CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA: THỬ PHÂN TÍCH LẬP LUẬN CỦA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

image TỪ ĐẶNG MINH THU – Tiến sĩ Luật, Đại học Sorbonne

Nhắc đến Biển Đông, không ai không nghĩ đến hai cái tên rất đẹp Hoàng Sa và Trường Sa. Tiếc thay hai cái tên đó lại gắn liền với những gì đi ngược với thiện, mỹ, hoà, vì hai quần đảo xa xôi này đã và đang là đối tượng của một cuộc tranh chấp sôi nổi giữa các quốc gia và lãnh thổ trong vùng. Cuộc tranh chấp đã kéo dài gần một thế kỷ nhưng đến nay vẫn chưa giải quyết được, và ngày càng trầm trọng hơn, đang là mối đe doạ cho hoà bình ở vùng Đông Nam Á.

Khi thì bùng nổ, khi thì lắng dịu, cuộc tranh chấp này mang mọi hình thức đấu tranh, từ đấu tranh chính trị, ngoại giao đến đấu tranh vũ lực. Các quốc gia tranh chấp cũng thay đổi tuỳ theo thời cuộc. Lúc đầu chỉ có Pháp và Trung Hoa, tiếp sau đó, Nhật Bản và Philippin cũng nhảy vào đòi quyền lợi. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bại trận rút lui khỏi cuộc tranh chấp, Pháp rời Đông Dương, Trung Hoa thay đổi chính quyền, thì các quốc gia và vùng lãnh thổ tranh chấp gồm Việt Nam Cộng hoà, Trung Quốc, Đài Loan và Philippin. Sau khi Việt Nam thống nhất thì cuộc tranh chấp tiếp diễn giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và ba quốc gia và vùng lãnh thổ kia. Ngày nay, từ khi “Luật Biển mới” ra đời, tầm quan trọng của 2 quần đảo tăng thêm, thì số quốc gia tranh chấp cũng tăng theo. Malaixia và Brunây cũng đòi quyền lợi trên quần đảo Trường Sa. Với Công ước Luật Biển mới, quốc gia nào nắm những quần đảo này không những được hưởng lãnh hải quanh đảo mà cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa quanh quần đảo. Tuy nhiên, vấn đề phân chia lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia chưa thực hiện được khi chưa biết hai quần đảo này thuộc về ai. Vì vậy, vấn đề xác định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa càng quan trọng.

Bài viết này sẽ phân tích một số lý lẽ chính mà Việt Nam và Trung Quốc đưa ra để khẳng định chủ quyền của mình, vì đây là hai quốc gia chính trong cuộc tranh chấp.

I. DIỄN BIẾN CUỘC TRANH CHẤP

     Diễn biến cuộc tranh chấp sẽ được trình bày vắn tắt theo thứ tự thời gian, qua ba giai đoạn: trước thời Pháp thuộc, trong thời Pháp thuộc, và sau thời Pháp thuộc.

1. Trước thời Pháp thuộc

· Những người đánh cá Trung Hoa và Việt Nam sống trên các đảo tuỳ theo mùa nhưng từ bao giờ thì không thể xác định được.

· Đầu thế kỷ XVII: Chúa Nguyễn tổ chức khai thác trên các đảo. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo, và những hoá vật do lấy được từ những tàu đắm.

· Năm 1753: Có 10 người lính của Đội Bắc Hải đến quần đảo Trường Sa: 8 người xuống đảo, còn 2 người thì ở lại canh thuyền. Thình lình cơn bão tới và thuyền bị trôi dạt đến cảng Thanh Lan của Trung Quốc. Chính quyền Trung Hoa cho điều tra, và khi biết các sự kiện, đã cho đưa 2 người lính Việt Nam về.[2]

· Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình.

· Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo, và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi Pháp nhảy vào Đông Dương.

2. Thời Pháp thuộc

Continue reading

ĐI TÌM MỘT GIẢI PHÁP HÒA BÌNH HỢP CÔNG LÝ CHO BIỂN ĐÔNG NAM Á [1]

image VŨ QUANG VIỆT{2}

Tranh chấp ở “Biển Nam Trung hoa” theo cách gọi thông dụng hay “Biển Đông” theo cách gọi của Việt Nam là một vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến quyền lợi của các nước có tranh chấp bao gồm Trung Quốc, Phi-líp-pin, Việt Nam và phần nào đó là Ma-lai-xi-a và Bru-nây, mà còn liên quan đến quyền tự do giao thông trên biển qua khu vực vì nhu cầu trao đổi hàng hoá kể cả dầu hỏa giữa châu Âu, Trung Đông, châu Phi và châu Á, và liên quan đến an ninh lâu dài của khu vực[3] và hoà bình của thế giới.

Chiến lược dài lâu của Trung Quốc là trở thành siêu cường, với mục tiêu tối đa là kiểm soát biển Đông Nam Á, với chính sách vừa đe doạ vừa mua chuộc các nước nhỏ trong khu vực, và đòi hỏi Mỹ phân chia lợi ích. Ngoại giao Trung Quốc hiện nay đã từ bỏ con đường sử dụng chiêu bài nhân danh mình là nạn nhân thời đế quốc – thực dân để lên án Nhật và các cường quốc Tây phương xâu xé các nước nghèo nhằm đòi hỏi quyền lợi hoặc nhằm tranh giành trở thành lãnh đạo các nước thứ ba. Chính sách ngoại giao hiện nay của Trung Quốc đã chuyển sang giai đoạn xác định mình là một cường quốc toàn cầu và đòi hỏi quyền lợi của một cường quốc.[4]Trong diễn đàn Liên Hợp Quốc hiện nay, Trung Quốc gần như tránh né phát biểu nhân danh quyền lợi của các nước đang phát triển, họ để cho đại diện nhóm các nước đang phát triển (được gọi là nhóm 77 và Trung Quốc) phát biểu. Làm thế, quyền lợi của họ với tư cách một nước đang phát triển được bảo đảm nhưng họ lại tránh được việc đụng đầu với các cường quốc khác. Họ chỉ phát biểu khi quyền lợi riêng của họ bị đụng chạm.

Liệu Trung Quốc có khả năng làm bá chủ trên toàn biển Đông Nam Á không? Liệu Mỹ có khả năng đối phó không?  Theo đánh giá của chuyên gia, về mặt quân sự, trong khoảng 20 năm tới Trung Quốc khó có thể đối đầu lại với Mỹ, nếu đó là cuộc chiến tranh chỉ hạn chế trên biển. Nếu tính xa hơn 20 năm, với khả năng Trung Quốc tiếp tục phát triển kinh tế và tăng cường sức mạnh quân sự như hiện nay, Trung Quốc có thể trở thành ngang ngửa với Mỹ. Tuy nhiên, một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ ở vào bất cứ thời điểm nào và ở bất cứ mức độ nào cũng sẽ đưa kinh tế thế giới đến khủng hoảng trầm trọng, do mức độ liên kết kinh tế rất cao giữa các nước hoặc qua ngoại thương hoặc qua đầu tư nước ngoài so với trước thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, ảnh hưởng tai hại lớn nhất sẽ xảy ra với kinh tế Trung Quốc, vì thị trường thu mua lớn nhất hàng hoá Trung Quốc và nguồn cung ứng khoa học kỹ thuật sẽ bị đóng lại. Và do đó khả năng Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận một cuộc chiến tranh với Mỹ trên biển Đông Nam Á là điều gần như không thể xảy ra, tất nhiên không thể loại trừ khả năng mù quáng của những người lãnh đạo độc đoán nhưng có tư tưởng dân tộc sô vanh nước lớn. Tuy thế, tranh chấp bá quyền vẫn là chiều hướng của khu vực. Cả Trung Quốc và Mỹ đều đang muốn xây dựng lực lượng đồng minh chiến lược.

Bài viết này cố gắng đặt Việt Nam vào cuộc chạy đua bá quyền hiện nay ở châu Á và thử tìm hiểu về con đường hành xử hợp lý nhất cho Việt Nam ở tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông Nam Á.

Continue reading

TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ AN NINH ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ KHU VỰC

NGÔ VĨNH LONG

Thay lời giới thiệu

Trong trình bày của tôi tại hội thảo về Biển Đông ở Gladfelter Hall, Temple University (Philadelphia) ngày 25 tháng 3 năm 2010 tôi có đưa ra một số nhận xét, trong đó có các điểm chính sau đây:

1. Đối tượng chính của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương, nói chung, và Biển Đông, nói riêng, là Hoa Kỳ. Trung Quốc đã cố tình thách thức, nếu không nói là gây hấn, để mong Mỹ, trong lúc phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở I-rắc và Afghanistan, phải có thái độ nhũn nhặn với Trung Quốc nếu không nói là có thể nhượng bộnhững đòi hỏi của Trung Quốc không những trong khu vực Tây Thái Bình Dương hay Biển Đông mà còn trong các lãnh vực kinh tế tài chính. Nếu làm được việc này thì không những Trung Quốc hù dọa các nước khác trong khu vực mà còn lấy điểm với dân chúng họ bằng cách dấy lên lòng tự hào dân tộc. Tôi có trích một vài ví dụ dẫn chứng sau đây: Cuối năm Trung Quốc đòi chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ và để Trung Quốc kiểm soát toàn bộ Tây Thái Bình Dương đến miền tây quần đảo Hawaii. Sau khi Mỹ từ chối thì tháng 3 năm 2009 một số tàu hải quân Trung Quốc đã vây sát đến khoảng 15 thước một tàu một tàu khảo sát của hải quân Mỹ (tên là Impeccable) tại vùng biển cách đảo Hải Nam 75 dặm. Trong tháng 6 năm 2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã va chạm với thiết bị định vị kéo theo sau của tàu khu trục Hải quân Mỹ trong khi đang trên đường đến Phi-líp-pin và làm đứt dây cáp kéo thiết bị đó. Phản ứng của Mỹ rất ôn hòa: chính phủ Mỹ gửi công hàm phản đối lên chính phủ Trung Quốc sau sự kiện tàu Impeccable, và tuyên bố vụ va chạm của tàu ngầm Trung Quốc chắc là vì vô ý. Được thể, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, bất chấp luật pháp quốc tế, công bố sau sự kiện tàu Impeccable là các tàu Mỹ cần phải xin phép trước khi đi vào khu đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Sau đó Trung Quốc lấn tới bằng cách cho hải quân của họ đụng chìm các tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam hoạt động trong vùng biển gần đảo Hoàng Sa và bắt nhốt các người này để đòi tiền chuộc.

2. Riêng tại khu vực Biển Đông thì đối tượng chính của Trung Quốc là Việt Nam vì Việt Nam là nước “núi liền núi sông liền sông” với Trung Quốc, có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong vùng, và có tranh chấp nhiều nhất với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc có thể làm áp lực để cho chính phủ Việt Nam tỏ thái độ nhân nhượng, dưới biển cũng như trên đất liền, thì Trung Quốc có thể ít nhất là trung lập hóa được các nước khác vì họ không có lợi ích nhiều như Việt Nam trong việc tranh chấp với Trung Quốc. Không ai dại gì đưa đầu ra nếu nước bị mất mát nhiều nhất không dám tranh đấu cho quyền lợi của chính mình. Do đó Trung Quốc đã rất khéo léo trong việc hù dọa và chỉchủ yếu đánh bắt ngư dân Việt Nam. Nhưng việc chính phủ Việt Nam không có thái độ cương quyết đối với Trung Quốc để bảo vệ người dân của mình và việc các nước chung quanh cũng đã không phản đối ra mặt sẽ càng ngày càng khuyến khích Trung Quốc lấn sâu vào Biển Đông.

Continue reading

BIỂN ĐÔNG – CÁI BIỂN HAY CÁI AO?

NGUYỄN TRUNG

Vốn hay lan man theo kiểu “trông người lại nghĩ đến ta”, dưới đây xin chia sẻ với bạn đọc một vài suy nghĩ rất riêng của cá nhân tôi về “câu chuyện Biển Đông” của chúng ta, nhân xảy ra sự kiện “Senkaku” giữa Nhật và Trung Quốc hiện nay.

I. Bối cảnh

Trong nhiều thập kỷ nay, quan hệ Nhật – Trung có lẽ chưa có sự kiện nào căng thẳng đến mức rất cao như vụ thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Quốc Zhan Qixiong đầu tháng 9-2010 bị bắt giam do xâm phạm vào vùng biển do Nhật Bản kiểm soát và do đã va chạm vào tàu tuần tra của Nhật Bản. Ngày 25-09-2010 phía Nhật Bản đã phải thả người thuyền trưởng này do áp lực rất mạnh và gần như toàn diện của Trung Quốc. Hiện nay sự kiện căng thẳng này chưa thể nói là đã kết thúc. 

Trong khi đó riêng từ đầu năm 2009 đến nay phía Trung Quốc đã bắt giam hàng trăm ngư dân Việt Nam ngay trong vùng biển của Việt Nam, băt tù, đòi phạt tiền, tịch thu tàu…; có những vụ tàu Trung Quốc đã vào cách bờ biển Việt Nam 65 hải lý, ghĩa là sâu trong hải phận của Việt Nam. Gần đây nhất, các vụ bắt ngư dân Việt Nam trong vùng biển của Việt Nam vẫn liên tiếp xảy ra trong tháng 10-2010, trong lúc đó Trung Quốc tưng bừng đón Zhan Qixiong trở về Bắc Kinh ngày 27-09-2010 như một anh hùng.

Dư luận thế giới rất bất bình về cách ứng xử theo “tiêu chuẩn kép” [1]) như thế của Trung Quốc và đồng thời đặt ra nhiều câu hỏi ngờ vực về thái độ mềm yếu của Việt Nam.        

Cần nhắc lại, dù là tồn tại tranh chấp vùng đảo Senkaku giữa Nhật và Trung Quốc, song hiệu lực pháp lý quốc tế còn nguyên vẹn cho đến nay của Hội nghị San Francisco và Hiệp nghị Yalta vẫn quy định để cho Nhật tiếp tục quản lý đảo Senkaku mà không trao cho phía Trung Quốc. Thực tế này có nghĩa: Nếu Trung Quốc muốn giải quyết tranh chấp này thì phải thông qua thương lượng, chứ không thể cứ chủ động cho tàu cá của mình thâm nhập vùng đảo này, đâm vào tàu tuần tra của Nhật, rồi gây áp lực chính trị như đã diễn ra. Chẳng lẽ một quốc gia theo đuổi chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc lại thực hiện một phong cách ngoại giao như vậy?[2] Tình hình căng thẳng tới mức còn nhiều điều chưa đoán định được, chính phủ Nhật đang chịu nhiều sức ép bên trong và bên ngoài. Trên thế giới còn nhiều tranh chấp biển đảo chưa có cách giải quyết.  Vấn đề là lựa chọn giải pháp hòa bình hay xung đột. Nếu cả hai bên cùng leo thang, tình hình sẽ đi tới đâu?[3]Senkaku hiện nay chắc chắn sẽ không là chuyện chỉ giữa Trung Quốc và Nhật.

Continue reading

GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

TẠ VĂN TÀI

Viết về đề tài trên theo lời yêu cầu, chúng tôi xin trình bày vài bước đi trong lộ trình đi tìm cách giải quyết – tức là các giải pháp trung gian – rồi sau đó tiến đến các giải pháp pháp lý để giải quyết, trong hoà bình, vấn đề cốt lõi sau cùng là tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và các nước khác về các quần đảo, tài nguyên dầu khí, ngư nghiệp, và thềm lục địa tại Biển Đông và về vấn đề tự do lưu thông hàng hải và khai thác tài nguyên ngoài biển. 

Vấn đề chủ quyền các tài nguyên trên liên quan đến các quyền lợi mà các quốc gia liên hệ tại Á châu, và các dân tộc của họ, không thể từ bỏ dễ dàng – vì chẳng khác gì có kẻ cướp vào nhà đòi lấy tài sản và vợ mình mà mình chịu để yên. Các cường quốc ở xa như Hoa Kỳ (qua lời ngoại trưỏng Clinton) cũng đã phải tuyên bố gần đây là vấn đề Biển Đông (trong đó Mỹ chú trọng đến lưu thông hàng hải và khai thác dầu khí) là nằm trong quyến lợi quốc gia (national interest) của Mỹ, sau khi thấy Trung Quốc tuyên bố và hành động theo kiểu muốn làm bá quyền tại Biển Đông. Ngay cả Việt Nam, sau nhiều năm cố gắng nhẫn nhịn thái độ hung hăng của Trung Quốc vì hy vọng vào 16 chữ vàng (đến chỗ dẹp cả biểu tình của thanh niên yêu nước chống Trung Quốc – Trần Mạnh Hảo, nhà thơ, đã than giùm họ: "tôi yêu nước mà sao tôi bị bắt!"), thì nay cũng đã tìm lối thoát sự đè nén, bắt nạt của Trung Quốc mà nhiều năm qua họ đã thể hiện qua các hành vi quân sự, như chiếm đảo 1988, hay áp đảo tâm lý, như đe dọa các hãng dầu có khế ước khai thác tại vùng biển Việt Nam, đơn phuơng cấm dân chài Việt Nam đánh cá và bắt giữ họ đòi tiền chuộc, vẽ đường chữ U (Lưỡi Bò) nhận vơ 80% Biển Đông, phản đổi Việt Nam cùng Mã Lai xác định chung trong một hồ sơ tại Liên Hiệp Quốc về thềm lục địa nối dài. Việt Nam tìm lối thoát khi tạo đưọc một "cú" ngọan mục vào lúc làm chủ toạ hội nghị ASEAN tại Hà Nội vào tháng 7, 2010 và lôi kéo được 12 nước ASEAN yêu cầu Hoa Kỳ xác định lập trường quyền lợi quốc gia của Mỹ tại Biển Đông, mời tàu chiến Mỹ đi ra đi vô Việt Nam, và đang chuẩn bị xây dựng thể chế hợp tác chặt chẽ hơn với các nước khác, trong đó có Mỹ, trong chính sách ngoại giao đa phương, đưa vào việc nghị trình bản thảo Bá Cáo Chính Trị trong Đại Hội Đảng 2011.        

Chúng tôi xét theo quan điểm dân tộc Việt Nam để đưa ra mấy đề nghị sau đây – và nếu chúng tôi nói tới quyền lợi của các quốc gia khác ở Á Châu chung quanh Biển Đông (Trung Quốc, Đài Loan, Phi luật Tân, Mã Lai, Brunei, Nam Dương, Singapore) hay các quốc gia dùng đường hàng hải hay có quyền lợi kinh tế hay an ninh ở Biển Đông (Mỹ, Nhật, Đại Hàn, Ấn, Nga) thì cũng là nói tới gián tiếp thôi.

Xin đề nghị 3 loại giải pháp: củng cố nội lực, ngoại giao đa phương và vận dụng luật pháp quốc tế.

1.  Tuân theo ý nguyện của nhân dân để có nội lực chính trị và quân sự nhằm đối phó với áp lực của Trung Quốc.

Chính Trung Quốc, về mặt chính thức qua thông cáo của Bộ Ngoại Giao  thì vẫn nói gịong ôn hòa (thí dụ gần đây chỉ nói về biển đảo mà không nói gì về đường Lưỡi Bò nữa), nhưng về dư luận nội địa thì  lại  thả lỏng cho  dân chúng, qua báo chí, Internet, hay các bài của các học giả giáo sư bàn về Biển Đông, nói và viết với giọng bá quyền và đe dọa chiến tranh với Việt Nam, có lẽ với mục đích để cho một số lãnh đạo Việt Nam sợ mà không đẩy mạnh củng cố quân lực hay ngoại giao đa phuơng, nhằm phản ứng kịp thời khi Trung Quốc thình lình đánh úp vài hải đảo, theo lối tầm ăn rỗi.

Continue reading

BIỂN ĐÔNG – Ba giai đoạn, bốn thách thức, hai cách tiếp cận khu vực và một niềm tin

PGS. TS. NGUYỄN HỒNG THAO  (Đại học quốc gia Hà Nội, Việt Nam)

Các tranh chấp gần đây tại Biển Đông và Biển Hoa Đông đang làm cho tình hình châu Á nóng lên, làm các nước trong khu vực cảnh giác và e ngại, tác động đến sự ổn định và phát triển kinh tế.

1. Ba giai đoạn hình thành và quản lý tranh chấp trên Biển Đông

Lịch sử tranh chấp tại Biển Đông có thể chia làm ba giai đoạn gắn liền với những hướng giải quyết đã được đưa ra.

Giai đoạn một – tranh chấp chủ quyền trên các đảo đá trong lịch sử cho đến năm 1958.

Giai đoạn hai – tranh chấp lãnh thổ mở rộng và liên kết chặt chẽ với tranh chấp vùng biển do sự định hình và phát triển của luật biển quốc tế từ 1958 đến 2009.

Giai đoạn ba – quản lý và giải quyết tranh chấp biển đảo bằng biện pháp hòa bình và cách tiếp cận khu vực – từ 2009 trở đi.

Giai đoạn một – tranh chấp chủ quyền trên các đảo ở Biển Đông, tập trung chủ yếu giữa Việt Nam và Trung Quốc nhưng không phải không có những chủ thể tranh chấp khác. Sự kiện Đô đốc Lý Chuẩn thám sát Hoàng Sa năm 1909 được coi là mở đầu tranh chấp trên Biển Đông, vào thời điểm Việt Nam mất độc lập và Pháp chưa thật sự sẵn sàng cho việc bảo vệ danh nghĩa chủ quyền kế thừa từ các hoạt động thực sự, liên tục và hòa bình của đội Hoàng Sa do Nhà Nguyễn (Chúa Nguyễn, Vua Nguyễn) thành lập từ thế kỷ thứ XVII. Tranh chấp tiếp tục leo thang với các Công hàm của Phái đoàn Ngoại giao Trung Quốc tại Paris năm 1932: “Tây Sa tạo thành cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc”,[1] và những năm tiếp theo: “Nam Sa là điểm tận cùng phía Nam của lãnh thổ Trung Quốc”. Trung Quốc tuyên bố danh nghĩa chủ quyền trên các đảo dựa trên quyền phát hiện, hoạt động đánh bắt và đặt tên của ngư dân Trung Quốc ngược lại lịch sử đến thời Hán Vũ Đế thế kỷ II trước Công nguyên. Nhật, Anh, Pháp đều đã từng tuyên bố có chủ quyền trên Trường Sa và đều lần lượt tuyên bố từ bỏ theo những cách khác nhau. Năm 1939 Anh từ bỏ yêu sách chủ quyền Trường Sa khi nhận thấy việc ủng hộ tuyên bố của các tư nhân Anh là không phù hợp với luật quốc tế và cho rằng việc bảo vệ Trường Sa trước hết thuộc quyền hạn của Chính phủ Pháp.[2] Với Hiệp ước Vịnh Hạ Long năm 1949, Pháp chuyển giao chủ quyền trên Nam Kỳ trong đó có Trường Sa mà Pháp đã tuyên bố chiếm hữu từ năm 1933 cho Quốc gia Việt Nam.[3] Ba Hội nghị  Cairo 1943, Postdam năm 1945 và San Francisco 1951 đã góp phần trục xuất Nhật Bản khỏi các lãnh thổ mà nước này chiếm được bằng vũ lực và lòng tham, trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa.

Continue reading

BIỂN ĐÔNG – BA GIAI ĐOẠN, BỐN THÁCH THỨC, HAI CÁCH TIẾP CẬN KHU VỰC VÀ MỘT NIỀM TIN

PGS. TS. NGUYỄN HỒNG THAO – Đại học quốc gia Hà Nội, Việt Nam

Các tranh chấp gần đây tại Biển Đông và Biển Hoa Đông đang làm cho tình hình châu Á nóng lên, làm các nước trong khu vực cảnh giác và e ngại, tác động đến sự ổn định và phát triển kinh tế.

1. Ba giai đoạn hình thành và quản lý tranh chấp trên Biển Đông

Lịch sử tranh chấp tại Biển Đông có thể chia làm ba giai đoạn gắn liền với những hướng giải quyết đã được đưa ra.

Giai đoạn một – tranh chấp chủ quyền trên các đảo đá trong lịch sử cho đến năm 1958.

Giai đoạn hai – tranh chấp lãnh thổ mở rộng và liên kết chặt chẽ với tranh chấp vùng biển do sự định hình và phát triển của luật biển quốc tế từ 1958 đến 2009.

Giai đoạn ba – quản lý và giải quyết tranh chấp biển đảo bằng biện pháp hòa bình và cách tiếp cận khu vực – từ 2009 trở đi.

Giai đoạn một – tranh chấp chủ quyền trên các đảo ở Biển Đông, tập trung chủ yếu giữa Việt Nam và Trung Quốc nhưng không phải không có những chủ thể tranh chấp khác. Sự kiện Đô đốc Lý Chuẩn thám sát Hoàng Sa năm 1909 được coi là mở đầu tranh chấp trên Biển Đông, vào thời điểm Việt Nam mất độc lập và Pháp chưa thật sự sẵn sàng cho việc bảo vệ danh nghĩa chủ quyền kế thừa từ các hoạt động thực sự, liên tục và hòa bình của đội Hoàng Sa do Nhà Nguyễn (Chúa Nguyễn, Vua Nguyễn) thành lập từ thế kỷ thứ XVII. Tranh chấp tiếp tục leo thang với các Công hàm của Phái đoàn Ngoại giao Trung Quốc tại Paris năm 1932: “Tây Sa tạo thành cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc”,[1] và những năm tiếp theo: “Nam Sa là điểm tận cùng phía Nam của lãnh thổ Trung Quốc”. Trung Quốc tuyên bố danh nghĩa chủ quyền trên các đảo dựa trên quyền phát hiện, hoạt động đánh bắt và đặt tên của ngư dân Trung Quốc ngược lại lịch sử đến thời Hán Vũ Đế thế kỷ II trước Công nguyên. Nhật, Anh, Pháp đều đã từng tuyên bố có chủ quyền trên Trường Sa và đều lần lượt tuyên bố từ bỏ theo những cách khác nhau. Năm 1939 Anh từ bỏ yêu sách chủ quyền Trường Sa khi nhận thấy việc ủng hộ tuyên bố của các tư nhân Anh là không phù hợp với luật quốc tế và cho rằng việc bảo vệ Trường Sa trước hết thuộc quyền hạn của Chính phủ Pháp.[2] Với Hiệp ước Vịnh Hạ Long năm 1949, Pháp chuyển giao chủ quyền trên Nam Kỳ trong đó có Trường Sa mà Pháp đã tuyên bố chiếm hữu từ năm 1933 cho Quốc gia Việt Nam.[3] Ba Hội nghị  Cairo 1943, Postdam năm 1945 và San Francisco 1951 đã góp phần trục xuất Nhật Bản khỏi các lãnh thổ mà nước này chiếm được bằng vũ lực và lòng tham, trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa.

Continue reading

BÌNH LUẬN BÀI “TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG NAM Á – ĐI TÌM GIẢI PHÁP HÒA BÌNH VÀ CÔNG LÝ DỰA TRÊN CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ” CỦA TIẾN SỸ VŨ QUANG VIỆT

DƯƠNG DANH HUY & HOÀNG ANH TUẤN KIỆT

Vấn đề Biển Đông đang ngày càng trở thành mối quan tâm an ninh chiến lược tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Biển Đông có vị trí trọng yếu trong giao thương hàng hải và có tầm chiến lược quân sự không những của riêng khu vực Đông Nam Á mà còn của Châu Á – Thái Bình Dương. Nước nào làm chủ được Biển Đông thì sẽ chi phối được Đông Nam Á và nắm giữ vai trò quan trọng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc nâng tầm quan trọng của Biển Đông thành an ninh quốc gia và quả quyết là “quyền lợi cốt lõi”, tương đương như những vấn đề Tây Tạng, Đài Loan và Tân Cương. Với lý do đó, một khi quyền lợi này bị đe dọa hay bị can thiệp thì Trung Quốc sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự để cưỡng đoạt. Chính những tuyên bố và hành động cứng rắn trong thời gian gần đây của Trung Quốc đã gây quan ngại, không chỉ với các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông và những nước có quyền lợi hàng hải liên quan, mà với cả toàn thế giới, khi mà những hành động này ảnh hưởng đến an ninh khu vực. Bài viết này sẽ thảo luận về các giải pháp giải quyết tranh chấp Biển Đông đã được đề xuất trong công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Quang Việt. Chúng tôi sẽ bàn sâu hơn đến các vấn đề quan trọng như các nguyên tắc cho việc tìm các giải pháp, đặc tính của các giải pháp, sự phức tạp của vấn đề tranh chấp, đề xướng các giải pháp, …Bài viết sẽ xem xét những yếu tố trên dựa theo chứng cứ lịch sử và công pháp quốc tế. Cuối cùng sẽ tóm lược lại những điểm hợp lý và chưa hợp lý trong công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Quang Việt, đồng thời đề xuất những giải pháp bổ sung cho vấn đề tranh chấp.

1. Sơ lược bài viết của TS Vũ Quang Việt

Công trình nghiên cứu của TS Vũ Quang Việt (“Tranh chấp Biển Đông Nam Á: đi tìm giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế” Thời Đại Mới số 19, 7/2010) cho thấy đó là một công trình công phu, tác giả rất tâm huyết với vấn đề mang tính sống còn cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Bài viết đã thể hiện sự công tâm và tinh thần công bằng đáng trân trọng, đồng thời thể hiện tinh thần cầu thị cao. Những đức tính đó rất đáng quý trong việc nghiên cứu về tranh chấp Biển Đông. Song, có đôi điều chúng tôi muốn bàn luận thêm về nội dung cũng như một số khía cạnh của bài viết.

Phạm trù của bài viết

Phần lớn Phần II, “Xem xét lại những yêu sách dựa trên ‘chủ quyền lịch sử’ ”, và Phần III, “Bối cảnh: Đi tìm giải pháp hòa bình và công lý” là về đảo, không phải về biển. Tất cả các tiêu đề trong hai phần này là về đảo.

Continue reading

TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG NAM Á: ĐI TÌM GIẢI PHÁP HÒA BÌNH VÀ CÔNG LÝ DỰA TRÊN CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

VŨ QUANG VIỆT

Tóm tắt phương pháp luận và kết quả chính của nghiên cứu

Bài viết này không còn là bản nháp, nhưng vẫn chỉ có thể coi là bản đúc kết tạm trong quá trình nghiên cứu về một vấn đề rất phức tạp. Như bất cứ một nghiên cứu mang tính khoa học nào, nó dựa trên các thông tin hiện có và các sự kiện được giới chuyên gia đánh giá là đáng tin cậy, và như thế trong tương lai khi có thêm các thông tin được đánh giá là đáng tin cậy, các đúc kết tạm ở bài này có thể thay đổi.

Bài viết này dựa trên quá trình nghiên cứu của tác giả được trình bày và trao đổi tại hai hội thảo về tranh chấp Biển Nam Trung Hoa (mà tác giả đề nghị nên gọi là biển Đông Nam Á), đã được trình bày ngày 18 tháng 11 năm 2009 tại Council on Southeast Asian Center, Yale University và ngày 25 tháng 3 năm 2010 tại Center for Vietnamese Philosophy, Culture, & Society, Temple University.

Tác giả cám ơn Giáo Sư Ngô Vĩnh Long và Giáo sư Trần Hữu Dũng đã đóng góp nhiều ý kiến cũng như tham gia tổ chức các cuộc hội thảo trên. Thời gian sau hai Hội thảo trên, tác giả cũng nhận được nhiều ý kiến và thông tin mới từ nhiều người, đặc biệt là bạn Nguyễn Tuân ở Ý và Dương Danh Huy ở Anh, Hồ Bạch Thảo ở Mỹ, Nguyễn Ngọc Giao ở Pháp qua đó tác giả đã điều chỉnh lại những sai sót trước đây. Mới nhất tác giả cũng tiếp cận được thêm một vài nghiên cứu (chưa phải hết) của anh Phạm Hoàng Quân ở Việt Nam, và cố gắng đưa vào bài này. Cũng xin cám ơn cô Phương Loan ở Vietnamnet đã giúp dịch bài tiếng Anh mà tác giả trình bày ở Temple University để sử dụng trong bài viết này. Tuy vậy phải nói những đúc kết trong bài viết là ý kiến riêng của tác giả, không một ai trong những người được nêu tên ở trên có trách nhiệm gì về chúng, thậm chí có người còn không đồng ý.

Bất cứ một cuộc tranh chấp nào mang tính quốc gia đều nhạy cảm. Người viết có thể chọn quan điểm của quốc gia mình để trình bày và diễn dịch sự kiện nhằm ủng hộ chủ quyền của nước mình và bác bỏ sự kiện và diễn dịch của nước khác. Cách tiếp cận này ở mức độ tốt nhất vừa đòi hỏi việc sưu tầm sự kiện chính xác, có nguồn gốc rõ ràng, vừa tìm cách sử dụng công pháp quốc tế nhằm thuyết phục người đọc, dư luận quốc tế, coi họ như những ông quan tòa có tri thức, sẵn sàng tìm hiểu sự việc và không thiên vị. Dù thế nào thì cách tiếp cận như vậy cũng không khách quan vì người viết sẽ chỉ trưng ra những cái có lợi cho mình và đào sâu vào những cái bất lợi cho địch. Cho đến nay, không có quyển sách nào vượt hơn được quyển sách Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands của bà luật sư Monique Chemillier-Gendreau, gồm nhiều tài liệu đáng tin cậy, lập luận chặt chẽ dựa vào công pháp quốc tế, có lợi cho Việt Nam. Bà Chemillier viết có thể dưới tư cách một người bạn Việt Nam, một người vì công lý hoặc cũng có thể coi là với tư cách một luật sư bảo vệ khách hàng của mình. Trước tòa án công lý, có thể bà ấy sẽ thắng nhiều điểm cho Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề tranh chấp hiện nay đâu chỉ liên quan đến luật, mà thực chất là cuộc tranh chấp quyền lực ngày càng đi dần đến bạo lực ở mức độ dữ dội hơn, làm mất an ninh của khu vực và có thể của thế giới, và trước tiên là an ninh của Việt Nam.

Continue reading

GIẢI PHÁP NÀO CHO TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG?

HOÀNG VIỆT

1. Giới thiệu về biển Đông

Biển Đông là một biển nửa kín và là một trong những khu vực chiến lược quan trọng bậc nhất trên thế giới. Vùng biển này trải rộng từ khoảng vĩ tuyến 3º Nam tới vĩ tuyến 23º Bắc và được bờ biển của các nước Trung Quốc (bao gồm cả đảo Đài Loan), Việt Nam, Campuchia, Thái lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines bao bọc xung quanh. Với diện tích bề mặt khoảng 1.148.500 hải lý vuông (tương đương 3.939.245 km2), biển Đông là một trong những biển lớn nhất thế giới.

Hình 1: Toàn bộ khu vực biển Đông

Nguồn: South China Sea-Reference Map-US CIA; lấy từ http://community.middlebury.edu/~scs/maps/South%20China%20Sea-reference%20map-US%20CIA.jpg.

Khu vực biển Đông bao gồm những tuyến đường hàng hải nhộn nhịp bậc nhất của thế giới, nối khu vực Đông Bắc Á và Tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Trung Đông. Trung bình một năm có khoảng hơn 41.000 lượt tàu biển qua lại khu vực này.[1] Các tàu chở dầu đi qua eo biển Malacca (nằm ở cuối phía Tây Nam của biển Đông) nhiều gấp ba lần so với lượng tàu chở dầu đi qua kênh đào Suez, và nhiều gấp năm lần so với lượng tàu qua kênh đào Panama.[2] Hơn 80% lượng dầu khí nhập khẩu của Nhật từ Trung Đông, Brunei, Malaysia, Indonesia phải đi ngang vùng biển này.[3]Vùng biển này còn là khu vực cung cấp nguồn hải sản quan trọng cho các đội tàu đánh cá của Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Brunei, Singapore và Thái Lan.

Continue reading

CÁC NƯỚC XUNG QUANH BIỂN ĐÔNG VÀ VẤN ĐỀ TRÌNH HỒ SƠ RANH GIỚI NGOÀI THỀM LỤC ĐỊA

PGS.TS. NGUYỄN HỒNG THAO – Đại học Quốc gia Hà Nội

Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) đã có hiệu lực được 15 năm (1994-2009). Theo các điều khoản của UNCLOS, mỗi quốc gia ven biển (QGVB) có quyền có lãnh hải 12 hải lý, đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa. Điều 76, khoản 8 của UNCLOS quy định: “QGVB thông báo những thông tin về các ranh giới thềm lục địa của mình, khi thềm lục địa đó mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, cho Uỷ ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) được thành lập theo Phụ lục II, trên cơ sở sự đại diện công bằng về địa lý. CLCS gửi cho các QGVB những kiến nghị về các vấn đề liên quan đến việc ấn định ranh giới ngoài thềm lục địa của họ. Các ranh giới do một quốc gia ven biển ấn định trên cơ sở các kiến nghị đó là dứt khoát và có tính chất bắt buộc”.

Thời hạn trình CLCS là 10 năm kể từ ngày Công ước UNCLOS có hiệu lực với quốc gia thành viên (Phụ lục II, điều 4 UNCLOS). Tuy nhiên thời hạn cuối cùng đối với các quốc gia ven biển thành viên của Công ước đã được ấn định là 13/5/2009 bằng Quyết định ngày 29/5/2001 (SPLOS/72) được thông qua trong phiên họp lần thứ 11 của các quốc gia thành viên Công ước Luật biển. Tới ngày đó, các quốc gia phải lựa chọn một trong ba khả năng: 1) trình hồ sơ cuối cùng về ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 M (dặm) tính từ đường cơ sở cho CLCS. Một quốc gia có thể trình hồ sơ toàn thể hay một phần. Quốc gia có thể trình một hoặc nhiều hồ sơ từng phần thay cho một hồ sơ toàn thể cho cả vùng biển. Hai hay nhiều quốc gia có thể trình chung một hồ sơ theo Mục 4 Phụ lục I Quy định thủ tục của CLCS; 2) Trình Tổng thư ký các thông tin ban đầu về ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 M và bản mô tả tình hình chuẩn bị và ngày dự kiến trình hồ sơ phù hợp với các yêu cầu của điều 76 của Công ước và với Quy định thủ tục và hướng dẫn khoa học và kỹ thuật của CLCS; 3) Bảo lưu các quyền của mình về thềm lục địa bằng cách phản đối các hồ sơ đã được trình. Quốc gia nào không tiến hành bất kỳ hành động nào nói trên sẽ được coi là không quan tâm tới việc mở rộng thềm lục địa ra ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở của họ.

Theo Công ước LHQ về Luật biển 1982 (UNCLOS) mỗi nước ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý tính từ đường cơ sở của nước đó. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ven biển có đặc quyền khai thác kinh tế đối với biển và đáy biển.

Continue reading

ĐẠI DƯƠNG VÀ LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

LÊ VĂN BÍNH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Tìm hiểu đại dương và chế độ pháp  lý của nó  từ góc cạnh của Luật quốc  tế hiện đại  là cần thiết. Điều đó không chỉ vì đại dương chiếm gần 3/4 diện tích bề mặt trái đất, mà nó còn là sự sống, là hiểm hoạ đối với con người. Chúng tôi chọn “Đại dương và Luật quốc tế hiện đại” để trao đổi cùng người đọc. 

1. Đại dương và những thách thức mới (1)

Từ cuối  thế kỷ XX đến đầu  thế kỷ XXI  là giai  đoạn  của  các  thành  tựu  về  khoa  học  kỹ thuật, về toàn cầu hoá các quan hệ quốc tế và về nền  kinh  tế  tri  thức.  Thế  giới  đã  hình  thành “khoảng không gian chung” về thông tin – pháp  lý  và  về  kinh  tế  -  tài  chính,  trong  đó  có  cách  nhìn tiệm cận chung về đảm bảo các quyền của  con người, của các dân tộc và của các quốc gia.

Chính  trong  các  điều  kiện  đó,  an  ninh  cộng đồng quốc tế cũng phải đối mặt với những mạo hiểm  mới,  những  thách  thức  mới  và  những  hiểm  hoạ  mới.  Các  vấn  đề  đó  có  thể  là:  các xung đột trong phạm vi của quốc gia hoặc trong  nội  khối  của  các  tổ  chức  quốc  tế;  khủng  bố quốc  tế;  các  hoạt  động  tội  phạm  có  tổ  chức; nguy cơ phổ biến vũ khí giết người hàng  loạt;  khủng  hoảng  kinh  tế-tài  chính  toàn  cầu;  hiểm hoạ môi  trường;  buôn  bán ma  tuý;  và  dịch  tả  trên  quy mô  lớn.  Tất  cả  các  sự  kiện  nói  trên, trong một chừng mực nào đó có  liên quan đến  đại dương và Luật biển quốc tế.

Khó  đánh  giá  hết  tầm  quan  trọng  của  đại dương  và  vai  trò  của  nó đối  với đời  sống  con người. Vì đại dương  là ngôi nhà chung,  là cầu nối giữa các  lục địa và  giữa các nền văn minh của nhân  loại,  là  tuyến đường giao  thông  thuỷ đặc biệt quan trọng được tạo thành từ các vùng biển với các  chế độ pháp  lý khác nhau. Trong  đó phần  lớn  là biển cả, vùng biển không  thuộc chủ quyền  của bất  cứ một  quốc  gia  nào. Điều đó  được  thể  hiện  trong  nguyên  tắc  tự  do  biển cả: tự do thuỷ vận; tự do hàng không; tự do lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm; tự do đánh cá; tự do  nghiên  cứu khoa học;  tự  do  xây  dựng  các đảo và  lắp đặt các công  trình nhân  tạo. Tự do biển  cả không có nghĩa  là  tự do một cách  tuyệt đi, mà  tự do phải phù hợp với định chế của Công ước  Liên  hợp  quốc  (LHQ)  về  Luật  biển  năm  1982  (sau  đây  gọi  là Công  ước  năm  1982)  và các quy phạm khác của Luật quốc tế [1].

Continue reading

CÁC VÙNG KHAI THÁC CHUNG TRONG LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

NGUYỄN BÁ DIẾN – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Các vùng khai thác chung trên biển và quy chế pháp lý điều chỉnh đối với chúng ngày càng phát triển trong thực tiễn và trong Luật Quốc tế hiện đại. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khá mới mẻ trong lý luận và thực tiễn không chỉ đối với người dân mà cả đối với nhiều chuyên gia pháp lý Việt Nam. Để góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về các vùng khai thác chung trong Luật Quốc tế hiện đại, trong bài viết này, tác giả phân tích tầm quan trọng của khai thác chung; việc thiết lập các vùng khai thác chung giữa các quốc gia theo các góc độ:

i) Thiết lập khu vực khai thác chung như là một trong những khả năng lựa chọn để đi đến thiết lập một đường biên giới,

ii) Các vùng khai thác chung như là yếu tố bổ trợ cho việc phân định và quản lý đường phân giới trên biển; và sự điều chỉnh của Luật Quốc tế đối với hoạt động khai thác chung trên các vùng biển (vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế).

Bài viết kết luận rằng, chế độ pháp lý cho vùng khai thác chung dù hết sức đa dạng và phức tạp nhưng các quốc gia hữu quan cần có giải pháp tối ưu cho việc xây dựng một quy chế pháp lý hiệu quả nhằm bảo đảm lợi ích công bằng cho các bên, tuân thủ triệt để các quy định của Luật Quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982.

1. Tầm quan trọng của khai thác chung

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của kinh tế, khả năng khai thác biển của con người ngày càng được mở rộng. Đồng thời với quá trình này là nhận thức của con người về tầm quan trọng của biển đối với sự sống, sự phát triển của kinh tế và an ninh quốc phòng của các quốc gia càng được nâng lên. Vì vậy, chiến lược chung của loài người ở thế kỷ XXI dường như được xây dựng trên cơ sở của một trong những xu thế chủ đạo nhất: xu thế tiến ra biển và làm chủ biển.

Continue reading

Các vùng khai thác chung TRONG LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

NGUYỄN BÁ DIẾN (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội)

Tóm tắt. Các vùng khai thác chung trên biển và quy chế pháp lý điều chỉnh đối với chúng ngày càng phát triển trong thực tiễn và trong Luật Quốc tế hiện đại. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khá mới mẻ trong lý luận và thực tiễn không chỉ đối với người dân mà cả đối với nhiều chuyên gia pháp lý Việt Nam. Để góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về các vùng khai thác chung trong Luật Quốc tế hiện đại, trong bài viết này, tác giả phân tích tầm quan trọng của khai thác chung; việc thiết lập các vùng khai thác chung giữa các quốc gia theo các góc độ:

i) Thiết lập khu vực khai thác chung như là một trong những khả năng lựa chọn để đi đến thiết lập một đường biên giới,

ii) Các vùng khai thác chung như là yếu tố bổ trợ cho việc phân định và quản lý đường phân giới trên biển; và sự điều chỉnh của Luật Quốc tế đối với hoạt động khai thác chung trên các vùng biển (vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế).

Bài viết kết luận rằng, chế độ pháp lý cho vùng khai thác chung dù hết sức đa dạng và phức tạp nhưng các quốc gia hữu quan cần có giải pháp tối ưu cho việc xây dựng một quy chế pháp lý hiệu quả nhằm bảo đảm lợi ích công bằng cho các bên, tuân thủ triệt để các quy định của Luật Quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982.

1. Tầm quan trọng của khai thác chung

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của kinh tế, khả năng khai thác biển của con người ngày càng được mở rộng. Đồng thời với quá trình này là nhận thức của con người về tầm quan trọng của biển đối với sự sống, sự phát triển của kinh tế và an ninh quốc phòng của các quốc gia càng được nâng lên. Vì vậy, chiến lược chung của loài người ở thế kỷ XXI dường như được xây dựng trên cơ sở của một trong những xu thế chủ đạo nhất: xu thế tiến ra biển và làm chủ biển.

Continue reading

ĐƯỜNG CHỮ U (ĐỨT KHÚC) CỦA TRUNG QUỐC (VIỆT NAM GỌI LÀ ĐƯỜNG LƯỠI BÒ) TRÊN BIỂN NAM TRUNG HOA: CÁC ĐIỂM, ĐƯỜNG VÀ KHU VỰC

PETER KIEN – HONG YU (Người dịch: Hoàng Khánh Hòa và tòa soạn Thời Đại Mới)

Lời tòa soạn Thời Đại Mới:

Bài viết này quan trọng ở chỗ nó phản ánh các quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan là quyết không từ bỏ chủ quyền trong đường chữ U, tức là đường lưỡi bò theo cách gọi của Việt Nam, và bản thân tác giả lập luận ủng hộ các quan điểm đó. Tác giả là Giáo Sư Đại học Ming Chuan, Trường Sau Đại học về Ngoại Giao ở Đài Loan.  

Các chú thích của người dịch được để trong […] với chữ nghiêng. Các chú thích của tác giả cũng có thể có, để trong  […] nhưng với chữ thẳng đứng

Xisha, đọc là Tây Sa, Việt Nam gọi là Hoàng Sa, tức nhóm đảo Paracels. Zhongsha, đọc là Trung Sa, Việt Nam cũng gọi là Trung Sa, là nhóm bãi cát ngập nước Macclesfield Bank nằm ở phía đông của nhóm đảo Hoàng Sa.

Nansha, đọc là Nam Sa, Việt Nam gọi là Trường Sa, tức nhóm đảo Spratleys. Luật Biển hay Công ước Biển 1982 được dùng trong bài là nói về cùng một bộ luật của Liên Hợp Quốc về biển.

Bài báo này phân tích các tác động tích cực và tiêu cực của đường chữ U (biên giới lãnh hải) trên Biển Nam Trung Hoa (NTH) cũng như các điểm đáng quan tâm còn chưa rõ ràng. Các tác động tích cực của đường này bao gồm nhận định cho rằng đường này không phải là chủ ý của Đài Loan và Trung Quốc nhằm gộp biên giới quốc tế vào biên giới quốc gia (national framework). Các tác động tiêu cực bao gồm những gánh nặng đối với lực lượng hải quân Trung Quốc. Bài báo này cũng sẽ trả lời những câu hỏi về  bản chất mối quan hệ giữa đường chữ U và các vùng đặc quyền kinh tế của Cộng sản Trung Quốc (Communist Exclusive Economic Zones), lập luận rằng mối quan hệ phi mâu thuẫn này cần được xem như là sự bảo hiểm hai lần mà cả Đài Loan và Trung Quốc đang nỗ lực đầu tư.

Continue reading

TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CHUNG

THS. HOÀNG VIỆT – Đại học Luật TPHCM

Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Liệu các bên liên quan có thể đi tới giải pháp khai thác chung cho vùng tranh chấp trên Biển Đông?

Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc trong Khoản 3 Điều 74 và Điều 83 có quy định: “Trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở Khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng…”.

Đây chính cơ sở pháp lý của luật pháp quốc tế trong việc tiến hành hợp tác khai thác chung trong khi chờ phân định.

Khai thác chung không phải là ý tưởng mới trong giải quyết các tranh chấp biển trên thế giới. Mô hình khai thác chung trên thế giới đã được thực hiện từ lâu, điển hình là Hiệp ước Svalbard ngày 19/12/1920, theo đó các bên tranh chấp công nhận chủ quyền của Nauy đối với quần đảo Svalbard, trong khi duy trì quyền tiếp cận hiện hữu của các quốc gia khác đối với quần đảo này nhằm mục đích thực hiện việc khai thác, săn bắt và các hoạt động kinh tế khác.

Kể từ khi Hiệp ước này ra đời, trên thế giới đã có khoảng 20 điều ước quốc tế về mô hình hợp tác khai thác chung được ký kết, ví dụ như Thỏa thuận khai thác chung giữa Papua New Guinea và Australia năm 1978, Nauy và Anh ở Biển Bắc, Ảrập Xêut và Sudan, Thái Lan và Malaysia, Australia và Indonesia, Việt Nam và Malaysia…

Những nguyên tắc cần lưu ý

Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Cơ sở của các thỏa thuận này chính là chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển của quốc gia theo quy định của luật pháp quốc tế.

Continue reading

TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG và giải pháp khai thác chung

THS. HOÀNG VIỆT  (Trường Đại học Luật TPHCM)

Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Liệu các bên liên quan có thể đi tới giải pháp khai thác chung cho vùng tranh chấp trên Biển Đông?

Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc trong Khoản 3 Điều 74 và Điều 83 có quy định: “Trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở Khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng…”.

Đây chính cơ sở pháp lý của luật pháp quốc tế trong việc tiến hành hợp tác khai thác chung trong khi chờ phân định.

Khai thác chung không phải là ý tưởng mới trong giải quyết các tranh chấp biển trên thế giới. Mô hình khai thác chung trên thế giới đã được thực hiện từ lâu, điển hình là Hiệp ước Svalbard ngày 19/12/1920, theo đó các bên tranh chấp công nhận chủ quyền của Nauy đối với quần đảo Svalbard, trong khi duy trì quyền tiếp cận hiện hữu của các quốc gia khác đối với quần đảo này nhằm mục đích thực hiện việc khai thác, săn bắt và các hoạt động kinh tế khác.

Kể từ khi Hiệp ước này ra đời, trên thế giới đã có khoảng 20 điều ước quốc tế về mô hình hợp tác khai thác chung được ký kết, ví dụ như Thỏa thuận khai thác chung giữa Papua New Guinea và Australia năm 1978, Nauy và Anh ở Biển Bắc, Ảrập Xêut và Sudan, Thái Lan và Malaysia, Australia và Indonesia, Việt Nam và Malaysia…

Những nguyên tắc cần lưu ý

Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Cơ sở của các thỏa thuận này chính là chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển của quốc gia theo quy định của luật pháp quốc tế.

Continue reading

CÁC TRANH CHẤP LÃNH HẢI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI CHIẾN LƯỢC BIỂN: MỘT GÓC NHÌN LỊCH SỬ

GS. BRUCE A. ELLEMAN – Trường Cao đẳng Hải quân Mỹ (US Naval War College)

*Đây là bản dịch Chương 3: “Maritime territorial disputes and their impact on maritime strategy: A historical perspective” trong cuốn Security and International Politics in the South China Sea (An ninh và chính trị quốc tế ở biển Đông) do Sam Bateman và Ralf Emmers chủ biên, NXB Routledge, New York, 2009, tr. 42-57.  Tạp chí Thời Đại Mới giữ bản quyền bản dịch này.

Trung Quốc đã nhiều lần đơn phương tuyên bố chủ quyền tại các đảo trên biển Đông từ hơn 100 năm nay. Đô đốc Tát Trấn Băng (Sa Zhenbing), tổng tư lệnh Hải quân Thanh triều đã từng dẫn đầu một tầu viễn dương đến những vùng biển đang trong vòng tranh chấp này vào năm 1907 để khẳng định các tuyên bố về chủ quyền của Thanh triều. Vào thập niên 1930, Nhật Bản đã cho quân đồn trú tại nhiều đảo ở đó cho tới khi những hòn đảo này lọt vào vòng kiểm soát của Trung Hoa Quốc Dân Đảng sau Thế Chiến Thứ Hai. Bất chấp các cuộc phản đối của Trung Quốc, Đài Loan vẫn tiếp tục chiếm đóng một số đảo mang tính chiến lược, bao gồm đảo Đông Sa (Pratas) và Ba Đình (Itu Aba – Taiping Island).

Bù lại việc Trung Quốc đã muộn màng trong việc hiện đại hóa quân đội và ngay cả chưa có hàng không mẫu hạm cho đến tận bây giờ, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (People’s Liberation Army  ̶  PLA) vẫn phải bám quân ở nhiều đảo và vỉa san hô đang trong vòng tranh chấp ở biển Đông. Để tăng cường khả năng chỉ huy quân báo, Trung Quốc đang từng bước xây dựng các trạm vô tuyến trên các đồn trú quân rải rác này với các thiết bị điện tử đa dạng, từ các máy chuyển tiếp tín hiệu truyền thông hiện đại cho đến các radar sóng ngắn. Điều này không những cho thấy sự gia tăng về tiềm năng quân sự của Trung Quốc trong khu vực, mà rõ ràng còn là những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang chuẩn bị ráo riết cho việc bành trướng thêm nữa đối với các vùng biển còn đang trong vòng tranh chấp ở biển Đông.

Bằng việc phân tích các mâu thuẫn trong quá khứ ở biển Đông, bài viết này sẽ cho thấy tác động của việc tranh chấp chủ quyền lên việc tăng cường lực lượng hải quân Trung Quốc cũng như tác động lên một chiến lược hiếu chiến hơn về quyền lợi biển nhằm khoanh vùng và ngăn cản các nước khác xâm phạm các vùng lãnh hải mà Trung Quốc tuyên bố là thuộc về họ. Rõ ràng, việc xây dựng dần dần các căn cứ trên các đảo sẽ cho phép Bắc Kinh một ngày nào đó khẳng định nhiều hơn chủ quyền của họ ở biển Đông. Điều suy đoán này đã được xác định vào ngày 4 tháng 12, 2007 khi Trung Quốc đơn phương thông báo thành lập “một thành phố mới” thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý hành chánh quần đảo Hoàng Sa (Paracels), quần đảo Trung Sa (Maccles field Bank) và quần đảo Trường Sa (Spratlys) bất chấp rằng chủ quyền của những quần đảo này vẫn còn đang trong vòng tranh chấp.

Continue reading

TOÀ CÔNG LÝ QUỐC TẾ VÀ TRANH CHẤP LÃNH THỔ Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

ANNA LOUISE STRACHAN  (Biên dịch: Phạm Văn Mỹ)

ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang hết sức nỗ lực trong việc xây dựng Cộng đồng chung ASEAN vào năm 2015. Tuy nhiên, giữa các quốc gia trong khối vẫn chưa giải quyết dứt điểm các tranh chấp liên quan tới vấn đề biên giới.

Các nước Đông Nam Á đã từng ba lần đưa nhau ra kiện tại Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ). Vụ kiện đầu tiên giữa Campuchia và Thái Lan diễn ra năm 1959 liên quan tới Ngôi đền Preah Vihear. Năm 1998, Indonesia và Malaysia cũng đã đệ đơn kiện ra ICJ nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với hai hòn đảo trên biển Celebes là Pulau Sipadan và Pulau Ligitan. Tiếp sau đó, năm 2003, Malaysia và Singapore cùng yêu cầu Tòa án này giúp xử lý tranh chấp lãnh thổ ở Pedra Brance (thường được biết đến với tên gọi là Pulau Batu Puteh ở Malaysia), Middle Rocks và South Ledge.

Bài viết này sẽ xem xét các vụ kiện trên một cách chi tiết hơn để chứng tỏ ICJ là một cơ chế hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực Đông Nam Á. ICJ là một trong 6 cơ quan chủ chốt nhất và hoạt động như một cơ quan tư pháp cao nhất của tổ chức Liên Hợp Quốc. Với vai trò là một tòa án quốc tế, ICJ có thẩm quyền ra các phán quyết quyết định các tranh chấp được đem ra xét xử tại tòa, và làm công tác cố vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan theo yêu cầu của các tổ chức như Liên hợp quốc. 15 thẩm phán của ICJ được bổ nhiệm bởi Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có nhiệm kỳ 9 năm. Quá trình bổ nhiệm được sắp đặt với mục đích hạn chế những áp lực chính trị trong việc lựa chọn các thẩm phán. Tuy vậy, một trong những chỉ trích nhằm vào Tòa án này chính là việc trên thực tế vẫn diễn ra những hành động mang tính chính trị hóa.

Khu vực Đông Nam Á hiện đang tồn tại một số vụ tranh chấp lãnh thổ, và việc giải quyết các tranh chấp này sẽ tạo lên những tiến bộ lớn đối với tiến trình hội nhập khu vực. Bài viết này sẽ chứng tỏ Tòa án Công lý quốc tế có tiềm năng đóng một vai trò lớn hơn rất nhiều nữa trong việc giải quyết các tranh chấp này và những hành động cần được thực hiện để gia tăng tín nhiệm của Tòa án đối với các quốc gia Đông Nam Á. Một điều quan trọng là cần phải lưu ý rằng Trung Quốc cũng liên quan tới một số vụ tranh chấp lãnh thổ với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Nổi bật và đáng quan tâm nhất trong số đó là tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, mặc dù cũng có nhiều vấn đề liên quan đến biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc với Việt Nam và Trung Quốc với Lào.

Continue reading