vì các sản phẩm phái sinh từ các tài sản cơ sở có khả năng mang lại lợi nhuận nhiều hơn chính các tài sản cơ sở đó.

Ví dụ, bạn đầu tư 10.000 bảng vào một cổ phiếu trị giá 10 bảng để mua 1.000 cổ phiếu đó. Nếu giá cổ phiếu tăng lên 11 bảng trong vòng một năm, bạn lãi được 1.000 bảng. Còn nếu bạn mua một hợp đồng quyền chọn để được quyền mua cổ phiếu trên với giá 10 bảng trong một năm, và bạn phải mất chi phí, giả sử, 0.5 bảng một cổ phiếu, bạn có thể mua được 20.000 nghìn cổ phiếu. Nếu giá cổ phiếu tăng lên 11 bảng, bạn thực thi quyền chọn, mua 20.000 cổ phiếu với giá 10 bảng và bán lại chúng trên thị trường với giá 11 bảng, bạn sẽ lãi 10.000 bảng. Đương nhiên, nếu giá cổ phiếu tụt xuống chỉ 9.99 bảng, bạn sẽ mất toàn bộ số tiền bỏ ra mua quyền chọn.

Nhà cơ lợi phi rủi ro. Là những người quan sát thị trường và cố gắng tìm ra những tình huống thu lời phi rủi ro. Họ kết hợp việc mua hàng hóa tại một thị trường này và bán lại tại một thị trường khác sao cho độ chênh lệch giá đảm bảo một khoản lãi.

Một ví dụ đơn giản là khi một cổ phiếu được giao dịch tại hai mức giá khác nhau trên hai thị trường. Nếu một cổ phiếu được giao dịch tại London với giá 100 bảng và 285 mác Đức tại Frankfurt, trong khi tỷ giá hối đoái là 2.82 mác/bảng, thì cổ phiếu đó rẻ hơn tương đối ở London. Bạn có thể mua 1.000 cổ phiếu tại London và bán lại chúng tại Frankfurt rồi đổi mác Đức sang bảng và thu được một khoản 1063.3 bảng mà không phải chịu bất kỳ rủi ro nào. Những cơ hội như vậy là vô cùng hiếm và ngay lập tức nó bị chộp mất bởi những người săn cơ hội kiếm lời. Khi mọi người mua cổ phiếu thì giá sẽ tăng trên thị trường London và khi mọi người bán cổ phiếu đó tại Frankfurt thì giá ở đây cũng sẽ giảm đi cho đến khi nào giá ở hai nơi được xác lập cân bằng.

SOURCE: SAGA.VN

Nên hiểu và sử dụng “THUẬT NGỮ” NHƯ THẾ NÀO?

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật của Việt Nam không có thuật ngữ “Thương hiệu”. Các từ điển tiếng Việt được ấn hành tại miền Bắc trước đây và ở Việt Nam từ 1975 tới nay đều không có từ “thương hiệu”. Có lẽ chỉ duy nhất có “Từ điển Việt Nam” do Thanh Nghị soạn mới có từ này và được giải nghĩa như sau, “Thương hiệu” là tên của hiệu buôn. Thuật ngữ “thương hiệu” cũng được sử dụng trong một số văn bản luật của chế độ cũ (Ví dụ: ngày 1/4/1952 của Bảo Đại quy định các nhãn hiệu; Luật số 13/57 ngày 1/8/1957 của Ngô Đình Diệm quy định về nhãn hiệu chế độ và thương hiệu). Trong cả hai văn bản này, “thương hiệu” được dùng để chỉ “nhãn hiệu thương phẩm” hay “nhãn hiệu chế tạo” và được gọi chung là “nhãn hiệu”.

Đối chiếu với các văn bản pháp luật, có thể thấy rằng có 4 loại đối tượng khác nhau đã được quy định rõ, đó là: Nhãn hiệu hàng hoá (hay “nhãn hiệu”) được nêu trong nghị định 1797/HĐBT ngày 14/2/1982, sau đó là pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/1/1989, Bộ luật dân sự năm 1995, NĐ 63/CP ngày 24/10/1996… dùng để chỉ dấu hiệu (“hiệu”) nhằm phân biệt hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ được gắn lên hàng hoá, sản phẩm, phương tiện dịch vụ (“nhãn”). Thuộc về lĩnh vực này có Vinataba, Trung Nguyên, Coca Cola, Song… Tên gọi xuất xứ hàng hoá (cũng được nêu trong các văn bản trên) dung để chỉ các địa danh, nơi xuất xứ hàng hoá đặc thù; Ví dụ: Phú Quốc (nước mắm), Tân Cương (Chè)… Chỉ dẫn địa lý của hàng hoá (được nêu trong NĐ số 54/2000/NĐ-CP ngày 6/3/2000) dùng để chỉ các địa danh hoặc biểu tượng của một vùng địa lý, nơi xuất xứ các hàng hoá có uy tín (kể cả hàng hoá đặc thù), Ví dụ như Phúc Trạch (Bưởi), Hưng Yên (Nhãn), Hà Nội (bia)… Tên thương mại (được nêu trong NĐ 4/2000 NĐ-CP ngày 6/3/2000) được dùng để chỉ tên Công ty, DN, ví dụ Vinataba, Vietnam Petro…

Phải phân biệt 4 loại đối tượng khác nhau như trên, bởi lẽ chúng khác nhau về chức năng, công dụng cũng như về cách đối xử của pháp luật. Sự phân biệt như trên là tập quán quốc tế. Các điều ước Paris về SHCN, Hiệp định TRIPS-WTO; Hiệp định thương mại Việt -Mỹ. Hiệp định Việt Nam -Thuỵ Sĩ về sở hữu trí tuệ cũng đều để cập đến các đối tượng trên với tên tương  ứng: Trandemark of origin -tên gọi xuất xứ hàng hoá. Geographical in dication -chỉ dẫn địa lý; Tradename -tên thương mại.

(Nguồn Bộ KH – CN)

NÊN HIỂU VÀ SỬ DỤNG “THUẬT NGỮ” NHƯ THẾ NÀO?

   Hiện nay, trong các văn bản pháp luật của Việt Nam không có thuật ngữ “Thương hiệu”. Các từ điển tiếng Việt được ấn hành tại miền Bắc trước đây và ở Việt Nam từ 1975 tới nay đều không có từ “thương hiệu”. Có lẽ chỉ duy nhất có “Từ điển Việt Nam” do Thanh Nghị soạn mới có từ này và được giải nghĩa như sau, “Thương hiệu” là tên của hiệu buôn. Thuật ngữ “thương hiệu” cũng được sử dụng trong một số văn bản luật của chế độ cũ (Ví dụ: ngày 1/4/1952 của Bảo Đại quy định các nhãn hiệu; Luật số 13/57 ngày 1/8/1957 của Ngô Đình Diệm quy định về nhãn hiệu chế độ và thương hiệu). Trong cả hai văn bản này, “thương hiệu” được dùng để chỉ “nhãn hiệu thương phẩm” hay “nhãn hiệu chế tạo” và được gọi chung là “nhãn hiệu”.

    Đối chiếu với các văn bản pháp luật, có thể thấy rằng có 4 loại đối tượng khác nhau đã được quy định rõ, đó là: Nhãn hiệu hàng hoá (hay “nhãn hiệu”) được nêu trong nghị định 1797/HĐBT ngày 14/2/1982, sau đó là pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/1/1989, Bộ luật dân sự năm 1995, NĐ 63/CP ngày 24/10/1996… dùng để chỉ dấu hiệu (“hiệu”) nhằm phân biệt hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ được gắn lên hàng hoá, sản phẩm, phương tiện dịch vụ (“nhãn”). Thuộc về lĩnh vực này có Vinataba, Trung Nguyên, Coca Cola, Song… Tên gọi xuất xứ hàng hoá (cũng được nêu trong các văn bản trên) dung để chỉ các địa danh, nơi xuất xứ hàng hoá đặc thù; Ví dụ: Phú Quốc (nước mắm), Tân Cương (Chè)… Chỉ dẫn địa lý của hàng hoá (được nêu trong NĐ số 54/2000/NĐ-CP ngày 6/3/2000) dùng để chỉ các địa danh hoặc biểu tượng của một vùng địa lý, nơi xuất xứ các hàng hoá có uy tín (kể cả hàng hoá đặc thù), Ví dụ như Phúc Trạch (Bưởi), Hưng Yên (Nhãn), Hà Nội (bia)… Tên thương mại (được nêu trong NĐ 4/2000 NĐ-CP ngày 6/3/2000) được dùng để chỉ tên Công ty, DN, ví dụ Vinataba, Vietnam Petro…

Phải phân biệt 4 loại đối tượng khác nhau như trên, bởi lẽ chúng khác nhau về chức năng, công dụng cũng như về cách đối xử của pháp luật. Sự phân biệt như trên là tập quán quốc tế. Các điều ước Paris về SHCN, Hiệp định TRIPS-WTO; Hiệp định thương mại Việt -Mỹ. Hiệp định Việt Nam -Thuỵ Sĩ về sở hữu trí tuệ cũng đều để cập đến các đối tượng trên với tên tương  ứng: Trandemark of origin -tên gọi xuất xứ hàng hoá. Geographical in dication -chỉ dẫn địa lý; Tradename -tên thương mại.

(Nguồn Bộ KH – CN)

LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Các thông tin trong bài viết này được chúng tôi khai thác từ http://wikipedia.org chỉ có tính chất tham khảo không phải là quan điểm chính thống trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học luật dân sự

———————————————————-

Luật Dân sự Việt Nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa – tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó và có hiệu lực pháp lý trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Lịch sử

Trong giai đoạn nhà nước phong kiến, luật dân sự Việt Nam không được tách ra thành một bộ luật riêng mà được tìm thấy trong các điều khoản của các bộ luật phong kiến như Lê triều hình luật (Luật Hồng Đức), Nguyễn triều hình luật (Hoàng Việt luật lệ). Đến khi người Pháp chiếm đóng Việt Nam thì các bộ luật dân sự được áp dụng riêng rẽ ở ba kỳ lần lượt xuất hiện. Ví dụ ở Nam Kỳ thì bộ luật dân sự Nam Kỳ giản yếu ra đời năm 1883, bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và tại Trung Kỳ là bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm 1936. Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, do hoàn cảnh chiến tranh với người Pháp nên chính phủ của chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn áp dụng các bộ luật dân sự này. Ngày 22 tháng 5 năm 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 97/SL để “sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật” nhằm sửa đổi một số điều trong các bộ dân luật cũ này. Tại miền bắc Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm 1959 tòa án tối cao ra chỉ thị số 772/TATC để “đình chỉ việc áp dụng luật pháp cũ của phong kiến đế quốc”. Từ thời điểm đó trở đi, tại miền bắc Việt Nam thiếu hẳn bộ luật dân sự thực thụ. Một số mảng của luật dân sự được tách ra thành các bộ luật khác như Luật hôn nhân và gia đình hay các văn bản pháp quy dưới luật như thông tư, chỉ thị, nghị định, pháp lệnh. Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực dân sự như thừa kế, quyền sở hữu trí tuệ v.v không được điều chỉnh trực tiếp. Các quy định về nghĩa vụ dân sự được quy định chủ yếu là các vấn đề về nhà ở, vàng bạc, kim khí quý và đá quý v.v và nói chung mang nặng tính chất hành chính. Có thể liệt kê một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực dân sự như: Luật hôn nhân gia đình (1986), Luật Quốc tịch (1988), Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (1988), Pháp lệnh về sở hữu công nghiệp (1989), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989), Pháp lệnh về thừa kế (1990), Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự (1991), Pháp lệnh về nhà ở (1991) v.v. Tuy các pháp lệnh có nhiều nhưng đôi khi chồng chéo và mâu thuẫn với nhau nên đã gây ra nhiều khó khăn cho việc áp dụng pháp luật.

Năm 1995, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật Dân sự (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1996). Sau 10 năm thi hành, Bộ luật Dân sự đã có nhiều hạn chế, bất cập như: một số quy định không phù hợp với sự chuyển đổi nhanh của nền kinh tế thị trường, không rõ ràng hay không đầy đủ hoặc còn mang tính hành chính. Nhiều bộ luật mới ra đời có các nội dung liên quan đến Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 nhưng bộ luật này lại không điều chỉnh, sửa đổi dẫn đến mâu thuẫn giữa chúng cũng như chưa có sự tương thích với các Điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế.

Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi. Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2005 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2006

Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ về tài sản, nhân thân trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động (Điều 1 bộ Luật dân sự năm 2005).

Bộ luật Dân sự năm 2005

Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 gồm có 777 điều, chia thành 7 phần và 36 chương. Cụ thể như sau:

*Phần I: Quy định chung

  • Chương 1: Gồm 3 điều (1-3) quy định nhiệm vụ và hiệu lực của bộ luật dân sự Việt Nam.
  • Chương 2: Gồm 10 điều (4-13) quy định những nguyên tắc cơ bản.
  • Chương 3: Gồm 70 điều (14-51) quy định về cá nhân.
    • Mục 1: Gồm 10 điều (14-23) quy định năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của cá nhân (Trong luật học, thể nhân hay tự nhiên nhân là một con người có thể cảm nhận được thông qua các giác quan và bị các quy luật tự nhiên chi phối, ngược lại với pháp nhân, là một tổ chức nào đó, mà vì một số mục đích nhất định thì luật pháp xem như là một cá nhân tách biệt với các thành viên và/hoặc chủ sở hữu của nó.Ví dụ, các điều khoản pháp lý như sửa đổi thứ 19 của Hiến pháp Hoa Kỳ đảm bảo quyền bầu cử của phụ nữ, chỉ áp dụng cho thể nhân mà thôi. Trong nhiều trường hợp thì các quyền con người cơ bản hoàn toàn chỉ được dành cho thể nhân; ví dụ một công ty không thể đảm nhiệm một chức vụ trong xã hội, nhưng công ty này có thể khởi kiện hay có thể bị khởi kiện.Mặc dù các truyện khoa học viễn tưởng từ lâu rồi đã mơ tưởng về khả năng tồn tại của các người máy (robot) có tri giác, nhưng cho tới nay vẫn chưa có một tòa án nào xem xét câu hỏi về việc các dạng người máy này có thể được coi là “thể nhân” hay không.

      Tại Việt Nam, trong các văn bản pháp quy hiện nay, như bộ Luật Dân sự 2005, lại không sử dụng khái niệm thể nhân, mà thay vào đó là khái niệm cá nhân).

  • Mục 2: Gồm 28 điều (24-51) quy định về quyền nhân thân.
  • Mục 3: Gồm 6 điều (52-57) quy định về nơi cư trú.
  • Mục 4: Gồm 15 điều (58-73) quy định về giám hộ.
  • Mục 5: Gồm 10 điều (74-83) quy định về thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố mất tích và tuyên bố chết.
  • Chương 4: Gồm 22 điều (84-105) quy định về pháp nhân (Pháp nhân là một định nghĩa luật pháp về một thực thể mang tính hội đoàn, thường dùng trong luật kinh tế. Về pháp nhân có rất nhiều quan điểm, nhưng quan trọng nhất pháp nhân chỉ ra được các thực thể hội đoàn có những biểu hiện tương tự như thể nhân. Pháp nhân có nhiều định nghĩa, song theo pháp luật Việt Nam thì pháp nhân là những tổ chức có tư cách tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Được thành lập hợp pháp; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.).
    • Mục 1: Gồm 16 điều (84-99) quy định chung về pháp nhân.
    • Mục 2: Gồm 6 điều (100-105) quy định về các loại pháp nhân.
  • Chương 5: Gồm 15 điều (106-120) quy định về hộ gia đình và tổ hợp tác.
    • Mục 1: Gồm 5 điều (106-110) quy định chung về hộ gia đình.
    • Mục 2: Gồm 10 điều (111-120) quy định về tổ hợp tác.
  • Chương 6: Gồm 18 điều (121-138) quy định về giao dịch dân sự.
  • Chương 7: Gồm 10 điều (139-148) quy định về đại diện.
  • Chương 8: Gồm 5 điều (149-153) quy định về thời hạn.
  • Chương 9: Gồm 9 điều (154-162) quy định về thời hiệu.
  • *Phần II: Tài sảnquyền sở hữu

    ·Chương 10: Gồm 11 điều (163-173) quy định chung.

    • Chương 11: Gồm 8 điều (174-181) quy định các loại tài sản.

    Chương 12: Gồm 18 điều (182-199) quy định nội dung quyền sở hữu.

      • Mục 1: Gồm 10 điều (182-191) quy định quyền chiếm hữu.
      • Mục 2: Gồm 3 điều (192-194) quy định quyền sử dụng.
      • Mục 3: Gồm 5 điều (195-199) quy định quyền định đoạt.
    • Chương 13: Gồm 33 điều (200-232) quy định các hình thức sở hữu.
      • Mục 1: Gồm 8 điều (200-207) quy định sở hữu nhà nước.
      • Mục 2: Gồm 3 điều (208-210) quy định sở hữu tập thể.
      • Mục 3: Gồm 3 điều (211-213) quy định sở hữu tư nhân.
      • Mục 4: Gồm 13 điều (214-226) quy định sở hữu chung.
      • Mục 5: Gồm 3 điều (227-229) quy định sở hữu của tổ chức chính trị, chính trị-xã hội.
      • Mục 6: Gồm 3 điều (230-232) quy định sở hữu của tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp.
    • Chương 14: Gồm 22 điều (233-254) quy định về xác lập, chấm dứt quyền sở hữu.
      • Mục 1: Gồm 15 điều (233-247) quy định về xác lập quyền sở hữu.
      • Mục 2: Gồm 7 điều (248-254) quy định về chấm dứt quyền sở hữu.
    • Chương 15: Gồm 7 điều (255-261) quy định về bảo vệ quyền sở hữu.
    • Chương 16: Gồm 18 điều (262-279) những quy định khác về quyền sở hữu.

    Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Khi phân loại tài sản theo chu kỳ sản xuất, ta có tài sản cố định và tài sản lưu động. Còn khi phân loại tài sản theo đặc tính cấu tạo của vật chất, ta có tài sản hữu hình và tài sản vô hình.

    Tài sản cố định

    Tài sản cố định là tư liệu sản xuất chuyên dùng trong sản xuất kinh doanh dùng được vào nhiều chu kì sản xuất.

    Có ba loại tài sản cố định:

    • Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị…
    • Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả…
    • Tài sản cố định thuê tài chính: là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.

    Tài sản lưu động

    Là tư liệu sản xuất chỉ dùng được trong một chu kỳ sản xuất. Đó là tổng thể nói chung tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và những khoản có thể chuyển ngay thành tiền mặt, như thương phiếu, v.v.

    = Tài sản hữu hình: bao gồm những vật(có những điều kiện nhất định)tiền và giấy tờ có giá.(ngôn ngữ luật học).Tài sản hữu hình là những cái có thể dùng giác quan nhận biết được hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được.Điều kiện để vật trở thành tài sản là một vấn đề còn tranh cãi rất nhiều. Bởi vì khi vật không thuộc của ai gọi là vật vô chủ không ai gọi là tài sản vô chủ cả.khi nói đến tài sản hữu hình bắt buộc chúng phải có một số đặc tính riêng như: Thuộc sở hữu của ai đó.

      : có thể mua bán được;
      : Có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất;
      :là những thứ đã tồn tại(tài sản trước kia) đang tồn tại và có thể có trong tưong lai.

    Tài sản hữu hình khi có càng nhiều đăc tính nêu trên thì càng chắc chắn đó là tài sản hữu hình.

    = Tài sản vô hình:

    Là những quyên tài sản (nghĩa hẹp) thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định và thường chỉ gắn với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao. Tuy nhiên một số quyền tài sản có thể chuyển giao như thương hiệu hàng hóa hoặc ủy quyền cho chủ thể khác. Tài sản vô hình là những thứ không thể dùng giác quan để thấy được và không thể dùng đại lương để tính. Nhưng trong quá trình chuyển giao có thẻ quy ra tiền (cái này là quan trọng nhất). Tùy từng thời điểm nhất định mà quyền tài sản có giá như thế nào. Việc gây thiệt hại về tài sản vô hình của chủ thể sẽ phải bồi thường nhưng rất khó để xác định giá trị của nó. Ngoài những quy định trong luật còn việc xác định giá trị của tài sản vô hình khong thể xác định được.

    Sở hữu trong kinh tế chính trị, là một phạm trù cơ bản, chỉ mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm dụng của cải. Nó là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải. Nó có thể được luật hóa thành quyền sở hữu và được thực hiện theo cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu.

    *Phần III: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự

    • Chương 17: Gồm 148 điều (280-427) những quy định chung.
      • Mục 1: Gồm 3 điều (280-282) quy định về nghĩa vụ dân sự.
      • Mục 2: Gồm 19 điều (283-301) quy định về thực hiện nghĩa vụ dân sự.
      • Mục 3: Gồm 7 điều (302-308) quy định về trách nhiệm dân sự.
      • Mục 4: Gồm 9 điều (309-317) quy định về chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự.
      • Mục 5: Gồm 56 điều (318-373) quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bao gồm quy định chung (318-325), cầm cố tài sản (326-341), thế chấp tài sản (342-357), đặt cọc (358), ký cược (359), ký quỹ (360), bảo lãnh (361-371), tín chấp (372-373).
      • Mục 6: Gồm 14 điều (374-387) quy định về chấm dứt nghĩa vụ dân sự
      • Mục 7: Gồm 40 điều (388-427) quy định về hợp đồng dân sự, bao gồm giao kết hợp đồng dân sự (388-411), thực hiện hợp đồng dân sự (412-422) và sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự (423-427).
    • Chương 18: Gồm 166 điều (428-593) quy định về hợp đồng dân sự thông dụng.
      • Mục 1: Gồm 35 điều (428-462) quy định về hợp đồng mua bán tài sản, bao gồm quy định chung (428-449), hợp đồng mua bán nhà (450-455) và quy định riêng về mua bán tài sản (456-462).
      • Mục 2: Gồm 2 điều (463-464) quy định về hợp đồng trao đổi tài sản.
      • Mục 3: Gồm 6 điều (465-470) quy định về hợp đồng tặng cho tài sản.
      • Mục 4: Gồm 9 điều (471-479) quy định về hợp đồng vay tài sản.
      • Mục 5: Gồm 32 điều (480-511) quy định về hợp đồng thuê tài sản, bao gồm quy định chung (480-491), hợp đồng thuê nhà (492-500) và hợp đồng thuê khoán tài sản (501-511).
      • Mục 6: Gồm 6 điều (512-517) quy định về hợp đồng mượn tài sản.
      • Mục 7: Gồm 9 điều (518-526) quy định về hợp đồng dịch vụ.
      • Mục 8: Gồm 20 điều (527-546) quy định về hợp đồng vận chuyển, bao gồm hợp đồng vận chuyển hành khách (527-534) và hợp đồng vận chuyển hàng hóa (535-546).
      • Mục 9: Gồm 12 điều (547-558) quy định về hợp đồng gia công.
      • Mục 10: Gồm 8 điều (559-566) quy định về hợp đồng gửi giữ tài sản.
      • Mục 11: Gồm 14 điều (567-580) quy định về hợp đồng bảo hiểm.
      • Mục 12: Gồm 9 điều (581-589) quy định về hợp đồng ủy quyền.
      • Mục 13: Gồm 4 điều (590-593) quy định về hứa thưởng và thi có giải.
    • Chương 19: Gồm 5 điều (594-598) quy định về thực hiện công việc không có ủy quyền.
    • Chương 20: Gồm 5 điều (599-603) quy định về nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi thế về tài sản không có căn cứ pháp luật.
    • Chương 21: Gồm 27 điều (604-630) quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bao gồm quy định chung (604-607), xác định thiệt hại (608-612), bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể (613-630).

    *Phần IV: Thừa kế

    Chương 22: Gồm 15 điều (631-645) quy định chung.

    • Chương 23: Gồm 28 điều (646-673) quy định về thừa kế theo di chúc.
    • Chương 24: Gồm 7 điều (674-680) quy định về thừa kế theo pháp luật.
    • Chương 25: Gồm 7 điều (681-687) quy định về thanh toán và phân chia di sản.

    *Phần V: Quyền sử dụng đất

    • Chương 26: Gồm 5 điều (688-692) quy định chung.
    • Chương 27: Gồm 4 điều (693-696) quy định về hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất.
    • Chương 28: Gồm 6 điều (697-702) quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
    • Chương 29: Gồm 12 điều (703-714) quy định về hợp đồng thuê, thuê lại quyền sử dụng đất, bao gồm:
      • Mục 1: Gồm có 11 điều (703-713) quy định về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất.
      • Mục 2: Gồm có 1 điều (714) quy định về hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất.
    • Chương 30: Gồm 7 điều (715-721) quy định về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
    • Chương 31: Gồm 5 điều (722-726) quy định về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
    • Chương 32: Gồm 6 điều (727-732) quy định về hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
    • Chương 33: Gồm 3 điều (733-735) quy định về thừa kế quyền sử dụng đất.

    *Phần VI: Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ

    • Chương 34: Gồm 14 điều (736-749) quy định về quyền tác giả và quyền liên quan, bao gồm:
      • Mục 1: Gồm có 8 điều (736-743) quy định về quyền tác giả
      • Mục 2: Gồm có 6 điều (744-749) quy định về quyền liên quan đến quyền tác giả.
    • Chương 35: Gồm 4 điều (750-753) quy định về quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
    • Chương 36: Gồm 4 điều (754-757) quy định về chuyển giao công nghệ

    Theo Điều 2(viii) của Công ước Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967 về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, sở hữu trí tuệ (intellectual property) được định nghĩa là các quyền liên quan tới:

    • Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học,
    • Sự thể hiện của các nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình,
    • Sáng chế thuộc mọi lĩnh vực nỗ lực của loài người,
    • Phát minh khoa học,
    • Kiểu dáng công nghiệp,
    • Nhãn hiệu (hàng hoá), nhãn hiệu dịch vụ, tên và chỉ dẫn thương mại,
    • Quyền (bảo vệ) chống cạnh tranh không lành mạnh,
    • Và mọi quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hay nghệ thuật.

    Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (viết tắt từ tiếng Anh: World Intellectual Property OrganizationWIPO) là một trong những cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc có mục tiêu chính là đẩy mạnh hoạt động trí tuệ sáng tạo và tạo điều kiện chuyển giao công nghệ liên quan đến sở hữu trí tuệ sang các nước đang phát triển nhằm mục tiêu đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá (điều 1 của Hiệp ước giữa UN và WIPO năm 1974). WIPO có 181 nước thành viên và quản lý 21 hiệp ước quốc tế. Trụ sở của WIPO đặt tại Geneva, Thụy Sỹ

    *Phần VII: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài:

    Không lập thành chương, bao gồm các điều từ 758 đến 777.

    LUẬT HỒNG ĐỨC

    Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ hiện còn được lưu giữ đầy đủ. Do các bộ luật của các triều đại phong kiến Việt Nam đều có tên gọi là Quốc triều hình luật nên ở đây dùng tên gọi Luật Hồng Đức làm tên gọi cho bài mặc dù nó không phải là tên gọi chính thức.

    Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau: Luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân-gia đình, luật hành chính v.v…

    Lịch sử

    Văn bản của bộ luật này là một trong những thư tịch cổ nhất hiện còn được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán-Nôm (Hà Nội). Tại đây có hai bản in ván khắc đều có tên là Quốc triều hình luật. Ngoài ra còn có một bộ sách chép tay tuy có tên gọi là Lê triều hình luật, nhưng nội dung của nó lại là bản sao lại của Quốc triều hình luật (nhà Hậu Lê) và chép vào thời gian sau này.

    Trong đó bản Quốc triều hình luật mang ký hiệu A.341 là bản in ván khắc hoàn chỉnh hơn cả và được coi là văn bản có giá trị nhất. Bộ luật trong sách này gồm 6 quyển, in ván khắc trên giấy bản, tổng cộng gồm 129 tờ đóng chung thành một cuốn. Sách không ghi tên tác giả, không có dấu hiệu niên đại soạn thảo hay niên đại in ấn và cũng không có lời tựa hoặc các chú dẫn khác. Bìa nguyên bản cuốn sách đã mất, được thay thế bằng một tờ bìa viết 4 chữ Hán là Quốc triều hình luật bằng bút lông. Nội dung của bộ luật này đã được Phan Huy Chú ghi chép lại trong phần Hình luật chí của Lịch triều hiến chương loại chí, nhưng thiếu so với cuốn sách này 143 điều trong tổng số 722 điều.

    Từ đầu thế kỷ 20, Quốc triều hình luật đã được khảo dịch sang tiếng Pháp. Đến năm 1956, nó mới được dịch sang quốc ngữ lần đầu tiên (bản dịch của trường luật khoa đại học do Lương Thần Cao Nãi Quang phiên âm, và dịch nghĩa, Nguyễn Sĩ Giác hiệu đính, Vũ Văn Mẫu viết lời tựa, nhà in Nguyễn Văn Của, Sài Gòn, 1956). Gần đây, Viện Sử học Việt Nam đã dịch thuật lại cho chuẩn xác hơn. (Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội – 1991).

    Một số học giả Pháp, khi khảo dịch và nghiên cứu cho rằng nó có tên là Lê triều hình luật và nó là Lê triều điều luật được in năm 1777 (Cảnh Hưng thứ 38) mà Phan Huy Chú đã ghi lại trong Lịch triều hiến chương loại chí sau khi họ nghiên cứu thiên Hình luật chí trong cuốn sách này của ông cũng như bản chép tay của Quốc triều hình luật. Theo Vũ Văn Mẫu, Quốc triều hình luật được ban bố lần đầu tiên trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và có lẽ vào thời gian cuối của niên hiệu này. Ý kiến của Vũ Văn Mẫu chủ yếu dựa vào ý kiến của Phan Huy Chú viết về việc ban hành dưới thời Lê bộ Hồng Đức hình luật và lời đề tựa của vua Gia Long triều Nguyễn cho bộ Hoàng Việt luật lệ, trong đó ông đánh giá rất cao bộ luật cổ này và gọi nó là bộ luật Hồng Đức.

    Các ý kiến khác cho rằng bộ Quốc triều hình luật đã được soạn, sửa đổi liên tục từ đầu thời kỳ nhà Hậu Lê, trong đó có những đóng góp to lớn dưới thời Lê Thánh Tông. Các ý kiến này chủ yếu dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư với ghi chép là năm Thái Hòa thứ 7 (1449), vua Lê Nhân Tông đã bổ sung thêm vào bộ hình luật chương điền sản gồm 14 điều. Ngoài ra, qua các sử sách khác và qua các lần in khắc ván (với những điểm khác nhau về nội dung của các văn bản), các bổ sung và tên gọi các đơn vị hành chính ghi trong bộ luật v.v có thể nhận thấy bộ luật này được soạn thảo, bổ sung, hiệu đính qua nhiều đời vua triều Lê. Thời điểm khởi thảo, ban hành lần đầu cho đến nay vẫn chưa rõ.

    Bố cục

    Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có 13 chương, ghi chép trong 6 quyển (5 quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều. Ngoài ra, trước khi đi vào các chương và điều thì Quốc triều hình luật còn có các đồ biểu quy định về các hạng để tang và tang phục, kích thước và các hình cụ (roi, trượng, gông, dây sắt v.v).

    Bố trí cụ thể như sau:

    1. Chương Danh lệ: 49 điều quy định về những vấn đề cơ bản có tính chất chi phối nội dung các chương điều khác (quy định về thập ác, ngũ hình, bát nghị, chuộc tội bằng tiền v.v)
    2. Chương Vệ cấm: 47 điều quy định về việc bảo vệ cung cấm, kinh thành và các tội về cấm vệ.
    3. Chương Vi chế: 144 điều quy định về hình phạt cho các hành vi sai trái của quan lại, các tội về chức vụ.
    4. Chương Quân chính: 43 điều quy định về sự trừng phạt các hành vi sai trái của tướng, sĩ, các tội quân sự.
    5. Chương Hộ hôn: 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân-gia đình và các tội phạm trong các lĩnh vực này.
    6. Chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung sau (14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châm chước bổ sung luật hương hỏa) quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các tội phạm trong lĩnh vực này.
    7. Chương Thông gian: 10 điều quy định về các tội phạm tình dục.
    8. Chương Đạo tặc: 54 điều quy định về các tội trộm cướp, giết người và một số tội chính trị như phản nước hại vua.
    9. Chương Đấu tụng: 50 điều quy định về các nhóm tội đánh nhau (ẩu đả) và các tội vu cáo, lăng mạ v.v
    10. Chương Trá ngụy: 38 điều quy định các tội giả mạo, lừa dối.
    11. Chương Tạp luật: 92 điều quy định về các tội không thuộc các nhóm tội danh trên đây.
    12. Chương Bộ vong: 13 điều quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các tội thuộc lĩnh vực này.
    13. Chương Đoán ngục: 65 điều quy định về việc xử án, giam giữ can phạm và các tội phạm trong lĩnh vực này.

    Hai chương cuối này đã có một số quy định về tố tụng, nhưng chưa hoàn chỉnh.

    Các quy định dân sự

    Trong bộ luật Hồng Đức, các quan hệ dân sự được đề cập tới nhiều nhất là các lĩnh vực như: quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng và thừa kế ruộng đất.

    Sở hữu và hợp đồng

    QTHL đã phản ánh hai chế độ sở hữu ruộng đất trong thời kỳ phong kiến là: sở hữu nhà nước (ruộng công) và sở hữu tư nhân (ruộng tư).

    Trong bộ luật Hồng Đức, do đã có chế độ lộc điền-công điền tương đối toàn diện về vấn đề ruộng đất công nên trong bộ luật này quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất chỉ được thể hiện thành các chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm chế độ sử dụng ruộng đất công như: không được bán ruộng đất công (điều 342), không được chiếm ruộng đất công quá hạn mức (điều 343), không được nhận bậy ruộng đất công đã giao cho người khác (điều 344), cấm làm sai quy định phân cấp ruộng đất công (điều 347), không để bỏ hoang ruộng đất công (điều 350), cấm biến ruộng đất công thành tư (điều 353), không được ẩn lậu để trốn thuế (điều 345) v.v

    Bên cạnh đó việc bảo hộ quyền sở hữu tư nhân/ hợp đồng về ruộng đất tư cũng được quy định rõ ràng. Chẳng hạn, cấm xâm lấn ruộng đất của người khác (điều 357), cấm tá điền tranh ruộng đất của chủ (điều 356), cấm ức hiếp để mua ruộng đất của người khác (điều 355) v.v

    Qua một số quy định trên, có thể thấy bộ luật đã điều chỉnh 3 loại hợp đồng về ruộng đất:

    • Mua bán ruộng đất
    • Cầm cố ruộng đất
    • Thuê mướn ruộng đất

    Về hình thức, các hợp đồng thường phải lập thành văn tự giữa các bên tham gia hợp đồng với sự chứng thực của quan viên có thẩm quyền.

    Thừa kế

    Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật thời Lê khá gần gũi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Cụ thể: Khi cha mẹ còn sống, không phát sinh các quan hệ về thừa kế nhằm bảo vệ và duy trì sự trường tồn của gia đình, dòng họ. Thứ hai là các quan hệ thừa kế theo di chúc (các điều 354, 388) và thừa kế không di chúc (thừa kế theo luật) với các điều 374-377, 380, 388. Điều đáng chú ý là bộ luật Hồng Đức cho người con gái có quyền thừa kế ngang bằng với người con trai là một điểm tiến bộ không thể thấy ở các bộ luật phong kiến khác. Đây chính là điểm nổi bật nhất của luật pháp triều Lê.

    Các quy định hình sự

    Các nguyên tắc chủ đạo

    Hình luật là nội dung trọng yếu và có tính chất chủ đạo, bao trùm toàn bộ nội dung của bộ luật. Các nguyên tắc hình sự chủ yếu của nó là:

    • Vô luật bất thành hình (điều 642, 683, 685, 708, 722): trong đó quy định chỉ khép tội khi trong bộ luật có quy định, không thêm bớt tội danh, áp dụng đúng hình phạt đã quy định và nó là tương tự như trong các bộ luật hình sự hiện đại.
    • Chiếu cố (điều 1, 3-5, 8, 10, 16, 17, 680): trong đó quy định các chiếu cố đối với địa vị xã hội, tuổi tác (trẻ em và người già cả), tàn tật, phụ nữ v.v
    • Chuộc tội bằng tiền (điều 6, 16, 21, 22, 24): đối với các tội danh như trượng, biếm, đồ, khao đinh, tang thất phụ, lưu, tử, thích chữ. Tuy nhiên các tội thập ác (mười tội cực kỳ nguy hiểm cho chính quyền) và tội đánh roi (có tính chất răn đe, giáo dục) không cho chuộc.
    • Trách nhiệm hình sự (điều 16, 35, 38, 411, 412): trong đó đề cập tới quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và việc chịu trách nhiệm hình sự thay cho người khác.
    • Miễn, giảm trách nhiệm hình sự (điều 18, 19, 450, 499, 553): trong đó quy định về miễn, giảm trách nhiệm hình sự trong các trường hợp như tự vệ chính đáng, tình trạng khẩn cấp, tình trạng bất khả kháng, thi hành mệnh lệnh, tự thú (trừ thập ác, giết người).
    • Thưởng người tố giác, trừng phạt người che giấu (điều 25, 39, 411, 504)
    Tội phạm
    • Phân loại theo hình phạt (ngũ hình và các hình phạt khác)
    • Theo sự vô ý hay cố ý phạm tội
    • Theo âm mưu phạm tội và hành vi phạm tội
    • Tính chất đồng phạm
    Các nhóm tội cụ thể
    • Thập ác: Là 10 trọng tội nguy hiểm nhất như:
      • Các tội liên quan đến vương quyền: mưu phản, mưu đại nghịch (điều 2, 411), mưu bạn (phản bội tổ quốc-điều 412), đại bất kính (430, 431).
      • Các tội liên quan đến quan hệ hôn nhân-gia đình: ác nghịch (điều 416), bất hiếu (nhiều điều, chẳng hạn điều 475), bất mục, bất nghĩa, nội loạn.
      • Tội liên quan đến tiêu chí đạo đức hàng đầu của Nho giáo: bất đạo (420 và 421).
    • Các nhóm tội phạm khác: bao gồm các tội liên quan đến sự an toàn thân thể của vua, nghi lễ cung đình, xâm phạm trật tự công cộng, quản lý hành chính, thể thức nghi lễ triều đình, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm con người, các tội xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, các tội phạm quân sự, xâm phạm chế độ sở hữu ruộng đất, xâm phạm chế độ hôn nhân-gia đình, các tội tình dục, các tội xâm phạm chế độ tư pháp v.v
    Hình phạt

    Quan niệm về hình phạt trong bộ luật khá chi tiết nhưng cứng nhắc với khung hình phạt thường là cố định, tuy rằng có tính đến các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ (điều 41).

    Các hình phạt cụ thể có ngũ hình và các hình phạt khác.

    Ngũ hình

    Ngũ hình được quy định tại điều 1 và bao gồm: xuy, trượng, đồ, lưu, tử.

    • Xuy (đánh bằng roi) có 5 bậc: 10, 20, 30, 40, 50 roi, có thể kèm phạt tiền và biếm chức, áp dụng cả cho nam và nữ.
    • Trượng (đánh bằng gậy) cũng có 5 bậc: 60, 70, 80, 90 và 100 trượng, chỉ áp dụng cho nam.
    • Đồ có 3 bậc là:
      • Dịch đinh kèm 80 trượng cho nam và dịch phụ kèm 50 roi cho nữ. Dịch đinh/dịch phụ có nhiều hạng là:
        • Thuộc đinh: phục dịch ở các viện (dành cho quan chức có tội)
        • Quân đinh: phục dịch ở các sảnh
        • Khao đinh: phục dịch ở trong trại lính
        • Xã đinh: phục dịch ở các xã (dành cho thường dân nam có tội)
        • Thứ phụ: phục dịch công việc ở làng (dành cho thường dân nữ có tội)
        • Viên phụ: làm các công việc trong vườn (dành cho vợ các quan chức)
        • Tang thất phụ: phục dịch ở các nơi nuôi tằm, nếu phạm tội nặng
      • Tượng phường binh (quét dọn chuồng voi kèm 80 trượng và thích 2 chữ vào mặt) cho nam và xuy thất tỳ (nấu cơm nuôi quân kèm 50 roi và thích 2 chữ vào cổ) cho nữ.
      • Chủng điền binh (lính lao động ở đồn điền của nhà nước kèm 80 trượng và thích vào cổ 4 chữ, phải đeo xiềng) cho nam và thung thất tỳ (xay thóc giã gạo trong các kho thóc thuế của nhà nước kèm 50 roi và thích vào cổ 4 chữ) cho nữ.
    • Lưu tức lưu đày đi nơi xa, có 3 bậc là:
      • Lưu cận châu, đày đi làm việc nặng ở Nghệ An với hình phạt phụ là thích vào mặt 6 chữ, đánh 90 trượng, đeo xiềng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ.
      • Lưu ngoại châu: Lưu đày đến Bố Chánh, Quảng Bình. Phụ hình có 90 trượng, thích 8 chữ vào mặt, đeo xiềng 2 vòng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ.
      • Lưu viễn châu: đày đi Cao Bằng. Phụ hình gồm 100 trượng, thích 10 chữ vào mặt, đeo xiềng 3 vòng cho nam, đánh 50 roi cho nữ.
    • Tử (giết chết) có 3 bậc là:
      • Giảo (thắt cổ), trảm (chém đầu)
      • Khiêu (chém bêu đầu)
      • Lăng trì (tùng xẻo) tức xẻo từng miếng thịt rồi mổ bụng, moi ruột cho đến chết, sau đó còn bị cắt rời chân tay và bẻ gãy hết xương.
    Các hình phạt khác

    Ngoài ngũ hình, luật Hồng Đức còn áp dụng các hình phạt khác như:

    • Biếm tư (điều 27, 46) bao gồm các bậc từ 1 đến 5 tư nhưng có quy định cho chuộc tội biếm bằng tiền theo điều 22.
    • Phạt tiền (điều 26) có 3 bậc: 300-500 quan, 60-200 quan và 5-50 quan. Ngoài ra còn có quy định về tiền bồi thường tang vật (điều 28), tiền đền mạng (điều 29).
    • Tịch thu tài sản có 2 bậc là tịch thu toàn bộ gia sản (nặng theo điều 426, 430) và tịch thu một phần tài sản (nhẹ, các điều 88, 523)
    • Thích chữ vào cổ hoặc mặt: Được áp dụng như là hình phạt phụ đối với các tội lưu, đồ, trượng, xuy.
    • Xung vợ con làm nô tỳ. Chỉ áp dụng đối với các tội mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn trong thập ác (điều 411, 412).

    Các quy định trong hôn nhân-gia đình

    Các nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực hôn nhân của bộ luật là: hôn nhân không tự do, đa thê và xác lập chế độ gia đình gia trưởng. Nó thể hiện lễ nghĩa Nho giáo, trật tự xã hội-gia đình phong kiến, tuy nhiên vẫn có một số điểm tiến bộ.

    Hôn nhân

    Trong lĩnh vực hôn nhân, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như kết hôn, chấm dứt hôn nhân (do chết hoặc ly hôn).

    Kết hôn

    Trong quan hệ kết hôn, luật quy định các điều kiện để có thể kết hôn là: có sự đồng ý của cha mẹ (điều 314), không được kết hôn giữa những người trong họ hàng thân thích (điều 319), cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hay chồng (điều 317), cấm kết hôn khi ông, bà, cha hay mẹ đang bị giam cầm, tù tội (điều 318), cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góa của thày (điều 324), với một số quy định khác trong các điều 316, 323, 334, 338, 339. Tuy nhiên, luật Hồng Đức không quy định tuổi kết hôn, mặc dù trong Thiên Nam dư hạ tập (phần lệ Hồng Đức hôn giá) có viết: “Con trai 18 tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể thành hôn”, có lẽ là do đã tồn tại một văn bản khác cùng thời quy định về điều này. Luật Hồng Đức cũng quy định về hình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thành hôn (các điều 314, 315, 322). Lưu ý là luật Hồng Đức cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý từ sau lễ đính hôn. Ví dụ điều 315 quy định: Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng…Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước. Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn.

    Chấm dứt hôn nhân

    Luật Hồng Đức quy định các trường hợp chấm dứt hôn nhân là: một trong người đã chết, ly hôn.

    Về trường hợp chấm dứt hôn nhân do một trong hai người đã chết cần lưu ý là quan hệ hôn nhân chỉ thực sự chấm dứt ngay nếu người chết là vợ, còn nếu là chồng chết thì nó chỉ chấm dứt sau khi mãn tang. Quy định này được đặt ra một cách gián tiếp trong các điều 2 và 320.

    Về trường hợp ly hôn có ba nhóm sau:

    1. Buộc phải ly hôn (các điều 317, 318, 323, 324, 334) do hôn nhân đã vi phạm các quy định cấm kết hôn.
    2. Ly hôn do lỗi của người vợ: Điều 310 quy định người chồng phải ly hôn khi người vợ phạm phải điều nghĩa tuyệt (đoạn tuyệt hết ân nghĩa vợ chồng) như: không con, ghen tuông, ác tật (mắc các bệnh như phong, hủi), dâm đãng, không kính cha mẹ, lắm lời, trộm cắp.
    3. Ly hôn do lỗi của người chồng: Các điều 308 / 333 quy định người vợ có quyền trình quan xin ly hôn khi: chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (có quan xã làm chứng), trừ khi chồng có việc phải đi xa hay nếu con rể lấy điều thị phi mắng nhiếc cha mẹ vợ.
    Quan hệ gia đình

    Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác (vợ cả-vợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con nuôi, vai trò của người tôn trưởng tức trưởng họ).

    • Quan hệ vợ-chồng: Phong tục tập quán và lễ nghĩa Nho giáo đã điều chỉnh quan hệ vợ-chồng, tuy nhiên luật Hồng Đức cũng có các quy định nhằm điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ nhân thân như: Nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi và phải có trách nhiệm với nhau (các điều 321 và 308, 309), không được ngược đãi vợ (điều 482), nghĩa vụ chung thủy (điều 401, 405), nghĩa vụ để tang nhau (các điều 2, 7).
    • Quan hệ cha mẹ-con cái: Đề cập tới các nghĩa vụ và quyền nhân thân của con cái, bao gồm: nghĩa vụ phải vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà (khoản 7 điều 2), nghĩa vụ chịu tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ (điều 38), nghĩa vụ không được kiện cáo ông bà-cha mẹ (điều 511), nghĩa vụ che dấu tội cho ông bà, cha mẹ (các điều 9, 504), ngoại trừ trường hợp cha mẹ hay ông bà phạm các tội mưu phản, mưu đại nghịch, cha mẹ nuôi giết con đẻ hay mẹ đẻ-mẹ kế giết cha thì được phép tố cáo và nghĩa vụ để tang ông bà-cha mẹ (điều 2).
    • Quan hệ nhân thân khác: Đề cập tới quan hệ giữa vợ cả-vợ lẽ (các điều 309, 481, 483, 484) và nhà chồng, anh-chị-em (các điều 487, 512), nuôi con nuôi (các điều 380, 381, 506) và vai trò của người trưởng họ (điều 35).

    Trong quan hệ vợ cả-vợ lẽ thì ngoài các quy định về các nghĩa vụ của họ với chồng và nhà chồng thì họ cũng phải tuân thủ trật tự thê thiếp và vợ cả nói chung được ưu tiên hơn. Về quan hệ anh-chị-em thì người anh trưởng có quyền và nghĩa vụ đối với các em, nhất là khi cha mẹ đã chết, đồng thời cũng bảo vệ sự hòa thuận trong gia đình (phạt nặng đánh lộn, kiện cáo nhau). Việc nhận nuôi con nuôi phải được lập thành văn bản và phải đối xử như con đẻ cũng như ngược lại, con nuôi phải có nghĩa vụ như con đẻ đối với cha mẹ nuôi.

    Các quy định tố tụng

    Mặc dù không được tách bạch ra thành các chương riêng rẽ, nhưng luật Hồng Đức đã thể hiện một số khái niệm của luật tố tụng hiện đại như:

    • Thẩm quyền và trình tự tố tụng của các cấp chính quyền (điều 672)
    • Thủ tục tố tụng (phần lớn của hai chương cuối) như đơn kiện- đơn tố cáo (các điều 508, 513, 698), thủ tục tra khảo (các điều 546, 660, 665, 667, 668, 714, 716), thủ tục xử án (các điều 671, 709), phương pháp xử án (các điều 670, 683, 686, 708, 714, 720, 722), thủ tục bắt người (các điều 646, 658, 659, 663, 676, 680, 701-704).

    So sánh

    Giống như các bộ luật phong kiến khác, luật Hồng Đức thể hiện rõ bản chất giai cấp của nó. Mục tiêu hàng đầu của nó là để bảo vệ vương quyền, địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến, củng cố trật tự xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến. Nó là sự pháp điển hóa tư tưởng chính trị và đạo đức Nho giáo. Tuy vậy, không thể phủ nhận các điểm đặc sắc và tiến bộ của nó.

    Luật Trung Hoa

    Luật Hồng Đức tiếp thụ nhiều thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của cả luật pháp nhà Đườngnhà Minh. Tuy vậy, nó có những điểm không giống với các bộ luật của nhà nước phong kiến Trung Quốc cả về nội dung lẫn bố cục.

    Về bố cục, bộ Đường luật có 500 điều chia thành 12 chương (Danh lệ, Vệ cấm, Chức chế, Hộ hôn, Khai khố, Thiện hưng, Đạo tặc, Đấu tụng, Trá ngụy, Tạp luật, Bộ vong, Đoán ngục) trong 30 quyển. Có thể thấy, trong luật Hồng Đức các quy định về các nhóm tội tình dục và các vấn đề ruộng đất được quy định riêng biệt và cụ thể hơn.

    Về nội dung, các quy định về hôn nhân-gia đình, điền sản của luật Hồng Đức được chú trọng hơn so với Đường luật (quy định cụ thể về văn tự, chúc thư, chế độ và phương thức chia thừa kế, tài sản của vợ-chồng khi góa bụa v.v). Chính vì thế, sau này các tòa án thời Pháp thuộc hay Tòa thượng thẩm Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa hay dựa trên các quy định này của luật Hồng Đức để phân xử các vụ kiện tụng liên quan tới tài sản vợ-chồng.

    Bộ luật nhà Nguyễn

    So với bộ Hoàng Việt luật lệ (HVLL hay luật Gia Long) (năm 1811) ra đời sau hàng thế kỷ, có thể thấy luật Hồng Đức chưa có tính khái quát hóa cao và phân ngành rõ như HVLL. Tuy nhiên, sự bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong luật Hồng Đức lại tốt hơn so với HVLL. Như giáo sư Vũ Văn Mẫu đã viết khi nhận xét về HVLL “bao nhiêu những sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều Lê đã không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Nguyễn. Không còn những điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện về giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng.” (Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử, quyển 1, tập 1, Sài Gòn, 1973).

    Các điểm tiến bộ

    Điểm tiến bộ trong luật Hồng Đức là nó cho thấy vai trò của người phụ nữ đã được đề cao hơn rất nhiều so với các bộ luật đương thời trong khu vực. Nó cho thấy người vợ có quyền quản lý tài sản của gia đình (khi chồng chết) và họ có quyền thừa kế như nam giới.

    Điểm thứ hai, là hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp hơn so với phạm nhân nam.

    Điểm thứ ba, nó thể hiện chính sách trọng nông của triều Lê. Bộ luật trừng phạt rất nặng các tội như phá hoại đê điều (điều 596), chặt phá cây cối và lúa má của người khác (điều 601), tự tiện giết trâu ngựa (điều 580) v.v

    Điểm thứ tư, luật Hồng Đức thể hiện sự quan tâm và bảo vệ dân thường. Trong bộ luật có nhiều điều trừng phạt nghiêm khắc những người quyền quý ức hiếp, nhũng nhiễu thường dân (các điều 294, 300, 302, 304, 365).

    TÌM ĐỌC THÊM:

    Cùng thời:

    • Quốc triều khám tụng điều lệ

    Thời nhà Nguyễn:

    • Hoàng Việt luật lệ
    • Hội điển toát yếu
    • Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ
    • Minh Mệnh chính yếu
    • Đại Nam điển lệ toát yếu

    215 CÂU HỎI – ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

    Phần I: Một số khái niệm về sở hữu trí tuệ (42 câu hỏi).

    Phần II: Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp (24 câu hỏi).

    Phần III: Các hành vi vi phạm, xâm phạm sở hữu công nghiệp (43 câu hỏi).

    Phần IV: Xử lý bằng biện pháp hành chính, hình sự, dân sự các hành vi vi phạm, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (88 câu hỏi).

    Phần V: Tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về sở hữu công nghiệp (18 câu hỏi).

    VỀ CÁC THUẬT NGỮ PHÁT MINH, PHÁT HIỆN, SÁNG CHẾ

    Ở nước ta, trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN), việc sử dụng một số thuật ngữ còn chưa được thống nhất và chưa chính xác. Gần đây, Tạp chí Hoạt động Khoa học đã đăng tải một số ý kiến bàn về các khái niệm KH &CN và KHCN. Tiếp theo, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc ý kiến về việc dùng các thuật ngữ: Phát minh, phát hiện, sáng chế.

    Chúng ta thường gặp những cách viết khác nhau về các khái niệm phát minh, phát hiện, sáng chế. Chẳng hạn: “Mỗi năm trôi qua, giới khoa học trên thế giới đều bội thu với những phát minh độc đáo, mang lại tiện ích thực sự cho cuộc sống con người, ví dụ như bàn chải đánh răng biết hát, máy giặt truyền động bằng xe đạp…”1. Ngay một thuật ngữ invention dịch ra tiếng Việt cũng không nhất quán, khi thì phát minh, khi thì sáng chế. Hầu hết các từ điển Anh – Việt đều dịch invention theo cả hai nghĩa “phát minh và sáng chế”, thậm chí có người còn dịch cả patent và license là phát minh hoặc bằng phát minh (!)Vậy nên hiểu và viết thế nào để nhất quán về bản chất khoa học và phù hợp với những quy định về bảo hộ pháp luật đối với các đối tượng được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ V (SHTT) của Việt Nam?

    Việc hiểu đúng các thuật ngữ phát minh, phát hiện và sáng chế không những có tác dụng trong việc phân loại các sản phẩm của nghiên cứu, mà còn có ý nghĩa trong việc xác định giá trị thương mại, giải quyết hợp lý khi có tranh chấp xảy ra.

    Khái niệm phát minh, phát hiện và sáng chế

    Phát minh (tiếng Anh là Discovery, tiếng Pháp là Découverte, tiếng Nga là Otkrưtije)

    Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Phát minh: Sự phát hiện một sự vật, một hiện tượng hoặc một quy luật tồn tại khách quan của tự nhiên mà con người chưa từng biết tới. Phát minh làm thay đổi, nâng cao trình độ nhận thức của con người đối với tự nhiên và tạo cơ sở để con người lợi dụng, chế ngự tự nhiên. Phát minh khoa học là yếu tố quyết định đối với tiến bộ khoa học – kỹ thuật. Phát minh thường gắn liền với những nghiên cứu cơ bản trong khoa học lý thuyết và khoa học ứng dụng. Phát minh phản ánh các mối quan hệ hiện thực khách quan cơ bản và những tính chất của các hiện tượng trong thế giới hiện thực”2.

    Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì phát minh là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người3.

    Một số ví dụ về phát minh như: Archimède phát minh định luật sức nâng của nước, Newton phát minh định luật vạn vật hấp dẫn, Nguyễn Văn Hiệu phát minh định luật bất biến tiết diện của các quá trình sinh hạt…

    Phát minh có các tiêu chí sau: Chỉ có trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, đã tồn tại khách quan (không có tính mới), có khả năng áp dụng để giải thích thế giới, nhưng chưa thể áp dụng trực tiếp vào sản xuất hoặc đời sống mà phải thông qua các giải pháp kỹ thuật, nó không có giá trị thương mại.

    Phát hiện (tiếng Anh cũng là Discovery, tiếng Pháp là Découverte): Là việc khám phá ra những vật thể, những quy luật xã hội đang tồn tại một cách khách quan. Ví dụ: Kock phát hiện vi trùng lao, Marie Curie phát hiện nguyên tố phóng xạ radium, Colomb phát hiện châu Mỹ, Adam Smith phát hiện quy luật “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường…4.

    Tương tự như phát minh, phát hiện cũng không có tính mới, nó chỉ khám phá ra các vật thể hoặc các quy luật xã hội, làm thay đổi nhận thức, chưa thể áp dụng trực tiếp vào đời sống, nó không có giá trị thương mại. Bởi vậy người ta không mua, bán, chuyển quyền sử dụng các phát minh, phát hiện.

    Sáng chế (tiếng Anh và tiếng Pháp là Invention, tiếng Nga là Izobretenije)

    Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế: Giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Sáng chế là một trong những đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ” 5.

    Luật SHTT của Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”.

    Ví dụ: James Watt sáng chế máy hơi nước, Nobel sáng chế công thức thuốc nổ TNT…

    Giải pháp kỹ thuật có thể tồn tại dưới các hình thức sau: Là dạng vật thể, ví dụ: Máy móc, dụng cụ, thiết bị, linh kiện…; là dạng chất thể, ví dụ: Thực phẩm, dược phẩm, vật liệu…; là dạng quy trình, ví dụ: Quy trình xử lý nước thải, quy trình công nghệ sản xuất xi măng…

    Sáng chế có khả năng áp dụng trực tiếp vào sản xuất và đời sống, nó có ý nghĩa thương mại, trong thực tế người ta có thể mua, bán sáng chế (chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế) hoặc license sáng chế (chuyển quyền sử dụng sáng chế).

    Có 3 tiêu chí bắt buộc để một giải pháp kỹ thuật được cấp Bằng độc quyền sáng chế (Patent), đó là: Có tính mới (so với thế giới); có trình độ sáng tạo; có khả năng áp dụng công nghiệp.

    Tính mới là một trong những tiêu chí hàng đầu của sáng chế (phát minh và phát hiện không có tiêu chí này). Như vậy, một sáng chế không sử dụng tình trạng kỹ thuật đã biết.

    Trình độ sáng tạo của sáng chế được thể hiện trên 3 khía cạnh, đó là: Vấn đề cần giải quyết, giải pháp cho vấn đề đó và các ưu điểm của sáng chế so với tình trạng kỹ thuật đã biết.

    Khả năng áp dụng công nghiệp của một sáng chế là việc sản xuất, sử dụng sáng chế đó bằng những phương tiện kỹ thuật ở một quy mô nhất định. Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định.

    Có bảo hộ quyền SHTT đối với phát minh, phát hiện và sáng chế không?

    Luật SHTT đã chỉ rõ đối tượng quyền SHTT bao gồm: Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng.

    Bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện

    Bản viết về phát minh và phát hiện được coi là tác phẩm khoa học, là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật và theo Luật SHTT.

    Cần phải nhấn mạnh rằng, Luật SHTT không bảo hộ bản thân phát minh và phát hiện, mà chỉ bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện. Tuy nhiên, việc bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện không đồng nghĩa với việc bắt buộc phải cấp văn bằng bảo hộ chúng. Quyền tác giả đối với bản viết về phát minh và phát hiện tự động phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm viết về chúng được định hình dưới một dạng vật chất nhất định, nhân đây cũng cần nhắc lại là một số người đã quan niệm sai rằng để một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả thì nhất thiết phải đăng ký bảo hộ nó. Luật SHTT quy định: “… việc nộp đơn để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả”. Không một quốc gia nào trên thế giới lại cấp Patent cho phát minh, ngoại trừ trước đây có Liên Xô (cũ) đã cấp Diplôm cho phát minh.

    Bảo hộ sáng chế

    Sáng chế là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp và theo Luật SHTT. Căn cứ phát sinh quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế là Bằng độc quyền sáng chế (Patent), có hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia cấp bằng và kéo dài trong thời hạn 20 năm. Như vậy, để bảo hộ một sáng chế, bắt buộc nó phải được cấp Patent (khác biệt cơ bản so với phát minh và phát hiện).

    Cần lưu ý rằng, Luật SHTT coi bản thân phát minh không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế. Như vậy, nói “bảo hộ phát minh” là sai.

    Sự khác nhau về việc bảo hộ bản viết về phát minh, phát hiện và bảo hộ sáng chế

    Đặc trưng đáng chú ý nhất của việc bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện theo cơ chế quyền tác giả, đó là pháp luật không ngăn cấm người khác quyền sử dụng bản thân phát minh và phát hiện, nhưng lại ngăn cấm hành vi của người khác sửa chữa, thay đổi, xuyên tạc bản thân phát minh và phát hiện.

    Đặc trưng đáng chú ý nhất của việc bảo hộ sáng chế theo cơ chế quyền sở hữu công nghiệp, đó là pháp luật ngăn cấm người khác quyền sử dụng sáng chế trong thời hạn và trên lãnh thổ được bảo hộ nếu chưa được phép của chủ sở hữu sáng chế.

    Quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả phát minh và phát hiện tồn tại vĩnh viễn, bao gồm: Quyền đặt tên cho phát minh và phát hiện; quyền đứng tên đối với phát minh và phát hiện; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của phát minh và phát hiện. Trong khi đó, quyền nhân thân của tác giả sáng chế chỉ bao gồm: Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế; quyền được nêu tên trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế.

    Như vậy, trong trường hợp đã chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế hoặc chuyển quyền sử dụng sáng chế, thì tác giả của sáng chế không có quyền ngăn cấm chủ sở hữu mới hoặc người sử dụng mới quyền cải tiến sáng chế mà mình là tác giả. Quy định này trái ngược hoàn toàn với quyền bảo vệ sự toàn vẹn của phát minh và phát hiện đối với tác giả của chúng.

    1 Nguồn1: VnExpress (theo Báo Sài Gòn Giải phóng ngày 10.12.2006).

    2 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2003.

    3 Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2005 (xuất bản lần thứ mười, có chỉnh lý và bổ sung), trang 25.

    4 Vũ Cao Đàm, đã dẫn, trang 26.

    5 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, đã dẫn.

    ================

    SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 6/2007

    THẨM PHÁN (judge), LUẬT SƯ (barrister) và LUẬT SƯ CỐ VẤN PHÁP LUẬT (solicitor) KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

    Thẩm phán là nhân vật chủ chôt trong hệ thông xử án.
    Người đó chỉ đạo việc tiến hành phiên toà và tuyên bố hình phạt đối với những người phạm tội. Thẩm phám thường được chọn lựa từ luật sư đang hành nghề (ở Scotland gọi là "advocate") hoặc từ những luật sư cố vấn pháp luật, và ít nhất phải có quá trình công tác chuyên môn là 10 năm.
    Loại thẩm phán được chọn để chủ trì một phiên toà tuỳ theo mức độ nghiêm trọng và độ phức tạp của ca xử. Một số vụ nghiêm trọng được thụ án bởi Toà án Đại hình (Crown Court). Toà án này đóng ở 94 địa điểm ở England và Wales, một số toà đại hình bao gồm môt số phòng xử án riêng.
    Đơn kháng cáo cấp toà án đại hình được chuyển lên Toà Phúc thẩm (Court of Appeal). Muốn kháng cáo lên nữa, đơn sẽ được chuyển lên Thượng Nghị Viện (House of Lords) nếu thấy ca xử đó có tầm quan trọng đối với công chúng.
    Hầu hết các vụ án dân sự nhẹ được xử ở các toà án khu vực. Số toà này có khoảng 270. Những vụ án này do thẩm phán hạt (circuit judge) hoặc thẩm phán khu (district judge) thụ lý. Toà sơ thẩm (magistrate court) là toà thấp nhất trong hệ thống pháp luật. Việc phán xử thường không do các thẩm phán hoặc luật sư chuyên nghiệp thực hiện mà thường do đại diện được cộng đồng cử ra để hoà giải; người này gọi là thẩm phán hoà giải (magistrate). Nhiệm vụ chính của người này là tiến hành xét xử sơ thẩm đối với những vụ không nghiêm trọng lắm. Còn những vụ nghiêm trọng hơn sẽ được chuyển lên Toà Đại hình.
    Nghề luật sư ở nước Anh chia làm hai ngành: luật sư (barrister/ ở Scotland gọi là ‘advocate’) và luật sư cố vấn pháp luật (solicitor)

    Luật sư cố vấn pháp luật (solicitor): phục vụ cá nhân và phối hợp các khách hàng để hoạt động;
    Luật sư (barrister) thì tư vấn pháp luật thông qua luật sư cố vấn pháp luật và chuyển những vụ cần thiết lên toà cấp cao hơn. Hai loại luật sư này có một số chức năng chung, ví dụ chuyển ca xử xuồng toà cấp thấp hơn. Một luật sư (barrister) phải qua một kỳ thi nghiệp vụ trước khi được gia nhập Đoàn luật sư (Bar). Sau đó họ bước vào giai đoạn thực tập (pupillage), làm việc cùng với những luật sư có kinh nghiệm trong vòng một năm. Luật sư cố vấn pháp luật cũng phải qua một kỳ thi và thực tập hai năm, gọi là "articles" trong một cơ quan pháp luật. Một khi đã đạt yêu cầu, thì luật sư cố vấn pháp luật mới được chấp nhận đó sẽ được kèm cặp thêm trong ba năm.