QUY CHẾ, VAI TRÒ CỦA THỪA PHÁT LẠI VÀ LUẬT SƯ TẠI THÁI LAN

TS. THANAKRIT VORATHANATCHAKUL – Công tố viên Văn phòng Trưởng Công tố, Thái Lan

1. Quy chế và vai trò của thừa phát lại tại Thái Lan

Quy chế thừa phát lại

Ở Thái Lan, thừa phát lại là công chức nhà nước. Để hành nghề thừa phát lại, ứng viên phải có văn bằng cử nhân chuyên ngành luật và phải thi đỗ kỳ thi tuyển thừa phát lại quốc gia, là một cuộc thi mà chỉ có rất ít ứng viên thành công. Ngay sau kỳ thi tuyển, các ứng viên đã thi đỗ có thể làm việc ngay như một thừa phát lại mà không cần phải trải qua một khóa đào tạo nào về nghề thừa phát lại.

Tại Thái Lan, không có Hội đồng Thừa phát lại như ở Pháp là tổ chức xã hội nghề nghiệp của thừa phát lại gồm 3 cấp : Hội đồng Thừa phát lại tỉnh, Hội đồng Thừa phát lại vùng và Hội đồng Thừa phát lại quốc gia. Tổ chức, quản lý và các hình thức kỷ luật thừa phát lại tại Thái Lan được điều chỉnh bởi Luật quy chế công chức dân sự năm 2008.

Về việc xử lý vi phạm đối với thừa phát lại, luật pháp Thái Lan quy định thừa phát lại phải chịu trách nhiệm dưới các hình như sau: trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm kỷ luật. Trách nhiệm dân sự được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự và Luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các công chức, viên chức nhà nước năm 1996. Trách nhiệm hình sự được điều chỉnh bởi Bộ luật hình sự. Các biện pháp xử lý kỷ luật được quy định tại Luật quy chế công chức dân sự năm 2008 và Luật đạo đức công chức. Continue reading

GIAO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN CHO NGƯỜI ĐƯỢC GIAO NUÔI DƯỠNG – MỘT SỐ BẤT CẬP TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định là một loại việc thi hành án đặc thù của các vụ án hôn nhân và gia đình. Trong bối cảnh các vụ việc ly hôn ngày càng có xu hướng gia tăng như hiện nay thì số lượng các việc thi hành án giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng mà các cơ quan thi hành án dân sự phải giải quyết ngày càng nhiều.

Đây là một loại việc thi hành án rất phức tạp do đối tượng thi hành án ở đây không phải là tiền hay tài sản mà là con người. Việc cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thường rất nhạy cảm, ảnh hưởng đến tâm lý, tình cảm của cả người được thi hành án, người phải thi hành án và đặc biệt là người chưa thành niên. Thậm chí còn có thể gặp phải sự cản trở, chống đối từ rất nhiều phía như gia đình, họ hàng, dư luận địa phương….nên rất khó khăn khi thực hiện.Biện pháp cưỡng chế thi hành án giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định được quy định tại khoản 6 Điều 71, Điều 120 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014. Tuy nhiên trong thực tiễn, việc áp dụng các quy định của pháp luật vẫn còn một số bất cập như sau:

Thứ nhất: Việc xử phạt vi phạm hành chính

Theo quy định tại khoản 2 Điều 120 Luật Thi hành án dân sự: Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Continue reading

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÍ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM VÀ LIÊN HỆ MỘT VÀI QUY ĐỊNH QUỐC TẾ CÓ LIÊN QUAN

 

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA & THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA

Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định. Vấn đề thu phí thi hành án dân sự được quy định tại Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, (sau đây gọi tắt là Luật THADS), Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 26/8/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phí và lệ phí (gọi tắt là Nghị định số 120/2016/NĐ-CP); Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí THADS (Thông tư số 216/2016/TT-BTC).

Trước đây vấn đề thu phí được quy định tại Thông tư liên tịch số 144/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 22/9/2010 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự (Thông tư số 144/2010/TTLT- BTC- BTP). Trong quá trình thực hiện cùng với những thay đổi của pháp luật thi hành án dân sự và các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan, Thông tư số 144/2010/TTLT- BTC- BTP đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập nhất định. Ví dụ như việc thu phí thi hành án trong trường hợp cơ quan thi hành án đã thực hiện các thủ tục thi hành án như xác minh, thông báo và tốn nhiều công sức để vận động đương sự, nhưng sau đó các đương sự tự nguyện thi hành án cho nhau không thông qua cơ quan thi hành án dẫn đến không thu được phí; thậm chí có trường hợp cơ quan thi hành án đã tổ chức cưỡng chế xong, chuẩn bị giao tiền cho đương sự nhưng người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án (theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật Thi hành án dân sự) và họ từ bỏ nhận tiền, tài sản đã thu được. Trong trường hợp này theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 2 của Thông tư số 144/2010/TTLT- BTC- BTP, cơ quan thi hành án không thể thu phí thi hành án. Lợi dụng hạn chế của quy định này, đã có những trường hợp các bên đương sự bắt tay nhau trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án. Bên cạnh đó, về thời hạn thu phí thi hành án đối với trường hợp giao tài sản của Thông tư số 144/2010/TTLT-BTC-BTP cũng có những bất cập, theo khoản 4 Điều 3 của Thông tư trên quy định: “Nếu giao tài sản mà người được thi hành chưa nộp phí thi hành án, cơ quan thu phí có thể kê biên, phong tỏa tài sản được thi hành án và ấn định thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày giao trả tài sản để người được thi hành án nộp phí thi hành án” dẫn đến nhiều trường hợp cơ quan thi hành án đã giao tài sản nhưng người được nhận tài sản không nộp phí. Ngoài ra, còn có những quy định về thủ tục xét miễn giảm phí thi hành án chưa thống nhất với các văn bản pháp luật có liên quan cần được giải quyết.

Continue reading

THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI – MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA

Với những ưu việt của thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài Thương mại, ngày càng có nhiều chủ thể lựa chọn giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường Trọng tài. Theo số liệu của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam(VIAC)[1], từ năm 2010 đến năm 2016, chỉ tính riêng số lượng vụ việc tranh chấp tại VIAC là 734 việc, tăng 487 việc so với giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2009[2],  số vụ việc năm sau tăng cao hơn năm trước. Theo đó ngày càng nhiều phán quyết Trọng tài được đưa ra thi hành.

Vấn đề thi hành phán quyết của trọng tài thương mại được quy định tại Chương X (từ Điều 65 đến Điều 67) Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (Luật TTTM năm 2010); Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo quy định tại Điều 1, khoản 1 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014(Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014) và Điều 67 Luật TTTM năm 2010 thì Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và trách nhiệm thi hành phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại thuộc trách nhiệm của cơ quan THADS.

Theo báo cáo số 74/BC-BTP ngày 08/4/2016 của Bộ Tư pháp sơ kết 04 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010, số phán quyết trọng tài được thi hành mới đạt 60% trong tổng số đơn yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành phán quyết trọng tài. Số vụ việc phán quyết trọng tài được thi hành chưa cao do còn khó khăn trong việc xác minh tài sản của người phải thi hành tại nhiều địa phương đặc biệt khi các tổ chức cá nhân là người nước ngoài; một số phán quyết trọng tài tuyên không cụ thể, rõ ràng cũng gây vướng mắc trong quá trình thi hành án; hiện tượng bên phải thi hành lợi dụng yêu cầu hủy phán quyết trọng tài tại tòa án để có thời gian tẩu tán tài sản vẫn khá phổ biến khiến cho số vụ thi hành phán quyết trọng tài còn khiêm tốn[3] . Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về việc thi hành phán quyết trọng tài vẫn còn có nhiều điểm bất cập, có thể kể đến một số bất cập như sau:

Continue reading

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOÃN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ – NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ

 NGÔ XUÂN BÁCH & NGUYỄN THANH TÚ – Thẩm tra viên, Vụ GĐKT 2, TANDTC

Khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì tổ chức, cá nhân được thi hành án có thể làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự thi hành án. Tuy nhiên, để đảm bảo vụ việc được xem xét cẩn trọng, đảm bảo quyền và lợi ích của nhà nước, của công dân thì trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật, Cơ quan thi hành án dân sự được quyền ra quyết định hoãn thi hành án dân sự. Bài viết giới thiệu các quy định của pháp luật về hoãn thi hành án dân sự, những bất cập và đề xuất kiến nghị.

1. Bản án, quyết định được thi hành

Theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 được sửa đổi, bổ sung theo Luật số số 64/2014/QH13 (Luật THADS), những bản án, quyết định sau được thi hành:a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;

b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;

c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3022/TCTHADS-NV1 NGÀY 15 THÁNG 8 NĂM 2017 CỦA TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, BỘ TƯ PHÁP VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN NGHỊ QUYẾT SỐ 42/2017/QH14 VỀ THÍ ĐIỂM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

                                                                                                                                                                      Kính gửi: Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Ngày 21/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 14 đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (gọi tắt là Nghị quyết số 42/2017/QH14) và Chỉ thị số 32/CT-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14. Để thống nhất nguyên tắc áp dụng các quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14, trên cơ sở trao đổi ý kiến với Vụ 11 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ Pháp chế – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Vụ Chính sách Thuế – Bộ Tài chính, Tổng cục Thi hành án dân sự (THADS) hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng) như sau:

1. Nguyên tắc áp dụng

Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2017 và được thực hiện trong thời hạn 05 năm kể từ ngày có hiệu lực. Do đó, từ ngày 15/8/2017 đến khi Nghị quyết này hết hiệu lực, cơ quan THADS áp dụng quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 để thực hiện việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng.

Đối với những việc thi hành án liên quan đến xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng đã được cơ quan THADS tổ chức thi hành xong một phần hoặc chưa thi hành xong trước ngày 15/8/2017 nhưng đã thực hiện các thủ tục về thi hành án theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì trình tự, thủ tục và kết quả thi hành án được công nhận. Các thủ tục thi hành án tiếp theo mà Nghị quyết số 42/2017/QH14 điều chỉnh thì được thực hiện theo Nghị quyết này.

Continue reading

TỔNG HỢP NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

VỤ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ – VKSNDTC

Trên cơ sở Báo cáo tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động Thi hành án dân sự và Kiểm sát thi hành án dân sự của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Công văn số 1784/VKSTC-V11 ngày 22/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nội dung các câu hỏi, Vụ kiểm sát thi hành án dân sự (Vụ 11) đã biên tập lại các dạng câu hỏi khó khăn, vướng mắc, từ gần 200 câu hỏi thành 112 câu hỏi của các đơn vị để tham luận tại Hội nghị tập huấn Công tác kiểm sát thi hành án dân sự, hành chính năm 2017 tại Nghệ An vào ngày 24, 25/7/2017, cụ thể như sau:

Câu 1: Điểm a khoản 1 Điều 2 Luật THADS năm 2014 quy định về những bản án, quyết định được đưa ra thi hành “Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm”. Như vậy, được hiểu là đối với phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm sẽ được đưa ra thi hành. Trên thực tế, có những phần của bản án, quyết định tuy không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng nếu đưa ra thi hành sẽ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án cũng như sẽ gây khó khăn trong quá trình thi hành án như việc tiêu hủy vật chứng. Do vậy, cần xem xét, sửa đổi bổ sung theo hướng: Đối với vật chứng của vụ án chỉ đến khi toàn bộ bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mới đưa ra thi hành?

Câu 2: Điểm a, khoản 2 Điều 2 Luật THADS năm 2014 thì: “Những bản án bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tổn thất tinh thần, cấp dưỡng, trả lương được đưa ra thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị, theo thủ tục phúc thẩm”. Như vậy những bản án này được đưa ra thi hành ngay khi chưa có hiệu lực, nhưng theo nội dung bản án thì kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án mới phải thi hành phần lãi suất do chậm thi hành án. Do đó trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án ngay khi bản án chưa có hiệu lực thì phần lãi suất có được đưa ra thi hành án ngay không? Nếu có thì thời điểm tính lãi suất từ thời điểm chậm thi hành án hay thời điểm án có hiệu lực pháp luật ?

Continue reading

BÀN VỀ VẤN ĐỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI THỨ BA

Kết quả hình ảnh cho RIGHTS, LEGAL ASSISTANCE OF THIRD PARTY NGUYỄN NHÀN – Vụ Nghiệp vụ 1- Tổng cục Thi hành án dân sự

Tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự (THADS) đã quy định: Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp: “Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”. Đồng thời, Khoản 4 Điều 54 Luật THADS đã quy định việc thỏa thuận chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho người thứ  ba. Theo đó, việc xác định người thứ ba trong các trường hợp trên đã có một số ý kiến và quan điểm khác nhau. 

1. Về nội dung một số vụ việc

Trên địa bàn tỉnh Q hiện có nhiều vụ việc khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc vợ chồng ông V và bà D vừa là người được thi hành án, vừa là người phải thi hành án đang do nhiều cơ quan THADS tổ chức thi hành, cụ thể:

(1) Vụ việc thứ nhất:

Ông V và bà D là người được thi hành án trong vụ việc tại Chi cục THADS huyện G, theo đó ông H phải trả ông V và bà D số tiền 450 triệu đồng và lãi suất chậm thi hành án.
Tuy nhiên, tại Chi cục THADS huyện Đ thì ông V và bà D là người phải thi hành án  tại  04 vụ việc khác với số tiền phải thi hành án trả những người khác là: 1.744.109.000 đồng. 

Ngày 01/7/2016, ông V và bà D đề nghị xóa nợ cho ông H và yêu cầu đình chỉ thi hành án số tiền 450 triệu đồng và lãi chậm thi hành án và cam kết không khiếu nại gì.

Vấn đề đặt ra khi áp dụng quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS về đình chỉ thi hành án: Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp: “Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”. Như vậy, việc xác định người thứ ba theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS có nhiều quan điểm khác nhau: người thứ ba có phải là người có quyền lợi trong cùng một vụ việc hay người thứ ba có thể là bất kỳ ai, có thể là người khác tại bản án khác hay không?

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN CƠ SỞ RÀ SOÁT BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Kết quả hình ảnh cho AMENDING AND SUPPLEMENTING THE LAW ON CIVIL JUDGMENT EXECUTION NGUYỄN NHÀN – Vụ Nghiệp vụ 1- Tổng cục Thi hành án dân sự

Bộ luật dân sự sửa đổi năm 2015 (BLDS) đã được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII ngày 24-11-2015, gồm 27 chương, 689 điều. Trong điều kiện hiện nay, khi bên cạnh BLDS đã và đang tồn tại ngày càng nhiều các đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động đặc thù như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản, Luật hôn nhân và gia đình, Luật Thi hành án dân sự… Như vậy, trong mối quan hệ với các luật chuyên ngành, BLDS đứng ở vị trí trung tâm với tư cách là luật gốc. Trên cơ sở đạo luật gốc này, qua quá trình rà soát văn bản quy phạm pháp luật trong thi hành án dân sự, có một số vấn đề trong pháp luật thi hành án dân sự cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Qua rà soát sơ bộ cho thấy có 16 vấn đề liên quan tại 91 điều của BLDS 2015 so với các văn bản về thi hành án dân sự (THADS). Trong số 16 vấn đề được rà soát cho thấy có 11/16 vấn đề quy định của pháp luật THADS phù hợp với quy định của BLDS 2015 được đề nghị giữ nguyên và tiếp tục thực hiện, nhưng cũng có 05 vấn đề chưa phù hợp với quy định của BLDS 2015 cần sửa đổi, bổ sung. Cụ thể:

1. Các quy định của pháp luật THADS phù hợp với BLDS 2015

(1) Quy định về thỏa thuận thi hành án: Điều 3 BLDS 2015; Điều 6 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 ( Luật THADS); Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự ( Nghị định 62);

(2) Quy định về hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể pháp nhân: Điều 88, Điều 89, Điều 90, Điều 91, Điều 92, Điều 93 BLDS 2015; Khoản 1 Điều 54 Luật THADS;

(3) Quy định về chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án: Điều 365, Điều 366, Điều 367, Điều 368, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 615 BLDS 2015; Điều 54 Luật THADS; Điều 15 Nghị định số 62;

Continue reading

ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ ƯU TIÊN THANH TOÁN TIỀN THI HÀNH ÁN

Kết quả hình ảnh cho PRIORITY PAYMENT FOR CIVIL JUDGMENT EXECUTION NGUYỄN HẰNG 

Tại Điểm b Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự (THADS) quy định trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau: “Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó”. Đồng thời, Khoản 3 Điều 47 Luật THADS quy định: Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm”. Tuy nhiên, khi áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc cụ thể cần xác định thanh toán tiền thi hành án cho đúng với quy định nêu trên còn có một số ý kiến và quan điểm khác nhau.

Trong phạm vi bài viết này tác giả đề cập đến một vụ việc cụ thể cần có quan điểm thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về thi hành án dân sự.

1. Nội dung vụ việc:

Bà bà Huỳnh Thị L phải thi hành 02 quyết định của Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh K, cụ thể:

* Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 79/QĐST-DS ngày 12/6/2012 xét xử, quyết định: … Bà Nguyễn Thị M và bà Huỳnh Thị L phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị Hồng N số tiền nợ gốc là 596.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 04/6/2012 là 22.000.000 đồng, tổng cộng tiền gốc và lãi là 618.000.000 đồng (Sáu trăm mười tám triệu đồng). Hai bên thống nhất cách trả nợ như sau:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Dương Thị H thỏa thuận đồng ý cho bà M và bà L cùng chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền nợ gốc và lãi là 618.000.000 đồng trong thời gian 05 tháng, kể từ ngày 04/6/2012 đến ngày 04/11/2012.
Hai bên tự giao nhận tiền hoặc giao nhận do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá thực hiện.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Continue reading

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho Property conditions HOÀNG THỊ THU TRANG – Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014) có hiệu lực từ 01/7/2015, đã khắc phục được nhiều bất cập, vướng mắc sau 06 năm thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sau đây gọi là Luật THADS năm 2008). Tuy nhiên, để các quy định pháp luật về thi hành án dân sự nói chung, về xác minh điều kiện thi hành án nói riêng tiếp tục được hoàn thiện, phù hợp, bắt nhịp kịp với cuộc sống vốn dĩ sinh động này thì việc nhìn nhận một cách toàn diện thực trạng quy định pháp luật và dự liệu những khó khăn, vướng mắc sẽ gặp phải trong xác minh thi hành án dân sự để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị thiết thực, có hiệu quả là hết sức cần thiết.

Xác minh điều kiện thi hành án dân sự là việc chấp hành viên thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải thi hành án…Đây là hoạt động trung tâm, quan trọng nhất trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Kết quả xác minh là cơ sở để Chấp hành viên thuyết phục đương sự tự nguyện, thỏa thuận thi hành án, là cơ sở để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra các quyết định ủy thác, hoãn, đình chỉ thi hành án hay lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp. Có thể nói, xác minh điều kiện thi hành án chính là căn cứ làm phát sinh hàng loạt các tác nghiệp khác trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định, đòi hỏi Chấp hành viên cần thiết phải nắm vững cơ sở pháp lý của việc xác minh, kỹ năng xác minh và xử lý kết quả xác minh phù hợp với quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

1. Thực trạng pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 chỉ có 01 quy định tại khoản 4 Điều 13 về nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên: “Yêu cầu chính quyền địa phương, cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp xử lý tang vật, tài sản và những việc khác liên quan đến việc thi hành án”.

Continue reading

MỘT SỐ NỘI DUNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NHẬT BẢN VÀ KHUYẾN NGHỊ ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

THS. LÊ ANH TUẤN – TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, BỘ TƯ PHÁP

Qua nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật của Nhật Bản cho thấy quy định pháp thi hành dân sự Nhật Bản có những nội dung tương đồng với pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam, tuy nhiên có nhiều nội dung mang tính đặc trưng, đặc thù của Nhật Bản. Ở Nhật Bản pháp luật quy định là thi hành dân sự còn ở Việt Nam là thi hành án dân sự. Xin giới thiệu một số nội dung pháp luật về thi hành dân sự Nhật Bản và khuyến nghị áp dụng tại Việt Nam.

1. Khái lược lịch sử của chế độ thi hành dân sự Nhật Bản 

Lịch sử của chế độ thi hành dân sự Nhật Bản trải qua các giai đoạn lịch sử, từ thời EDO năm 1742 (thế kỷ thứ 17) người có nghĩa vụ phải nộp tiền hai lần mỗi tháng vào ngày 04 và 21 để Toà án giao cho người có quyền, nếu không thanh toán đúng thời hạn thì cùm tay người đó từ 30 ngày đến dưới 100 ngày hoặc bị giam lỏng ở nhà từ 20 ngày đến dưới 100 ngày; nếu vẫn không thi hành thì bị áp dụng quy tắc “thân đại hạn” (shindaikagiri), đó là việc lấy tài sản của người có nghĩa vụ để thanh toán cho người có quyền. Đến thời Minh Trị (1872 thế kỷ thứ 18) có sửa đổi và hiện nay là Luật Thi hành dân sự năm 1979, với 19 lần sửa đổi bắt đầu từ năm 1996 đến lần sửa đổi sau cùng vào năm 2004, là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thi hành dân sự ở Nhật Bản.

2.  Căn cứ pháp luật của thi hành dân sự

– Luật Thi hành dân sự và Quy tắc thi hành dân sự

Quy định pháp luật về thủ tục thi hành dân sự và tổ chức đảm nhận thi hành dân sự của Nhật Bản nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật, quy tắc và thậm chí là cả ở trong các điều ước quốc tế nhưng thủ tục thi hành dân sự hiện nay chủ yếu căn cứ vào hai văn bản chính là “Luật Thi hành dân sự” do Quốc hội ban hành và “Quy tắc thi hành dân sự” do Tòa án tối cao ban hành.
Luật Thi hành dân sự về nguyên tắc quy định các nội dung làm cơ sở cho thủ tục và các nội dung có ảnh hưởng quan trọng đến quyền, lợi nghĩa vụ của đương sự và của những người liên quan khác. Luật Thi hành dân sự quy định các nội dung cần thiết về thủ tục thi hành dân sự, còn đối với những nội dung không được quy định trong Luật Thi hành dân sự hoặc đối với các nội dung nhất định cụ thể thì do Tòa án tối cao ban hành Quy tắc thi hành dân sự.

Continue reading

CÔNG NHẬN VÀ BẢO HỘ QUYỀN DÂN SỰ: KHỔ VÌ MUA NHÀ CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN

PHAP LUATTP.VN

Nhiều chuyên gia đã cho rằng cơ quan chức năng cần phải có hướng dẫn khác để bảo vệ được quyền lợi chính đáng của người mua tài sản ngay tình.

Số trước chúng tôi đã phản ánh thực tế xảy ra nhiều trường hợp mua nhà đất, sang tên đổi chủ rồi thì người mua lại gặp rắc rối, nhà đất bị kê biên vì chủ cũ đang có nghĩa vụ thi hành án. Nguyên nhân là các cơ quan thi hành án áp dụng hướng dẫn trong Thông tư liên tịch 12/2001 của Bộ Tư pháp – VKSND Tối cao…

  • Tháng 8-2009, anh Nguyễn Chiến Thắng mua của anh H. một căn nhà ba tầng ở TP Bắc Ninh. Căn nhà đang được thế chấp tại một ngân hàng. Anh Thắng đã cùng anh H. đến ngân hàng thanh toán nợ, được ngân hàng thanh lý hợp đồng, trả giấy tờ nhà đất. Sau đó, anh Thắng mang giấy tờ đến văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để xin xóa thế chấp và đã được xác nhận. Cùng ngày, hai bên ra phường làm thủ tục mua bán và được phường xác nhận… Gần một năm sau, Chi cục Thi hành án TP Bắc Ninh đã ra quyết định kê biên căn nhà của anh Thắng với lý do để bảo đảm việc thi hành án của anh H., chủ cũ.
  • Tháng 7-2008, bà Phạm Thị Hải Hường ngụ quận 10 (TP.HCM) làm đầy đủ thủ tục mua căn nhà của bà C. tại TP Vũng Tàu và đã được cấp chủ quyền. Gần một năm sau, bà Hường nhận được thông báo của Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu là sẽ kê biên căn nhà để đảm bảo thi hành án. Khiếu nại, bà Hường biết bà C. là người phải thi hành án trong một bản án. Bà Hường khiếu nại tiếp thì được Tổng cục Thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp) trả lời là Chi cục Thi hành án TP Vũng Tàu đã làm đúng quy định. Theo đó, Thông tư liên tịch 12 hướng dẫn đối với các trường hợp sau khi có bản án, quyết định của tòa, người phải thi hành án chuyển nhượng các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thì chấp hành viên có quyền kê biên tài sản và có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ giao dịch đó. Người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện yêu cầu tòa hủy bỏ giao dịch…
  • Tháng 1-2007, bà Đào Thị Kim Chi mua một căn nhà của bà Nh. ở quận Gò Vấp (TP.HCM). Việc mua bán được làm hợp đồng, có công chứng. Sau đó, bà Chi đã thực hiện hết nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất và đóng lệ phí trước bạ. Vì căn nhà mới chỉ có giấy trắng nên bà đến UBND quận Gò Vấp nộp đơn đề nghị cấp giấy hồng. Một thời gian sau, bà tá hỏa khi được UBND quận cho biết căn nhà đã bị cơ quan thi hành án quận ngăn chặn chuyển nhượng, mua bán từ 10 năm trước. Tìm hiểu, bà Chi mới biết căn nhà trước đây thuộc quyền sở hữu của anh trai bà Nh. (đã mất), vốn là người phải thi hành án trong một vụ án khác. Không hiểu sao văn bản ngăn chặn của cơ quan thi hành án lại không được phòng công chứng biết nên vẫn cho bà mua nhà của bà Nh.

Rất thiệt thòi cho người mua!

Trong công việc, chúng tôi từng gặp một số trường hợp tương tự như vụ mà Pháp Luật TP.HCM phản ánh nhưng chúng tôi không có cách xử lý khác. Về cá nhân, tôi thấy tình trạng này rõ ràng đã gây nhiều thiệt thòi cho những người mua tài sản ngay tình vì tài sản của họ được pháp luật bảo hộ. Thông tư liên tịch 12 cho họ quyền khởi kiện người bán tài sản để yêu cầu hủy bỏ giao dịch nhưng làm vậy lại càng phát sinh những mối quan hệ rắc rối thêm cho các cơ quan tố tụng.

Continue reading

AI BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO NGƯỜI NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN HỢP PHÁP KHI TÀI SẢN NÀY BỊ KÊ BIÊN XỬ LÝ THI HÀNH NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN CỦA NGƯỜI CHUYỂN NHƯỢNG

CHÂU VŨ – Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngày 26/7/2010, Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 14/2001/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC (gọi tắt là Thông tư) về việc hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, Thông tư sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15/9/2010. Tại Điều 6 của Thông tư có quy đinh như sau:

“…Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án…”(Điều 6 của Thông tư liên tich).

Xét thấy việc Thông tư quy định như trên là không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba (người nhận chuyển nhượng tài sản), bởi người nhận chuyển nhượng tài sản là người ngay tình, họ không hề biết người chuyển nhượng tài sản cho họ là đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Hai bên tiến hành thủ tục chuyển nhượng tài sản một cách hợp pháp, tuân thủ các quy định của pháp luật về chuyển nhượng tài sản và không bị bất kỳ một cơ quan có thẩm quyền (như Toà án, cơ quan Thi hành án, cơ quan quản lý tài sản có đăng ký quyền sở hữu ở địa phương…) ngăn chặn nên việc chuyển nhượng đã hoàn thành, người nhận chuyển nhượng đã hoàn tất các thủ tục để thực hiện quyền sở hữu tài sản của mình theo quy định của pháp luật Dân sự nên tài sản này là tài sản hợp pháp của họ được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm, tài sản của người phải thi hành án không bị bất kỳ cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn tức là vẫn cho phép tài sản được giao dịch và không bị hạn chế phạm vi giao dịch. Pháp luật Dân sự không buộc người thứ 3 phải biết đó là tài sản cần để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người chuyển nhượng tài sản cho mình. Người thứ 3 thiết lập giao dịch nhận chuyển nhượng tài sản một cách hợp pháp, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và không bị các cơ quan chức năng nghiêm cấm thì không thể kê biên tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án là người chuyển nhượng tài sản.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KÊ BIÊN PHẦN VỐN GÓP THEO ĐIỀU 92 LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

HỒ QUÂN CHÍNH – Chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức

1. Sự hình thành phần vốn góp:

Theo giải thích tại khoản 4 Điều 4 luật doanh nghiệp năm 2005 (gọi tắt là LDN) thì “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”. Như vậy, tài sản để tham gia vào việc góp vốn là rất đa dạng. Tuy nhiên, để tài sản góp vốn trở thành phần vốn góp, thì những tài sản trên phải được định giá. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 30 LDN quy định “Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá”. Từ những quy định trên cho thấy có sự phân biệt rõ ràng giữa phần vốn góptài sản góp vốn.

Tại khoản 5 Điều 4 LDN giải thích về phần vốn góp như sau: “Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ”. Theo các quy định của pháp luật, chủ sở hữu phần vốn góp (người góp vốn) có các quyền sau:

– Quyền tài chính: được phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp; gánh chịu phần lỗ tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, khi đang hoạt động cũng như khi doanh nghiệp kết thúc hoạt động; nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bị giải thể, phá sản.

– Quyền phi tài chính như quyền biểu quyết, quyền thông tin.

Ngoài ra, phần vốn góp với tư cách là một tài sản có giá trị tiền tệ nên chủ sở hữu được tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, việc chuyển giao này bị hạn chế bởi một số quy định theo LDN nhằm bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Continue reading

VƯỚNG MẮC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

HẢI TOÀN

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, hiện nay, số vụ việc thi hành án dân sự tồn đọng hiện nay là 298.622 việc với hơn 21.000 tỷ đồng, trong đó có điều kiện thi hành 124.835 việc, chưa có điều kiện thi hành 173.787 việc.

Thống kê cho thấy, số lượng việc hoãn thi hành chiếm một số lượng lớn (82.300 việc) trong đó hoãn do người phải thi hành án ốm nặng, hoặc chưa xác định được nơi cư trú hoặc vì lý do chính đáng khác không thể hiện thực hiện được nghĩa vụ là 24.754 việc; hoãn do người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành là 3.191 việc… Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân như tạm đình chỉ thi hành án; tòa án tuyên không rõ, khó thi hành; tạm ngưng thi hành án để giải quyết khiếu nại… Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án Dân sự, Bộ Tư pháp Nguyễn Văn Luyện cho rằng, nguyên nhân chủ quan dẫn đến việc tồn đọng là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ thi hành án dân sự ở nhiều địa phương đối với nhiều vụ việc còn chưa tốt, đặc biệt là những vụ việc có điều kiện thi hành nhưng chưa được tổ chức thi hành hoặc tổ chức thi hành nhưng chưa có kết quả.

Ngoài những nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan cũng đóng một vai trò không nhỏ dẫn đến số lượng án tồn đọng hàng năm. Vì rằng, khác với nhiều lĩnh vực, thi hành án dân sự liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nhiều đối tượng, trong đó phải kể đến ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án còn thấp, nhiều trường hợp người phải thi hành án chây ý, chống đối, cản trở việc thi hành án. Đặc biệt việc Tòa án tuyên không rõ, có sai sót, không có tính khả thi, cơ quan thi hành án đã đề nghị giải thích, đính chính hay xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhưng chậm được đáp ứng dẫn tới bản án, quyết định bị chậm thi hành hoặc không thể thi hành được. Ngoài ra, sự phối hợp giữa Tòa án và Cơ quan thi hành án trong việc chuyển giao bản án, quyết định hoặc các tài liệu có liên quan đến sử lý tang vật, tài sản chưa chặt chẽ, kịp thời nên có đến 76.476 việc chưa tổ chức thi hành được.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: NGHI TẨU TÁN TÀI SẢN NHƯNG KHÓ XỬ LÝ

NGUYỄN TIẾN HIỂU

Đương sự đã chuyển giao tài sản cho người thứ ba một cách… hợp pháp. Người được thi hành án chỉ biết khóc ròng vì bên phải thi hành án không còn tài sản.

Hiện nay, có một số bản án của tòa chưa kịp thi hành thì người phải thi hành án lại tiếp tục có những khoản nợ lớn khác. Hai bên lại ra tòa, thỏa thuận sẽ cấn tài sản để trả nợ… Người được thi hành án ở bản án trước nghi ngờ có sự giả tạo để tẩu tán tài sản nhưng cũng không làm gì được.

Vay người này, nhận nợ người khác

Tháng 5-2007, vợ chồng bà T. (Buôn Ma Thuột, Dăk Lăk) vay của ngân hàng 750 triệu đồng. Đến thời kỳ trả nợ nhưng không có tiền, bà T. đã phải vay của bà H. hơn 800 triệu đồng với lãi suất hơn 4 triệu đồng/ngày. Theo thỏa thuận, bà T. sẽ vay lại ngân hàng để trả lại tiền cho bà H. sau khi đã thanh toán khoản vay trước.

Sau một thời gian dài, bà T. vẫn không trả nợ. Biết vợ chồng bà T. có tài sản (nhà đất và xe ôtô) nên bà H. khởi kiện ra tòa. Nhưng cũng lúc này bà H. hay tin bà T. đã nợ một người khác gần 2 tỉ đồng rồi giao tài sản trên để cấn nợ. Giao dịch này cũng đã được tòa công nhận trong một quyết định hòa giải thành.

Thành thử khoản nợ mà bà H. cho bà T. vay đã trở nên khó đòi vì bà T. không còn có tài sản nào đáng giá.

Tương tự, bà M. ở quận 2 (TP.HCM) cũng khóc ròng vì chủ nợ thay vì bán nhà trả nợ cho mình lại đưa nhà đi cấn nợ cho người khác khiến bà không thể đòi được nợ.

Trước đó, TAND quận này đã tuyên buộc bà L. phải trả cho bà M. trên 700 triệu đồng. Hai bên đang làm thủ tục thi hành án thì bà L. đã viết giấy mượn nợ của một người thân rồi cấn căn nhà của mình cho chủ nợ sau. Bà M. chưa kịp làm thủ tục yêu cầu phong tỏa tài sản nên đành phải làm người… đến sau. Nhiều lần bà khiếu nại cho rằng đây là một vụ giả nhận nợ để tẩu tán tài sản nhưng không được chấp nhận vì không có chứng cứ.

Ly hôn rồi nhường hết tài sản

Tháng 4-2006, ông S. (tỉnh Kiên Giang) bán cho bà T. bảy lô đất nông nghiệp với giá hơn 300 triệu đồng. Hai bên đã làm hợp đồng mua bán, giao nhận tiền đầy đủ. Tuy nhiên, sau đó việc mua bán không thành nên đã kéo nhau ra tòa.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: THIẾU HƯỚNG DẪN, THI HÀNH ÁN LÚNG TÚNG

NGUYỄN TIẾN HIỂU

Tòa không chịu thụ lý việc xác định tài sản chung, riêng dù luật thi hành án có quy định.

Theo Luật Thi hành án dân sự (LTHADS), trong việc cưỡng chế liên quan tài sản chung, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện xác định phần sở hữu của họ thì người được thi hành án (THA) hoặc chấp hành viên có quyền yêu cầu tòa án xác định phần sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung để đảm bảo THA.

Được quyền kiện nhưng tòa không thụ lý

Mặc dù quy định đã rõ ràng như vậy nhưng cuối cùng THA cũng vướng khi phía tòa không chịu thụ lý việc xác định đâu là tài sản riêng trong khối tài sản chung của các đương sự.

Cụ thể như vụ của ông Nguyễn Văn H. ở quận Bình Thạnh (TP.HCM). Năm 2007, ông yêu cầu ông T. phải thi hành bản án trả nợ. Sau đó, ông phát hiện ông T. có một căn nhà ở quận 10 nên yêu cầu THA cưỡng chế, phát mại. Trớ trêu thay căn nhà trên là tài sản chung của ông T. với người chị. Cơ quan THA đã mời các bên liên quan đến để thỏa thuận phân chia tài sản nhưng chị ông T. không đến. Hai chủ sở hữu chung này cũng không thèm khởi kiện ra tòa để xác định phần tài sản riêng của mình.

Thấy bên kia không hợp tác, căn theo LTHADS, ông H. đã khởi kiện ra tòa yêu cầu xác định phần nhà riêng của ông T. Tuy nhiên, tòa án đã trả lại đơn vì cho rằng không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa.

Tòa lý giải, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Ông H. hay cơ quan THA khởi kiện là không được vì không phải đương sự trong vụ án mà chỉ là… người ngoài.

Trước tình hình đó, cơ quan THA đành phải xếp hồ sơ, báo cáo khó khăn, chờ hướng dẫn.

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP TRONG THỰC THI LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

DƯƠNG VĂN THỊNH – Viện KSND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Sau 1 năm đi vào cuộc sống Luật thi hành án dân sự năm 2009 (Luật THADS năm 2009) đã góp phần không nhỏ trong công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, từ thực tiễn của công tác này đã nảy sinh những bất cập cần có văn bản hướng dẫn cụ thể.

Kéo dài thời gian, chậm thi hành vì thiếu hướng dẫn

Điều 38 Luật THADS năm 2009 quy định: các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp để thực hiện việc kiểm sát. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định rõ trong thời hạn bao nhiêu ngày, kể từ khi ra các quyết định về thi hành án thì cơ quan thi hành án (Cục; Chi cục Thi hành án) phải gửi các quyết định đó cho VKS. Do vậy, có trường hợp sau một thời gian dài kể từ khi ra quyết định (hoặc đến khi giao được quyết định cho đương sự) thì cơ quan thi hành án mới gửi quyết định cho VKS để thụ lý và kiểm sát việc thi hành. Từ đó dẫn tới việc cập nhật của VKS không kịp thời, số liệu thống kê giữa các ngành không được chính xác (ví dụ ra quyết định tháng 10 nhưng đến tháng 12 mới gửi cho VKS do đó VKS phải báo cáo vào số liệu tháng 12 – thuộc năm thống kê khác). Hơn nữa, việc không quy định rõ thời gian gửi các quyết định dẫn đến tình trạng VKS cũng không có căn cứ để kiến nghị hoặc kháng nghị các quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án.

Ngoài ra, tại các Điều 30, 31 Luật THADS năm 2009, quy định về việc thi hành án theo đơn của người được thi hành án (hoặc người phải thi hành án) thì phải làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành, đồng thời phải cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án. Tuy nhiên, do hiện nay chưa có mẫu đơn áp dụng thống nhất, nên mỗi nơi có một loại mẫu đơn khác nhau, hoặc người có yêu cầu tự viết tay và nộp cho cơ quan thi hành án. Trong cả 2 trường hợp này, việc hướng dẫn người được thi hành án viết đơn mất rất nhiều thời gian do điền không đúng, không đủ thông tin cần thiết hoặc không đạt yêu cầu về pháp lý. Do đó người được thi hành án phải làm đi làm lại nhiều lần, gây phiền hà, bức xúc dẫn đến khiếu kiện và hậu quả tất yếu là vụ việc chậm được xử lý, tồn đọng.

Continue reading