BÌNH LUẬN PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI – BÀN VỀ KHÁI NIỆM THƯƠNG MẠI VÀ PHẠM VI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP?

Vibonline – Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 là văn bản pháp luật đầu tiên của pháp luật Việt Nam đưa ra một khái niệm tương đối đầy đủ về trọng tài thương mại, theo đó thuật ngữ “thương mại” được giải thích như sau: Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li – xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”. (Điều 3).

Trong bối cảnh Pháp lệnh được ban hành vào thời điểm Luật Thương mại 1997 vẫn đang có hiệu lực nhưng các nhà lập pháp đã mạnh dạn đưa khái niệm thương mại theo hướng mở, tương thích với Luật mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của Uỷ ban Pháp luật Thương mại Quốc tế của Liên hợp quốc, mà không “bó buộc” trong 14 hành vi quy định trong Luật Thương mại 1997. Đây được coi là bước “đột phá” trong công tác lập pháp vào thời điểm đó. Tuy nhiên, qua hơn 4 năm áp dụng và thi hành trên thực tế cho thấy Pháp lệnh đã bộ lộ một số hạn chế nhất định.

Thứ nhất, đã có cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “thương mại” trong Pháp lệnh. Điều này dẫn đến tranh cãi trong việc xác định phạm vi giải quyết tranh chấp của trọng tài.

Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, mỗi năm tại Việt Nam có thêm hàng nghìn doanh nghiệp mới thuộc các loại hình khác nhau được thành lập. Điều đó cũng có nghĩa là sẽ có rất nhiều tranh chấp phát sinh liên quan đến việc góp vốn, quản lý và điều hành các doanh nghiệp này. Vấn đề đặt ra là những tranh chấp nội bộ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu có được giải quyết bằng trọng tài không? Có ý kiến cho rằng các loại tranh chấp này đương nhiên thuộc thẩm quyền của trọng tài bởi vì việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu cũng như việc góp vốn chính là hoạt động đầu tư, tài chính vì có bản chất kinh doanh thu lợi nhuận. Hơn nữa, cần phải hiểu tính “mở” của khái niệm thuật ngữ thương mại trong Pháp lệnh. Theo đó, ngoài việc liệt kê các hành vi thương mại, Pháp lệnh còn quy định các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật. Do vậy, bất kỳ quy định nào của pháp luật xác định lĩnh vực hoạt động là thương mại thì trọng tài đều có thẩm quyền giải quyết.

Continue reading

LUẬT MẪU VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

(Tài liệu số A/40/17, phụ lục I của Liên Hợp Quốc)

(Được ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế thông qua ngày 21 tháng 06 năm 1985)

Chương I: Những quy định chung

Điều 1: Phạm vi áp dụng [1]

1. Luật này áp dụng cho trọng tài thương mại[2] quốc tế, theo bất kỳ thoả thuận hiện hành nào giữa quốc gia này với quốc gia khác hoặc các quốc gia.

2. Những qui định của Luật này, trừ các điều 8, 9, 35 và 36 chỉ áp dụng nếu nơi tiến hành trọng tài là tại lãnh thổ của nước này.

3. Trọng tài là quốc tế nếu:

(a) Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; hoặc

(b) Một trong những địa điểm mà các bên có trụ sở kinh doanh sau đây được đặt ở ngoài quốc gia:

(i) Nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thoả thuận trọng tài;

(ii) Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất;

(c) Các bên đã thoả thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của thoả thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước.

4. Cũng là trọng tài quốc tế giống như qui định của khoản 3 điều này:

(a) Nếu một bên có nhiều trụ sở kinh doanh thì trụ sở kinh doanh sẽ là nơi có quan hệ chặt chẽ nhất với thoả thuận trọng tài.

(b) Nếu một bên không có trụ sở kinh doanh thì nơi cư trú thường xuyên sẽ được dẫn chiếu tới.

5. Luật này không ảnh hưởng đến luật khác của nước này với một số loại tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài hoặc có thể đưa ra trọng tài theo những qui định khác với qui định của luật này.

Continue reading

CÔNG ƯỚC VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH CÁC QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

Điều I

  1. Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các quyết định trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân. Công ước còn được áp dụng cho những quyết định trọng tài không được coi là quyết định trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu.
  2. Thuật ngữ “các quyết định trọng tài” bao gồm không chỉ những quyết định ra bởi các Trọng tài viên được chỉ định cho từng vụ mà còn bao gồm những quyết định ra bởi các tổ chức trọng tài thường trực được các bên đưa vụ việc ra giải quyết.
  3. Khi ký kết, phê chuẩn, hoặc gia nhập Công ước này, hoặc thông báo phạm vi áp dụng Công ước theo điều X, bất kỳ Quốc gia nào cũng có thể trên cơ sở có đi có lại, tuyên bố rằng Quốc gia đó sẽ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành các quyết định được đưa ra tại lãnh thổ một Quốc gia thành viên khác mà thôi. Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp lý, dù là quan hệ hợp đồng hay không, được coi là quan hệ thương mại theo pháp luật quốc gia của Quốc gia đó.

Điều II

1. Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết được bằng trọng tài.

  1. Thuật ngữ "thỏa thuận bằng văn bản” bao gồm điều khoản trọng tài trong một hợp đồng hoặc một thỏa thuận trọng tài được các bên ký kết hoặc được ghi trong thư tín trao đổi.
  2. Tòa án của một Quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó các bên đã có thỏa thuận theo nội dung của điều này, sẽ, theo yêu cầu của một bên, đưa các bên tới trọng tài, trừ khi Tòa án thấy rằng thỏa thuận nói trên không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được.

Continue reading

TRỌNG TÀI KINH TẾ: “NGƯỜI THỨ 3” CÔNG BẰNG

HẢI NGỌC

Giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Trọng tài kinh tế đã, đang và sẽ trở thành cách giải quyết hiệu quả, tích cực nhất mà DN lựa chọn. Các DN VN cũng nên "chơi" theo cách này để tránh các vụ kiện kinh tế không cần thiết trước tòa mà vẫn bảo toàn mối quan hệ hợp tác với bên tranh chấp – Đó là nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế và luật pháp.

Theo Chủ tịch Nguyễn Minh Chí – Trung tâm Trọng tài quốc tế VN (VIAC): Năm 2008, số lượng vụ kiện do VIAC tiếp nhận và xử lý lên con số 58 vụ, tại các nước phát triển, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế thông qua trọng tài thương mại rất phổ biến, nhất là ở những nước có nền kinh tế phát triển, cộng đồng DN VN chủ yếu bao gồm các DNNVV, DN quy mô gia đình nên việc đưa tranh chấp ra giải quyết bằng một thiết chế chính thức, trọng tài hay toà án, với các căn cứ pháp lý cụ thể là chưa nhiều.

DN vẫn thích dùng… “giải pháp tại chỗ”

Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài quốc tế VN, trong khoảng 2 năm trở lại đây, có gần 60% số vụ tranh chấp thương mại ở VN là xảy ra giữa các DN trong nước với các đối tác nước ngoài. Và DN VN hầu như vẫn thường thua thiệt trước các DN nước ngoài trong các cuộc chơi kinh tế do thiếu nhiều kinh nghiệm thương trường. Khi bất đồng quan điểm trong kinh doanh các bên đối tác lập tức xảy ra tranh chấp nhưng cách mà các DN VN thường làm là đưa sự việc ra tòa án địa phương để giải quyết.

Tiến sĩ Micheal Moser – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài kinh tế quốc tế HongKong (HKIAC) gọi đó là "giải pháp tại chỗ" và ông cho rằng giải pháp này không phải là cách hiệu quả để lấy được công bằng trong các vụ tranh chấp thương mại. Vì nếu DN VN muốn được giải quyết tranh chấp thương mại tại nước mình để hưởng các "ưu thế sân nhà" thì DN nước ngoài cũng vậy. Như vậy, các bên tranh chấp dù đã nhận được phán xét cuối cùng của tòa án cũng không thỏa mãn hoàn toàn, từ đó có thể dẫn đến việc cưỡng chế thi hành các quyết định của tòa án như bồi thường thiệt hại cũng khó thực hiện. Hơn nữa, chi phí cho các vụ kiện từ khi bắt đầu đến khi kết thúc có thể lớn gấp nhiều lần so với số tiền có thể bên thắng kiện được nhận. Do đó, để giải quyết dễ dàng và đảm bảo khách quan cho tất cả các bên trong tranh chấp, Tiến sĩ Moser khuyên các DN VN nên tìm công bằng tại một "người thứ ba" đó là các trọng tài kinh tế quốc tế.

Continue reading

PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HIỆU QUẢ

THS. VŨ ÁNH DƯƠNG  – VIAC

Trọng tài được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế bởi có nhiều tính ưu việt, đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp (DN).

Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Thống kê cho thấy, kể từ năm 2001 đến nay, trung bình Toà án Trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã thụ lý hơn 500 vụ việc mỗi năm. Các tổ chức trọng tài quốc tế khác cũng tiếp nhận và giải quyết một số lượng vụ việc tương đối lớn.

Tại Việt Nam, tuy mới được hình thành, nhưng trọng tài cũng được khuyến khích sử dụng trong một loạt các luật như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hàng hải… Hiện nay, Việt Nam đã có Pháp lệnh Trọng tài thương mại (ban hành năm 2003) là văn bản quy định khá chi tiết về trọng tài, trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Trọng tài vốn phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế bởi có nhiều tính ưu việt, đáp ứng được nhu cầu của các DN. Lợi thế đầu tiên khi DN lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp này là thủ tục tố tụng linh hoạt. Đây là một trong những tiêu chí mà các DN thường quan tâm khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp. Luật trọng tài các nước quy định thủ tục tố tụng trọng tài rất đơn giản, chủ yếu dựa trên thỏa thuận của các bên.

Các bên được tự do thỏa thuận về toàn bộ quá trình tố tụng và các hội đồng trọng tài có nghĩa vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận của các bên. Ví dụ, các bên có thể quyết định số lượng trọng tài viên của hội đồng trọng tài, cách thức chỉ định trọng tài viên, tiêu chuẩn trọng tài viên, thời gian giải quyết vụ tranh chấp, luật áp dụng, ngôn ngữ, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp…

Bên cạnh đó, tính trung lập, vô tư khách quan và chuyên nghiệp của hội đồng trọng tài cũng là yếu tố quan trọng để DN có thể tin cẩn lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp này. Với đặc thù là cơ chế giải quyết tranh chấp tư, thẩm quyền được hình thành dựa trên thỏa thuận của các bên, trọng tài luôn nhấn mạnh các tiêu chí vô tư, khách quan và trình độ của các trọng tài viên. Theo Điều 13 Pháp lệnh Trọng tài thương mại, các trọng tài viên có nghĩa vụ “vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ tranh chấp”.
Để đảm bảo tính trung lập và khách quan, một số trung tâm trọng tài đã đưa ra một số giới hạn về tiêu chí quốc tịch trọng tài viên. Theo Quy tắc tố tụng của ICC, trọng tài viên duy nhất hoặc Chủ tịch hội đồng trọng tài phải là người có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên tranh chấp (Điều 9 khoản 5).

Continue reading

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI NHẬT BẢN: NÉT ĐẶC THÙ CỦA PHÁP LÝ NHÂN LOẠI HỌC Á ĐÔNG

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI NHẬT BẢN 

1. Những đặc thù của xã hội Nhật bản và phương thức giải quyết tranh chấp thương mại truyền thống.

Nhật bản có ảnh hưởng từ nền pháp luật đương đại và hệ thống tư pháp  của Châu Âu hàng thế kỷ trước. Đất nước này cũng đã tiến hành tự do hoá hệ thống tư pháp nhằm tăng cường nhà nước pháp quyền trong quá trình dân chủ hoá hàng nửa thế kỷ trước đây. Tuy nhiên, người dân thường tại Nhật bản coi  pháp luật không hẳn là công cụ để giải quyết tranh chấp, mà là công cụ của Chính phủ, hoặc thậm chí là công cụ của nhà cầm quyền sử dụng để trừng phạt, như pháp luật của Trung quốc trước đây mà Nhật bản đã du nhập từ hồi cổ xưa. Nhật bản là đất nước thuần nhất về văn hoá, chủng tộc và chịu ảnh hưởng của đạo Khổng từ hơn một nghìn năm trước đây. Người dân Nhật bản chia sẻ cho nhau nhiều giá trị và hiểu nhau dễ dàng hơn người Mỹ – một đất nước được mô tả như một cái hũ chứa đựng mọi chủng tộc khác nhau.  Giá trị đạo đức được đặc biệt chú trọng tại Nhật bản hơn bất kỳ quốc gia  nào. Một lời xin lỗi cá nhân,  hay sự thể hiện lòng thông cảm,  thay bằng sự khẳng định độc đoán rằng vấn đề này là đúng, có thể ngăn được một tranh chấp thực sự, hoặc có thể làm đơn giản hoá việc giải quyết tranh chấp.   Pháp luật, vì thế  chỉ là hình thức[1], được coi là  “tatemae” (ý tưởng không thực tế, không tưởng) trong việc thiết lập những chuẩn mực và nguyên tắc pháp lý.[2]Đặc trưng của việc giải quyết tranh chấp thương mại một cách hoàn toàn không hình thức tại Nhật bản là ở chỗ, người dân nước này thường cố tránh  hình thức giải quyết tranh chấp tại Toà án và thay vào đó là giải quyết bằng hoà giải, hay bằng một phương thức không có sự can thiệp của bên thứ ba. [3]Điều này thể hiện ở tỉ lệ rất thấp các vụ kiện tụng, đặc biệt là trong các vụ tranh chấp hành chính mà Chính phủ là bị đơn,[4]và một mặt, theo đó, là quan điểm tự kiềm chế của Toà án, đối với các vụ kiện hành chính. Nói một cách khác,  quan niệm về pháp quyền của các cơ quan tư pháp còn hạn chế cả về số lượng cũng như chất lượng, và Toà án thông thường là rất hạn chế trong việc can thiệp vào các nhánh hành pháp và lập pháp. Ví dụ, năm 1997, tỉ lệ các vụ giải quyết tranh chấp tại Toà án của Nhật bản chỉ bằng 1/6 của nước Anh hoặc xứ Wales.Còn trước đó, năm 1990, tỉ lệ này còn thấp hơn, chỉ bằng 1/10 tại nước Anh và 1/15 của nước Đức.

Continue reading

PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI CÁC QUI ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CỦA QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI: NHỮNG ĐIỂM CÒN BẤT CẬP

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tư pháp

Hình thức và nội dung của Quyết định trọng tài được quy định trong pháp luật trọng tài của mọi quốc gia. Tuy nhiên, cách hiểu và áp dụng các quy định này ở các nước không hoàn toàn đồng nhất. Bài viết dưới đây của tác giả Đặng Hoàng Oanh tập trung bình luận, phân tích các quy định linh hoạt áp dụng cho hình thức và nội dung của Quyết định trọng tài trong pháp luật quốc tế và pháp luật các nước.

Tác giả cũng vận dụng cả lý luận và thực tiễn, bao gồm cả việc viện dẫn các vụ việc điển hình để phân tích, so sánh và chỉ ra những điểm còn bất cập của pháp luật trọng tài Việt Nam về hình thức và nội dung của quyết định trọng tài, đề xuất những kiến nghị để sửa đổi, bổ sung các quy định đó cho thêm tính thực tiễn và khả thi, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế về trọng tài thương mại.  Hy vọng rằng những phân tích và kiến nghị của bài viết này sẽ được cân nhắc, tham khảo trong quá trình xây dựng Luật trọng tài thương mại  của Việt Nam. 

1. Hình thức của Quyết định trọng tài:

Về cơ bản, hình thức của quyết định trọng tài được xác định theo 1) Thoả thuận trọng tài; và 2) Luật áp dụng cho trọng tài (the lex arbitri).  

Khác với pháp luật về trọng tài của nhiều nước, cũng như quy tắc tố tụng trọng tài của nhiều thiết chế trọng tài quốc tế, pháp luật Việt Nam không có một điều nào quy định  về hình thức của quyết định trọng tài. Tuy vậy, các quy định về nội dung của quyết định trọng tài tại Điều 44 Pháp lệnh trọng tài thương mại có thể cho chúng ta lý do để hiểu mặc nhiên rằng hình thức của quyết định trọng tài là bằng văn bản. Khoản 1 Điều 44 quy định “Chữ ký của các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất” hoặc khoản 2 “trường hợp có một trọng tài viên không ký vào quyết định trọng tài …”. Hành vi “ký” ở đây có thể cho chúng ta đương nhiên hiểu rằng quyết định trọng tài phải được lập bằng văn bản.  Quy định này cũng tương tự như quy định của Luật trọng tài của Pháp.[1]  Tuy nhiên, dù sao đi nữa, việc pháp luật của ta không có điều khoản quy định trực tiếp về hình thức của quyết định trọng tài cũng là vấn đề cần cân nhắc, tránh có những sự tuỳ tiện trong giải thích và áp dụng điều khoản này trên thực tế. Cũng cần nhấn mạnh rằng, pháp luật trọng tài của hầu hết các nước đều đòi hỏi rằng quyết định trọng tài phải được lập thành văn bản và phải có chữ ký của một hay nhiều trọng tài viên. Quy tắc trọng tài UNCITRAL, Điều 32 quy định quyết định trọng tài phải được lập thành văn bản; Quy tắc trọng tài ICSID, tại Điều 47 ; Điều 33 Luật trọng tài Thuỵ sỹ…[2]cũng có quy định tương tự.

Continue reading

PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM – QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – KHOA LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

1. Giới thiệu.

2. Quá trình phát triển pháp luật trọng tài ở Việt Nam.

3. Đánh giá Pháp lệnh Trọng tài 2003: Thành tựu và hạn chế.

4. Các vấn đề gây tranh cãi và đề xuất phương án giải quyết trong Dự thảo Luật Trọng tài.

5. Kết luận.

I. Giới thiệu

Hiện nay, Luật Trọng tài đang được soạn thảo và sẽ có hiệu lực vào cuối năm 2010 nếu được Quốc hội thông qua vào kỳ họp mùa thu năm 2009. Theo truyền thống làm luật tại Việt Nam, một Ban Soạn thảo gồm 7 thành viên đã được thành lập. Thành viên của Ban Soạn thảo là các quan chức cao cấp, bao gồm Thứ trưởng các Bộ Tư pháp, Công Thương, Phó chánh án Toà án nhân dân tối cao, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam [1]. Ban Soạn thảo có trách nhiệm soạn thảo một dự luật với các vấn đề pháp lý quan trọng về trọng tài, lấy ý kiến công chúng và trình Dự thảo cho các Uỷ ban liên quan của Quốc hội trước khi được thảo luận và thông qua tại phiên họp toàn thể của Quốc hội.

Nhằm phục vụ cho công việc của Ban soạn thảo, một nhóm chuyên gia đã được Hội Luật gia Việt Nam thành lập để tiến hành nghiên cứu pháp luật về trọng tài thương mại hiện hành của Việt Nam, thu thập và phân tích kinh nghiệm quốc tế và nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật trọng tài nhằm soạn thảo dự thảo thứ nhất của Luật Trọng tài. Chúng tôi đã thu thập văn bản pháp luật về trọng tài của 80 quốc gia trên thế giới, chúng tôi đã nghiên cứu Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế [2], chúng tôi đã tổ chức ít nhất 5 cuộc hội thảo quốc gia ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố khác để lấy ý kiến các chuyên gia pháp luật và các doanh nhân trên toàn quốc về Dự thảo Luật Trọng tài.

Continue reading

TRỌNG TÀI – PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NGOÀI TÒA ÁN CỦA TÂY BAN NHA

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Giải quyết tranh chấp ngoài Toà án (Alternative Dispute Resolution)[1] là phương thức giải quyết tranh chấp được ưa thích sử dụng tại mọi quốc gia. Cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Toà án thường bao gồm trọng tài, trung gian và hoà giải.

Bài viết dưới đây của tác giả Đặng Hoàng Oanh giới thiệu về hệ thống giải quyết tranh chấp ngoài Toà án tại Tây Ban Nha, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến trọng tài, một phương thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu, được sử dụng nhiều nhất trong thương mại quốc tế. Hy vọng bài viết sẽ  cung cấp thêm một số thông tin hữu ích, phục vụ việc soạn thảo Luật trọng tài thương mại của Việt Nam hiện nay.

Bài viết gồm 2 phần: Phần 1 giới thiệu chung về hệ thống giải quyết tranh chấp ngoài Toà án của Tây Ban Nha; Phần 2 đi sâu nghiên cứu các quy định cụ thể về trọng tài –  một phương thức giải quyết tranh chấp được các thương gia Tây Ban Nha ưa thích lựa chọn nhất, do những ưu việt vốn có của nó  so với phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống bằng Toà án.

I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NGOÀI TOÀ ÁN TẠI TÂY BAN NHA

Ở Tây Ban Nha, hệ thống trọng tài, trung gian và hoà giải được áp dụng để giải quyết các tranh chấp. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm về thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Toà án trên toàn lãnh thổ Tây Ban Nha, cũng chưa có một cơ quan đăng ký trung ương để lưu giữ hồ sơ về tổ tụng trọng tài. Những công việc này do các Cộng đồng tự trị tự mình thực hiện.

Năm 1984, chính quyền trung ương thành lập hệ thống để giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của người tiêu dùng hoặc người sử dụng. Nhờ đó, ở cấp trung ương, cũng như tại nhiều khu vực và vùng lãnh thổ, đã có các Hội đồng trọng tài. Các hội đồng này được lập ra để phân xử các vấn đề liên quan đến hoạt động tiêu dùng nói chung và bảo vệ người tiêu dùng. Ở cấp quốc gia, các Hội đồng trọng tài giải quyết đơn khiếu kiện của các hiệp hội người tiêu dùng và người sử dụng trong nước. Các Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực quan hệ thương mại phức tạp và loại trừ những xung đột có ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật. Theo hệ thống này, thông qua thoả thuận trước, các bên có thể yêu cầu một hoặc nhiều trọng tài viên giải quyết tranh chấp của mình. Sau khi giải quyết tranh chấp, các trọng tài viên có sáu tháng để công bố quyết định về vụ việc. Cách duy nhất để hoãn hoặc chấm dứt vụ việc trong thời hạn 6 tháng này là các bên phải thoả thuận về việc hoãn hoặc chấm dứt.

Continue reading

TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI: SẼ MẠNH HƠN

NGUYỄN TẤN

TBKTSG – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam vừa tổ chức lấy ý kiến đóng góp cho dự án Luật Trọng tài. Đây là dự luật có khá nhiều điểm đột phá với tham vọng để trọng tài “lột xác”, trở thành một công cụ giải quyết tranh chấp hiệu quả hơn.

Cởi trói cho trọng tài thương mại

Các chuyên gia cho rằng sự bó hẹp phạm vi thẩm quyền giải quyết là một trong những điểm bất cập của pháp luật hiện hành khiến cho trọng tài thương mại bị “trói tay trói chân” và kém thu hút với các bên tranh chấp. Hiện trọng tài thương mại chỉ được quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo những loại việc đã được liệt kê, xác định bởi pháp luật.

Do khái niệm hoạt động thương mại chưa được pháp luật quy định thống nhất nên theo Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, giảng viên khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, điều này chẳng những làm cho các trung tâm trọng tài không “đủ tự tin” để thụ lý các tranh chấp ở phạm vi rộng hơn (như tranh chấp về chứng khoán; tranh chấp giữa các cổ đông, thành viên công ty, liên doanh…) mà còn dẫn đến rủi ro các phán quyết trọng tài có thể bị tòa án hủy bất cứ lúc nào.

Ông Nghĩa dẫn chứng: trong một vụ án liên quan đến sân golf, tòa án đã không công nhận việc duy tu thảm cỏ sân golf là hành vi thương mại và do đó đã không chấp nhận thẩm quyền xét xử của trọng tài đối với vụ án này. Hoặc một vụ việc khác được giới trọng tài quan tâm là vụ Công ty Tyco Services Singapore Ltd. bị Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao tại TPHCM từ chối yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài bang Queensland của Úc. Lý do từ chối được đưa ra là vì hành vi “xây dựng” liên quan đến tranh chấp không được quy định là một hành vi thương mại.

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LUẬT TRỌNG TÀI

GS-TSKH Đào Trí Úc – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Luật gia Việt Nam, Ủy viên thường trực Ban soạn thảo Luật Trọng tài thương mại, Tổ trưởng Tổ biên tập Luật Trọng tài thương mại

1. Bối cảnh của việc xây dựng, đổi mới pháp luật về trọng tài

Bối cảnh kinh tế-xã hội, quốc tế

Hơn lúc nào hết, tranh chấp và giải quyết tranh chấp đang là vấn đề “nổi cộm” của nền kinh tế thế giới hiện nay. Có thể khẳng định như vậy bởi lẽ quá trình hội nhập quốc tế hiện nay đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, trong điều kiện đó mỗi quốc gia không thể đứng ngoài, tự tách mình khỏi quá trình hội nhập quốc tế. Đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, sản phẩm làm ra của mỗi tập đoàn không còn bó buộc trong một phạm vi và lãnh thổ nhất định, mà được gắn kết với nền kinh tế toàn cầu. Quá trình toàn cầu hoá và khu vực hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng, buộc các nhà sản xuất, kinh doanh không những nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng phục vụ, mà còn mở rộng hợp đồng với rất nhiều đối tác. Quá trình liên doanh, liên kết, mở rộng hợp đồng, sự phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ tư tất yếu sẽ nảy sinh những vấn đề tranh chấp. Sự ra đời của trọng tài như là một hệ quả tất yếu trong việc đa dạng hoá các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Pháp luật hoàn toàn cho phép các nhà kinh doanh, các cá nhân, tổ chức có quyền được lựa chọn mô hình mà mình yêu thích để giải quyết những tranh chấp phát sinh. Chính điều này đã tạo cơ sở cho sự ra đời của các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR), mà phương thức có vị trí quan trọng nhất trong số đó là giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Do đó, ở các nước trên thế giới, ngoài toà án, đều có một cơ quan tài phán khác là trọng tài.

Continue reading

BÌNH LUẬN VÀ GÓP Ý DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI (DỰ THẢO NGÀY 04/11/2008)

TS. PHAN HUY HỒNG – Đại học luật TP.HCM

I. BÌNH LUẬN CHUNG

1. Sự kế thừa

Bản thân Pháp lệnh Trọng tài thương mại (sau đây: PLTTTM hoặc Pháp lệnh) là một sự phát triển vượt bậc so với các quy định tiền thân về giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài trong Nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế, Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam và Quyết định số 114/TTg ngày 16/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về mở rộng thẩm quyền giải quyết trang chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam[1]. Bởi vì, với PLTTTM, lần đầu tiên Việt Nam có một cơ sở pháp lý thống nhất, tương đối đầy đủ, tương đối chặt chẽ để thực thi một phương thức giải quyết tranh chấp đã được chứng minh tính hiệu quả của nó tại các nước phát triển. Trên cơ sở PLTTTM đã có một số tranh chấp trong hoạt động thương mại được giải quyết tại các trung tâm trọng tài, trong đó đặc biệt tại Trung tâm Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC)[2]. Bên cạnh đó có một thực tế không được thể hiện trong các con số thống kê là đã có rất nhiều thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Việt Nam trong các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là trong các hợp đồng có yếu tố nước ngoài.

Các nhà soạn thảo PLTTTM cũng đã tham khảo Luật mẫu của UNCITRAL và luật nước ngoài, nên bản thân Pháp lệnh này đã đạt được một mức độ tương đồng nhất định với Luật mẫu và luật nước ngoài. Chính vì vậy, thương nhân nước ngoài cũng đã chấp nhận thỏa thuận giải quyết tranh chấp trước trọng tài Việt Nam.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

Dự thảo 0 (ngày 29/06/2008)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Nhằm tạo điều kiện cho các bên dân sự giải quyết tranh chấp nhanh chóng, kip thời và thuận lợi;

Luật này quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài.

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh (sửa đổi)

Luật này quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự theo sự thoả thuận của các bên.

Điều 2. Giải thích từ ngữ (sửa đổi)

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI: ÁP DỤNG CHO MỌI TRANH CHẤP

BÁ TÚ
Theo tổ chức Star – Vietnam, Dự thảo Luật Trọng tài thương mại của Việt Nam đang được soạn thảo có sự tiến bộ về nhiều mặt

Dự thảo đã thể hiện rất rõ nguyên tắc được quốc tế công nhận đó là những quy tắc áp dụng đối với quy trình tố tụng trọng tài sẽ do các bên thoả thuận. Dự thảo giúp cho pháp luật về trọng tài của Việt Nam tiến gần hơn tới các chuẩn mực quốc tế, cụ thể là Luật Trọng tài mẫu quốc tế UNCITRAL. Thậm chí dự thảo có một điểm khác biệt quan trọng so với luật mẫu đó là mở rộng phạm vi áp dụng với mọi loại tranh chấp chứ không hạn chế ở các tranh chấp thương mại.

Mở rộng thẩm quyền trọng tài

Nhìn chung, các quốc gia trên thế giới đều quan niệm trọng tài là mô hình giải quyết tranh chấp quan trọng. Tổng thư ký Trọng tài quốc tế (ICC) Jactson Fry đã khẳng định, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn có nhiều ưu thế, trong đó nổi bật là tính nhanh gọn, bí mật và phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm… Ông cũng nhấn mạnh, đây là con đường mà các DN nước ngoài tin tưởng và các DN Việt Nam cũng nên tin tưởng lựa chọn.

Continue reading

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG WTO

WTO TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Lời nói đầu

Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986-1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947). WTO được coi như một thành công đặc biệt trong sự phát triển thương mại và pháp lý cuỗi thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các hiệp định, thoả thuận, danh mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thương mại của các quốc gia thành viên.

Với các mục tiêu đầy tham vọng là thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại trên toàn cầu, nâng cao mức sống của người dân các nước thành viên và giải quyết các bất đồng về lợi ích giữa các quốc gia trong khuôn khổ hệ thống thương mại đa biên, sự vận hành của WTO đã và sẽ có tác động to lớn đối với tương lai lâu dài của kinh tế thế giới cũng như kinh tế của từng quốc gia. Theo tính toán, có tới trên 95% hoạt động thương mại trên thế giới hiện nay được điều chỉnh bởi các Hiệp định của Tổ chức này.

Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của WTO, một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức này đã được thiết lập. Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này.

Continue reading

XU HƯỚNG XỬ LÝ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI THÔNG QUA TRỌNG TÀI

DUY ĐỒNG

Thay vì “lôi” nhau đến toà án, các doanh nghiệp (DN) đang có xu hướng lựa chọn trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp bởi ưu điểm nhanh, rẻ và kín đáo.

Ngày 24/3/2006, một DN thủy sản của Việt Nam ký hợp đồng bán hàng thủy sảng cho DN của Nga, với tổng trị giá hợp đồng là 163.139 USD. Điều kiện giao hàng là CIF Vladivostok, thanh toán bằng điện chuyển tiền (T/T), bên mua sẽ thanh toán trước 60.000 USD trước khi hàng được bốc lên tàu và thanh toán nốt phần tiền còn lại trong 3 ngày làm việc sau khi nhận được vận đơn. Đến ngày 26/3/2006, DN Việt Nam đã yêu cầu DN của Nga thu xếp thanh toán trước bằng tiền mặt trước ngày 30/3/2006.

Số tiền 500 triệu đồng (tương đương 31.847 USD) đã được chuyển cho người bán và phía DN của Nga thông báo việc thanh toán phần tạm ứng còn lại (28.133 USD) sẽ được thực hiện vào ngày 29/3. Song, đại diện của bên bán hàng đã không tới nhận tiền tạm ứng, không trả lời fax của bên mua và cũng không thực hiện giao hàng cho bên mua.

Vụ việc đã được đưa lên trọng tài với yêu cầu của nguyên đơn (DN của Nga) là: bị đơn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng, giao hàng cho nguyên đơn số hàng tổng trị giá là 163.139 USD. Phía nguyên đơn cũng yêu cầu trọng tài cho niêm phong số hàng theo hợp đồng tại kho của bị đơn, nhằm ngăn chặn tình trạng bị đơn bán hàng cho bên thứ ba.

Continue reading

GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TRONG GIẢi QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ

TS. PHAN VĂN TÍNH – Viện trưởng Viện Rised

Nền kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình phát triển theo thể chế thị trường. Trong điều kiện mới này, tranh chấp kinh tế không những đơn thuần là tranh chấp giữa hai chủ thể giao kết hợp đồng kinh tế, mà còn có những tranh chấp dưới các dạng khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên trong công ty, tranh chấp về cổ phần cổ phiếu, tranh chấp giữa công ty và các thành viên của mình…

Theo Luật Thương mại của nước CHXHCN Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thì hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Như vậy, tranh chấp kinh tế là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển thì tranh chấp kinh tế ngày càng tăng lên.

Cơ sở pháp lý trong giải quyết các tranh chấp kinh tế

Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp kinh tế được thực hiện bằng một trong hai con đường: Một là, giải quyết tại Toà án Nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; hai là, giải quyết bằng trọng tài theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01/2004 của Chính phủ.

Continue reading

TÒA ÁN VÀ TRỌNG TÀI KINH TẾ: "GIÀNH NHAU" QUYỀN XỬ KIỆN

HOÀNG YẾN

Tòa nói theo nghị quyết thì mình được thụ lý vụ kiện. Trọng tài lại bảo theo pháp lệnh thì tòa phải từ chối thụ lý…

Tháng 7-2002, Công ty TNHH TS (huyện Thuận An, Bình Dương) và ông S. (Đài Loan) ký hợp đồng thành lập một công ty liên doanh với ngành nghề sản xuất gia công mộc mỹ nghệ. Thời gian hoạt động của công ty là 50 năm với tổng vốn là hơn 650.000 USD, trong đó ông S. góp 78%, phía công ty góp 22% bằng nhà xưởng, trang thiết bị. Hai bên thống nhất chọn ông S. làm tổng giám đốc, một đại diện phía Việt Nam làm phó tổng giám đốc.

Bất hòa

Trong quá trình hợp tác, phía Việt Nam cho rằng ông S. đã lạm quyền, vi phạm điều lệ công ty liên doanh, dẫn đến việc công ty bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính. Cụ thể ông S. tự ý mở phân xưởng mới không thông qua hội đồng quản trị, không xin phép, kết quả là bị Công an Bình Dương phạt 15 triệu đồng. Ngoài ra, ông còn cho doanh nghiệp khác gửi hàng vào container của công ty để xuất đi Đài Loan mà không khai báo hải quan, kết quả là bị Hải quan Đài Loan phát hiện, cảnh báo với Hải quan Việt Nam.

Continue reading

MỘT SỐ ĐIỂM BẤT CẬP CỦA PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỀ QUI ĐỊNH TUYÊN QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI THEO NGUYÊN TẮC ĐA SỐ

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Ra quyết định trọng tài theo nguyên tắc đa số là nguyên tắc phổ biến được quy định và áp dụng trong pháp luật về trọng tài tại Việt nam và hầu hết các nước. Tuy nhiên, cách hiểu và áp dụng nguyên tắc này tại Việt Nam và các nước lại có phần khác nhau.

Bài viết dưới đây tập trung bình luận, phân tích các quy định linh hoạt áp dụng cho nguyên tắc đa số khi ra quyết định trọng tài để thấy rõ nội hàm đầy đủ, cụ thể và chính xác của nguyên tắc này trong pháp luật các nước. Tác giả cũng vận dụng cả lý luận và thực tiễn để phân tích, so sánh và chỉ ra những điểm còn bất cập của pháp luật trọng tài Việt Nam liên quan đến nguyên tắc này, đề xuất những kiến nghị để sửa đổi, bổ sung các quy định đó cho thêm tính khả thi và tính thực tiễn, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế về trọng tài thương mại.  Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến nhiều khía cạnh của nguyên tắc thảo luận bắt buộc trước khi ra quyết định trọng tài, một điều vẫn xảy ra trên thực tế, nhưng vì chưa được quy định cụ thể và rõ ràng trong pháp luật Việt Nam nên rất có thể gây ít nhiều bất cập trong quá trình thực hiện. Hy vọng rằng những phân tích và kiến nghị của bài viết này sẽ được cân nhắc, tham khảo trong quá trình xây dựng Luật trọng tài thương mại sắp tới. 

1. Quyết định trọng tài

Trước hết cần khẳng định một trong những điểm nổi bật của Pháp lệnh trọng tài Thương mại năm 2003 (Pháp lệnh) so với pháp luật về trọng tài trước đây (Nghị định 116/CP  ngày 5 tháng 9 năm 1994 về về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế phi Chính phủ (Nghị định 116/CP) là tính được cưỡng chế thi hành của các phán quyết trọng tài. Có thể nói nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc trọng tài phi Chính phủ ở nước ta chưa thể hiện được vai trò và khả năng của mình, mặc dù được thành lập từ năm 1994, là tính không chung thẩm, không được cưỡng chế thi hành của Quyết định trọng tài.  Pháp lệnh 2003 đã khẳng định rõ hiệu lực của Quyết định trọng tài ngay tại Điều 6:

Continue reading