CỔ PHẦN

Cổ phần là khái niệm chỉ các chứng nhận hợp lệ về quyền sở hữu một phần đơn vị nhỏ nhất của doanh nghiệp nào đó. Quyền sở hữu này dù chỉ là một phần cũng cho phép người sở hữu cổ phần những đặc quyền nhất định, thường là:

* Hưởng một phần tương ứng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, thông qua phần chia lãi sau thuế gọi là Cổ tức;
* Quyền được tham gia quyết định kinh doanh quan trọng trong các phiên họp thường niên hay bất thường, và sức mạnh quyền này tỉ lệ với số cổ phần nắm giữ;
* Quyền được tiếp tục tham gia đóng góp vốn khi doanh nghiệp phát hành bổ sung các cổ phần mới, hoặc phát triển các dự án mới cần gọi vốn;
* Và một số quyền khác tùy theo qui định pháp luật.

Cổ phần có giá trị và có thể được trao đổi mua bán trên thị trường mở hoặc thị trường giao dịch tập trung, tùy loại hình doanh nghiệp và trạng thái cổ phần đã được niêm yết hay chưa. Giá của cổ phần trên thị trường nhìn chung là liên tục thay đổi tùy thuộc vào quan hệ cung-cầu, lòng tham-sợ hãi, và nhận thức chung liên tục thay đổi của cả thị trường về các điều kiện thương mại cũng như hướng phát triển của doanh nghiệp, của nền kinh tế, sự ổn định chính trị và nhiều yếu tố liên quan mật thiết khác nữa.

Các dao động liên tục của giá cổ phần có một phần nguyên nhân do các lực lượng thị trường liên tục tương tác để tìm kiếm (còn gọi là hình thành) một giá trị cân bằng, biểu hiện qua “giá cân bằng.”

Trong các nền kinh tế phát triển nơi mà các thị trường tài chính và thị trường vốn vận hành hiệu quả, thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch các cổ phần được xem như một công cụ để đánh giá giá trị các doanh nghiệp, và từ đó có thể đánh giá giá trị của cả một nền kinh tế.

SOURCE: SAGA.VN

PHÁ SẢN (BANKRUPTCY)

Phá sản là tuyên bố mang tính pháp lý của một cá nhân hay doanh nghiệp khi không có khả năng trả các khoản nợ đến hạn và khi chủ nợ yêu cầu. Đề nghị phá sản có thể xuất phát từ phía chủ nợ khi họ muốn thu được một phần khoản nợ của mình khi thanh lí công ty sau phá sản. Nhưng nhìn chung việc nộp đơn xin phá sản xuất phát từ phía con nợ, các doanh nghiệp, vì lí do chính: giúp con nợ thoát khỏi hầu hết các món nợ và có thể bắt đầu một “hoạt động mới trong sạch không nợ nần”.

Trong thời kinh tế cạnh tranh, nguy cơ phá sản vẫn có thể treo lơ lửng trên đầu bất kì doanh nghiệp nào và diễn ra vào bất cứ thời điểm nào. Loại trừ nguyên do yếu kém năng lực hay bị chèn ép, doanh nhân ngày nay còn có thể phá sản bởi nội bộ bất ổn, nội gián, dư thừa nhân công, hoặc không kịp tổ chức lại chiến lược kinh doanh mới thích hợp với hoàn cảnh mới. Như vậy doanh nhân nào cũng có lúc đối mặt với tình trạng khủng hoảng tài chính dù lớn hay nhỏ. Có người phải đối mặt với tình trạng phá sản, vào hoàn cảnh đó đa số buông tay chấp nhận số phận.

Thế nhưng theo Tạp chí chuyên về kinh doanh Forbes của Mỹ, vẫn có thể thoát khỏi tình trạng khủng hoảng tài chính hay phá sản để có một khởi đầu mới tốt đẹp nếu biết xoay sở theo những hướng đi mà họ đã đề nghị sau đây.

Đầu tiên cần gom lại toàn bộ chứng từ hóa đơn và xem mình đã chi những khoản gì không đáng có để tháng sau cắt giảm hẳn. Chúng ta cũng có thể phát hiện ra một trong số những nguyên nhân đẩy mình tới tình trạng bi đát nhờ vào động tác này.

Và khi ai cũng quay lưng với chúng ta vì không muốn bị cuốn theo cuộc phiêu lưu nguy hiểm, hãy kêu gọi những thành viên trong gia đình. Đây là điều thông thường, song vấn đề là tất cả những thành viên đó phải cùng làm việc theo nhóm như một công ty thực sự thay vì an ủi động viên hay giúp đỡ nhứng thứ không căn bản.

Có người đã ví von doanh nhân khi đến thời kỳ phá sản không khác gì một người giàu bị bệnh hiểm nghèo. Sau đó, để chữa bệnh hiểm nghèo không còn cách nào khác là phải tìm cho được một thầy thuốc giỏi, đó là những nhà tư vấn. Họ sẽ nghiên cứu một cách tỉnh táo nhất tình trạng của công ty và bản thân doanh nghiệp để tìm ra những lối thoát có thể, hoặc những hướng đi ít tồi tệ nhất. Họ cũng giúp phác thảo một kế hoạch mới với những gì còn lại.

Và điều cuối cùng và cũng là quan trọng nhất đó là thương thảo với các chủ nợ. Hãy thể hiện với họ các kĩ năng tài chính của chủ một doanh nghiệp, các thành tích tài chính mà công ty đạt được trước đây…Phải làm sao để họ tin rằng tình trạng khủng hoảng hiện tại chỉ là một tai nạn không thể tránh khỏi và hoàn toàn không phải do hạn chế về năng lực.

Muốn tìm hiểu rõ hơn về vấn đề phá sản của một số quốc gia, có thể đọc trên trang http://en.wikipedia.org/wiki/Bankruptcy

TRÍCH DẪN TỪ:  http://saga.vn/dictview.aspx?id=1435

CỔ PHẦN HÓA/TƯ NHÂN HÓA (Privatization/privatisation)

Thuật ngữ có thể được hiểu theo 2 cách:

1. Là quá trình chuyển quyền sở hữu của tài sản hoặc các hoạt động kinh doanh từ nhà nước sang cho một thực thể do tư nhân sở hữu. Một trong những lí do khiến hình thức này ra đời đó là do xu hướng kinh doanh hiệu quả của khu vực tư nhân. Khi đã là chủ sở hữu của doanh nghiệp, các cá nhân thường tìm ra các biện pháp nhằm tối đa hóa lợi nhuận, khác với chính phủ – nơi không quá quan tâm đến lợi nhuận của các hoạt động kinh doanh.

2. Là việc chuyển từ một công ty đại chúng thành một công ty do tư nhân sở hữu và cổ phiếu không còn được giao dịch trên sàn chứng khoán. Khi một công ty đại chúng trở thành công ty tư nhân, các nhà đầu tư không thể tiếp tục mua cổ phần của công ty đó.

Hầu hết các công ty bắt đầu dưới dạng công ty tư nhân được cấp vốn bởi một nhóm các nhà đầu tư. Khi công ty phát triển dần lên và mở rộng ra, công ty bắt đầu tìm đến thị trường vốn để tìm nguồn cung cấp tài chính hoặc thông qua việc bán cổ phiếu. Trong một số trường hợp, khi cổ phiếu của công ty bị mua hết bởi một nhóm các nhà đầu tư, công ty sẽ trở lại dạng tư nhân, và vì vậy không còn có cổ phiếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán.

©www.SAGA.vn

CÁC BẠN TÌM ĐỌC CÁC BÀI VIẾT VỀ CỔ PHẦN HÓA TẠI ĐÂY

TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI (TRADE CREDIT)

Tín dụng thương mại là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, là loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền. Có ba loại tín dụng thương mại

1.Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu (gọi là tín dụng xuất khẩu) là loại tín dụng do người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa. Tím dụng xuất khẩu được cấp dưới hình thức chấp nhận hối phiếu và mở tài khoản

  • Cấp tín dụng bằng chấp nhận hối phiếu tức là thương nhân nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu do người xuất khẩu ký phát để nhận bộ chứng từ hàng hóa thông qua ngân hàng hoặc người xuất khẩu gửi trực tiếp cho họ. Thời hạn của loại tín dụng này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên bán và mua. Tuy nhiên để phòng tránh rủi ro luật các nước thường can thiệp bằng cách định ra thời hạn cho loại tín dụng này. Ví dụ, luật nước Anh, Pháp quy định thời hạn từ 30 đến 90 ngày, luật Mỹ là 180 ngày, luật Nhật Bản quy định từ 180 đến 360 ngày.
  • Cấp tín dụng bằng cách mở tài khoản tức là thương nhân xuất khẩu và thương nhân nhập khẩu ký với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó qui định quyền của bên bán được mở một tài khoản để ghi nợ bên mua sau mỗi chuyến giao hàng mà bên bán đã thực hiện. Sau từng thời gian nhất định, người mua sẽ phải thanh toán số nợ đó bằng chuyển tiền, chuyển Séc hoặc bằng Kỳ phiếu trả tiền ngay.

2.Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu (gọi là tín dụng nhập khẩu) là loại tín dụng do người nhập khẩu cấp cho người xuất khẩu để nhập hàng thuận lợi. Hình thức tồn tại của loại tín dụng nay là tiền ứng trước để nhập hàng. Việc ứng tiền trước có tính chất khác nhau tùy theo từng trường hợp cụ thể. Nếu người xuất khẩu thiếu vốn do phải thực hiện các hợp đồng xuất khẩu có kim ngạch lớn thì tiền ứng trước mang tính chất tín dụng; còn ngược lại, nếu người xuất khẩu không tin vào khả năng thực hiện hợp đồng của người nhập khẩu mà bắt phải đặt cọc cho việc giao hàng, tiền ứng trước mang tính chất là vật đảm bảo thực hiện hợp đồng. Khoản tiền ứng trước được hoàn trả bằng cách khấu trừ dần vào số tiền hàng theo tỷ lệ cố định hoặc theo tỷ lệ tăng dần hoặc chỉ một lần vào chuyến hàng giao cuối cùng.

3.Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu: các ngân hàng thương nghiệp cỡ lớn thường không cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà xuất nhập khẩu mà thông qua nhà môi giới, loại hình này sử dụng rộng rãi ở các nước Anh, Đức, Bỉ và Hà Lan. Người môi giới là các công ty lớn, có vốn vay được từ các ngân hàng, hình thức cấp tín dụng rất đa dạng. Ví dụ cấp cho nhà xuất khẩu gồm cho vay không phải cầm cố hàng hóa, cho vay cầm cố chứng từ hàng hóa, cho vay chiết khấu hối phiếu…Mọi tín dụng của người môi giới đều là tín dụng ngắn hạn.

SOURCE: SAGA.VN

MỘT SỐ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN WTO – PHẦN 3

Một số các thuật ngữ liên quan đến lĩnh vực dịch vụ và các tổ chức khu vực trong WTO.

Dịch vụ

GATS: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO.

Cam kết: cam kết tự do hóa thương mại dịch vụ mà các nước thành viên sẵn sàng thực hiện.

Danh sách các cam kết cụ thể: danh sách các cam kết của một thành viên WTO về mở của thị trường và các ràng buộc về chế độ đối xử quốc gia.

Danh sách quốc gia: các danh sách thuế quan trong phụ lục của Hiệp định GATT xác định các cam kết đã được các thành viên WTO chấp nhận một cách tự nguyện hoặc thông qua đàm phán.

Phương thức cung cấp: cách thức mà sản phẩm dịch vụ được cung cấp hoặc tiêu thụ trong trao đổi thương mại quốc tế. Phương thức 1: qua biên giới. Phương thức 2: tiêu thụ ở nước ngoài. Phương thức 3: qua cơ quan đại diện thương mại ở nước ngoài. Phương thức 4: qua sự di chuyển của các thể nhân.

Continue reading

CÁC THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN WTO – PHẦN 2

Dệt may

MFA – Hiệp định đa sợi (1974-1994) Trong khuôn khổ hiệp định này, các nước có thị trường dệt may bị rối loạn do việc gia tăng hàng nhập khẩu từ một nước khác, có thể tiến hành đàm phán để hạn chế số lượng hàng nhập khẩu.

ATC – Hiệp định dệt may của WTO – nhằm đưa thương mại hàng dệt may vào khuôn khổ các qui định của GATT trong thời gian 10 năm.

ITCB – Văn phòng quốc tế về dệt may – Tổ chức có trụ sở ở Giơnevơ gồm 20 thành viên là các nước đang phát triển xuất khẩu hàng dệt may.

CTG – Hội đồng Thương mại hàng hoá – có nhiệm vụ giám sát việc áp dụng các Hiệp định của WTO về thương mại hàng hoá, kể cả ATC.

Lách luật: Hành động né tránh các qui định về hạn ngạch và các hạn chế khác bằng cách thay đổi nguồn gốc xuất xứ sản phẩm.

Continue reading

CÁC THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN WTO – PHẦN 1

Các thuật ngữ xung quanh các quy định, nguyên tắc, hiệp định của wto

Hội nghị Bộ trưởng: Cơ quan quyết định tối cao của WTO, bao gồm các Bộ trưởng của tất cả các thành viên, nhóm họp ít nhất 2 năm 1 lần.

Đại hội đồng: Cơ quan quyết định tối cao của WTO trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị Bộ trưởng; bao gồm các đại diện của các thành viên WTO, thường là các nhà ngoại giao thường trú tại Giơnevơ.

Vòng đàm phán Uruguay: Vòng đàm phán thương mại đa phương bắt đầu từ tháng 9 – 1986 tại thành phố Punta del Esta ở Uruguay, và kết thúc tại Giơnevơ vào tháng 12 – 1993. Các Bộ trưởng đã ký Biên bản cuối cùng ghi nhận các kết quả đạt được tại vòng đàm phán này tại hội nghị Bộ trưởng ở Marrakesh (Marốc) tháng 4 năm 1994.

Continue reading

TÌM HIỂU HỆ THỐNG THUẬT NGỮ DÙNG ĐỂ CHỈ NGƯỜI LUẬT SƯ TRONG TIẾNG ANH

NGUYỄN TUYẾT NHUNG – NHQUANG & CỘNG SỰ

Trong bối cảnh toàn cầu hoá khi sự giao lưu giữa các hệ thống pháp luật ngày càng trở nên mạnh mẽ, việc chúng ta, một nước theo hệ thống luật thường pháp (civil law) đang dần làm quen và và tiến tới hiểu rõ hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia theo hệ thống luật thông pháp (common law) là điều tất yếu. Để có một cái nhìn toàn diện về hệ thống luật của một quốc gia, cần phải tìm hiểu cơ cấu xã hội luật sư trong quốc gia đó. Tuy nhiên trong bài viết này, tôi chỉ mong muốn giới thiệu một số thuật ngữ trong tiếng Anh dùng để chỉ người luật sư ở các nước thông pháp, có đối chiếu với các thuật ngữ trong tiếng Việt nhằm bước đầu đưa ra một cái nhìn tổng thể về xã hội luật sư của các quốc gia này. Đồng thời cũng hi vọng rằng bài viết này sẽ góp phần giúp các luật sư, các dịch giả và những người có liên quan hiểu rõ và sử dụng chính xác hơn các thuật ngữ chỉ người luật sư trong tiếng Anh.

Continue reading

CHỈ DẪN GÂY NHẦM LẪN

Khái niệm

Theo Luật Cạnh tranh 2004, chỉ dẫn gây nhầm lẫn được hiểu là chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh. Luật Cạnh tranh cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn và kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn.
Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cũng quy định chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá.́ Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại bao gồm các hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó.

Continue reading

BÁN PHÁ GIÁ

Bán phá giá xảy ra khi một công ty xuất khẩu một hàng hoá với giá thấp hơn giá bán thông thường trên thị trường nội địa của mình. Nếu hành động bán phá giá này gây thiệt hại đáng kể cho các nhà sản xuất của nước nhập khẩu thì cơ quan chức năng của nước nhập khẩu có thể áp dụng biện pháp chống bán phá giá để bù đắp cho những thiệt hại do hành vi bán phá giá gây ra.
Bán phá giá được định nghĩa trong Khoản 1, Điều VI của GATT 1994: “… bán phá giá là cách hàng hóa của một nước được đưa vào thị trường của nước khác với mức giá thấp hơn giá thị thông thường của hàng hóa, …” Continue reading

REPO CHỨNG KHOÁN?

Một hoạt động nghiệp vụ trên TTCK mà UBCK đang nghiên cứu là giao dịch repo (còn được biết đến dưới các từ RPs hay repos). Giao dịch repo tuy không mới đối với tổ chức tài chính nhưng vẫn còn lạ lẫm với nhiều nhà đầu tư trên TTCK.

Repo chứng khoán là gì?

Giao dịch repo là giao dịch mua/bán lại chứng khoán có kỳ hạn được sử dụng trên thị trường tài chính. Đây là loại hình giao dịch mà nhà đầu tư có thể mua và bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu…) của chính mình trong một khoảng thời gian thỏa thuận nhất định với CTCK. Hiểu một cách đơn giản, giao dịch repo là việc nhà đầu tư đi vay tiền và dùng chứng khoán để thế chấp.

Repo là nghiệp vụ phái sinh từ các nghiệp vụ cho vay có đảm bảo (hay nghiệp vụ cho vay cầm cố giấy tờ có giá, cho vay có bảo đảm bằng chứng khoán). Khi nhà đầu tư có nhu cầu về vốn trong thời gian nhất định, mà không muốn bán chứng khoán của mình, nhà đầu tư có thể ký hợp đồng mua bán có kỳ hạn (repo) với CTCK, trong đó cam kết sẽ mua lại số lượng chứng khoán đã bán này từ CTCK tại thời điểm xác định trong tương lai, với mức giá xác định trước tại thời điểm bán.

Hiện nay, ở Việt Nam, repo là nghiệp vụ do CTCK đưa ra để mua có kỳ hạn các loại cổ phiếu chưa niêm yết, chưa lên sàn; với các cổ phiếu đã niêm yết thì có dịch vụ cầm cố.

Continue reading

BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH

Khái niệm

Bán hàng đa cấp được hiểu là một phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:

– Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;

– Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;

Continue reading

MỘT SỐ KHÁI NIỆM CỦA LÝ THUYẾT KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN ĐANG ĐƯỢC VẬN DỤNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TS. TRẦN ANH PHƯƠNG

Trong hơn 20 năm đổi mới của Việt Nam vừa qua đã và đang có khá nhiều các khái niệm của lý thuyết kinh tế học phát triển được vận dụng vào thực tiễn nước ta. Tuy nhiên, trên thực tế cũng như trong nhận thức của chúng ta chưa hẳn đã có sự thống nhất về nội hàm khoa học và cơ sở thực tiễn của các khái niệm đó. Bài viết này sẽ góp phần trao đổi thêm với bạn đọc những thông tin cơ bản về một số khái niệm đó và thực tiễn vận dụng vào nước ta.

Đã có rất nhiều khái niệm của lý thuyết kinh tế học phát triển mà cơ sở xuất phát của nó là từ các khái niệm rất cơ bản của lý thuyết kinh tế học hiện đại đã có trên thế giới từ hơn nửa thế kỷ qua (chủ yếu là từ các nước phương Tây đã có nền công nghiệp TBCN phát triển) được du nhập và vận dụng vào công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta hơn 20 năm vừa qua. Dưới đây, chỉ đề cập đến một số khái niệm cơ bản nhất đã được chính thức hoá trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước ta và nhiều công trình khoa học, các sách, báo thông tin, phản ánh. Đó là các khái niệm: tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế, và phát triển bền vững

Continue reading

THƯƠNG HIỆU LÀ GÌ?

THANH LOAN

Trong năm qua, báo chí đề cập rất nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề “Thương hiệu” (xây dựng, đăng ký, quảng bá, phát triển, tranh chấp, đánh cắp… thương hiệu). Một chuyện tưởng như không cần bàn tới nhưng hoá ra lại là gốc của mọi khía cạnh khác: đó là: nên hiểu “Thương hiệu” là gì? – Trò chuyện giữa phóng viên DĐDN với ông Phạm Đình Chướng – Cục trưởng Cục Sở hữu công nghiệp.

Thưa ông pháp luật về sở hữu công nghiệp của nước ta có các quy định về nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý của hàng hoá và tên gọi xuất xứ hàng hoá. Gần đây, nhiều người lại nói đến “Thương hiệu”. Có phải đây là một loại đối tượng sở hữu công nghiệp khác chưa được đề cập tới trong Luật sở hữu công nghiệp hay chỉ là một tên gọi khác của một loại đối tượng nào đó đã có quy định trong Luật sở hữu công nghiệp?

Continue reading

CỔ ĐÔNG VÀ CÁC QUYỀN CƠ BẢN

Cổ đông là cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp một phần hay toàn bộ phần vốn góp (cổ phần) của một công ty cổ phần. Về bản chất, cổ đông là thực thể đồng sở hữu công ty cổ phần chứ không phải là chủ nợ của công ty đó, do vậy quyền lợi và nghĩa vụ của họ gắn liền với kết quả hoạt động của doanh nghiệp và loại cổ phần mà họ sở hữu.

Phân loại cổ đông

Căn cứ quyền, nghĩa vụ gắn liền với loại cổ phiếu mà họ sở hữu, cổ đông được phân loại thành:

– Cổ đông sáng lập: là những cổ đông đầu tiên góp vốn để hình thành nên công ty cổ phần.

– Cổ đông đặc biệt: là cổ đông (thường là Nhà nước) mặc dù có thể chỉ nắm một số lượng cổ phần rất nhỏ nhưng có quyền phủ quyết trong một số quyết sách quan trọng (được quy định trong điều lệ công ty) của công ty cổ phần. Loại cổ đông này còn được gọi là cổ đông ưu đãi biểu quyết.

– Cổ đông ưu đãi: là những cổ đông được ưu tiên một quyền nào đó (được trả cổ tức cao hơn hay quyền hưởng một tỷ lệ cổ tức cố định trước khi lợi nhuận được phân phối cho các cổ đông khác, quyền nhận lại giá trị của cổ phần khi có yêu cầu). Đi kèm với quyền ưu tiên, cổ đông ưu đãi thường bị hạn chế các quyền khác (như không có quyền biểu quyết, dự họp ĐHCĐ, đề cử người vào HĐQT và Ban kiểm soát).

– Cổ đông thường: là các cổ đông còn lại.

Ngoài ra, căn cứ tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ, cổ đông được phân loại thành cổ đông lớn và cổ đông thiểu số. Tỷ lệ để được coi là cổ đông lớn thường do điều lệ công ty quy định trên cơ sở tuân thủ luật pháp, ví dụ điều lệ một số công ty quy định cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng là cổ đông lớn.

Quyền cơ bản của cổ đông

– Quyền biểu quyết: với số cổ phiếu tương ứng, cổ đông có thể biểu quyết trực tiếp hay thông qua đại diện do cổ đông uỷ quyền một cách hợp pháp để biểu quyết những vấn đề quan trọng trong hoạt động của công ty như đường lối, chiến lược kinh doanh, phân phối lợi nhuận, tăng hoặc giảm vốn điều lệ… Lưu ý, cổ đông ưu đãi không có quyền này.

– Quyền nhận cổ tức (lãi cổ phần) từ lợi nhuận của công ty tương ứng với số cổ phần mà họ nắm giữ; nhận phần giá trị tài sản còn lại của công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản. Khi công ty phá sản, giải thể, cổ đông chỉ có thể nhận giá trị tài sản còn lại của công ty sau khi công ty đã thực hiện thanh toán các khoản nợ hay nói một cách khác, quyền của cổ đông đối với tài sản của công ty cổ phần có thứ tự ưu tiên xếp sau các chủ nợ của công ty đó.

– Quyền đăng ký mua cổ phiếu phát hành thêm trước khi chúng được đem bán rộng rãi ra công chúng.

– Quyền chuyển nhượng cổ phần đang nắm giữ. Lưu ý, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác.

SOURCE:

http://dddn.com.vn/Desktop.aspx/TinTuc/Hoi-dap-247/Co_dong_va_cac_quyen_co_ban/

CẦM CỐ CHỨNG KHOÁN (MORTGAGE STOCK)

Cầm cố chứng khoán (CK) là một nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán có ít nhất có hai chủ thể tham gia:

  • Bên cầm cố là thành viên lưu ký nhân danh chính mình hoặc được người đi vay uỷ quyền giao chứng khoán cho bên nhận cầm cố;

  • Bên cầm cố là thành viên lưu ký nhân danh chính mình hoặc được người cho vay uỷ quyền nhận cầm cố chứng khoán bên cầm cố.

Việc thực hiện cầm cố chứng khoán trên cơ sở hợp đồng pháp lý  chứng của hai chủ thể tham gia, trong đó quy định rõ giá trị CK cầm cố, số tiền vay, lãi suất và thời hạn trả nợ, phương thức xử lý CK cầm cố.

Trung tâm giao dịch chứng khoán sau khi kiểm tra thủ tục, nhất là tính hợp pháp, hợp lý của nó thì trung tâm phải mở tài khoản cầm cố và chuyển CK vào tài khoản cầm cố theo yêu cầu của bên cầm cố.

Trường hợp bên cho vay (hoặc bên vay) không phải là thành viên lưu ký, bên cho vay (hoặc bên vay) phải uỷ quyền việc nhận cầm cố CK (hoặc việc giao CK cầm cố) cho một thành viên lưu ký khác.

Tài khoản cầm cố phải tách biệt với tài khoản lưu ký các CK khác của bên cầm cố. Sau khi ghi vào tài khoản cầm cố CK, thì phải đình chỉ việc rút, chuyển khoản hoặc chuyển nhượng các CK trên tài khoản cầm cố trong thời gian cầm cố. TTGDCK gửi thông báo bằng công văn cho bên nhận cầm cố về việc đã thực hiện cầm cố CK.

Việc giải toả cầm cố CK được thực hiện theo các nguyên tắc:

  • Người giải toả cầm cố CK phải là bên nhận cầm cố CK;

  • Có thể giải toả toàn bộ hoặc một phần CK cầm cố bằng hình thức rút chứng chỉ hay chuyển khoản;

  • Có văn bản đề nghị giải toả cầm cố CK của bên nhận cầm cố. Trên cơ sở đó, TTGDCK thực hiện huỷ bỏ việc cầm cố CK trong đăng ký người sở hữu CK và thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố việc huỷ bỏ cầm cố CK và giải toả tài khoản cầm cố sang tài khoản khác.

Nếu bên cầm cố CK thực hiện không đúng theo thoả thuận thì CK cầm cố đó được xử lý do các bên thoả thuận hoặc đưa ra bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

SOURCE: SAGA.VN

VỀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM "KHU VỰC" Ở KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG

TS. TRẦN ANH PHƯƠNG

(ĐCSVN)Kể từ sau kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay, toàn cầu hoá, khu vực hoá đã trở thành một xu thế phát triển khách quan và ngày càng diễn ra sôi động, phức tạp hơn. Từ đó cũng đặt ra cho chúng ta không ít vấn đề về mặt học thuật cần phải có sự nghiên cứu, trao đổi để cùng thống nhất trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Dưới đây là góp phần luận giải ( theo quan điểm riêng của tác giả ) về cách xác định một số khái niệm ” khu vực ” có liên quan ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
1. Theo cách hiểu truyền thống, người ta vẫn xác định khu vực theo vị trí địa lý. Chẳng hạn, tuỳ theo các vị trí địa lý, sắc tộc, màu da… khác nhau mà từ lâu đã có sự hình thành nên các khái niệm khu vực khác nhau như châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi…Và tương tự ngay cùng một châu lục như châu Á, nếu căn cứ thêm cả tiêu thức phương hướng, vị trí lãnh thổ… lại có thể phân thành các khái niệm tiểu khu vực khác nhau như Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Á, Nam Á…. Thực ra việc đặt tên gọi như vậy chỉ mang tính tương đối nhằm so sánh khu vực này với khu vực khác hay tiểu khu vực này với tiểu khu vực khác trong cùng một khu vực. Vì thế thông thường để đơn giản hoá cách gọi, người ta hay dùng khái niệm chung nhất là khu vực (region) để diễn đạt ở mức chính xác tương đối có thể thay cho cả khái niệm tiểu khu vực trong những trường hợp không thực sụ cần thiết phải cụ thể hoá, chi tiết hoá đến mức chính xác tuyệt đối.
Việc định nghĩa khu vực theo vị trí địa lý như trên được hiểu là bất đổi vì như đã biết vị trí địa lý của mỗi quốc gia, lãnh thổ, khu vực hay tiểu khu vực là một tiêu thức tự nhiên mang tính tồn tại khách quan, bất đổi. Tuy nhiên, cách định nghĩa truyền thống này ngày càng tỏ ra là cứng nhắc, thiếu thuyết phục trước xu hướng giữa các quốc gia, lãnh thổ ở các khu vực, tiểu khu vực khác nhau trên thế giới ngày càng gia tăng sự hợp tác toàn diện về nhiều lĩnh vực khác nhau, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế những năm gần đây. Từ đó các học giả, chính khách đã nghiêng dần về xu thế coi khái niệm khu vực là một thực thể địa lý-kinh tế-chính trị-xã hội… Do vậy khái niệm khu vực theo cách hiểu hiện đại phải là một khái niệm mở và động, luôn được tạo dựng và thay đổi tuỳ theo quan điểm của các chủ thể tham gia vào quá trình tương tác trong khu vực. Chẳng hạn như nếu chỉ xét về yếu tố vị trí địa lý thì Mỹ và Tây Âu là hai chủ thể độc lập và do đó không thể hợp thành một khu vực được. Thế nhưng sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, để chống lại hệ thống XHCN do Liên Xô đứng đầu, đã dẫn đến sự hình thành khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), cho thấy Mỹ và Tây Âu do nhu cầu lợi ích chính trị-quân sự… có thể hợp thành một khu vực bao gồm các chủ thể khác nhau về vị trí địa lý. Tương tự như vậy khái niệm ” khu vực Đông Nam Á ” hiểu theo nghĩa là một thực thể chính trị-xã hội cũng đã được hình thành cuối Thế chiến thứ hai với việc thành lập Bộ chỉ huy quân sự khu vực Đông Nam Á của Anh do Nguyên soái Mountbatten đứng đầu. Sau Thế chiến thứ hai, nhiều sự kiện chính trị khác ra đời đã tiếp tục định hình khu vực Đông Nam Á. Ví dụ điển hình là sự hình thành của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) được thành lập tại Manila năm 1954, đã khiến cho khái niệm về một khu vực Đông Nam Á mang màu sắc chính trị rõ nét… Từ đó đến nay khu vực Đông Nam Á đã phát triển thành một thực thể chính trị-xã hội hiểu theo nghĩa rộng bao gồm sự hợp tác, liên kết toàn diện về nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó nổi bật nhất là về kinh tế, an ninh, chính trị, quân sự và văn hoá, xã hội. Thực thể này đến năm 1967 đã được phát triển thành một tổ chức hợp tác khu vực ở tầm cao hơn, đó là Hiệp hội các nước Đông Nam Á ( ASEAN ), khi đó chỉ có 5 nước thành viên ( ASEAN 5 ) đã tham gia là: Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Singapo, và Thái Lan. Cùng với sự tiến triển của thời gian và xu thế hội nhập toàn cầu hoá, khu vực hoá ngày càng mạnh mẽ, sâu rộng hơn, ASEAN 5 hiện nay đã trở thành ASEAN 10 – một tổ chức cộng đồng bao gồm đủ cả 10 nước thành viên ở Đông Nam Á (Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Singapo, Thái Lan, Brunây, Việt Nam, Lào, Campuchia và Mianma).
2. Khái niệm “ khu vực Châu Á-Thái Bình Dương” đã được các học giả và chính khách đề cập đến từ đầu thế kỷ XX, nhưng phải đến cuối thập niên 1980 với sự hình thành của Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC), khái niệm này mới được sử dụng rộng rãi. Cùng thời gian này đã trùng hợp với sự nổi lên của các nền kinh tế thần kỳ Đông Á mà dẫn đầu là “con rồng” Nhật Bản, tiếp theo là NIEs ( Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapo) và sự tăng trưởng nhanh liên tục của nhiều quốc gia ASEAN. Chính vì thế, “ khu vực Châu Á-Thái Bình Dương” còn được hiểu theo nghĩa hẹp coi đó chính là “khu vực kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương” bao gồm các nước và lãnh thổ ở khu vực Đông Á (kể cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á). Đây cũng chính là khu vực đã có nhiều nước và lãnh thổ có sự phát triển năng động và liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao trong hơn 3 thập niên vừa qua.
Như đã biết APEC là tổ chức đa quốc gia được thành lập vào tháng 11 năm 1989 theo sáng kiến của Thủ tướng Australia Bob Hawke nhưng cơ sở chính trị của nó đã được hình thành từ năm 1980 với sự ra đời của Hội nghị hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (PECC) do Thủ tướng Nhật Okira và Thủ tướng Australia Frazer đề xuất. Từ đó đến nay APEC ngày càng phát triển mạnh trở thành tổ chức đa quốc gia lớn nhất ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương với 21 quốc gia và lãnh thổ thành viên: Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc ( bao gồm cả Hồng Kông ), Đài Loan, Singapo, Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Thái Lan, Brunây, Mỹ, Canada, Mêxicô, Australia, Chilê, Niu Dilân, Papua Niu Ghinê, Pêru, Nga và Việt Nam. Vị thế lớn mạnh không ngừng của tổ chức này vừa qua càng thể hiện rõ nét hơn ở sự thống nhất ý chí với một quyết tâm cao về một Kế hoạch hành động thiết thực cho sự hợp tác phát triển toàn diện đã được ký kết giữa các thành viên tham dự Hội nghị APEC 14 tại Hà Nội từ ngày 12-19/11/2006.
3. Với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh, kể từ đầu thập niên 1990 thế giới từ ” hai cực ” đã trở thành thế giới của ” nhất siêu đa cường ” và tương quan lực lượng giữa các nước lớn có nhiều thay đổi đã khiến cho các quốc gia đều nhận thấy cần thiết phải thể chế hoá các quan hệ quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Diễn đàn an ninh khu vực Đông Nam Á của các nước ASEAN (ARF) đã ra đời năm 1993 để thảo luận, hợp tác những vấn đề an ninh khu vực thông qua các biện pháp xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa và giải quyết xung đột. Thành viên của ARF bao gồm 10 nước ASEAN (trong đó 4 nước thành viên mới: Việt Nam, Lào, Campuchia và Mianma đã là thành viên của ARF trước khi gia nhập ASEAN) và 11 thành viên khác trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương bao gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, CHDCND Triều Tiên, Australia, Niu Dilân, Mông Cổ, và Papua Niu Ghinê. Ngoài ra, đáng chú ý có cả EU cũng là thành viên của ARF, một minh chứng về việc định nghĩa khái niệm khu vực ngày nay không chỉ giới hạn trong phạm vi đÞa lý lãnh thổ mà như trên đã đề cập cần có một định nghĩa mở về khu vực, coi đó là một thực thể địa lý-kinh tế-chính trị-xã hội… Với cách định nghĩa này, cho phép các chủ thể cùng tham gia tương tác trong khu vực có thể mở rộng đến nhiều vấn đề cùng quan tâm. Các cuộc gặp gỡ cấp cao Á-Âu (ASEM) được tiến hành liên tục từ năm 1996 đến nay với thành viên là các nước ASEAN, cùng với 3 nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và có cả các nước EU là ví dụ điển hình về sự mở rộng các quan hệ đa quốc gia không chỉ giới hạn ở yếu tố địa lý trong cùng một khu vực mà đã trở thành yếu tố địa lý đa khu vực.
Cũng tương tự vậy, nhưng ở quy mô hẹp hơn so với ASEM, các cuộc gặp ASEAN+1 ( Nhật Bản, hoặc Hàn Quốc, hoặc Trung Quốc ), và đặc biệt là các cuộc gặp thường niên ASEAN+3 vào dịp cuối năm cũng đều là minh chứng cho sự mở rộng khái niệm khu vực Đông Nam Á đã được 10 nước ASEAN và 3 nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) tiến hành trong những năm gần đây, mà thực chất đó chính là các mô hình liên kết đa quốc gia trong cùng một khu vực Đông Á đã diễn ra ở các cấp độ khác nhau. Riêng về mô hình ASEM, cũng có thể coi đó là liên kết giữa nhiều quốc gia, lãnh thổ ở khu vực Đông Á với các nước thành viên của EU ở khu vực Châu Âu. Mô hình này có đặc điểm nổi bật là không có sự tham gia của Mỹ – siêu cường số 1 thế giới, nhưng đã được tất cả các thành viên tham gia hết sức coi trọng và ủng hộ sự tiến triển của nó kể từ khi thành lập (1996) đến nay. Sở dĩ như vậy vì mô hình này trên thực tế đã tỏ rõ đó là một cơ chế hợp tác liên khu vực đầu tiên nhằm vào mục tiêu phục vụ cho việc thiết lập một quan hệ đối tác toàn diện giữa châu Á và châu Âu, nhằm tăng cường đối thoại, hiểu biết và hợp tác cũng như tạo điều kiện thuân lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội giữa hai châu lục và duy trì một thế giới hoà bình và ổn định.
4. Từ một số dẫn giải trên đây cho thấy, việc định nghĩa về khái niệm khu vực trên thế giới ngày nay đã không nhất thiết chỉ giới hạn ở tiêu thức địa lý, hay địa lý-kinh tế, mà ngày càng mở rộng ra nhiều tiêu thức có liên quan đến các vấn đề chính trị-xã hội… cùng quan tâm của các thành viên tương tác trong khu vực đó. Từ đó cho thấy, riêng đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương có thể có hai cách xác định tương đối về khu vực này. Thứ nhất, hiểu theo nghĩa hẹp, chủ yếu dựa vào tiêu thức địa lý – kinh tế: khu vực Châu Á-Thái Bình Dương cũng có nghĩa là khu vực kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương mà thực chất cho đến nay vẫn được hiểu là khu vực kinh tế Đông Á (bao gồm cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á) giới hạn ở một số quốc gia và lãnh thổ như trên đã đề cập. Thứ hai, hiểu theo nghĩa rộng, dựa vào tiêu thức tổng hợp cả về địa lý-kinh tế-chính trị-xã hội…, cho thấy khái niệm khu vực Châu Á-Thái Bình Dương ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn với sự hình thành và phát triển của các tổ chức tiểu khu vực, khu vực trên cơ sở tương tác và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chính trị, xã hội… Trong đó có những vấn đề đặc biệt sôi động đang được sự quan tâm của tất cả các thành viên tham gia tương tác, đó là hợp tác phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh chính trị-xã hội, môi trường sinh thái của mỗi quốc gia, lãnh thổ và toàn khu vực. Hiểu theo nghĩa rộng như vậy về khái niệm khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đương nhiên sẽ cho ta thấy, hiện tại APEC chính là tổ chức đa quốc gia duy nhất và lớn nhất đã đại diện cho một ý chí và hành động vì lợi ích phát triển chung của cả khu vực này. Những kết quả thành công tốt đẹp đạt được từ Hội nghị APEC 14 – 2006 vừa diễn ra tại Hà Nội đã là minh chứng rõ nét thêm về vị thế của tổ chức này.
5. Như đã đề cập, trong cách hiểu của nhiều học giả và chính khách về khái niệm khu vực Đông Á lâu nay vẫn được coi là bao gồm cả hai khu vực là Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Tuy nhiên đã có một thời khi nói đến khu vực Đông Á là chủ yếu nói về Đông Bắc Á – nơi mà những năm của các thập niên 1970-1980 đã từng xuất hiện một số nền kinh tế thần kỳ Đông Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông và Đài Loan, cho dù khi đó ở Đông Nam Á cũng đã xuất hiện nền kinh tế thần kỳ Singapo là một trong những thành viên của ASEAN và cũng thuộc khu vực Đông Á. Điều lưu ý về khái niệm khu vực Đông Bắc Á, nếu chỉ căn cứ vào tiêu thức địa lý thì ở khu vực này ngoài các nước và lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc ( bao gồm cả Hồng Kông ), Đài Loan, còn có cả một số quốc gia khác như CHDCND Triều Tiên (Bắc Triều Tiên), Mông Cổ và toàn bộ khu vực Viễn Đông nước Nga. Thế nhưng hiện nay nhắc đến khu vực Đông Bắc Á đã có không ít người chỉ quan niệm đó là khu vực bao gồm các quốc gia, lãnh thổ đang có vị trí, vai trò quan trọng, chi phối sự phát triển khu vực này và có ảnh hưởng đến cả khu vực Đông Á nói riêng và toàn bộ khu vực Châu Á -Thái Bình Dương nói chung. Với quan niệm này thì khu vực Đông Bắc Á theo cách hiểu khá phổ biến hiện nay đã có giới hạn hẹp hơn về qui mô, chỉ bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc (kể cả Hồng Kông ), Đài Loan và vùng Viễn Đông nước Nga những nơi giáp ranh với Nhật Bản và Trung Quốc. Một khu vực Đông Bắc Á hiểu theo nghĩa hẹp như vậy trong thực tiễn của tiến trình toàn cầu hoá, và nhất là khu vực hoá đang diễn ra rất sôi động, phức tạp hiện nay đã và đang là đối tượng, mục tiêu quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, chính khách trong và ngoài.

*

Tóm lại, tuy chưa thể đưa ra kết luận duy nhất chính xác về cách thức định nghĩa khái niệm khu vực, song về phương diện nhận thức luận cũng đủ cho ta thấy cần hiểu và xác định khu vực là một khái niệm mở và động. Ngoài việc căn cứ vào các tiêu thức cơ bản mang tính truyền thống về vị trí địa lý và các đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…; cần tính đến cả các tiêu thức nảy sinh hiện tại từ yêu cầu, xu thế phát triển thực tiễn theo từng thời kỳ… để từ đó khái niệm khu vực có thể được xác định theo các nghĩa rộng, hẹp khác nhau sao cho có thể phù hợp ở mức cao nhất cho tiến trình hội nhập, hợp tác phát triển cùng có lợi của các nước và lãnh thổ thành viên cùng tham gia.
Thống nhất quan điểm nhận thức trên đây, sẽ cho ta cách nhìn đúng đắn, khoa học để dự báo tương lai, nếu như một cộng đồng kinh tế Đông Á mở rộng bao gồm cả ( ASEAN+3 ) + Australia + Ấn Độ+ Niu Dilân theo như ý tưởng đã đề xuất từ đầu năm 2002 của cựu Thủ tướng Nhật Bản J. Koizumi trở thành hiện thực, và mới đây, nếu như ý tưởng đề xuất của Việt Nam tại Hội nghị APEC 14 – 2006 về sự cần thiết tiến tới việc hình thành một cộng đồng kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương cũng trở thành hiện thực…thì tất cả đó đều là những khu vực mới được hình thành từ các tiêu thức nảy sinh hiện tại theo yêu cầu khách quan của tiến trình toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế.

BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

CÔNG TY TƯ NHÂN (Private company/privately held company)

Thuật ngữ Công ty tư nhân được hiểu theo hai cách:

  • Thứ nhất: Đó là công ty không thuộc quyền sở hữu của nhà nước
  • Thứ hai: Đó là những công ty có cổ phần được nắm giữ bởi một số ít các cổ đông và các cổ đông đó không bán cổ phiếu trên thị trường.

Công ty tư nhân có hai nghĩa khác nhau như vậy, nên việc sử dụng thuật ngữ cần thận trọng vì có thể gây hiểu nhầm.

Ở nước xã hội chủ nghĩa như nước ta, công ty tư nhân được hiểu là công ty không thuộc quyền sở hữu của nhà nước. Còn ở Mỹ, công ty tư nhân thường là những công ty kinh doanh có cổ phiếu không được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Chính vì những nghĩa trên, công ty tư nhân có thể là Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, tờ-rớt (trust), hoặc những tên khác.

——————————

CÁC THUẬT NGỮ GIẢI THÍCH HỖ TRỢ

1. Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là một dạng tương tự giống công ty hợp danh nhưng vốn được hình thành do các cá nhân đóng được gọi là các cổ đông. Chứng nhận về quyền sở hữu và phần vốn góp được cấp bởi công ty, và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng lợi ích sở hữu của họ cho người khác bằng cách bán các cổ phần cho người khác.

Theo luật doanh nghiệp năm 2006 của Việt Nam, công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó:

  • Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
  1. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
  2. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
  3. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
  4. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật doanh nghiệp.
  • Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
  • Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.

2. Doanh nghiệp tư nhân (Sole proprietorship/single proprietorship)

Theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp Việt Nam 2006, Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân không được quyền phát hành bất kì loại chứng khoán nào. Và mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

Vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng kí, và có quyền tăng hoặc giảm trong quá trình hoạt động kinh doanh và phải ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính. Doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân do không đáp ứng đủ 4 điều kiện để trở thành pháp nhân.

Cần lưu ý rằng trong Luật Doanh nghiệp năm 2006, không có khái niệm Công ty tư nhân. Chính vì vậy cần phân biệt sự khác nhau giữa Doanh nghiệp tư nhân (đã nêu ở trên) và công ty tư nhân.

Trong phạm vi nước ta, khi nói đến công ty tư nhân, chúng ta hiểu là các loại hình công ty không phải là công ty nhà nước.

3. Công ty hợp danh (Partnership)

Công ty hợp danh là một loại hình công ty trong đó các thành viên chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ của công ty mà họ cùng nhau đầu tư vào.

Tại hầu hết các nước, công ty hợp danh được tạo nên từ một hợp đồng hợp tác giữa các cá nhân, những người với tinh thần hợp tác, đồng ý thành lập nên doanh nghiệp, đóng góp cho nó bằng tài sản, hiểu biết, hoạt động và cùng chia sẻ lợi nhuận. Giữa các thành viên có thể có một hợp đồng hợp tác hoặc một bản tuyên bố hợp tác và trong một số hệ thống luật pháp, những thỏa thuận như vậy có thể được đăng ký và công bố rộng rãi cho công chúng. Ở nhiều nước, công ty hợp danh có thể được coi là có tư cách pháp nhân, trong khi một số nước khác lại có quan điểm trái ngược.

Công ty hợp danh thường có lợi thế hơn so với công ty cổ phần vì nó không phải đóng thuế cổ tức, trên số lợi nhuận thu được, hay nói cách khác tránh được việc bị đánh thuế hai lần.

Hình thức  cơ bản nhất của công ty hợp danh là công ty hợp danh trách nhiệm chung (GP) trong đó mọi thành viên đều tham gia vào điều hành kinh doanh và đều chịu trách nhiệm cá nhân về các khoản nợ của công ty. Hai hình thức khác cũng khá phát triển ở hầu hết các nước là Công ty hợp danh hữu hạn (LP) và Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), Trong công ty hợp danh hữu hạn, ngoài các thành viên quản trị còn có các “thành viên trách nhiệm hữu hạn”, những người này từ bỏ quyền điều hành doanh nghiệp để đổi lấy “trách nhiệm hữu hạn” đối với các khoản nợ của công ty. Còn với Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), tất cả các thành viên đều có trách nhiệm hữu hạn trong một mức độ nhất định.

4. Thị trường chứng khoán (Stock market)

Thị trường chứng khoán là thị trường trên đó giao dịch các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ phái sinh… bao gồm cả chứng khoán niêm yết công khai trên sàn giao dịch chứng khoán và chứng khoán giao dịch không công khai.

Hàng hoá chủ yếu trên các sàn giao dịch chứng khoán lớn thường là cổ phiếu, còn trái phiếu và các công cụ phái sinh khác hay được mua bán trên thị trường OTC hơn. Qui mô của thị trường trái phiếu toàn cầu được ước tính vào khoảng 45.000 tỷ USD, còn qui mô của thị trường cổ phiếu vào khoảng phân nửa con số đó. Qui mô của thị trường các chứng khoán phái sinh vào khoảng 300.000 tỷ USD, tuy nhiên người ta không so sánh trực tiếp nó với 2 thị trường trên vì đó chỉ là giá trị danh nghĩa của chúng, trong khi các con số nói trước đó là giá trị thực của cổ phiếu trái phiếu.

Những người tham gia vào thị trường chứng khoán vô cùng đa dạng, nhưng tựu trung lại có thể chia ra làm 2 loại chính: nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức đầu tư, trong đó các tổ chức chiếm đa số tính theo khối lượng giao dịch. Giao dịch của các nhà đầu tư này thường không được thực hiện một cách trực tiếp mà thông qua những người môi giới chứng khoán chuyên nghiệp.

Các sàn giao dịch chứng khoán có thể là những sàn giao dịch thực, nơi các giao dịch được thực hiện theo phương thức đấu giá mở bằng lời, NYSE là ví dụ điển hình của một sàn giao dịch loại này. Các sàn giao dịch chứng khoán cũng có thể là những sàn giao dịch ảo, dưới dạng một mạng máy tính lớn, trong đó các giao dịch hoàn toàn được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử, NASDAQ là sàn giao dịch ảo lớn nhất thế giới.

Phương thức giao dịch chủ yếu của thị trường chứng khoán là phương thức đấu giá, những người tham gia sẽ tiến hành đặt lệnh, trong đó nêu rõ mức giá mong muốn của mình. Phương thức này giúp đảm bảo tính công bằng cao nhất cho mọi đối tượng tham gia. Khi giá chào mua phù hợp với giá chào bán thì giao dịch sẽ được thực hiện, hay nói cách khác là được “khớp lệnh”.

Mục đích của sàn giao dịch chứng khoán là tạo thuận lợi cho việc giao dịch các loại chứng khoán giữa người mua với người bán, qua đó tạo lập nên một thị trường cho thứ hàng hoá đặc biệt này.

Theo nhà sử học nổi tiếng người Pháp Fernand Braudel, ngay từ thế kỉ 11, ở Cairo, những thương nhân người Hồi giáo và Do Thái đã xây dựng nên những hiệp hội thương nghiệp đầu tiên và có những hiểu biết về các phương thức tín dụng và thanh toán, là những mầm mống cho thị trường chứng khoán sau này. Giữa thế kỉ 13 những nhà ngân hàng ở Venetia bắt đầu tiến hành những giao dịch đối với các chứng khoán do Chính phủ phát hành, tuy nhiên năm 1351, chính quyền Venetia đã ra lệnh nghiêm cấm việc phổ biến những tin đồn có mục đích là giảm giá trị các quỹ do Chính quyền sở hữu. Những nhà ngân hàng ở Pisa, Verona, Genoa và Florence thuộc Italy đã bắt đầu tiến hành mua bán chứng khoán do Chính phủ phát hành từ thế kỷ 14, điều này thực hiện được là vì đây là những thành bang độc lập, không nằm dưới quyền cai trị của một công tước nào mà bởi một hội đồng những người có ảnh hưởng.

Sau đó, chính người Hà Lan khởi xướng ra các công ty cổ phần, mà cổ đông có thể đầu tư vào để chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ. Năm 1602, Công ty Đông Ấn đã phát hành những cổ phiếu đầu tiên ra Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam. Đó là công ty đầu tiên trên thế giới phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam cũng được coi là sàn giao dịch đầu tiên trên thế giới hoạt động một cách liên tục. Chính người Hà Lan là những người nghĩ ra những nghiệp vụ giao dịch chứng khoán như “bán khống”, “giao dịch quyền chọn”, “nghiệp vụ swap nợ-cổ phần”, “nghiệp vụ ngân hàng thương mại” và nhiều công cụ đầu cơ khác mà cho đến ngày nay người ta vẫn còn sử dụng.

Ngày nay thì mọi quốc gia phát triển và hầu hết các nước đang phát triển đều có thị trường chứng khoán, một thị trường không thể thiếu với mọi nền kinh tế muốn phát triển vững mạnh vì các lý do sau:

Thứ nhất, thị trường chứng khoán là một trong những kênh huy động vốn quan trọng nhất của các công ty, giúp các công ty có thể niêm yết công khai, tăng thêm vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh. Tính thanh khoản mà thị trường chứng khoán tạo ra cho phép các nhà đầu tư nhanh chóng va dễ dàng bán các loại chứng khoán khi có nhu cầu. Đó chính là một nét hấp dẫn của việc đầu tư vào cổ phiếu so với các hình thức đầu tư kém thanh khoản khác như đầu tư vào bất động sản chẳng hạn.

Thứ hai, thị trường chứng khoán được coi là một chiếc phong vũ biểu của nền kinh tế. Lịch sử đã chỉ ra rằng, giá cổ phiếu và các loại tài sản tài chính khác là một phần quan trọng của hoạt động kinh tế và nó có thể gây ảnh hưởng hoặc là một thước đo đánh giá kỳ vọng của xã hội. Giá ổ phiếu tăng thường liên quan đến việc tăng lượng vốn đầu tư vào các hoạt động kinh doanh và ngược lại. Do đó, các ngân hàng trung ương luôn để mắt tới việc kiểm soát và ứng xử của thị trường chứng khoán và đến sự hoạt động trơn tru của hệ thống tài chính vì sự ổn định tài chính luôn là một trong những chức năng quan trọng nhất của các ngân hàng trung ương.

5. Cổ phần (Stock; Share)

Cổ phần là khái niệm chỉ các chứng nhận hợp lệ về quyền sở hữu một phần đơn vị nhỏ nhất của doanh nghiệp nào đó. Quyền sở hữu này dù chỉ là một phần cũng cho phép người sở hữu cổ phần những đặc quyền nhất định, thường là:

* Hưởng một phần tương ứng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, thông qua phần chia lãi sau thuế gọi là Cổ tức;
* Quyền được tham gia quyết định kinh doanh quan trọng trong các phiên họp thường niên hay bất thường, và sức mạnh quyền này tỉ lệ với số cổ phần nắm giữ;
* Quyền được tiếp tục tham gia đóng góp vốn khi doanh nghiệp phát hành bổ sung các cổ phần mới, hoặc phát triển các dự án mới cần gọi vốn;
* Và một số quyền khác tùy theo qui định pháp luật.

Cổ phần có giá trị và có thể được trao đổi mua bán trên thị trường mở hoặc thị trường giao dịch tập trung, tùy loại hình doanh nghiệp và trạng thái cổ phần đã được niêm yết hay chưa. Giá của cổ phần trên thị trường nhìn chung là liên tục thay đổi tùy thuộc vào quan hệ cung-cầu, lòng tham-sợ hãi, và nhận thức chung liên tục thay đổi của cả thị trường về các điều kiện thương mại cũng như hướng phát triển của doanh nghiệp, của nền kinh tế, sự ổn định chính trị và nhiều yếu tố liên quan mật thiết khác nữa.

Các dao động liên tục của giá cổ phần có một phần nguyên nhân do các lực lượng thị trường liên tục tương tác để tìm kiếm (còn gọi là hình thành) một giá trị cân bằng, biểu hiện qua “giá cân bằng.”

Trong các nền kinh tế phát triển nơi mà các thị trường tài chính và thị trường vốn vận hành hiệu quả, thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch các cổ phần được xem như một công cụ để đánh giá giá trị các doanh nghiệp, và từ đó có thể đánh giá giá trị của cả một nền kinh tế. 

6. Cổ đông (Shareholder)

Cổ đông có thể là một cá nhân hoặc một công ty sở hữu hợp pháp một lượng cổ phiếu nhất định của một công ty cổ phần. Các cổ đông thường được hưởng một số đặc quyền nhất định tùy thuộc vào loại cổ phiếu mà họ nắm giữ, trong đó có quyền biếu quyết đối với các vấn đề liên quan đến bầu cử hội đồng quản trị, quyền được hưởng thu nhập từ hoạt động của công ty, quyền được mua cổ phiếu mới phát hành của công ty, và quyền đối với tài sản của công ty nếu công ty tiến hành giải thể. Tuy nhiên quyền của cổ đông đối với tài sản của một công ty chỉ được xét đến sau khi công ty thanh toán xong với các chủ nợ. Điều đó có nghĩa là cổ đông có thể sẽ không nhận được gì nếu như công ty giải thể sau khi phá sản, không có khả năng trả nợ, cho dù sau đó cổ phiếu có thể sẽ lại có giá trị nếu công ty tiến hành cơ cấu lại nợ. Cổ đông hay người nắm giữ cổ phần cũng có thể được coi là một bộ phận nhỏ trong số các stakeholders. Stakeholder có thể là bất cứ ai có quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp tới một thực thể kinh doanh.

Mặc dù các giám đốc và nhân viên của một công ty luôn luôn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ hoạt động nhằm đem lại lợi ích lớn nhất cho cổ đông, nhưng thường các cổ đông lại không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ tương tự. Tuy nhiên trong một vài trường hợp, một số tòa án có thể sẽ ràng buộc trách nhiệm giữa các cổ đông. Ví dụ ở California, các cổ đông lớn của công ty bi ràng buộc bởi trách nhiệm không được có các hành động gây ảnh hưởng xấu đến giá trị cổ phiếu của các cổ đông nhỏ. Cổ đông lớn nhất (xét về tỉ lệ sở hữu công ty) thường là các quỹ tương hỗ (mutual funds).

© SAGA – saga.vn

TÀI SẢN VÔ HÌNH (Intangible asset) VÀ TÀI SẢN VÔ HÌNH XÁC ĐỊNH (Identifiable intangible assets)

LÊ PHƯƠNG TRANG 

Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất cụ thể. Ngày nay quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu, bản quyền, bí quyết kĩ thuật, thương hiệu, uy tín… là những tài sản vô hình phổ biến của doanh nghiệp. Có thể phân biệt được một cách rõ ràng một tài sản cố định vô hình của doanh nghiệp hay không thì phụ thuộc vào các đặc tính của tài sản đó. Uy tín của công ty có thể coi là một tài sản không xác định vì nó luôn gắn liền với sự tồn tại của công ty chừng nào công ty còn tồn tại. Tuy nhiên nếu công ty kí kết hợp đồng sử dụng bằng phát minh sáng chế của một công ty khác và không có ý định kéo dài hiệu lực của hợp đồng thì công ty chỉ được sử dụng bằng phát minh sáng chế này trong một thời hạn xác định. Khi đó bằng phát minh sáng chế trở thành một tài sản vô hình của công ty.

Mặc dù tài sản vô hình không có hình thái vật chất cụ thể như các trang thiết bị máy móc nhà xưởng khác của công ty nhưng nó lại rất có giá trị đối với công ty và có thể trở thành nhân tố quan trọng trong sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Ví dụ một công ty như Coca-Cola khó có thể đạt được vị trí như hiện tại nếu không có sự hỗ trợ tích cực của các nhãn hiệu. Nhãn hiệu này dù không có hình thái vật chất cụ thể để có thể cầm nắm được song nó lại được thừa nhận, được nhiều người biết đến, và có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, làm tăng doanh số bán hàng trên phạm vi toàn cầu. Chính vì thế việc sở hữu một nhãn hiệu mạnh là điều rất có ý nghĩa đối với các công ty lớn như Coca-Cola.

——————————-

Tài sản vô hình xác định là loại tài sản mà giá trị của chúng có thể được định rõ thông qua những nguyên tắc của kế toán. Chúng có thể được vốn hóa trực tiếp từ những khoản chi phí đã chi ra (trường hợp phát triển nội bộ) hoặc ghi theo giá mua (trường hợp mua ngoài). Dù được hình thành từ nguồn nào thì cũng được kế toán ghi nhận là một tài sản của doanh nghiệp.
Những cơ sở để ghi nhận tài sản vô hình xác định:
– Tài sản đó phải được xác định và nhận biết một cách cụ thể
– Tài sản đó phải đáp ứng được các tiêu chuẩn về tài sản vô hình đã quy định trong chế độ kế toán hiện hành của nước sở tại.
– Tài sản đó phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp và doanh nghiệp có thể chuyển giao tài sản cho bên thứ 2 một cách hợp pháp.
– Phải có bằng chứng đáng tin cậy về sự tồn tại của tài sản đó trong doanh nghiệp
– Những tài sản này thường mang lại lợi ích lớn hơn giá trị của bản thân tài sản đó (tức số chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được tài sản).

Một số tài sản vô hình xác định như:
– Tài sản vô hình liên quan tới hoạt động Marketing: thương hiệu, nhãn hiệu, logo…
– Tài sản vô hình liên quan tới kỹ thuật công nghệ: giấy đăng ký quy trình sản xuất, giấy đăng ký bản quyền, tài liệu về kỹ thuật công nghê ( những ghi chép trong phòng thí nghiệm, bí quyết kỹ thuật…)
–  Những tài sản vô hình liên quan tới nghệ thuật như: Các tác phẩm hay bản quyền tác giả…
– Tài sản vô hình liên quan tới việc xử lý dữ liệu: Những phần mềm máy tính có bản quyền, cơ sở dữ liệu số, Phần mềm kiểm soát mạng tích hợp nội bộ…
– Tài sản vô hình liên quan tới công việc thiết kế kỹ thuật: Kiểu dáng công nghiệp, đăng ký bản quyền sản phẩm, bí quyết thương hiệu, bản vẽ và biểu đồ kỹ thuật, bản thiết kế, chứng nhận quyền sở hữu…
– Tài sản vô hình liên quan tới khách hàng: danh sách khác hàng, các hợp đồng với khách hàng, quan hệ khách hàng…
– Tài sản vô hình về nguồn lực: đội ngũ lao động lành nghề, hợp đồng lai động, hợp đồng liên kết v.v…
Trên thị trường chứng khoán, tài sản vô hình xác định có thể được coi là một trong những nhân tố tác động tới thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Chẳng hạn một doanh nghiệp bỏ ra lượng chi phí nhất định cho việc nghiên cứu khoa học để có thể tìm ra một bí quyết mà nhờ đó lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên đáng kể (bí quyết sản xuất nước giải khát Cocacola là một điển hình). Động thái này sẽ làm giá cổ phiếu tăng vì người nắm giữ cổ phiếu có khả năng thu được những khoản lợi tức cao hơn trước.

© saga.vn