TOÀ CÔNG LÝ QUỐC TẾ và tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Đông Nam Á

ANNA LOUISE STRACHAN  (Biên dịch: Phạm Văn Mỹ)

ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang hết sức nỗ lực trong việc xây dựng Cộng đồng chung ASEAN vào năm 2015. Tuy nhiên, giữa các quốc gia trong khối vẫn chưa giải quyết dứt điểm các tranh chấp liên quan tới vấn đề biên giới.

Các nước Đông Nam Á đã từng ba lần đưa nhau ra kiện tại Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ). Vụ kiện đầu tiên giữa Campuchia và Thái Lan diễn ra năm 1959 liên quan tới Ngôi đền Preah Vihear. Năm 1998, Indonesia và Malaysia cũng đã đệ đơn kiện ra ICJ nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với hai hòn đảo trên biển Celebes là Pulau Sipadan và Pulau Ligitan. Tiếp sau đó, năm 2003, Malaysia và Singapore cùng yêu cầu Tòa án này giúp xử lý tranh chấp lãnh thổ ở Pedra Brance (thường được biết đến với tên gọi là Pulau Batu Puteh ở Malaysia), Middle Rocks và South Ledge.

Bài viết này sẽ xem xét các vụ kiện trên một cách chi tiết hơn để chứng tỏ ICJ là một cơ chế hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực Đông Nam Á. ICJ là một trong 6 cơ quan chủ chốt nhất và hoạt động như một cơ quan tư pháp cao nhất của tổ chức Liên Hợp Quốc. Với vai trò là một tòa án quốc tế, ICJ có thẩm quyền ra các phán quyết quyết định các tranh chấp được đem ra xét xử tại tòa, và làm công tác cố vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan theo yêu cầu của các tổ chức như Liên hợp quốc. 15 thẩm phán của ICJ được bổ nhiệm bởi Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có nhiệm kỳ 9 năm. Quá trình bổ nhiệm được sắp đặt với mục đích hạn chế những áp lực chính trị trong việc lựa chọn các thẩm phán. Tuy vậy, một trong những chỉ trích nhằm vào Tòa án này chính là việc trên thực tế vẫn diễn ra những hành động mang tính chính trị hóa.

Khu vực Đông Nam Á hiện đang tồn tại một số vụ tranh chấp lãnh thổ, và việc giải quyết các tranh chấp này sẽ tạo lên những tiến bộ lớn đối với tiến trình hội nhập khu vực. Bài viết này sẽ chứng tỏ Tòa án Công lý quốc tế có tiềm năng đóng một vai trò lớn hơn rất nhiều nữa trong việc giải quyết các tranh chấp này và những hành động cần được thực hiện để gia tăng tín nhiệm của Tòa án đối với các quốc gia Đông Nam Á. Một điều quan trọng là cần phải lưu ý rằng Trung Quốc cũng liên quan tới một số vụ tranh chấp lãnh thổ với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Nổi bật và đáng quan tâm nhất trong số đó là tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, mặc dù cũng có nhiều vấn đề liên quan đến biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc với Việt Nam và Trung Quốc với Lào.

Continue reading

TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG VÀ VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC

DƯƠNG DANH HUY – PHẠM THU XUÂN – NGUYỄN THÁI LINH – LÊ VĨNH TRƯƠNG – LÊ MINH PHIẾU (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Với Việt Nam, quốc tế hoá tranh chấp – mà một trong những cách quan trọng là đưa ra LHQ – là cần thiết để đương đầu với chiến lược và chủ trương của Trung Quốc. Nó cũng vận động được sự tham gia các nước muốn bảo vệ quyền lợi của họ trước đe doạ từ ranh giới lưỡi bò – vốn cũng là một đe dọa rất lớn đối với Việt Nam.

Ngày 10/3/2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9522 về đường cơ sở – một ranh giới biển có ý nghĩa gần như biên giới trên bộ [1]. Luật này không đưa Trường Sa của Việt Nam vào bên trong đường cơ sở, nhưng đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines.

Trước đó, vào ngày 18/2/2009, sau khi Quốc hội Philippines phê chuẩn luật này, Trung Quốc đã phản đối Philippines, đồng thời khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo này. Ngày 19/02/2009, Việt Nam phản đối Philippines, tái khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam về cách giải quyết tranh chấp. Đáp lại phản đối từ Trung Quốc và Việt Nam, Philippines đề nghị đưa tranh chấp ra Liên hiệp quốc (LHQ).

Trung Quốc luôn luôn phản đối việc quốc tế hoá và chỉ chấp nhận đàm phán song phương cho các tranh chấp trên Biển Đông. Việc áp dụng đàm phán song phương cho các tranh chấp đa phương là một điều bất hợp lý, khó mang lại sự công bằng cho các bên.
Rõ ràng, mục đích của đòi hỏi đàm phán song phương là chiến lược bẻ đũa từng chiếc, và mục đích của đòi hỏi không quốc tế hoá tranh chấp là đối phó với các nước yếu hơn. Thêm nữa, yêu sách của Trung Quốc về ranh giới lưỡi bò ảnh hưởng quyền lợi của tất cả các nước trên thế giới, nên quốc tế hoá tranh chấp là điều bất lợi cho Trung Quốc.

Continue reading

TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG và vai trò của Liên hợp quốc

DƯƠNG DANH HUY PHẠM THU XUÂN NGUYỄN THÁI LINH LÊ VĨNH TRƯƠNG & LÊ MINH PHIẾU (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Với Việt Nam, quốc tế hoá tranh chấp – mà một trong những cách quan trọng là đưa ra Liên hợp quốc (LHQ) – là cần thiết để đương đầu với chiến lược và chủ trương của Trung Quốc. Nó cũng vận động được sự tham gia các nước muốn bảo vệ quyền lợi của họ trước đe doạ từ ranh giới lưỡi bò – vốn cũng là một đe dọa rất lớn đối với Việt Nam.

Ngày 10/3/2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9522 về đường cơ sở – một ranh giới biển có ý nghĩa gần như biên giới trên bộ [1]. Luật này không đưa Trường Sa của Việt Nam vào bên trong đường cơ sở, nhưng đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines.

Trước đó, vào ngày 18/2/2009, sau khi Quốc hội Philippines phê chuẩn luật này, Trung Quốc đã phản đối Philippines, đồng thời khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo này. Ngày 19/02/2009, Việt Nam phản đối Philippines, tái khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam về cách giải quyết tranh chấp. Đáp lại phản đối từ Trung Quốc và Việt Nam, Philippines đề nghị đưa tranh chấp ra Liên hiệp quốc (LHQ).

Trung Quốc luôn luôn phản đối việc quốc tế hoá và chỉ chấp nhận đàm phán song phương cho các tranh chấp trên Biển Đông. Việc áp dụng đàm phán song phương cho các tranh chấp đa phương là một điều bất hợp lý, khó mang lại sự công bằng cho các bên.
Rõ ràng, mục đích của đòi hỏi đàm phán song phương là chiến lược bẻ đũa từng chiếc, và mục đích của đòi hỏi không quốc tế hoá tranh chấp là đối phó với các nước yếu hơn. Thêm nữa, yêu sách của Trung Quốc về ranh giới lưỡi bò ảnh hưởng quyền lợi của tất cả các nước trên thế giới, nên quốc tế hoá tranh chấp là điều bất lợi cho Trung Quốc.

Continue reading

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VÀ CHỦ QUYỀN HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM

VÕ ANH TUẤN*

Hội nghị luật biển lần thứ III của Liên hiệp quốc (LHQ) kéo dài 9 năm (1973-1982) đã soạn thảo một công ước quốc tế về luật biển đồ sộ, bao quát tất cả các vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của Biển và Đại dương, quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của mọi loại quốc gia (có biển cũng như không có biển, có trình độ phát triển khác nhau) đối với các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia cũng như những vùng biển thuộc phạm vi quốc tế.

Công ước LHQ về luật biển năm 1982 (UNCLOS) được đánh giá là bộ luật biển hoàn chỉnh nhất từ trước tới nay và là văn kiện pháp lý quốc tế hậu chiến quan trọng nhất sau Hiến chương LHQ. Phần mở đầu Công ước nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của Công ước như “một cống hiến quan trọng vào việc gìn giữ hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới”.

Hiện nay các nước đều căn cứ vào UNCLOS để giải quyết bất đồng và tranh chấp về các vùng biển quốc gia cũng như về khai thác đáy Đại dương – “di sản chung của thế giới” (Điều 136).

Về các vùng biển quốc gia

Theo UNCLOS các nước ven biển có quyền quy định:

Đường cơ sở là những đoạn đường thẳng nối liền các “ngấn nước thấp nhất, nhô ra xa nhất” dọc theo bờ biển (Điều 7).

Lãnh hải không quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở. Nước ven biển có chủ quyền quốc gia “được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của vùng biển này” (Điều 2). Như vậy là chấm dứt tình trạng các nước nhỏ và yếu bị ép buộc quy định lãnh hải của mình không quá 3 hải lý.

Vùng tiếp giáp “không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở”. Nuớc ven biển có quyền kiểm soát hải quan, y tế, nhập cư, trừng trị tội phạm (Điều 33).

Vùng đặc quyền kinh tế “không mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở”. Nước ven biển có quyền chủ quyền về thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên và sinh vật của vùng nước trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, bảo vệ môi trường (Điều 56). Các nước khác được 4 quyền: tự do hàng hải, hàng không, đặt dây cáp và ống dẫn ngầm (Điều 58).

Continue reading

LUẬT CÁC VÙNG BIỂN VIỆT NAM: CÔNG CỤ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BIỂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

TS. NGUYỄN HỒNG THAO – Đại học Quốc gia Hà Nội

Là một quốc gia ven biển, nằm dọc Biển Đông, trải dài qua 16 vĩ độ, (giữa vĩ tuyến 230 và 70 Bắc), Việt Nam có lợi thế và khả năng để tiến ra biển, trở thành một nước mạnh về biển vào năm 2020 như mục tiêu mà Nghị quyết số 27/NQ-CP, ngày 30/5/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đưa ra. Một trong những công cụ quan trọng thực hiện chính sách biển trong tình hình mới là Luật Các vùng biển Việt Nam, xác định khung pháp lý cơ bản cho việc tiến ra biển của đất nước, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, tạo điều kiện phát triển và xây dựng đất nước. Trong bài viết này, tác giả nêu một số quan điểm về những vấn đề mới phát sinh trong xây dựng Luật Các vùng biển Việt Nam.

1. Sự cần thiết ban hành Luật Các vùng biển Việt Nam

Vùng biển Việt Nam nằm trên tuyến đường thông thương huyết mạch giữa các đại dương, có nguồn tài nguyên hết sức đa dạng và phong phú, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế, cũng là nơi chứa đựng nhiều vấn đề tranh chấp biên giới – lãnh thổ, đặc biệt là ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; nhất là khi hoạt động trên biển đang ngày càng tăng lên, đa dạng, mới mẻ trong một bối cảnh quan hệ quốc tế đan xen và cạnh tranh gay gắt.

Năm 2009 đánh dấu một bước ngoặt trong sự tiến triển các sự kiện trên Biển Đông. Với quy định ngày 13/5/2009 là thời hạn cuối cùng để các nước nộp hồ sơ xác định đòi hỏi ranh giới thềm lục địa của mình, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (Công ước Luật biển 1982) đã làm nóng lên cuộc chạy đua khẳng định về mặt pháp lý và sự hiện diện trên thực tế của các nước ven Biển Đông. Việt Nam là nước đầu tiên trong khu vực Đông Nam á ra Tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa bằng Tuyên bố của Chính phủ về các vùng biển Việt Nam ngày 12/05/1977 (Tuyên bố 1977). Tuyên bố 1977 và Tuyên bố của Chính phủ năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (Tuyên bố 1982) và Nghị quyết ngày 23/6/1994 của Quốc hội khoá IX phê chuẩn Công ước Luật biển 1982 là cơ sở pháp lý cơ bản cho việc xây dựng hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam và điều chỉnh các hoạt động trên biển từ trước đến nay. Năm 2003, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biên giới quốc gia khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Continue reading

CĂNG THẲNG BIỂN ĐÔNG VÀ LỰA CHỌN CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN TRỌNG BÌNH

Căng thẳng biển Đông

Trong những ngày gần đây việc tranh chấp tại vùng biển Ðông và những quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa lại trở nên một đề tài nóng. Tàu không vũ trang Impeccable của Mỹ chạm trán với hải quân Trung Quốc và nay Mỹ phải điều động hạm đội đến vùng biển; Tổng thống Philippinnes vừa ban hành luật lãnh hải tuyên bố chủ quyền trên nhóm đảo Scarborough và Trung Quốc tổ chức các chuyến du lịch trên đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm toàn bộ quần đảo từ năm 1974 từ Việt Nam.

Hiện nay, trong ngôn ngữ gặp trên một số báo chí văn thư hay có thói quen gọi khu vực biển có tranh chấp ở Đông Nam Á là “biển Nam Trung Hoa” (South China Sea hay La Mer de Chine du Sud), có lẽ vì Trung Quốc được lấy làm vị trí chuẩn, chứ không mang ý nghĩa công pháp quốc tế là biển này thuộc Trung Quốc.

Vì vậy, Việt Nam đã gọi biển này là biển Đông cũng có ý nghĩa lấy Việt Nam làm vị trí chuẩn và biển này là cửa ngõ chính của Việt Nam nhìn ra biển lớn.
Biển Đông không những là nơi có nhiều nguồn tài nguyên về mỏ năng lượng (như dầu mỏ) mà còn cung cấp nguồn hải sản cho các nước quanh vùng.
Hơn thế nữa, biển Ðông còn là hành lang của các hải thuyền quốc tế qua lại tấp nập từ vùng biển Ấn Độ Dương lên Ðông Bắc châu Á.

Cho đến gần đây, theo luật và theo thông lệ quốc tế, các nước quanh vùng biển này được coi như có chủ quyền lãnh hải như vẽ trong bản đồ (lằn xanh) và khu hải phận quốc tế tàu bè vẫn được tự do qua lại. Tuy nhiên gần đây Trung Quốc công bố bản đồ chủ quyền là vùng lãnh hải hầu như độc quyền chiếm hết đảo và biển của vùng này (xem bản đồ, lằn đỏ) .

image

Lập trường các bên

Continue reading

LẬP TRƯỜNG CỦA TRUNG QUỐC TRONG TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ LUẬT QUỐC TẾ

ĐÀO VĂN THỤY (1)
Quần đảo Hoàng Sa ở vào khoảng giữa vĩ tuyến 16° – 17° và kinh tuyến 111° – 113° đông, cách Huế khoảng 490 km và Yulin (Du Lâm), hải cảng phía nam của đảo Hải Nam khoảng 350 km. Toàn thể quần đảo Hoàng Sa có diện tích khoảng 15.000 km², gồm trên 30 đảo nhỏ và những hòn đá nhô khỏi mặt nước, chia ra làm hai nhóm chính: Nhóm Đông (Amphitrite) mà đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm (Woody Island), dài không quá 4 km, rộng khoảng 2 hay 3 km; và Nhóm Tây (Crescent) mà đảo lớn nhất mang tên Hoàng Sa (Pattle Island), diện tích khoảng 0,3 km². Đảo Phú Lâm cách đảo Hoàng Sa khoảng 87 km. 
Quần đảo Trường Sa ở vào khoảng vĩ tuyến 12° bắc và kinh tuyến 111° đông, cách bờ biển Việt Nam khoảng 400 km, cách Philippin khoảng 300 km và cách Trung Quốc khoảng 1.500 km.
Toàn thể quần đảo Trường Sa có diện tích khoảng 160.000 km², gồm trên 100 đảo và những hòn đá nhô lên mặt biển, trong đó có khoảng 26 đảo hoặc đá chính.

Người dân Việt Nam đã phát hiện ra các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đời. Những tài liệu lịch sử để lại đã chứng minh quan hệ chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này ít ra là từ thời Chúa Nguyễn, vào thế kỷ thứ XVII.

Cho đến ngày bị Pháp đô hộ, các triều đại kế tiếp trị vì nước Việt Nam đã thực sự nắm chủ quyền trên hai quần đảo này mà không có nước nào cạnh tranh và coi các hải đảo này hoàn toàn thuộc lãnh thổ của nước ta.

Mãi đến đầu thế kỷ XX, năm 1909, trước sự đe doạ của chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản, Trung Hoa mới bắt đầu chú ý tới quần đảo Hoàng Sa và sau này, trong những năm 1928, 1932, biểu hiện ý đồ tranh giành chủ quyền với chính quyền bảo hộ Pháp – chỉ biểu hiện ý đồ chứ không có hành động chiếm hữu thực sự.

Continue reading

ĐĂNG KÝ THỀM LỤC ĐỊA MỞ RỘNG TRƯỚC 13/5/2009

DƯƠNG DANH HUY – Qũi nghiên cứu biển ĐÔng

Việt Nam phê chuẩn UNCLOS ngày 25/07/1994 cho nên trên nguyên tắc Việt Nam phải đăng ký yêu sách về thềm lục địa mở rộng với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa trước ngày 13/05/2009. Nếu lỡ thời hạn này, Việt Nam sẽ không có quyền khai thác thềm lục địa mở rộng của mình.

Theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982 [1] (UNCLOS) mỗi nước ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý [2] tính từ đường cơ sở [3] của nước đó. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ven biển có đặc quyền khai thác kinh tế đối với biển và đáy biển [4].

UNCLOS cũng quy định là nếu thềm lục địa [5] của nước ven biển kéo dài ra xa hơn 200 hải lý thì nước đó có đặc quyền khai thác tài nguyên dưới đáy biển trong một vùng bên ngoài 200 hải lý [6] gọi là thềm lục địa mở rộng (Extended Continental Shelf – ECS).

image

Hình SEQ Hình * ARABIC 1: Các vùng biển được quy định trong UNCLOS. Baselines là đường cơ sở. Territorial Sea là lãnh hải. Contiguous Zone là vùng tiếp giáp. Exclusive Economic Zone là vùng đặc quyền kinh tế. High Seas là biển cả hay biển quốc tế [7]. (Click vào bản đồ để xem hình lớn hơn)

Continue reading

CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982: CÔNG CỤ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN

image TuanVietNam – Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển 1982 (UNCLOS) là một công cụ rất quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông. Thế nhưng, cho tới nay nội dung của UNCLOS vẫn chưa được quảng bá rộng rãi. Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu với bạn đọc toàn văn Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển 1982.

Như chúng ta biết:

– Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam[1], những hiệp định phân định chủ quyền trên biển của Việt Nam, bao gồm hiệp định phân định chủ quyền trong Vịnh Thái Lan với Thái Lan năm 1997, hiệp định phân định chủ quyền trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc năm 2000 và hiệp định chủ quyền thềm lục địa với Indonesia, đều được đàm phán dựa trên UNCLOS.

– Trước chủ trương, chiến lược và hành động của Trung Quốc trên biển, Việt Nam đã nhiều lần dựa trên UNCLOS để khẳng định chủ quyền của mình.

– Quan điểm của Việt Nam là tranh chấp biển và thềm lục địa phải được giải quyết dựa trên UNCLOS[2].

– Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của UNCLOS.

– Việt Nam và Trung Quốc đã tuyên bố chung là phải có giải pháp cơ bản mà hai bên chấp nhận được[3]. “Chấp nhận được” không thể là “nước mạnh làm gì họ muốn, nước yếu chấp nhận những gì mình đành phải chấp nhận”, mà phải dựa trên lẽ công bằng như UNCLOS đòi hỏi và thí dụ như được thể hiện trong UNCLOS.

– Các nước khác, thí dụ như Mỹ, cũng cho là tranh chấp Biển Đông phải được giải quyết theo luật quốc tế chứ không phải bằng cách chiếm đoạt[4].

Rõ ràng, UNCLOS là một công cụ rất quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trước chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông. Thế nhưng, cho tới nay nội dung của UNCLOS vẫn chưa được quảng bá rộng rãi trong chúng ta. Ngay cả giới trí thức, giới luật học, ngay cả những người quan tâm về chủ quyền lãnh thổ, cũng chưa biết nhiều về UNCLOS.

Hi vọng bản công ước UNCLOS này sẽ đóng góp thêm một phương tiện quý báu giúp tất cả chúng ta phát huy tinh thần yêu nước và trí tuệ mình, cụ thể là tất cả giúp chúng ta hiểu và đấu tranh cho sự công bằng cho chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông.

Continue reading

VẤN ĐỀ TÊN GỌI VÀ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN VÙNG BIỂN ĐÔNG

Đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Mở bán công TPHCM năm 2005 do Đinh Kim Phúc làm chủ nhiệm đề tài, cùng với các thành viên: Huỳnh Tấn Dũng, Huỳnh Trung Trực, Nguyễn thị Mộng Thúy, Hứa văn Đức và Th.S Mạnh Ngọc Hùng.

I. Ý nghĩa đề tài:

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một quốc gia độc lập, có nền văn hiến
lâu đời và đang phát triển ở vùng Đông Nam Á. Diện tích chung toàn vùng lãnh thổ của Việt Nam là 329.314,5km2, dân số 82.032.300 người, mật độ trung bình trong cả nước là 249 người/km2 (số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2004). Lãnh thổ Việt Nam gồm có vùng núi, vùng trung du và đồng bằng, vùng biển, hải đảo và vùng trời. Phía Bắc, Việt Nam tiếp giáp với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và có đường biên giới chạy dài 1.150km. Về phía Tây, nước Việt Nam tiếp giáp nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân dân Lào và có 1.650km đường biên giới với nước này. Phía Tây Nam, Việt Nam tiếp giáp với lãnh thổ của Vương quốc Campuchia, có chiều dài 1.137km đường biên giới chung. Bờ biển của Việt Nam kể từ biên giới Việt-Trung cho đến biên giới Việt-Campuchia dài khoảng 3.260km. Nếu tính cả bờ biển các đảo và quần đảo trên biển Đông thì chiều dài này còn lớn hơn nhiều, khiến Việt Nam có độ dài bờ biển lớn hơn Thailand, ngang bằng với Malaysia và đứng đầu các nước ở bán đảo Trung Ấn. Theo Công ước Quốc tế, mỗi quốc gia có quyền ấn định lãnh hải của mình là 12 hải lý kể từ đường cơ sở, vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế được quy định với chiều rộng là 200 hải lý. Thềm lục địa cũng được tính cho đến 200 hải lý. Như vậy, Việt Nam có chủ quyền trên một vùng biển khá rộng lớn, khoảng 1 triệu km2 ở biển Đông .Vùng biển Việt Nam hiện nay tiếp giáp với ranh giới, lãnh hải của tám quốc gia: Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, Campuchia, Thailand và Singapore.

Continue reading