THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: KHÓ ĐẢM BẢO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NGƯỜI THẮNG KIỆN

PHẠM DÂN

Những năm gần đây, tình trạng tranh chấp đất trong nội bộ nhân dân gia tăng. Ở một địa phương, theo thống kê chưa đầy đủ, trong tổng số vụ hòa giải không thành, các bên đương sự phải khởi kiện ra tòa án vì tranh chấp đất đai chiếm hơn 50% tổng số vụ tranh chấp dân sự. Điều đáng quan tâm là những vụ tranh chấp này thường diễn ra khá gay gắt từ phiên sơ thẩm, kháng cáo rồi đến phúc thẩm; án đã có hiệu lực pháp luật nhưng người bị tòa án bác yêu cầu vẫn không chịu thi hành, tiếp tục gửi đơn đề nghị xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm; hoặc quay trở lại khởi kiện theo thủ tục hành chính, làm cho tình hình trở nên phức tạp.

Khi giải quyết tranh chấp, tòa án chấp nhận yêu cầu đồng nghĩa với việc ghi nhận tính pháp lý về quyền sử dụng đất cho người thắng kiện và ngược lại. Thế nhưng, khi đất đã được giao, người thắng kiện không dễ gì thực hiện được các quyền của người sử dụng đất. Cụ thể là, khi tiến hành sửa chữa nhà cửa hoặc xây dựng công trình cơ bản thường gặp phải sự chống đối quyết liệt của người vừa thua kiện. Mặc dù vụ việc đã được tòa án xét xử bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, nhưng khi bên thua kiện có hành vi cản trở thì người thắng kiện phải khởi kiện một vụ án dân sự khác, với nội dung “yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”. Tất nhiên, việc điều tra, xét xử vụ kiện này cũng dựa trên kết quả bản án, quyết định mà Tòa án đã xét xử trước đó, buộc đối tượng phải chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất. Những bản án này thường mang hình thức: điều tra, xét xử để đưa ra một bản án, nhưng thực chất chỉ để khẳng định lại một lần nữa tính hợp pháp của người có quyền sử dụng thửa đất đó. Bản án xét xử tranh chấp quyền sử dụng đất bác yêu cầu của bên nào thì bản án sau cũng sẽ buộc bên đó “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”.

Tổ chức thi hành, cưỡng chế buộc “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất” thực chất là áp dụng điều 119 luật Thi hành án dân sự về “cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định”. Tuy nhiên, gặp phải các trường hợp này, cơ quan thi hành án rất lúng túng, không biết tổ chức thi hành theo phương thức nào. Bản án tuyên “buộc chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”, nhưng khi nào buộc và buộc một người khi nào phải chấm dứthành vi cản trở? Những thuật ngữ pháp lý này khó xác định nội hàm, do đó đã làm nảy sinh một số vướng mắc, dễ bị lạm dụng hoặc thực hiện một cách tùy tiện.

Continue reading

MỘT DẠNG VI PHẠM PHỔ BIẾN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

PHẠM DÂN

Theo quy định tại Điều 4 và 5 Luật Thi hành án dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; trong quá trình tổ chức thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong thực tế, các quy định này không phải lúc nào cũng được thực hiện nghiêm túc.

Khi thụ lý, giải quyết các đơn khởi kiện tranh chấp về quan hệ vay mượn, mua bán, tặng cho tài sản (tiền, vàng hoặc lợi ích vật chất khác), Tòa án thường phải tiến hành hòa giải rất nhiều lần, chủ yếu thuyết phục, động viên các bên thống nhất với nhau về cách thức, phương pháp và thời gian trả nợ nhằm giảm bớt sự hao tốn về thời gian và công sức. Trong các buổi hòa giải, nguyên đơn bao giờ cũng đưa ra yêu cầu trả nhanh và phải trả một lần; ngược lại bị đơn thường cố “kèo nài” được trả chậm, trả nhiều lần, làm cho không khí hòa giải diễn ra căng thẳng. Tuy nhiên, nếu các bên đều thể hiện thiện chí của mình thì cách thức, phương pháp trả nợ cũng có thể được thống nhất một cách nhanh chóng. Việc thỏa thuận này được pháp luật tôn trọng, dựa trên nguyên tắc “tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận” theo quy định của Bộ luật Dân sự và không trái với đạo đức xã hội. Tuy nhiên, thỏa thuận trả như thế nào, bao nhiêu lần, mỗi lần bao nhiêu… thì Tòa án phải ban hành quyết định (có giá trị như một bản án), trên cơ sở nội dung các bên đã thống nhất trong biên bản hòa giải. Khi yêu cầu của mỗi bên không được đáp ứng thì Tòa án mới quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Bản án Tòa tuyên trong trường hợp này với tinh thần buộc bị đơn phải trả nợ một lần; các quyết định công nhận có ghi rõ thời gian, số tiền phải trả kèm theo các điều kiện khác theo thoả thuận. Luật Dân sự còn quy định, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì ngoài việc có nghĩa vụ trả nợ gốc còn phải chịu lãi suất ngân hàng theo từng thời điểm, tương ứng với thời gian chậm thanh toán.

Continue reading

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ ĐƯỢC TRAO ĐỔI VẬT CHỨNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

L.T.N

Nội dung vụ việc như sau: Tại Bản án số 45/2007/HSST ngày 28/11/2007 của TAND huyện Phổ Yên tỉnh T.Ng xét xử đối với Trần Anh Minh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202, Bộ luật hình sự (BLHS) đã tuyên xử như sau:

“… Tuyên phạt bị cáo Trần Anh Minh 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 202, BLHS cấm bị cáo lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng: áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) ô tô hạng B2 số Z641341 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 26/6/2006 mang tên Trần Anh Minh (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007)…”.

Bản án không có kháng cáo, kháng nghị và ngày 28/12/2007, Bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

Hồ sơ thi hành án tại CQTHADS huyện Phổ Yên thể hiện như sau: tại biên bản giao nhận vật chứng vụ án giữa Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và CQTHADS huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007 thể hiện việc VKSND đã chuyển đầy đủ vật chứng vụ án, trong đó có GPLX ô tô hạng B2 số Z641341 mang tên Trần Anh Minh cho CQTHADS bảo quản theo đúng quy định.

Tuy nhiên, khi kiểm tra vật chứng vụ án trên tại Kho vật chứng của CQTHADS thì không có GPLX ô tô số Z641341. Qua tìm hiểu, được biết vì GPLX ô tô số Z641341 bị Cơ quan Điều tra thu giữ và TAND huyện Phổ Yên đã tuyên tạm giữ đến ngày 30/6/2009 là hết hạn sử dụng. Tháng 6/2009, CQTHADS huyện Phổ Yên đã cho đương sự Trần Anh Minh mượn GPLX trên để Trần Anh Minh đổi GPLX mới và yêu cầu Trần Anh Minh mang GPLX ô tô hạng B2 có số AK 832395 mang tên Trần Anh Minh đã đổi đến nộp cho CQTHADS huyện Phổ Yên để tạm giữ theo quyết định của Bản án.

Đối với vụ việc như trên thì có 2 quan điểm xử lý như sau:

Continue reading

THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN: VƯỚNG VỀ TRÌNH TỰ THỦ TỤC

NGUYÊN NHUNG

Trong buổi tọa đàm về Quy trình, thủ tục thi hành các bản án có tài sản là bất động sản và các giải pháp bảo đảm tính thống nhất cho quy trình này, do Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức, những vướng mắc về trình tự thủ tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (THADS) được đặc biệt quan tâm.

Về thời hạn ra quyết định thi hành án, theo quy định tại Khoản 2 Điều 36, luật THADS 2008, thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định THA trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án. Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 44 của Luật lại quy định: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu xác minh của người được thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành việc xác minh; trường hợp thi hành án quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải xác minh ngay”. Quá trình THADS cho thấy, người được THA thường yêu cầu cơ quan THA xác minh điều kiện THA của người phải THA, yêu cầu này cũng được xác lập từ thời điểm nộp đơn yêu cầu THA.

Như vậy, thời hạn ra quyết định THA thông thường sẽ sớm hơn thời hạn thực hiện việc xác minh, dẫn đến tình trạng đã có quyết định THADS mới có kết quả xác minh là chưa đủ điều kiện THA, lúc này cơ quan THADS ra quyết định trả lại đơn yêu cầu THADS là không hợp lý. Vì vậy, cần kéo dài thời hạn để ra quyết định THADS hơn thời hạn xác minh yêu cầu THA. Sau khi có kết quả xác minh điều kiện THADS, cơ quan THADS ra quyết định trả lại đơn yêu cầu THA hoặc quyết định THA, tùy theo kết quả xác minh. Như vậy sẽ hợp lý hơn và giảm được án tồn đọng chưa có điều kiện thi hành, khi nào đương sự chứng minh hoặc yêu cầu cơ quan THADS xác minh lại… cơ quan THADS lại thụ lý giải quyết. Mặt khác, quá trình xác minh điều kiện THA có liên quan đến bất động sản được tiến hành ở nhiều cơ quan, tổ chức như: xác minh trực tiếp đối với bất động sản, xác minh tại UBND xã/phường, cơ quan quản lý đất đai, cơ quan quản lý quy hoạch, kiến trúc, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm… mất nhiều thời gian của chấp hành viên, nếu không có sự nhiệt tình hỗ trợ của các cơ quan chức năng liên quan. Vì vậy, quy định thời hạn 10 ngày chấp hành viên phải xác minh là quá ngắn, không đủ thời gian để thu thập thông tin cần thiết và chính xác về bất động sản – tài sản bảo đảm thi hành.

Continue reading

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ ĐƯỢC TRAO ĐỔI VẬT CHỨNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

L.T.N

Nội dung vụ việc như sau: Tại Bản án số 45/2007/HSST ngày 28/11/2007 của TAND huyện Phổ Yên tỉnh T.Ng xét xử đối với Trần Anh Minh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202, Bộ luật hình sự (BLHS) đã tuyên xử như sau:

“… Tuyên phạt bị cáo Trần Anh Minh 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 202, BLHS cấm bị cáo lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng: áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) ô tô hạng B2 số Z641341 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 26/6/2006 mang tên Trần Anh Minh (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007)…”.

Bản án không có kháng cáo, kháng nghị và ngày 28/12/2007, Bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

Hồ sơ thi hành án tại CQTHADS huyện Phổ Yên thể hiện như sau: tại biên bản giao nhận vật chứng vụ án giữa Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và CQTHADS huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007 thể hiện việc VKSND đã chuyển đầy đủ vật chứng vụ án, trong đó có GPLX ô tô hạng B2 số Z641341 mang tên Trần Anh Minh cho CQTHADS bảo quản theo đúng quy định.

Tuy nhiên, khi kiểm tra vật chứng vụ án trên tại Kho vật chứng của CQTHADS thì không có GPLX ô tô số Z641341. Qua tìm hiểu, được biết vì GPLX ô tô số Z641341 bị Cơ quan Điều tra thu giữ và TAND huyện Phổ Yên đã tuyên tạm giữ đến ngày 30/6/2009 là hết hạn sử dụng. Tháng 6/2009, CQTHADS huyện Phổ Yên đã cho đương sự Trần Anh Minh mượn GPLX trên để Trần Anh Minh đổi GPLX mới và yêu cầu Trần Anh Minh mang GPLX ô tô hạng B2 có số AK 832395 mang tên Trần Anh Minh đã đổi đến nộp cho CQTHADS huyện Phổ Yên để tạm giữ theo quyết định của Bản án.

Đối với vụ việc như trên thì có 2 quan điểm xử lý như sau:

Continue reading

MÔ HÌNH TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA

Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Tư tưởng nổi bật của Nghị quyết là phải tiến hành cải cách và đổi mới mạnh mẽ công tác thi hành án ở Việt Nam. Điều này được thể hiện thông qua bốn nội dung cơ bản, bao gồm: một là, xây dựng Bộ luật Thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực về thi hành án; hai là, xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất công tác thi hành án; ba là, chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án từ Bộ Công an sang Bộ Tư pháp; bốn là, từng bước xã hội hoá các hoạt động thi hành án.

Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là những nội dung đổi mới này được xây dựng và thực hiện dựa trên một mô hình tổ chức thi hành án như thế nào, hệ thống các cơ quan quản lý thi hành án của Việt Nam được sắp xếp và tổ chức lại như thế nào để đáp ứng yêu cầu của các nội dung cải cách đó, kinh nghiệm về mô hình tổ chức thi hành án của các nước trong khu vực và trên thế giới ra sao,…? Có thể nói, về mặt thực tiễn, đây là những vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên việc nghiên cứu, khảo cứu kinh nghiệm pháp luật, thực tiễn thi hành án của các nước trên thế giới, đặc biệt về các mô hình thi hành án là rất cần thiết hiện nay. Từ đó tổng kết, đúc rút ra những bài học kinh nghiệm quốc tế quý báu để lựa chọn cho Việt Nam một mô hình tổ chức thi hành án thích hợp, qua đó từng bước nâng cao hiệu quả công tác thi hành án trong thời gian tới. Phạm vi bài viết này đề cập đến mô hình tổ chức thi hành án của một số nước trên thế giới:

1. Tại Cộng hoà Pháp

Cả thi hành án dân sự và thi hành án hình sự đều tập trung ở Bộ Tư pháp, do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý.

Thi hành các bản án, quyết định về dân sự do các văn phòng hoặc công ty Thừa phát lại thực hiện mà trực tiếp là các Thừa phát lại. Các văn phòng, công ty Thừa phát lại được tổ chức và hoạt động theo mô hình của các công ty thương mại. Tư cách Thừa phát lại rất linh hoạt, họ vừa là viên chức tư pháp, viên chức công quyền, bổ trợ viên tư pháp vừa là một nghề tự do, có tư cách hoạt động độc lập. Điều đáng lưu ý là họ hoạt động bằng nguồn kinh phí, thù lao do các bên yêu cầu thi hành án trả mà Nhà nước không phải mất một khoản tài chính nào chi trả lương cho họ, thậm chí nhờ hoạt động của các văn phòng, công ty Thừa phát lại mà nhà nước thu được một khoản tài chính thông qua việc đánh thuế. Điều đáng lưu ý nữa là Thừa phát lại là lực lượng duy nhất ở Pháp có quyền yêu cầu hỗ trợ của các lực lượng vũ trang công quyền trong trường hợp cần thiết.

Continue reading

LỰA CHỌN MÔ HÌNH TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN CỦA MỖI QUỐC GIA

GS. CLAUDE BRENNER – Trường Đại học tổng hợp Panthéon-Assas, Cộng hòa Pháp

1. Đặt vấn đề

Theo quan điểm của pháp luật Cộng hoà Pháp, xây dựng một bộ luật chung về THA dân sự và THA hình sự là một dự án đầy tham vọng. Bởi lẽ, giữa hai lĩnh vực THA này vẫn chưa có sự thống nhất rõ ràng về mặt logic, mỗi lĩnh vực đều dựa trên những căn cứ riêng và mang tính đặc thù. Ví dụ, giữa thủ tục THA phạt tù và thủ tục cưỡng chế thu hồi nợ đều có yếu tố cưỡng chế và sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang công quyền. Nhưng về cơ bản thì đó là hai thủ tục khác nhau, nhằm những mục đích khác nhau: trong trường hợp THA dân sự, thì sự tham gia của lực lượng vũ trang công quyền là nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân, còn trường hợp THA hình sự, thì sự tham gia của lực lượng vũ trang công quyền lại nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy giữa THA dân sự và THA hình sự có những điểm tương đồng không thể phủ nhận. Trong cả hai trường hợp, mục tiêu theo đuổi đều là nhằm thi hành một văn bản tư pháp, mà trước hết là bản án, quyết định của tòa án – cơ quan tài phán nhà nước. Bởi vì, nếu cho rằng thủ tục cưỡng chế thi hành trong lĩnh vực dân sự có thể được sử dụng nhằm thi hành các văn bản ngoài tư pháp, thì theo quy định và thực tiễn pháp luật Cộng hòa Pháp, việc thi hành đó chỉ được coi là phần nối tiếp, là sự mở rộng có chủ đích riêng của việc thi hành các quyết định của cơ quan tài phán nhà nước. ở Pháp, các biện pháp cưỡng chế thi hành, kê biên có thể được sử dụng trong việc thi hành các phán quyết trọng tài (những quyết định của cơ quan tài phán tư). Tuy nhiên trước đó, phán quyết trọng tài bắt buộc phải được một cơ quan tài phán nhà nước công nhận và cho thi hành. Tương tự, trong một số điều kiện nhất định, hợp đồng và văn bản pháp lý thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tư có thể được cưỡng chế thi hành mà không cần qua kiểm tra trước của tòa án. Điều kiện ở đây là văn bản đó phải là văn bản công chứng, tức là văn bản được lập bởi công chứng viên với tư cách là viên chức công quyền (trước kia là bổ trợ tư pháp) – người được ủy quyền thực hiện một phần quyền lực nhà nước. Như vậy, trọng tâm của hoạt động cưỡng chế THA, theo quy định của Cộng hoà Pháp và của phần lớn các hệ thống pháp luật khác, là thi hành bản án, quyết định của cơ quan tài phán nhà nước, còn việc đó là án dân sự, hành chính hay hình sự thì thực ra không quan trọng.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

TRẦN CÔNG THỊNH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Cưỡng chế kê biên tài sản (KBTS) nói riêng, thi hành án dân sự (THADS) nói chung là một trong những hoạt động quan trọng, nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại. Do đó, thi hành dứt điểm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế có ý nghĩa đặc biệt trong việc đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.

Hiệu quả của việc cưỡng chế KBTS là cơ sở, tiền đề cho sự thành công và hiệu quả của một vụ thi hành án về tài sản khi đương sự không tự nguyện thi hành. Song qua nghiên cứu về vấn đề này chúng tôi thấy rằng trong quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS để thi hành án gặp rất nhiều vướng mắc, nhiều nguyên nhân khác nhau gây cản trở cho việc cưỡng chế như: cơ chế quản lý, hoạt động THADS còn chồng chéo; sự phối hợp giữa các cơ quan tổ chức trong việc cưỡng chế còn chưa tốt; hay các nguyên nhân xuất phát trực tiếp từ các quy định của pháp luật về KBTS còn chưa chặt chẽ, rõ ràng hoặc còn có thiếu sót.

Qua nghiên cứu, phân tích trên chúng tôi thấy rằng: cần đổi mới cơ chế quản lý hoạt động THADS; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong thi hành án đặc biệt là trong cưỡng chế KBTS… Về mặt pháp luật, nên hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi hành án nói chung và các quy định của pháp luật về cưỡng chế KBTS nói riêng như xây dựng và ban hành Bộ luật THADS, nghiên cứu triển khai đề án Thừa phát lại.

Ngoài ra, chúng ta phải tăng cường năng lực, phẩm chất, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ chấp hành viên (CHV); tích cực tuyên truyền phổ biến pháp luật về thi hành án để các đương sự tự nguyện thỏa thuận thi hành và cơ quan thi hành án có thể tranh thủ được sự giúp đỡ, phối hợp của cá nhân, tổ chức hữu quan trong suốt quá trình thi hành án. Chỉ như vậy mới tạo được điều kiện thuận lợi cho KBTS và thi hành án sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

Continue reading

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: LUẬT MỚI, VƯỚNG MẮC CŨ

THANH LƯU – PHAN THƯƠNG

Hơn nửa năm thực hiện Luật Thi hành án dân sự, nhiều vướng mắc cả cũ lẫn mới đã phát sinh. Vấn đề nhân sự thiếu, công việc quá tải, án tồn đọng đến nay vẫn đang là nỗi lo thường trực của ngành thi hành án…

Tại hội nghị triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2010 tổ chức tại TP.HCM ngày 16-1, Bộ Tư pháp thẳng thắn nhìn nhận Luật Thi hành án dân sự đã có hiệu lực từ ngày 1-7-2009 nhưng việc chuẩn bị các văn bản hướng dẫn còn chậm so với yêu cầu. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành còn chưa đồng bộ, dẫn đến việc nhiều thông tư, thông tư liên tịch chưa được ban hành đúng tiến độ.

Chưa thích nghi với luật mới

Theo Bộ Tư pháp, Luật Thi hành án dân sự chứa đựng nhiều nội dung mới nên việc triển khai thi hành đòi hỏi phải làm rất nhiều việc như xây dựng văn bản hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ, rà soát đánh giá đội ngũ cán bộ…

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự Hoàng Sỹ Thành cho biết từ tháng 11-2009, hệ thống tổ chức thi hành án dân sự đã vận hành theo chức năng, nhiệm vụ và tên gọi mới. Địa vị pháp lý của cơ quan thi hành án dân sự được nâng lên, đồng nghĩa với trách nhiệm nặng nề hơn. Tuy nhiên, một số cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo của các cơ quan thi hành án vẫn chưa thích nghi ngay với yêu cầu của nhiệm vụ mới.

Ở một khía khác, theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự Nguyễn Thanh Thủy, từ khi có luật mới, số lượng vụ việc xin ý kiến chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ gửi về Tổng cục tăng đáng kể. Tuy nhiên, nhiều công văn thỉnh thị của các địa phương không đảm bảo các yêu cầu về hình thức cũng như nội dung. Ông Thủy đề nghị các cơ quan thi hành án thực hiện đúng yêu cầu khi gửi hồ sơ xin ý kiến để Tổng cục dễ dàng hơn trong việc hướng dẫn nghiệp vụ.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: VẪN NHIỀU ÁN TỒN ĐỌNG

NHẬT ANH

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, năm 2009, các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) thụ lý 662.961 việc, đã thi hành xong 354.490 việc, đạt 81,05% số việc có điều kiện thi hành. Tuy nhiên, công tác thi hành án dân sự vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là số lượng án tồn đọng. Tình trạng khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự còn nhiều, nhiều vụ việc phức tạp, khiếu nại tố cáo gay gắt, kéo dài…

Theo một thống kê tại Hội nghị chuyên đề triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2010 khu vực phía Bắc do Bộ Tư pháp tổ chức mới đây, hiện nay cả nước còn 270.925 án tồn đọng. Trong đó, 188.000 việc chưa có điều kiện thi hành án; hơn 89.000 việc người phải thi hành án ốm nặng, chưa xác định được nơi cư trú, người phải thi hành án không có tài sản; 98.754  án tồn đọng vì có kháng nghị; tuyên không rõ ràng, không phù hợp với thực tế, tài sản kê biên chưa xử lý được hoặc có khiếu nại…

Một trong những nguyên nhân án tồn đọng ngày càng lớn dồn từ năm này qua năm khác là do cơ chế, chính sách, pháp luật còn có những bất cập, chưa phù hợp thực tế; công tác quản lý nhà nước còn có những yếu kém, sai phạm, nhất là trong lĩnh vực đất đai. Trong nhiều trường hợp khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng, đòi lại đất nhưng thiếu cơ chế, chính sách để giải quyết thỏa đáng. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về đất đai ở một số địa phương còn buông lỏng, để xảy ra sai phạm. Quá trình thực hiện thu hồi đất của dân chưa đúng trình tự, thủ tục, thiếu công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng và trong một số trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ chưa đủ để người dân tạo lập chỗ ở mới tốt hơn. Có một số dự án thu hồi đất sản xuất của dân nhưng không được sử dụng hợp lý, đất đai bỏ hoang, lãng phí, trong khi nông dân thiếu đất sản xuất, dẫn đến bức xúc, phát sinh khiếu nại.

Continue reading

GIỚI THIỆU NHỮNG QUI ĐỊNH MỚI VỀ TỔ CHỨC, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA HỆ THỐNG TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA – Cục Thi hành án, Bộ Tư pháp (Civillawinfor Tổng hợp)

Nhằm tiếp tục thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, từng bước nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, góp phần xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 14/11/2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Thi hành án dân sự và Nghị quyết về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự. Trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã bổ sung nhiều điểm mới quan trọng, trong đó đặc biệt là những quy định mới về bộ máy hệ thống tổ chức và công chức làm công tác thi hành án dân sự.

Để triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật Thi hành án dân sự về công tác tổ chức cán bộ, ngay sau khi Luật có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2009), Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự (sau đây gọi tắt là Nghị định số 74/2009/NĐ-CP). Nghị định này gồm 4 chương, 55 Điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2009.

Mặc dù đã được hướng dẫn khá chi tiết, tuy nhiên vẫn còn một số điều, khoản của Nghị định 74/2009/NĐ-CP sẽ còn tiếp tục được hướng dẫn cụ thể hơn tại các Thông tư, Thông tư liên tịch của các Bộ, ngành có liên quan hoặc Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, v.v… như: Hoạt động của Ban Chỉ đạo thi hành án; Tiêu chuẩn ngạch Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên Trung cấp, Chấp hành viên cao cấp; Điều kiện, việc sơ tuyển, hồ sơ thi tuyển đối với người không phải là cán bộ, công chức tham gia thi tuyển Chấp hành viên và trường hợp công chức từ các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh này tham gia thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự tỉnh khác; Nội dung và hình thức thi nâng ngạch Thẩm tra viên thi hành án; Điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án trong quân đội; Mẫu thẻ, việc cấp phát, thay đổi và thu hồi thẻ Chấp hành viên, Thẩm tra viên thi hành án; Danh sách các cơ quan thi hành án dân sự được tuyển chọn và bổ nhiệm Chấp hành viên trong trường hợp không qua thi tuyển; Quy chế hoạt động của Hội đồng tuyển chọn Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự địa phương trong trường hợp bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển; v.v…

Continue reading

BẤT CẬP TRONG QUI ĐỊNH VỀ THÔNG BÁO BÁN ĐẤU GIÁ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ THI HÀNH ÁN KHI ÁP DỤNG LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

ĐÌNH NAM

Trong hệ thống các quy phạm về thi hành án dân sự, quy định về thông báo làm một nội dung hết sức quan trọng và đều được quy định rõ trong các văn bản pháp luật về thi hành án. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cũng đã dành 5 điều để quy định về thông báo là:

Điều 39. Thông báo về thi hành án

Điều 40. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân

Điều 41. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức

Điều 42. Niêm yết công khai

Điều 43. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng

Còn các thông báo khác liên quan tới thủ tục thi hành án dân sự được quy định ở các văn bản dưới luật, trong đó có thông báo về bán đấu giá tài sản để thi hành án.

Trước đây, Thông báo bán đấu giá tài sản trước đây không được quy định tại Pháp lệnh thi hành án mà được quy định tại Điều 12 Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản  như sau:

Điều 12. Niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản

1. Người bán đấu giá tài sản phải niêm yết việc bán đấu giá tài sản tại nơi bán đấu giá, nơi trưng bày tài sản, nơi đặt trụ sở của người bán đấu giá tài sản, nơi có bất động sản bán đấu giá chậm nhất là bảy ngày đối với động sản, ba mươi ngày đối với bất động sản trước ngày mở cuộc bán đấu giá tài sản.

Trong trường hợp người có tài sản bán đấu giá có yêu cầu thì thời hạn niêm yết việc bán đấu giá tài sản có thể rút ngắn theo thoả thuận của các bên.

Continue reading

TÀI SẢN THUỘC SỞ CHUNG: GIAN NAN CHUYỆN CƯỠNG CHẾ

T. HẰNG – H. HẢI

Luật Thi hành án dân sự (THADS) quy định chấp hành viên được quyền cưỡng chế đối với các tài sản thuộc sở hữu chung của người phải THA với người khác, kể cả quyền sử dụng đất. Mặc dù vậy, trên thực tế câu chuyện cưỡng chế này không ít gian nan.

Tài sản chung của vợ chồng: kê biên cũng khó.

Theo bản án số 134 ngày 3/2/1999 của TANDTC ngoài việc phải chấp hành hình phạt 9 năm từ giam, Bùi Thị H. phải bồi thường cho ngân hàng nông nghiệp huyện Thanh Miện – Hải Dương số tiền gần 179 triệu đồng. Cả án phí dân sự và hình sự bị cáo này phải nộp là trên 186 triệu đồng. Để đảm bảo cho quá trình THA, Tòa án đã kê biên ngôi nhà mái bằng 3 gian là tài sản của vợ chồng H.

Xác minh điều kiện THA của H, THADS huyện Ân Thi – Hưng Yên xác định: H đang thụ hình trong trại còn chồng của H là anh Ngô Văn T đang phải nuôi 2 con nhỏ, thu nhập chính là làm ruộng nên chỉ đủ ăn, các tài sản khác không có gì. Cuối 2006, H mãn hạn tù về địa phương. Phần dân sự trong bản án chưa được thi hành thì tháng 7/2008 H mất. Khối tài sản tòa đã kê biên anh T vẫn quản lý và sử dụng.

Trước tình huống này, THADS huyện Ân Thi dự kiến kê biên ngôi nhà của vợ chồng H theo biên bản kê biên của Tòa án trước đó để đảm bảo THA. Tuy nhiên, vụ việc này có hai quan điểm khác nhau: Một luồng ý kiến cho rằng, phải thông qua Tòa án để xác định người thừa kế của H, từ đó yêu cầu người thừa kế gánh chịu nghĩa vụ. Quan điểm thứ hai lại cho rằng Tòa đã kê biên ngôi nhà nên tài sản đó do nhà nước quản lý và quyết định. Do vậy, THA cứ theo bản án mà làm.

Continue reading

RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN CHỦ ĐỘNG HAY THEO ĐƠN YÊU CẦU ĐỐI VỚI KHOẢN LỆ PHÍ TOÀ ÁN

THS. CÙ HOÀNG HANH – Thi hành án dân sự huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Luật thi hành án dân sự năm 2008 ra đời đã bổ sung nhiều điểm mới quan trọng từ công tác tổ chức cán bộ đến quy trình, thủ tục thi hành án, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi đặt ra ngày càng cao của công tác thi hành án dân sự trong tình hình mới. Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã có hiệu lực thi hành gần được một tháng rồi nhưng các văn bản hướng dẫn Luật thì chưa có, bên cạnh đó có nhiều quy định về thủ tục thi hành án cần được giải thích thì mới có thể áp dụng được. Dưới đây tôi xin được đề cập một trường hợp cụ thể như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Pháp lệnh án phí, lệ phí của Toà án ngày 27/2/2009 thì Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thu các khoản lệ phí Toà án sau:

1. Lệ phí giải quyết việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 26, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

3. Lệ phí xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

4. Kháng cáo quyết định của Tòa án đối với yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 43 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án, nếu yêu cầu kháng cáo của họ không được chấp nhận (điểm d khoản 1 Điều 43).

Tuy nhiên căn cứ vào Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự không biết mình có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đối với khoản lệ phí Toà án hay không? Nếu có thì ra quyết định chủ động hay theo đơn yêu cầu. Đây cũng là vấn đền hiện nay đang có hai quan điểm khác nhau.

Continue reading

QUI ĐỊNH MỚI CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008 VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN NGHĨA – Bộ Tư pháp

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung, giải quyết tố cáo nói riêng trong lĩnh vực thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong việc kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật (nếu có) của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Do đó, công tác giải quyết tố cáo luôn được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Nhờ có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về thi hành án dân sự ở Trung ương, các cấp uỷ, chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan khác có liên quan mà công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích chính đáng của các bên đương sự, công dân, cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự trong thời gian qua đã gặp phải không ít những khó khăn, vướng mắc nhất định, trong số các nguyên nhân đó có nguyên nhân cơ bản về mặt thể chế. Cụ thể Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 mới chỉ quy định một điều về tố cáo và giải quyết tố cáo, đó là: “Việc tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo” (Điều 63). Đây là quy định mang tính chất dẫn chiếu đến pháp luật chung về giải quyết khiếu nại, tố cáo mà chưa có những quy định cụ thể mang tính đặc thù về giải quyết tố cáo riêng trong lĩnh vực thi hành án dân sự tại pháp lệnh, ví dụ về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, thẩm quyền, thời hạn, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tố cáo về thi hành án dân sự, v.v…

Continue reading

TỔ CHỨC HỆ THỐNG CƠ QUAN THI HÀNH ÁN TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH TƯ PHÁP

TS. LÊ THU HÀ

1. Nhìn từ thực tiễn

Vụ việc 1: Phải chờ… Chủ tịch thành phố chỉ đạo?[1]

Ngày 01/01/2006, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã xử phúc thẩm vụ tranh chấp giữa các thành viên của Công ty cổ phần dịch vụ khách sạn Bạch Đằng (Hải Phòng). Sau khi có bản án, bên được thi hành án (THA) – ông Vũ Quang Lâm (Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc mới) nhiều lần đề nghị cơ quan chức năng sớm thi hành dứt điểm bản án để công ty kiện toàn tổ chức, tránh thất thoát về tài sản, kinh tế. Cơ quan pháp luật đã yêu cầu bên phải THA tự nguyện thi hành. Tuy nhiên, họ không chấp hành án. Vì thế, Thi hành án dân sự (THADS) thành phố Hải Phòng có kế hoạch cưỡng chế THA vào sáng ngày 16/5/06. Từ nhiều ngày trước, bản kế hoạch chi tiết đã được gửi tới đương sự và Công an, Viện kiểm sát, Sở Tài chính, Sở Du lịch, các cơ quan báo chí… để phối hợp. Thế nhưng, ngày 15/5/08, ông Lâm và các cơ quan hữu quan bất ngờ được THA thông báo tạm hoãn cưỡng chế với lý do “để công tác chuẩn bị tổ chức cưỡng chế THA đảm bảo chặt chẽ”. Trả lời báo chí, chấp hành viên Nguyễn Văn Thơi (người giải quyết vụ việc) nói phải tạm hoãn cưỡng chế để chờ Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Trịnh Quang Sử – đang đi công tác nước ngoài – về chỉ đạo (?!).

Vụ việc 2: Đợi đến bao giờ

Căn nhà số 03 Lam Sơn, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh là của bà Nguyễn Thị Bé và chồng là Nguyễn Văn Trầm. Ông bà có một người con trai duy nhất là Nguyễn Văn Quế. Năm 1991, ông Trầm ủy quyền cho ông Đỗ Văn Mừng (cháu của ông Trầm) liên hệ với các cơ quan chức năng để làm thủ tục xin lại căn nhà (đã bị Nhà nước quản lý năm 1978). Sau khi lấy lại được căn nhà trên, ông Mừng đã bán căn nhà cho bà Trần Thị Hoàng Mai. Năm 1994, ông Trầm – có con trai là ông Quế làm đại diện – đã khởi kiện ông Mừng và bà Mai để đòi lại nhà. Vụ án đã bị xét xử nhiều lần, nhiều cấp. Quyết định giám đốc thẩm số 03/HĐTP -DS ngày 27/1/2005 của Hội đồng thẩm phánTANDTC bác kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC và giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm số 319/PTDS ngày 13/12/2002 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại thành phố Hồ Chí Minh với các quyết định: Buộc bà Trần Thị Hoàng Mai giao trả căn nhà số 03 Lam Sơn cùng toàn bộ giấy tờ chủ quyền căn nhà này cho ông Nguyễn Văn Quế do bà Huỳnh Thị Muông làm đại diện nhận. Buộc ông Nguyễn Văn Quế do bà Huỳnh Thị Muông làm đại diện phải giao cho bà Mai 119, 11 lượng vàng SJC ngay sau khi nhận căn nhà nêu trên. Buộc ông Đỗ Văn Mừng (đã chết) có bà Thành và các con là đại diện các thừa kế của ông Mừng theo luật định giao cho bà Mai 1.833, 49 lượng SJC.

Continue reading

QUYỀN YÊU CẦU VÀ THỜI HIỆU THI HÀNH ÁN

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT – Tòa án nhân dân TPHCM

Luật Thi hành án dân sự sẽ có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2009, nhiều quy định của luật đòi hỏi Tòa án phải thực hiện khi giải quyết các vụ án để quyền lợi của người được thi hành án được đảm bảo. Trong phạm vi bài viết này, chỉ đề cập đến Điều 26 “Hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án dân sự”. Theo nội dung của điều luật sẽ nêu thêm về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Điều 26 Luật Thi hành án dân sự quy định như sau:

Khi ra bản án, quyết định, Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại phải giải thích cho đương sự, đồng thời ghi rõ trong bản án, quyết định về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Nghiên cứu nội dung của điều luật ta thấy đây là điểm mới mà trước đây trong Pháp lệnh thi hành án dân sự chưa quy định. Theo đó, ngoài việc giải thích, Tòa án còn phải ghi rõ trong bản án, quyết định để các đương sự hiểu về quyền và nghĩa vụ thi hành án.

Quyền yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 7 như sau:

“Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án.”

Tòa án cần phải thích cho các đương sự rõ khi bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận. Trong trường hợp đương sự không thỏa thuận thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

Continue reading

THỰC HIỆN QUYỀN YÊU CẦU THI HÀNH ÁN: NHỮNG ĐIỀU NGƯỜI ĐƯỢC THI HÀNH ÁN CẦN BIẾT (Phần 2)

LÊ THỊ KIM DUNG

1. Thực hiện quyền yêu cầu thi hành án như thế nào?

   1.1 Ai có thể là người yêu cầu thi hành án?

Người có quyền yêu cầu thi hành án gồm cả hai bên đương sự, người được thi hành án và cả người phải thi hành án. Người được thi hành án tức là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành. Người phải thi hành án tức là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành.

Để thực hiện quyền yêu cầu thi hành án, người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân có quyền tự mình yêu cầu thi hành án. Đối với những trường hợp mà người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân là người chưa thành niên, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì thực hiện quyền yêu cầu thi hành án thông qua người đại diện theo pháp luật. Ví dụ: trong trường hợp bản án, quyết định của Toà án giải quyết việc ly hôn, khi giải quyết vấn đề con cái đã quyết định giao con cho người mẹ là bà B nuôi dưỡng, buộc ông bố là ông A phải cấp dưỡng nuôi cháu C mỗi tháng 400.000đ cho đến khi cháu C trưởng thành, thì đối với khoản cấp dưỡng, cháu C là người được thi hành án, nhưng do cháu là người chưa thành niên, nên việc thực hiện quyền yêu cầu thi hành án do người đại diện theo pháp luật của cháu là người mẹ, tức bà B thực hiện.

Continue reading

THỰC HIỆN QUYỀN YÊU CẦU THI HÀNH ÁN: NHỮNG ĐIỀU NGƯỜI ĐƯỢC THI HÀNH ÁN CẦN BIẾT

LÊ THỊ KIM DUNG

Quyền yêu cầu thi hành án là quyền của đương sự (không chỉ người được thi hành án mà cả người phải thi hành án) yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Với việc Luật Thi hành án dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009, điều cần thiết đối với đương sự là nắm bắt được những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự về quyền yêu cầu thi hành án và cách thức thực hiện quyền yêu cầu thi hành án một cách đúng đắn và có hiệu quả. Đương nhiên, việc hiểu rõ và hiểu đúng quy định của pháp luật cũng đặt ra đối với cơ quan thi hành án dân sự để tiếp nhận và xử lý đúng các yêu cầu thi hành án của đương sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi thực hiện quyền này.

1. Những bản án, quyết định nào được thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự?

Trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền, phần lớn kết quả của những hoạt động đó là việc ban hành các văn bản. Văn bản có nhiều loại khác nhau, có bản án của Toà án, có quyết định của cơ quan công an, kiểm sát, có quyết định của cơ quan hành chính, có quyết định của cơ quan xét xử, có quyết định của cơ quan xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác nhau như đình chỉ xây dựng, buộc phải tháo dỡ công trình xây dựng, có bản án của Toà án nước ngoài, có bản án của Toà án hình sự về xử phạt tù dài hạn…Không phải mọi bản án, quyết định đều thuộc thẩm quyền tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự. Để yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án thì trước hết, phải nắm được quy định của pháp luật về những loại bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Continue reading