DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI CÓ Ý KIẾN BÌNH LUẬN CỦA CHUYÊN GIA NƯỚC NGOÀI

Dự thảo Luật này đã được một số chuyên gia Pháp và Liên Hợp quốc đóng góp ý kiến trong khuôn khổ các cuộc hội thảo do Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức ngày 4-5/06/2009 và 24-25/09/2009. Đó là các chuyên gia sau đây:

1. Bà Laurence Kiffer, Luật sư Văn phòng luật sư Teynier, Pic & Associés, Đoàn luật sư Paris, Cộng hòa Pháp

2. Ông Eric Teynier, Luật sư Văn phòng luật sư Teynier, Pic & Associés, Đoàn luật sư Paris, Cộng hòa Pháp

3. Bà Corinne Montineri, Ủy ban Liên Hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)

4. Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa thương mại, Tòa án tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp.

LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Về tiêu đề của Luật:

Chuyên gia Pháp đề xuất bỏ từ “thương mại” để mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài.

Chuyên gia Ủy ban Liên Hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) cho rằng nếu giữ lại từ “thương mại” thì phải xét xem liệu khái niệm “thương mại” trong luật Việt Nam có được hiểu theo nghĩa rộng không. Về vấn đề này, Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL nêu rõ “thuật ngữ thương mại phải được giải thích theo nghĩa rộng, nhằm bao hàm những vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ thương mại, hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng”.

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Quốc hội ban hành Luật Trọng tài thương mại.

Continue reading

DỰ ÁN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ SỰ TIẾP CẬN CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ

THS. VŨ ÁNH DƯƠNG – Phó Tổng thư ký Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam

Theo dự kiến, tại Kỳ họp thứ 7 diễn ra đầu năm 2010, Quốc hội Khóa XII sẽ xem xét, thông qua Dự án Luật trọng tài thương mại. Đây là dự án Luật có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta. Để góp phần vào việc nghiên cứu, hoàn thiện dự án Luật, bài viết đề cập đến quá trình hình thành, thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam, những hạn chế, nguyên nhân và yêu cầu, định hướng hoàn thiện nhằm tiếp cận các chuẩn mực trọng tài thương mại quốc tế.

1. Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam

1.1. Trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003

Trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (Pháp lệnh TTTM 2003), ở Việt Nam tồn tại hai loại hình trọng tài, đó là trọng tài kinh tế nhà nước và trọng tài phi chính phủ. Trọng tài kinh tế nhà nước là mô hình trọng tài do Nhà nước thành lập ra, có chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nước. Như vậy, thực chất, trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh tế, vừa thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nhà nước (1). Mô hình này được hình thành đầu tiên bằng Nghị định số 20/TTg ngày 14/4/1960. Sau đó, được nâng lên bằng Pháp lệnh Trọng tài kinh tế nhà nước năm 1990, theo đó, trọng tài được tổ chức ở ba cấp, đó là Trọng tài kinh tế nhà nước, Trọng tài kinh tế tỉnh và Trọng tài kinh tế huyện. Mô hình này tồn tại đến năm 1993 và bị thay thế bởi hệ thống tòa án kinh tế theo Luật sửa đổi một số điều của Luật Tổ chức tòa án năm 1993. Bắt đầu từ thời điểm này, các tòa án kinh tế sẽ giải quyết các tranh chấp kinh tế.

Đối với trọng tài phi Chính phủ, tồn tại hai mô hình khác nhau. Mô hình thứ nhất ra đời từ năm 1963 bằng Nghị định số 59/CP ngày 30/4/1963 của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập Hội đồng Trọng tài ngoại thương. Tiếp sau đó, ngày 5/10/1964, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 153/CP về việc thành lập Hội đồng Trọng tài hàng hải. Đến ngày 28/4/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 204/TTg về việc thành lập Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài ngoại thương và Hội đồng Trọng tài thương mại hàng hải. Mô hình trọng tài thứ hai là các trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ. Có 05 trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định này (02 Trung tâm tại thành phố Hà Nội, 01 Trung tâm tại thành phố Hồ Chí Minh, 01 Trung tâm tại Cần Thơ và 01 Trung tâm tại Bắc Giang).

Continue reading

SÁU NĂM THI HÀNH PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI: NHIỀU BẤT CẬP

THU HẰNG

Sau 6 năm thi hành Pháp lệnh trọng tài thương mại, đến nay theo thống kê của Hội Luật gia Việt Nam, tổng số trọng tài viên của các trung tâm trọng tài là 207 người, trong đó Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đã có đến 118 trọng tài viên. Theo khảo sát của Bộ Tư pháp thì có đến 30% số trọng tài viên được hỏi cho biết họ chưa bao giờ tham gia giải quyết một vụ tranh chấp thương mại nào, hơn 11% khác trả lời họ từng tham gia một vụ tranh chấp, số còn lại chủ yếu được tham gia từ 2 đến 5 vụ.

Trọng tài viên ít việc do việc sử dụng trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam thời gian qua là rất ít. Ngoại trừ Trung tâm trọng tài quốc tế VN là tổ chức có số vụ tranh chấp được thụ lý nhiều nhất, tuy nhiên cũng chỉ khoảng 20 vụ/năm (tức khoảng 0,5 vụ /trọng tài viên/năm). Nhiều trung tâm trọng tài từ ngày thành lập tới nay chưa giải quyết một vụ tranh chấp nào. Trong khi đó, thực tế xét xử của ngành tòa án thì ngày càng quá tải, đặc biệt tại một số thành phố lớn.

Có nhiều nguyên nhân trọng tài ít được sử dụng trong giải quyết tranh chấp. Theo ông Phạm Quốc Anh, chủ tịch Hội Luật gia VN thì 3 lý do được nói đến nhiều nhất là hiệu lực thi hành quyết định trọng tài thấp; nhiều người chưa tin tưởng và chưa biết đến phương thức này. Tuy nhiên, trọng tài ít việc cũng vì một nguyên nhân khác, đó là những bất cập trong cơ chế pháp luật hiện hành.

Phạm vi hẹp, chủ thể ít

Thuật ngữ “thương mại” lần đầu tiên được giải thích tương đối đầy đủ tại Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều cách hiểu về khái niệm dẫn đến tranh cãi trong việc xác định phạm vi giải quyết tranh chấp của trọng tài. Đó là những tranh chấp nội bộ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu có được giải quyết bằng trọng tài không? Có quan điểm cho rằng các tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài, tuy nhiên quan điểm khác lại cho rằng nó thuộc thẩm quyền của Tòa án. Do có nhiều cách hiểu nên các tranh chấp đưa ra trọng tài không được chắc chắn và nhiều bất an do các quyết định của trọng tài có nguy cơ không được tòa án công nhận và cho thi hành.

Continue reading

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI VÀ CƠ CHẾ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN

THS. BẠCH THỊ LỆ THOA -  Học viện Tư pháp

Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và nền kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình phát triển theo thể chế thị trường, các tranh chấp kinh tế không những đơn thuần là tranh chấp giữa hai chủ thể giao kết hợp đồng kinh tế, mà còn có những tranh chấp dưới các dạng khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên trong công ty, tranh chấp về cổ phần, cổ phiếu, tranh chấp giữa công ty và các thành viên của công ty… Vậy, khi phát sinh tranh chấp thì doanh nghiệp cần tìm đến tổ chức nào để giải quyết một cách có hiệu quả, nhanh gọn, tránh những tổn thất quá lớn cho doanh nghiệp?

Hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp ở Việt Nam chủ yếu được xét xử thông qua hệ thống Toà án và Trung tâm trọng tài. Tuy nhiên, một vấn đề nhận thấy rõ ràng là hệ thống Toà án đã trở nên quá tải, dẫn đến tăng lượng vụ tồn đọng, không kịp giải quyết, do đó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), trong khi Toà kinh tế Hà Nội trong năm 2007 phải xử gần 9.000 vụ án, trong đó có khoảng 300 vụ án kinh tế và Toà kinh tế thành phố Hồ Chí Minh phải xử gần 42.000 vụ án các loại, trong đó có 1.000 vụ án kinh tế, thì VIAC cũng chỉ tiếp nhận khoảng 30 vụ (1). Tính trung bình mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0, 25 vụ một năm, trong khi mỗi thẩm phán Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm và mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xử trên 50 vụ một năm.

Theo thống kê năm 2007 về giải quyết các vụ tranh chấp về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động, thì Toà án các tỉnh đã thụ lý 108.060 vụ; đã xử lý được 80.773 vụ. Ngoài ra, có 1.280 vụ được kháng cáo lên Toà án nhân dân tối cao. Những con số này ngoài việc cho thấy sự phổ biến việc xử lý các tranh chấp bằng Toà án còn cho thấy phần nào sự quá tải của hệ thống Toà án (2).

Continue reading

TẠI SAO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHÔNG “MẶN MÀ” VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI?

THS. LS. PHAN THÔNG ANH – Trọng tài viên – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Ở Việt Nam, trọng tài thương mại không phải là hình thức giải quyết tranh chấp mới xuất hiện.Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nước ta đã có các hình thức trọng tài như Hội đồng Trọng tài Ngoại thương, Hội đồng Trọng tài Hàng hải… Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà trong một thời gian dài trọng tài – với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại trong nền kinh tế vẫn chưa được nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí của nó. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại bằng trọng tài hiện đang đặt ra nhiều vấn đề đối với Việt Nam cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Về mặt lý luận, giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại bằng trọng tài đã và đang được giới luật gia Việt Nam, các doanh nghiệp cũng như nhà nước thừa nhận. Biểu hiện là sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài và hiện nay được Quốc hội đồng ý xây dựng dự thảo nâng lên thành Luật trọng tài thương mại.

Về mặt thực tiễn, các tổ chức trọng tài thương mại đã được thành lập và ngày càng phát triển. Đó là Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) được thành lập năm 1993 trên cơ sở sát nhập Hội đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài Hàng hải; ngoài ra còn có sáu (06) tổ chức trọng tài thương mại khác như Trung tâm Trọng tài Thương mại Hà Nội; Trung tâm Trọng tài Viễn Đông; Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế Á Châu (TP.Hà Nội), Trung tâm Trọng tài Thương mại TPHCM; Trung tâm Trọng tài Quốc tế Thái Bình Dương (TP.HCM); Trung tâm Trọng tài Thương mại Cần Thơ (TP.Cần Thơ).

Trên thực tiễn những tổ chức trọng tài này chủ yếu giải quyết các tranh chấp về hợp đồng thương mại quốc tế, còn với những tranh chấp về hợp đồng thương mại trong nước thì rất hạn chế, nguyên nhân do đâu xảy ra tình trạng nêu trên, tại sao doanh nghiệp Việt Nam chưa thật sự “mặn mà” với việc đem tranh chấp của mình ra giải quyết tại trọng tài, theo thống kê có đến hơn 95 % tranh chấp hợp đồng thương mại trong nước được đưa ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Continue reading

DỰ ÁN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ SỰ TIẾP CẬN CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ

THS. LÊ KIM NGUYỆT – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Theo dự kiến, tại Kỳ họp thứ 7 diễn ra đầu năm 2010, Quốc hội Khóa XII sẽ xem xét, thông qua Dự án Luật trọng tài thương mại. Đây là dự án Luật có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta. Để góp phần vào việc nghiên cứu, hoàn thiện dự án Luật, bài viết đề cập đến quá trình hình thành, thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam, những hạn chế, nguyên nhân và yêu cầu, định hướng hoàn thiện nhằm tiếp cận các chuẩn mực trọng tài thương mại quốc tế.

1. Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam

1.1. Trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003

Trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (Pháp lệnh TTTM 2003), ở Việt Nam tồn tại hai loại hình trọng tài, đó là trọng tài kinh tế nhà nước và trọng tài phi chính phủ. Trọng tài kinh tế nhà nước là mô hình trọng tài do Nhà nước thành lập ra, có chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nước. Như vậy, thực chất, trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh tế, vừa thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nhà nước (1). Mô hình này được hình thành đầu tiên bằng Nghị định số 20/TTg ngày 14/4/1960. Sau đó, được nâng lên bằng Pháp lệnh Trọng tài kinh tế nhà nước năm 1990, theo đó, trọng tài được tổ chức ở ba cấp, đó là Trọng tài kinh tế nhà nước, Trọng tài kinh tế tỉnh và Trọng tài kinh tế huyện. Mô hình này tồn tại đến năm 1993 và bị thay thế bởi hệ thống tòa án kinh tế theo Luật sửa đổi một số điều của Luật Tổ chức tòa án năm 1993. Bắt đầu từ thời điểm này, các tòa án kinh tế sẽ giải quyết các tranh chấp kinh tế.

Continue reading

TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRỰC TUYẾN – CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TỐI ƯU CHO MỘT NỀN THƯƠNG MẠI HIỆN ĐẠI

THS. TRẦN ANH HUY – Công ty Luật hợp danh INVENCO

Quan niệm mới và cách tiếp cận mới:

Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đang trở thành dòng chảy chủ đạo như hiện nay, thương mại quốc tế ngày càng phát triển. và trở thành một chủ đề quan trọng trong hầu hết các buổi nghị sự của các tổ chức quốc tế. Sự phát triển thương mại quốc tế đã kéo theo sự phát triển của nhiều yếu tố khác, một trong các nội dung đó là luật pháp và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.

Thật vậy, ngày càng có nhiều công ước quốc tế, hiệp định song phương liên quan đến thương mại quốc tế ra đời, thậm chí còn có cả Tổ chức thương mại thế giới WTO được xây dựng để điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các nước. Thực tế là khi quan hệ thương mại quốc tế phát triển bao nhiêu thì đồng thời kéo theo sự ra đời của những hệ thống pháp luật mới để quản lý nó. chúng ta biết rằng trước kia thương mại quốc tế chỉ được hiểu là mua bán hàng hoá quốc tế. Tuy nhiên hiện nay các vấn đề khác như dịch vụ, đầu tư,.. cũng được hiểu là thương mại. Phương thức mua bán cũng thay đổi nhiều hơn, trước kia chủ yếu là mua bán hàng hoá quốc tế và chuyên trở bằng tầu biển, nhưng hiện nay còn có thể mua bán qua mạng internet….Sự phát triển của thương mại quốc tế như vậy đặt ra cho chúng ta, những người nghiên cứu về luật pháp thương mại quốc tế là các cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại cũng như các cơ sở pháp lý hiện có có đủ khả năng đáp ứng cho các hoạt động thương mại quốc tế hay không. Nếu không đủ phải thay đổi như thế nào? Chúng ta cần nhận thức rằng pháp luật cũng như các cơ chế giải quyết tranh chấp được ra đời là để:1- tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế; 2- đảm bảo công bằng cho các bên liên quan; 3 – đảm bảo pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.

Continue reading

LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

THS. TRẦN MINH NGỌC

Ở Việt Nam, khi bàn tới vấn đề luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế, người ta thường chỉ nhắc tới luật điều chỉnh nội dung tranh chấp và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài mà chưa dành sự quan tâm đáng kể tới luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài. Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài khác với luật điều chỉnh nội dung tranh chấp (từ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài. Luật này được sử dụng để điều chỉnh các vấn đề liên quan tới thoả thuận trọng tài như sự giải thích, tính hợp pháp, hiệu lực, phạm vi, và huỷ bỏ thoả thuận trọng tài[1]. Bài viết tập trung trả lời cho câu hỏi: Luật nào sẽ giải quyết vấn đề hiệu lực của thoả thuận trọng tài?

1. Điều khẳng định trước tiên là, thoả thuận trọng tài phải tuân thủ luật của nước được áp dụng đối với thoả thuận trọng tài (dù là một điều khoản trong hợp đồng hay một thoả thuận được lập ngoài hợp đồng vào thời điểm phát sinh tranh chấp) nếu các bên mong muốn tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài chứ không phải là một phương pháp khác; hơn nữa là, phán quyết trọng tài cuối cùng sẽ có hiệu lực và được bảo đảm thi hành. Trên thực tế, hiệu lực của thoả thuận trọng tài được xem xét trong hai trường hợp sau đây:

Trường hợp 1: Khi xuất hiện một sự phản đối thẩm quyền của trọng tài được đưa ra trước hội đồng trọng tài

Đây là trường hợp một khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài được gửi tới hội đồng trọng tài khi hội đồng đang trong quá trình giải quyết vụ việc nhưng chưa đưa ra phán quyết cuối cùng. Khiếu nại về thẩm quyền trọng tài khá đa dạng, đó có thể là sự viện dẫn về sự không rõ ràng trong lựa chọn toà án hay trọng tài của thoả thuận trọng tài, hay lựa chọn một tổ chức trọng tài không có trên thực tế để xét xử tranh chấp v.v.. Để xác định xem trọng tài có thẩm quyền không, lúc này cần phải căn cứ vào thoả thuận trọng tài. Nhìn chung, trong trường hợp này, các trọng tài viên đều tôn trọng luật do các bên thoả thuận lựa chọn điều chỉnh thoả thuận trọng tài để xác định tính hợp pháp của thoả thuận trọng tài. Nếu các bên đã không có bất kỳ sự thoả thuận chọn luật nào như vậy, thực tiễn trọng tài thường đi theo các hướng giải quyết khác nhau[2]. Có ba hướng giải quyết chính sau đây:

Continue reading

HỦY QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI: CHẾ ĐỊNH CÒN NHIỀU BẤT CẬP TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

ĐẶNG HOÀNG HOANH – Vụ Hợp tác quốc tế- Bộ Tư pháp

Sự thành công của trọng tài quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết định trọng tài có được thi hành hay không. Rõ ràng không có gì làm thất vọng các bên kinh doanh bằng việc bỏ ra những tốn kém khổng lồ về công sức và tiền của để rồi chỉ có được một quyết định trọng tài không được thi hành. Điều mà các bên mong muốn trong giải quyết tranh chấp thương mại, đương nhiên là sự đền bù về tiền bạc, chứ không phải là một tờ giấy ghi phán quyết. Các bên kinh doanh sẽ không bao giờ lựa chọn trọng tài một khi họ không tin tưởng vào tính thi hành của quyết định trọng tài.

Ngược lại, giao lưu thương mại sẽ trở nên trôi chảy nếu các thương gia biết rõ rằng tranh chấp của họ có thể được giải quyết một cách hiệu quả. Việc xác định được tính thi hành của quyết định trọng tài sẽ ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư trong sự lựa chọn có nên giải quyết tranh chấp hay không, bằng trọng tài hay Toà án, chọn trọng tài ở đâu và trong một số trường hợp có thể dẫn cả tới quyết định quan trọng của họ là có nên kinh doanh nữa hay không.

Một trong những yếu tố đảm bảo cho tính có thể thi hành của phán quyết trọng tài là các quy định về huỷ quyết định trọng tài phải rất hợp lý và chặt chẽ, tránh trường hợp quyết định trọng tài có thể bị bên thua kiện yêu cầu huỷ một cách tuỳ tiện.

So với quy tắc tố tụng của các thiết chế trọng tài quốc tế, cũng như pháp luật về trọng tài của các nước, thì Pháp lệnh trọng tài thương mại của Việt Nam dành một số lượng điều khoản nhiều hơn cả[i] để quy định về vấn đề huỷ quyết định trọng tài, từ các nguyên tắc huỷ quyết định trọng tài, cho đến thủ tục, trình tự huỷ quyết định trọng tài.

Continue reading

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DỰ KIẾN CỦA LUẬT TRỌNG TÀI (Dự thảo 4)

1 – Mục tiêu:

Mục tiêu quan trọng nhất của Luật Trọng tài là tạo một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án thuận lợi cho các bên, đặc biệt là các bên tham gia các hoạt động thương mại, đầu tư. Trong giao dịch dân sự thường này, nhất là giao dịch kinh tế thương mại, việc phát sinh tranh chấp là không thể tránh khỏi; và giải quyết nhanh chóng, hiệu quả, công bằng các tranh chấp này sẽ góp phần thúc đẩy các hoạt động dân sự, kinh tế, thương mại, đầu tư; tạo sự yên tâm cho các bên ngay từ khi mới hình thành quan hệ dân sự và cả khi có phát sinh tranh chấp.

Do vậy, việc ban hành Luật trọng tài nhằm mục tiêu của luật trọng tài nhằm khuyến khích việc giải quyết tranh chấp thông qua hệ thống trọng tài, qua đó giảm tải công việc cho hệ thống toà án. Luật trọng tài được ban hành dự kiến nhằm giảm tải khoảng 10% số lượng tranh chấp kinh tế cho toà án, chuyển sang giải quyết thông qua hệ thống trọng tài vào năm 2015.[1] Ngoài ra, dự thảo luật còn nhằm góp phần làm phát triển cả về quy mô và chất lượng của hệ thống trọng tài và các trọng tài viên ở Việt Nam.

2. Thực trạng vấn đề của hệ thống trọng tài Việt nam hiện nay và nguyên nhân.

2.1. Thực trạng vấn đề

Vấn đề lớn nhất hiện nay là trọng tài tại Việt Nam rất ít được sử dụng để giải quyết các tranh chấp đầu tư và thương mại; các hợp đồng với các bên nước ngoài nhất là hợp đồng có trị giá lớn hầu như không lựa chọn trọng tài tại Việt Nam để giải quyết tranh chấp. Các tranh chấp ở Việt nam hiện vẫn chủ yếu được giải quyết thông qua hệ thống toà án hoặc trọng tài nước ngoài. Continue reading

DỰ THẢO BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT TRỌNG TÀI (Bản báo cáo tóm tắt)

1 – Mục tiêu:

Trong giao dịch dân sự thường này, nhất là giao dịch kinh tế thương mại, việc phát sinh tranh chấp là không thể tránh khỏi; và giải quyết nhanh chóng, hiệu quả, công bằng các tranh chấp này sẽ góp phần thúc đẩy các hoạt động dân sự, kinh tế, thương mại, đầu tư; tạo sự yên tâm cho các bên ngay từ khi mới hình thành quan hệ dân sự và cả khi có phát sinh tranh chấp.

Do vậy,  mục tiêu quan trọng nhất của Luật Trọng tài là tạo một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án thuận lợi cho các bên, đặc biệt là các bên tham gia các hoạt động thương mại, đầu tư. Dự kiến việc ban hành và thực hiện Luật trọng tài sẽ giảm tải khoảng 10% số lượng tranh chấp kinh tế cho toà án, chuyển sang giải quyết thông qua hệ thống trọng tài vào năm 2015.[1] Ngoài ra, luật còn nhằm góp phần làm phát triển cả về quy mô và chất lượng của hệ thống trọng tài và các trọng tài viên ở Việt Nam.

II. Thực trạng vấn đề của hệ thống trọng tài Việt nam hiện nay và nguyên nhân.

1. Thực trạng vấn đề

Vấn đề lớn nhất hiện nay là trọng tài tại Việt Nam rất ít được sử dụng để giải quyết các tranh chấp đầu tư và thương mại; các hợp đồng với các bên nước ngoài nhất là hợp đồng có trị giá lớn hầu như không lựa chọn trọng tài tại Việt Nam để giải quyết tranh chấp. Các tranh chấp ở Việt nam hiện vẫn chủ yếu được giải quyết thông qua hệ thống toà án hoặc trọng tài nước ngoài.

Theo thống kê năm 2007 về giải quyết các vụ tranh chấp về dân sự, kinh doanh thương mại và lao động, thì toà án các tỉnh đã thụ lý 108.060 vụ; đã xử lý được 80.773 vụ. Ngoài ra, có 1.280 vụ được kháng cáo lên toà án tối cao.[2] Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), trong khi VIAC (1 trong 7 tổ chức trọng tài lớn nhất Việt Nam và có số vụ kiện thụ lý nhiều nhất Việt Nam) cũng chỉ tiếp nhận khoảng 30 vụ,[3] tính trung bình, mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0,25 vụ một năm, thì mỗi thẩm phán ở tòa kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm và mỗi thẩm phán ở tòa kinh tế Thành phố HCM xử trên 50 vụ một năm.

Trên thế giới, nhiều tranh chấp kinh tế, thương mại vẫn tiếp tục được giải quyết bằng trọng tài, ví dụ tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Singapore (119 vụ), Hiệp hội Trọng tài Mỹ (621 vụ);  Toà án Trọng tài Quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại Quốc tế ICC (599 vụ); Hội đồng Trọng tài Thương mại và Kinh tế Trung Quốc (1.118 vụ); Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông (448 vụ)[4]

Hệ thống khung pháp luật điều chỉnh hoạt động của trọng tài hiện nay mặc dù có những đóng góp to lớn cho việc đặt nền móng hình thành và phát triển hệ thống trọng tài, nhưng còn những bất cập, làm cho hệ thống trọng tài chưa trở thành phương thức hấp dẫn và hiệu quả để các bên lựa chọn giải quyết các tranh chấp liên quan (trình bày cụ thể trong phần dưới đây).[5]

Việc các tranh chấp chủ yếu được xét xử thông qua hệ thống toà án và Trong tâm trọng tài quốc tế ở nước ngoài có thể gây ra những tác động tiêu cực cho doanh nghiệp và phát triển kinh tế, thương mại ở nước ta. Hệ thống toà án đã trở nên quá tải dẫn đến làm ảnh hưởng đến chất lượng vụ xét xử sơ thẩm, tăng việc vụ việc xét xử phúc thẩm, kéo dài thời gian xử lý, tăng lượng vụ tồn đọng, không kịp giải quyết; do đó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc xử lý các tranh chấp tại trung tâm trọng tài ở nước ngoài có thể gây ra bất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam về chi phí, thời gian đi lại, ngôn ngữ, tiện lợi, ….

Continue reading

THỜI HẠN KHIẾU NẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI: PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN TÀI PHÁN VÀ CÁC QUAN ĐIỂM

TS. PHAN HUY HỒNG – Đại học Luật TPHCM

Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) không còn quy định: “quá thời hạn khiếu nại, bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại trọng tài, toà án có thẩm quyền” như khoản 1 Điều 241 Luật Thương mại 1997 (LTM 1997). Thực tế lập pháp đó làm nảy sinh vấn đề: tòa án hay trọng tài phải quyết định như thế nào trong trường hợp tương tự, khi không còn quy định rõ ràng về hậu quả pháp lý của việc bỏ qua thời hạn khiếu nại?

I. Thời hạn khiếu nại theo LTM 1997 và thực tiễn tài phán

1. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 không quy định về thời hạn khiếu nại. Bởi vậy, vấn đề này không hề xuất hiện trong thực tiễn tài phán liên quan đến Pháp lệnh này. Thậm chí, Pháp lệnh này cũng không quy định thời hiệu khởi hiện như các văn bản pháp luật nội dung sau này. Tuy nhiên, các bên hợp đồng kinh tế cũng chỉ có quyền yêu cầu Trọng tài kinh tế giải quyết tranh chấp trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày xảy ra vi phạm hợp đồng kinh tế hoặc từ ngày một bên cho là đã có vi phạm xảy ra (1). Thời hạn sáu tháng này sau đó cũng được Pháp lệnh về thủ tục xét xử các vụ án kinh tế năm 1994 tiếp nhận dưới hình thức thời hiệu khởi kiện (2). Dường như cả hai pháp lệnh này đều đã thể hiện chức năng đặc thù của pháp luật thương mại là đòi hỏi các tranh chấp phát sinh phải sớm được các bên tìm cách giải quyết thông qua quy định về thời hạn yêu cầu giải quyết tranh chấp hay thời hiệu khởi kiện ngắn (3).

2. LTM 1997 không thay thế Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, bởi vì phạm vi điều chỉnh của Luật này hẹp hơn, chỉ là hoạt động thương mại theo nghĩa hẹp, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân, được cụ thể hóa bằng 14 hành vi thương mại khác nhau (4), trong đó dịch vụ thương mại chỉ bao gồm các dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa (5). Như vậy, xét từ góc độ pháp luật hợp đồng thì Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 là luật chung (lex generalis), còn các quy định về hợp đồng trong LTM 1997 là luật riêng (lex specialis). Bản thân LTM 1997 không quy định rõ mối quan hệ giữa Luật này với Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (6), nhưng các cơ quan tài phán đều tuân theo nguyên tắc: Đối với các hoạt động thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM 1997 thì áp dụng quy định của Luật này, chỉ khi Luật này không điều chỉnh một vấn đề nào đó liên quan đến hợp đồng thì mới áp dụng quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế. Chẳng hạn, do LTM 1997 không điều chỉnh vấn đề hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động thương mại, nên việc xem xét hợp đồng đó có vô hiệu hay không được căn cứ quy định tại Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (7).

Continue reading

BÌNH LUẬN PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI – BÀN VỀ KHÁI NIỆM THƯƠNG MẠI VÀ PHẠM VI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI

VIAC

Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 là văn bản pháp luật đầu tiên của pháp luật Việt Nam đưa ra một khái niệm tương đối đầy đủ về trọng tài thương mại, theo đó thuật ngữ “thương mại” được giải thích như sau: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li – xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”. (Điều 3).

Trong bối cảnh Pháp lệnh được ban hành vào thời điểm Luật Thương mại 1997 vẫn đang có hiệu lực nhưng các nhà lập pháp đã mạnh dạn đưa khái niệm thương mại theo hướng mở, tương thích với Luật mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của Uỷ ban Pháp luật Thương mại Quốc tế của Liên hợp quốc, mà không “bó buộc” trong 14 hành vi quy định trong Luật Thương mại 1997. Đây được coi là bước “đột phá” trong công tác lập pháp vào thời điểm đó. Tuy nhiên, qua hơn 4 năm áp dụng và thi hành trên thực tế cho thấy Pháp lệnh đã bộ lộ một số hạn chế nhất định.

Thứ nhất, đã có cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “thương mại” trong Pháp lệnh. Điều này dẫn đến tranh cãi trong việc xác định phạm vi giải quyết tranh chấp của trọng tài.

Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, mỗi năm tại Việt Nam có thêm hàng nghìn doanh nghiệp mới thuộc các loại hình khác nhau được thành lập. Điều đó cũng có nghĩa là sẽ có rất nhiều tranh chấp phát sinh liên quan đến việc góp vốn, quản lý và điều hành các doanh nghiệp này. Vấn đề đặt ra là những tranh chấp nội bộ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu có được giải quyết bằng trọng tài không? Có ý kiến cho rằng các loại tranh chấp này đương nhiên thuộc thẩm quyền của trọng tài bởi vì việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu cũng như việc góp vốn chính là hoạt động đầu tư, tài chính vì có bản chất kinh doanh thu lợi nhuận. Hơn nữa, cần phải hiểu tính “mở” của khái niệm thuật ngữ thương mại trong Pháp lệnh. Theo đó, ngoài việc liệt kê các hành vi thương mại, Pháp lệnh còn quy định các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật. Do vậy, bất kỳ quy định nào của pháp luật xác định lĩnh vực hoạt động là thương mại thì trọng tài đều có thẩm quyền giải quyết.

Continue reading

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP: TRONG TÀI ADHOC HAY TRỌNG TÀI QUI CHẾ

VIAC

Theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như quốc tế, hiện có hai hình thức trọng tài được sử dụng là Trọng tài vụ việc và Trọng tài quy chế. Tùy thuộc vào ý chí, điều kiện thực tế, thói quen hay nội dung của tranh chấp, các bên đương sự sẽ quyết định lựa chọn cho mình một hình thức trọng tài phù hợp. Bài viết dưới đây đưa ra những phân tích về ưu, nhược điểm của từng hình thức với mong muốn giúp các cá nhân và tổ chức kinh doanh lựa chọn cho mình một hình thức trọng tài để giải quyết một cách hiệu quả nhất các tranh chấp đã, đang và sẽ phát sinh trong quá trình kinh doanh. 

1. Trọng tài vụ việc (adhoc)

Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ “Trọng tài vụ việc”. “Trọng tài vụ việc” có thể được hiểu là hình thức trọng tài được lập ra theo yêu cầu của các đương sự để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi tranh chấp đó đã được giải quyết. “Trọng tài vụ việc có nghĩa là trọng tài không được tiến hành theo quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực. Do các bên không bắt buộc phải tiến hành trọng tài theo quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực, họ có thể tự do quy định quy tắc tố tụng riêng. Nói cách khác, trọng tài vụ việc là trọng tài tự tiến hành (do it yourself arbitration)”[1].

Ưu điểm

Ưu điểm cơ bản của hình thức Trọng tài vụ việc đó là quyền tự định đoạt của các bên là rất lớn. Thủ tục giải quyết của Trọng tài vụ việc hoàn toàn docác bên tự thỏa thuận cho riêng họ và các Trọng tài viên phải tuân theo. Điều này đòi hỏi sự hợp tác của các bên để thực hiện một cách đầy đủ và hiệu quả và y và nhiều thời gian vì các bên phải tthỏa thuận chi tiết về việc tiến hành quá trình tố tụng.

Bên cạnh đó, việc tiến hành Trọng tài vụ việc có chi phí thấp và thời gian giải quyết nhanh. Với việc lựa chọn hình thức trọng tài này, các bên sẽ không phải trả thêm các khoản chi phí hành chính cho các trung tâm trọng tài (thông thường khoản chi phí này không nhỏ). Ví dụ, theo Quy tắc tố tụng của Tòa án Trọng tài quốc tế ICC, khi nộp đơn kiện, Nguyên đơn phải nộp một khoản phí đăng ký là 2.500 USD và khoản phí này sẽ không được hoàn lại trong bất kỳ điều kiện nào. Mức phí hành chính tối đa mà ICC yêu cầu các bên phải nộp có thể lên tới 75.800 USD[2]. Theo Quy tắc Tố tụng của Viện Trọng tài Stockhoml Thụy Điển, khi nộp đơn kiện, Nguyên đơn cũng phải nộp một khoản phí đăng ký là 1.500 Euro và khoản phí này sẽ không được hoàn lại trong bất kỳ trường hợp nào.

Ngoài ra, đối với Trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận bỏ qua một số thủ tục tố tụng không cần thiết để rút ngắn thời gian giải quyết vụ tranh chấp.

Continue reading

BÌNH LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI: BÀN VỀ CHẾ ĐỊNH THỎA THUẬN TRỌNG TÀI

VIAC

Các quy định về Thỏa thuận trọng tài được quy định tại Chương I và II của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 (Pháp lệnh). Pháp lệnh đã làm rõ được khái niệm hình thức và giá trị của Thỏa thuận trọng tài cũng như tính độc lập của điều khoản trọng tài so với hợp đồng. Về cơ bản, những quy định này tương thích với các quy định của Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của UNCITRAL (Luật Mẫu) và pháp luật trọng tài của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, Pháp lệnh chưa bao quát được một cách đầy đủ về tính đồng bộ và hệ thống các quyđịnh về Thỏa thuận trọng tài. Cụ thể:

Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ ngoài hợp đồng hay không?

Trong phần định nghĩa về Thỏa thuận trọng tài (Điều 2 Khoản 2), Pháp lệnh chưa làm rõ được vấn đề tranh chấp phát sinh từ quan hệ ngoài hợp đồng có được giải quyết bằng Trọng tài hay không. Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền của Trọng tài cũng như việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài. Theo Điều 2 Khoản 2 của Pháp lệnh thì Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng Trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại. Như chúng ta đều biết, quan hệ thương mại rất đa dạng và phong phú. Nhiều quan hệ có thể xác định bằng hợp đồng cụ thể được ký kết giữa các bên. Tuy nhiên, cũng có nhiều tranh chấp không phát sinh từ quan hệ hợp đồng, ví dụ tranh chấp phát sinh do việc đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như tàu đâm va cầu cảng, tàu đâm va nhau v.v…

Hiểu theo định nghĩa trên thì các tranh chấp không có quan hệ hợp đồng cũng có thể được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài. Do đó, để hạn chế tối đa những rủi ro trong việc áp dụng luật, Pháp lệnh cần cụ thể hóa việc xác định thẩm quyền của Trọng tài tương thích với Luật Mẫu. “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa ra Trọng tài mọi tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng” (Điều 7 Khoản 1). Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài cũng quy định rất rõ về vấn đề này “Mỗi quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản, theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài” (Điều II). Luật Trọng tài của hầu hết các nước trên thế giới như Luật Trọng tài Anh, Luật Trọng tài Đức, Luật Trọng tài Hàn Quốc, Luật Trọng tài Nga, Luật Trọng tài Nhật Bản v.v… đều quy định các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng đều được giải quyết bằng Trọng tài.

Continue reading

HỦY QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI: CHẾ ĐỊNH CÒN NHIỀU ĐIỀU BẤT CẬP TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp 

Tiếp theo một số bài viết đã đăng phân tích một số tồn tại của Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam (về hình thức và nội dung của Quyết định trọng tài, về tuyên quyết định trọng tài theo nguyên tắc đa số, về công nhận và thi hành quyết định trọng tài…), chúng tôi xin giới thiệu bài viết về huỷ quyết định trọng tài – một chế định đang tồn tại trong pháp luật Việt Nam với rất nhiều điều bất cập. Ngoài việc mổ xẻ, phân tích, lập luận để thấy rõ những quy định vô lý của pháp luật hiện hành về trọng tài, tác giả còn vận dụng và dẫn chiếu kinh nghiệm nước ngoài để đưa ra các đề xuất cụ thể cho việc xây dựng Luật trọng tài thương mại hiện nay.

Sự thành công của trọng tài quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết định trọng tài có được thi hành hay không. Rõ ràng không có gì làm thất vọng các bên kinh doanh bằng việc bỏ ra những tốn kém khổng lồ về công sức và tiền của để rồi chỉ có được một quyết định trọng tài không được thi hành. Điều mà các bên mong muốn trong giải quyết tranh chấp thương mại, đương nhiên là sự đền bù về tiền bạc, chứ không phải là một tờ giấy ghi phán quyết. Các bên kinh doanh sẽ không bao giờ lựa chọn trọng tài một khi họ không tin tưởng vào tính thi hành của quyết định trọng tài. Ngược lại, giao lưu thương mại sẽ trở nên trôi chảy nếu các thương gia biết rõ rằng tranh chấp của họ có thể được giải quyết một cách hiệu quả. Việc xác định được tính thi hành của quyết định trọng tài sẽ ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư trong sự lựa chọn có nên giải quyết tranh chấp hay không, bằng trọng tài hay Toà án, chọn trọng tài ở đâu và trong một số trường hợp có thể dẫn cả tới quyết định quan trọng của họ là có nên kinh doanh nữa hay không.

Một trong những yếu tố đảm bảo cho tính có thể thi hành của phán quyết trọng tài là các quy định về huỷ quyết định trọng tài phải rất hợp lý và chặt chẽ, tránh trường hợp quyết định trọng tài có thể bị bên thua kiện yêu cầu huỷ một cách tuỳ tiện.

So với quy tắc tố tụng của các thiết chế trọng tài quốc tế, cũng như pháp luật về trọng tài của các nước, thì Pháp lệnh trọng tài thương mại của Việt Nam dành một số lượng điều khoản nhiều hơn cả[i] để quy định về vấn đề huỷ quyết định trọng tài, từ các nguyên tắc huỷ quyết định trọng tài, cho đến thủ tục, trình tự huỷ quyết định trọng tài.

Cần phải nhấn mạnh một điều rằng, trong Chương về huỷ quyết định trọng tài, Pháp lệnh không làm rõ quyết định trọng tài thuộc đối tượng được các bên yêu cầu huỷ là quyết định gì. Theo Điều 37 và một số điều khác của Pháp lệnh, thì có rất nhiều loại quyết định trọng tài.[ii] Tuy nhiên, để làm rõ vấn đề này, điểm 5 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 31 tháng 7 năm 2003 hướng dẫn thi hành một số quyết định của Pháp lệnh trọng tài thương mại (Nghị quyết) đã xác định rõ quyết định trọng tài thuộc đối tượng bị các bên yêu cầu huỷ là quyết định trọng tài nêu tại Điều 44.[iii]

Continue reading

THUYẾT MINH CHI TIẾT DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

1. Giới thiệu tổng quan về dự thảo Luật Trọng tài

1.1. Kế thừa sự phát triển từ Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP, dựa trên thực tiễn hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, nhất là trong hai thập kỷ từ khi thực thi Nghị định số 116/CP năm 1996 về trung tâm trọng tài kinh tế, thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập, dự thảo Luật trọng tài quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài như một phương thức nhằm giải quyết một cách hiệu quả, nhanh chóng các tranh chấp trong đời sống kinh doanh, thương mại và dân sự. Dự thảo luật Luật trọng tài gồm XIV chương với 74 điều.

1.2. Tôn trọng và bảo vệ thoả thuận của các bên dân sự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dự thảo Luật trọng tài nhằm vào các mục đích: (i) quy định một thủ tục tố tụng trọng tài nhanh chóng, công bằng, hiệu quả và thuận lợi, (ii) đảm bảo sự hỗ trợ hiệu quả của toà án để các hội đồng trọng tài tuân thủ đúng tố tụng, các quyết định và phán quyết của trọng tài có hiệu lực và được thi hành, (iii) tạo điều kiện cho trọng tài viên và tổ chức trọng tài phát triển trong bối cảnh Việt Nam thực thi các cam kết về thương mại dịch vụ khi hội nhập kinh tế quốc tế.

1.3. Luật trọng tài về cơ bản là một luật tố tụng riêng so với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2005. Dựa vào quy định của Luật trọng tài này các tổ chức trọng tài hoặc hội đồng trọng tài vụ việc có thể xây dựng quy tắc tố tụng cụ thể. Về từng nội dung chi tiết của dự luật, bản thuyết minh dưới đây làm rõ mục đích của quy phạm, các phương án lựa chọn và giải pháp mà Ban soạn thảo ưu tiên.

2. Phạm vi điều chỉnh và tên gọi của đạo luật

2.1. Trong quá trình soạn thảo Luật trọng tài có hai loại ý kiến về phạm vi điều chỉnh của dự luật. Nhóm ý kiến thứ nhất đề xuất giới hạn phạm vi điều chỉnh của pháp luật trọng tài trong các giao dịch thương mại của thương nhân, có xem xét mở rộng khái niệm thương mại cho phù hợp với Luật thương mại năm 2005 và các cam kết mà Việt Nam đã tham gia về thương mại quốc tế. Quan điểm này dựa trên các lập luận: thứ nhất, số lượng các vụ việc được giải quyết tại 08 trung tâm trọng tài thương mại hiện nay chưa nhiều (Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC với 140 trọng tài viên thụ lý 48 vụ trong năm 2008), khả năng và uy tín chuyên môn của các trọng tài viên của một số trung tâm cần được nâng cao hơn nữa; thứ hai, Luật mẫu của Uỷ ban Luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (Uncitral Model Law 2006) cũng nhấn mạnh thẩm quyền của trọng tài vào các tranh chấp thương mại. Vì vậy nhóm ý kiến thứ nhất này cho rằng chưa nên mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật trọng tài và xác định tên gọi của đạo luật là Luật trọng tài thương mại.

Continue reading

LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

THS. TRẦN MINH NGỌC – Đại học Luật Hà Nội

Ở Việt Nam, khi bàn tới vấn đề luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế, người ta thường chỉ nhắc tới luật điều chỉnh nội dung tranh chấp và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài mà chưa dành sự quan tâm đáng kể tới luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài. Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài khác với luật điều chỉnh nội dung tranh chấp (từ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài. Luật này được sử dụng để điều chỉnh các vấn đề liên quan tới thoả thuận trọng tài như sự giải thích, tính hợp pháp, hiệu lực, phạm vi, và huỷ bỏ thoả thuận trọng tài[1]. Bài viết tập trung trả lời cho câu hỏi: Luật nào sẽ giải quyết vấn đề hiệu lực của thoả thuận trọng tài?

1. Điều khẳng định trước tiên là, thoả thuận trọng tài phải tuân thủ luật của nước được áp dụng đối với thoả thuận trọng tài (dù là một điều khoản trong hợp đồng hay một thoả thuận được lập ngoài hợp đồng vào thời điểm phát sinh tranh chấp) nếu các bên mong muốn tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài chứ không phải là một phương pháp khác; hơn nữa là, phán quyết trọng tài cuối cùng sẽ có hiệu lực và được bảo đảm thi hành. Trên thực tế, hiệu lực của thoả thuận trọng tài được xem xét trong hai trường hợp sau đây:

Trường hợp 1: Khi xuất hiện một sự phản đối thẩm quyền của trọng tài được đưa ra trước hội đồng trọng tài

Đây là trường hợp một khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài được gửi tới hội đồng trọng tài khi hội đồng đang trong quá trình giải quyết vụ việc nhưng chưa đưa ra phán quyết cuối cùng. Khiếu nại về thẩm quyền trọng tài khá đa dạng, đó có thể là sự viện dẫn về sự không rõ ràng trong lựa chọn toà án hay trọng tài của thoả thuận trọng tài, hay lựa chọn một tổ chức trọng tài không có trên thực tế để xét xử tranh chấp v.v.. Để xác định xem trọng tài có thẩm quyền không, lúc này cần phải căn cứ vào thoả thuận trọng tài. Nhìn chung, trong trường hợp này, các trọng tài viên đều tôn trọng luật do các bên thoả thuận lựa chọn điều chỉnh thoả thuận trọng tài để xác định tính hợp pháp của thoả thuận trọng tài. Nếu các bên đã không có bất kỳ sự thoả thuận chọn luật nào như vậy, thực tiễn trọng tài thường đi theo các hướng giải quyết khác nhau[2]. Có ba hướng giải quyết chính sau đây:

Thứ nhất, một số trọng tài viên đã đưa ra phán quyết rằng, nếu thiếu vắng sự chọn luật của các bên, thoả thuận trọng tài sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước nơi tiến hành trọng tài (place of arbitration). Nguyên tắc này được thể hiện trong nhiều phán quyết của toà án trọng tài thuộc Phòng thương mại và công nghiệp Bungari, nó cũng nhận được sự đồng tình của các trọng tài viên thuộc Hiệp hội trọng tài Mỹ AAA. Trong vụ Baques Centroamericanos v. Petroleo SA (1988), Hội đồng đã tuyên rằng: Luật Mỹ sẽ được áp dụng để xem xét hiệu lực của thoả thuận trọng tài vì trọng tài đã được tiến hành tại New York.

Continue reading

VỀ KHÁI NIỆM CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI KINH TẾ

NGUYỄN TRUNG TÍN – Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật

Trong số các văn bản pháp luật về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế ở Việt Nam hiện nay chúng ta mới có Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995 mà chưa có các quy định về việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài kinh tế trong nước. Trong các bản Dự thảo Pháp lệnh về trọng tài hiện nay ở nước ta, vấn đề này đã được đề cập.

Bài viết này nhằm mục đích làm sáng tỏ khái niệm công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế với mong muốn góp phần vào việc soạn thảo Pháp lệnh về trọng tài hiện nay ở nước ta.

Quyết định của trọng tài kinh tế được đề cập ở đây là quyết định cuối cùng (quyết định về thực chất vụ việc)(1 ). Để làm sáng tỏ khái niệm công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế, cần phải xác định rõ các vấn đề sau:

– Thế nào là công nhận quyết định của trọng tài kinh tế?

– Thế nào là thi hành quyết định của trọng tài kinh tế?

– Thế nào là công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế?

– Có quyết định trọng tài kinh tế chỉ cần công nhận mà không cần thi hành hay không?

– Có quyết định trọng tài kinh tế vừa cần công nhận và vừa cần thi hành không?

– Mục đích công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế là gì?

– Khái niệm công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế khác với khái niệm công nhận và thi hành quyết định của tòa án kinh tế như thế nào?

– Việc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế được tiến hành ở đâu?

1. Định nghĩa về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế

“Công nhận” theo Từ điển Tiếng Việt là sự thừa nhận trước mọi người một điều gì đó là phù hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc với thể lệ, luật pháp. Trong khi đó, “Thi hành” là việc làm cho điều gì đó trở thành hiệu lực (được thực hiện trên thực tế) điều đã được chính thức quyết định(2 ). Quyết định của trọng tài trên thực tế chỉ liên quan tới các bên tranh chấp, trong đó bên bất lợi trong việc công nhận và thi hành quyết định ấy phải thực hiện những hành vi nhất định mà anh ta không mong muốn trước khi đưa tranh chấp ra trọng tài. Thế nhưng vấn đề đặt ra là bên bị bất lợi đó (nguyên đơn hoặc bị đơn) có phải là người công nhận và thi hành quyết định đó hay không? Nếu có, thì sự công nhận như vậy được thể hiện như thế nào? Về mặt pháp lý và thực tiễn hoạt động của trọng tài, quyết định của trọng tài có thể được thực thi theo một trong hai cách sau đây:

Continue reading