KHUYNH HƯỚNG HIỆN NAY CỦA PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ

JEAN – PIERRE ANCEL – Chánh tòa danh dự Tòa án Tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp

Tôi xin giới thiệu tổng quát về pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế, bắt đầu bằng hai nhận xét chính. Tôi sử dụng cụm từ “pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế” do Pháp không có Luật Trọng tài (điều này khác với nhiều nước từ 15 năm trở lại đây đã thông qua Luật Trọng tài). Ở Pháp, trọng tài được coi là lĩnh vực của tố tụng dân sự, được điều chỉnh bởi nghị định, không phải bởi luật. Vậy nên một nghị định cơ bản được ban hành vào năm 1981 (cho đến nay chưa hề bị sửa đổi). Điều này dẫn tới nhận xét thứ hai của tôi là: trong pháp luật của Pháp, hầu hết các quy định, thậm chí các quy định cơ bản nhất về trọng tài, đều bắt nguồn từ thực tiễn xét xử. Tòa án đã đưa ra hầu hết các quy định quan trọng về trọng tài, đặc biệt về trọng tài quốc tế.

Trong pháp luật của Pháp, có 3 nguyên tắc lớn mang tính chủ đạo điều chỉnh lĩnh vực trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ nhất là tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ hai là đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành công bằng và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế. Nguyên tắc thứ ba là quy chế pháp lý đặc biệt của phán quyết trọng tài quốc tế phải được chấp nhận. Trong đó, nguyên tắc thứ nhất mang tính truyền thống, hai nguyên tắc còn lại mới mẻ hơn trong luật so sánh.

Về nguyên tắc thứ nhất (tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế), nguyên tắc này ngày nay đã được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận. Dự Luật của Việt Nam dĩ nhiên là giữ lại nguyên tắc này. Ở Pháp, nguyên tắc này được thiết lập từ một quyết định của Tòa Phá án (Tòa án Tư pháp tối cao) năm 1963. Tại quyết định này, Tòa Phá án tuyên bố nguyên tắc theo đó điều khoản trọng tài quốc tế có tính độc lập so với hợp đồng chính. Từ nguyên tắc đó, vào năm 1999, Tòa Phá án đã suy ra nguyên tắc về tính hiệu lực điều khoản trọng tài, theo đó điều khoản hợp đồng có một chế độ pháp lý riêng, đặc thù và được suy đoán trước là có hiệu lực. Giải pháp táo bạo này đã bị chỉ trích rất nhiều do có những ý kiến cho rằng thỏa thuận hợp đồng không thể tồn tại mà không có luật điều chỉnh. Hiệu lực của hợp đồng luôn phải phù hợp với quy định của một đạo luật hoặc một văn bản quy phạm pháp luật khác như nghị định. Theo giáo sư Fouchard, đây không phải là trường hợp hợp đồng có xung đột pháp luật vì người ta không tìm được luật áp dụng đối với thỏa thuận này. Theo tôi, luật áp dụng đối với điều khoản trọng tài đơn giản chỉ là thỏa thuận giữa các bên – kể từ khi các bên đã quyết định về thỏa thuận trọng tài, quyết định này có hiệu lực bắt buộc và trở thành luật của các bên.

Continue reading →

NHỮNG THAY ĐỔI TRONG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG NHẬT BẢN VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Theo Sắc lệnh ngày 29/5/2009 thông qua việc thành lập Cục Quan hệ Người tiêu dùng (Consumer Affairs Agency – CAA) trực thuộc Văn phòng Nội các (Cabinet Office), ngày 1/9/2009 CAA chính thức đi vào hoạt động với hơn 200 nhân viên để xử lý các vụ việc có liên quan đến người tiêu dùng . Trước đây, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng là một trong những chức năng của Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC).

Việc tách riêng cơ quan bảo vệ người tiêu dùng cùng khung khổ pháp lý mới liên quan đến chính sách bảo vệ người tiêu dùng cũng gắn với việc thay đổi đáng kể pháp luật về các hành vi thương mại không lành mạnh Nhật Bản với những thay đổi trong Đạo luật số 54 năm 1957 về chống độc quyền tư nhân và duy trì thương mại lành mạnh có hiệu lực từ ngày 4/1/2010. Theo đó, việc xử lý các hành vi thương mại không lành mạnh chủ yếu gây hậu quả đến người tiêu dùng sẽ được chuyển sang thuộc thẩm quyền của CAA .

Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong việc ban hành Luật và Chính sách cạnh tranh ở châu Á, những kinh nghiệm của Nhật Bản trong lĩnh vực này có thể sẽ rất bổ ích cho Việt Nam. Thứ nhất, liên quan tới việc trong năm 2010Việt Nam thông qua Luật Bảo vệ người tiêu dùng, theo hình mẫu Nhật Bản có thể nghĩ đến việc thành lập Cục Bảo vệ Người tiêu dùng như một cơ quan độc lập chứ không phải có một Ban Bảo vệ người tiêu dùng thuộc Cục Quản lý cạnh tranh như hiện nay.

Thứ hai, cần có biện pháp để áp dụng cơ chế đòi bồi thường thiệt hại đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. Các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh ở Nhật Bản chủ yếu được xử lý thông qua cơ chế đưa ra Toà án đòi bồi thường thiệt hại. Qua hơn 4 năm chính thức có hiệu lực, Luật Cạnh tranh năm 2004 mới được áp dụng để xử lý hơn 20 vụ việc về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Continue reading →

ĐẶC TRƯNG MÔ HÌNH KINH TẾ TỰ DO MỚI CỦA MỸ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

THS. CAO MINH NGHĨA & THS. NGUYỄN THỊ HOÀNG MỸ

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dẫn đến việc mô hình kinh tế tư bản tự do bị lên án mạnh mẽ tại Mỹ và khắp nơi trên thế giới, kể cả những người từng ủng hộ mạnh mẽ nhất. Chuyên gia kinh tế Francis Fykuyama giảng dạy tại đại học John Hopkins, xem đây là “sự sụp đổ của mô hình kinh tế Mỹ” và “sự cáo chung của các học thuyết Reagan và Thatcher” (theo: Asiaweek, 13/10/2008).

Một số nhà phân tích và dư luận Mỹ đang nói đến việc Mỹ quay trở lại học thuyết Keynes và mô hình kinh tế “tân chính sách” dưới thời Tổng thống F.D.Roosvelt thời kỳ 1933-1939, hoặc theo mô hình dân chủ xã hội giống như các nước Đức, Pháp hoặc tìm mô hình khác với tên gọi mới như “chủ nghĩa tư bản có kiểm soát”, hay “chủ nghĩa tư bản có phòng vệ”, hay “chủ nghĩa tư bản sáng tạo”. Theo George Soros “… đặc điểm nổi bật của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay là nó không xuất phát từ cú sốc bên ngoài nào đó…. Chính hệ thống hiện thời tự thân nó tạo ra cuộc khủng hoảng này”.

Tờ nhật báo Pháp Le Monde, đã trích dẫn quan điểm của nhà trí thức, triết gia người Slovania Slavoj Zizek, một người thường xuyên thuyết trình tại các đại học Mỹ về cuộc khủng hoảng hiện nay “chủ nghĩa tư bản cần được xét lại một cách triệt để” vì “người ta từng lên án sự can thiệp của Nhà nước, xem đó là trở ngại cho sự vận hành của một nền kinh tế thị trường, trừ phi sự can thiệp đó là để phục vụ cho hệ thống tư bản”.

1. Đặc trưng của mô hình:

Chỉ tính từ đầu thế kỷ XX đến nay, trên nền tảng của cùng một phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thế giới đã trải qua 3 giai đoạn: chủ nghĩa tự do cổ điển trước đại khủng hoảng kinh tế giai đoạn 1929-1933, chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai; chủ nghĩa tư bản "nhân dân" của học thuyết Keynes từ năm 1950 đến 1975 và chủ nghĩa tự do mới từ cuối những năm 1970 đầu những năm 1980 cho đến nay. Tương ứng với ba hình thái đó là ba hình thức Nhà nước: Nhà nước mạnh; Nhà nước phúc lợi can thiệp và Nhà nước tối thiểu thu hẹp cả chức năng kinh tế lẫn chức năng xã hội.

Continue reading →

NHẬT BẢN: ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH LÀ NGHĨA VỤ!

CẨM VÂN

Nhật Bản là một trong số ít những quốc gia có lịch sử lập pháp hơn 100 năm trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch (ĐKHT). Trong bối cảnh Bộ Tư pháp Việt Nam đang đề xuất xây dựng Luật Hộ tịch, việc học hỏi kinh nghiệm của nước Nhật và của các nước khác đã có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về hộ tịch là việc làm cần thiết.

Ngày càng “hiện đại”

Cách đây 138 năm, Nhật Bản đã ban hành đạo luật đầu tiên về ĐKHT. Luật năm 1871 quy định 2 việc đăng ký sau sẽ căn cứ vào gia phả: mỗi hộ gia đình, bao gồm một nhóm người có quan hệ họ hàng thân thích từ ông bà tổ tiên, sẽ là một tập hợp trong hồ sơ ĐKHT; các sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng hộ tịch của cá nhân trong cuộc đời họ sẽ được đăng ký theo thời gian. Riêng sự kiện về tình trạng kết hôn, nhận con nuôi sẽ được thể hiện qua thông báo về ĐKHT.

Cùng với việc sửa đổi các quy định về gia đình và thừa kế trong Luật Dân sự, năm 1947, Luật ĐKHT mới và Pháp lệnh “Các quy định thi hành Luật ĐKHT” (đều có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1948) đã ra đời. Luật mới nhấn mạnh, việc ĐKHT là được đối với cặp vợ chồng và con cái – những người có cùng một họ nhưng việc ĐKHT của 3 thế hệ thì bị cấm. Luật sửa đổi một phần của Luật Đăng ký cư trú và Luật ĐKHT năm 1994 cho phép, việc ĐKHT được thực hiện trên hệ thống xử lý thông tin của máy tính. Từ năm này, việc ĐKHT chính thức được lưu trữ và xử lý bằng đĩa từ.

Theo quy định hiện hành, Luật ĐKHT có hiệu lực trên toàn nước Nhật, bao gồm cả vùng nước và các tàu mang quốc tịch Nhật. Luật ĐKHT của Nhật Bản áp dụng cho cả người Nhật và người mang quốc tịch nước ngoài sống tại Nhật Bản. Việc thông báo các sự kiện khai sinh và khai tử xảy ra trong nước đối với cả người Nhật lẫn người nước ngoài là nghĩa vụ. Hơn nữa, người mang quốc tịch nước ngoài cũng có thể có mối quan hệ hộ tịch trong tờ thông báo, như kết hôn, nhận con nuôi.

Continue reading →

RÀ SOÁT PHÁP LUẬT TẠI TIỂU BANG NORDHEIN WASTFALEN VÀ KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC PHÁP ĐIỂN HÓA Ở VIỆT NAM

TS. KLAUS SCHONENBROICHER – Cục kiểm tra quy phạm liên ngành, Bộ Nội vụ, Tiểu bang Nordrhein- Westfalen CHLB Đức 

TS. HOÀNG THỊ THANH THỦY – Khoa Luật, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội

1. Sự cần thiết và những vấn đề cơ bản về rà soát pháp luật

Trong khuôn khổ hoạt động lập pháp liên bang, từ năm 1954 đến 1968, CHLB Đức đã tiến hành một đợt tổng rà soát pháp luật. Sau đợt tổng rà soát này, pháp luật liên bang đã được xác định lại trên cơ sở các văn bản đã được rà soát bao gồm các văn bản cập nhật và có hiệu lực2. Hệ thống pháp luật CHLB Đức vào thời điểm bắt đầu tiến hành đợt tổng rà soát cũng có nhiều điểm tương đồng với hiện trạng pháp luật Việt Nam hiện nay.

Một vài năm trước đây, Tiểu bang Nordrhein-Westfalen (NRW) cũng tiến hành một đợt tổng rà soát pháp luật. Trong đợt tổng rà soát đó, toàn bộ pháp luật tiểu bang đã được kiểm tra, tập hợp thành năm “gói” pháp luật lớn. Các văn bản này sau khi được rà soát đã được xử lý thông qua các điều khoản bãi bỏ hoặc các điều khoản quy định về nghĩa vụ báo cáo sau một thời gian thực hiện. Mục tiêu của các nhà lập pháp lúc đó không chỉ nhằm xây dựng được một hệ thống pháp luật liên bang mang tính cập nhật và đầy đủ, đồng thời loại bỏ các quy định đã hết hiệu lực hoặc lạc hậu mà còn nhằm tập hợp và duy trì tính cập nhật thường xuyên của các đạo luật và văn bản dưới luật, đảm bảo các văn bản này luôn trong tình trạng có hiệu lực và phù hợp với thực tiễn. Điều này sẽ có tác dụng giảm mạnh quan liêu hành chính trong hoạt động lập pháp3.

Từ kết quả hai đợt tổng rà soát pháp luật của CHLB Đức và của Tiểu bang NRW, chúng tôi cho rằng, trong công tác rà soát pháp luật ở Việt Nam cần lưu ý đến một số vấn đề cụ thể sau:

Continue reading →

LỊCH SỬ VÀ QUI TRÌNH PHÁP ĐIỂN HÓA Ở HOA KỲ

THS. NGUYỄN THỊ HẠNH – Vụ Pháp luật hành chính – hình sự, Bộ Tư pháp

1. Quan niệm về pháp điển hoá ở một số nước

Ý tưởng pháp điển hóa có từ lâu đời ở châu Âu. Nhiều đế vương La Mã đã có ý tưởng đưa ra những bộ pháp điển (như Hoàng đế Justinian, năm 525 sau Công nguyên). Lúc này, việc tập hợp mang tính chất hệ thống hóa, nghĩa là tập hợp vào một cuốn sách toàn bộ các văn bản theo trình tự thời gian, từ văn bản được ban hành sớm nhất rồi đến các văn bản được ban hành gần nhất.

Pháp điển hóa thực chất là sắp xếp lại các quy định pháp luật hiện hành. Đây là quan niệm chung của nhiều nước như Pháp, Hoa Kỳ… nhưng cách thức tiến hành có phần khác nhau. Người ta thường khó phân biệt giữa hệ thống hóa và pháp điển hóa, vì về hình thức, chúng đều là sự tập hợp văn bản pháp luật theo chủ đề.

Nếu như pháp điển hóa được hiểu theo nghĩa là các quy định pháp luật được tổ chức trong một văn bản pháp luật trọn vẹn, toàn diện, có hệ thống về một chủ đề xác định, thì không phải tất cả những nước sử dụng hệ thống luật thành văn đều đã làm được. Vẫn có những đạo luật đơn lẻ được ban hành để giải quyết những vấn đề cụ thể mà không được pháp điển hoá. Những đạo luật này vẫn song song tồn tại với những bộ luật thành văn.

2. Lịch sử pháp điển hóa ở Hoa Kỳ

Người ta có thể đặt những câu hỏi như: không hiểu luật hình sự của Hoa Kỳ là luật thành văn hay là luật chưa thành văn. Hoa Kỳ có 50 bộ luật hình sự của 50 tiểu bang, đồng thời có bộ luật hình sự của liên bang; nhiều tiểu bang theo hệ thống luật dân sự (tức viết thành văn) để cho nhân dân và các luật sư dễ dàng tham khảo. Đa số các tiểu bang có bộ luật hình sự viết thành văn. Câu cuối cùng của các bộ luật hình sự tiểu bang viết là: “Không phải tất cả các tội phạm đều được quy định trong bộ luật hình sự có giá trị về mặt pháp lý, mà tất cả các tội phạm khác nữa không viết thành văn cũng được áp dụng”.

Continue reading →

LỊCH SỬ VÀ QUI TRÌNH pháp điển hóa ở Hoa Kỳ

THS. NGUYỄN THỊ HẠNH – Vụ Pháp luật hành chính – Hình sự, Bộ Tư pháp 

1. Quan niệm về pháp điển hoá ở một số nước

Ý tưởng pháp điển hóa có từ lâu đời ở châu Âu. Nhiều đế vương La Mã đã có ý tưởng đưa ra những bộ pháp điển (như Hoàng đế Justinian, năm 525 sau Công nguyên). Lúc này, việc tập hợp mang tính chất hệ thống hóa, nghĩa là tập hợp vào một cuốn sách toàn bộ các văn bản theo trình tự thời gian, từ văn bản được ban hành sớm nhất rồi đến các văn bản được ban hành gần nhất.

Pháp điển hóa thực chất là sắp xếp lại các quy định pháp luật hiện hành. Đây là quan niệm chung của nhiều nước như Pháp, Hoa Kỳ… nhưng cách thức tiến hành có phần khác nhau. Người ta thường khó phân biệt giữa hệ thống hóa và pháp điển hóa, vì về hình thức, chúng đều là sự tập hợp văn bản pháp luật theo chủ đề.

Nếu như pháp điển hóa được hiểu theo nghĩa là các quy định pháp luật được tổ chức trong một văn bản pháp luật trọn vẹn, toàn diện, có hệ thống về một chủ đề xác định, thì không phải tất cả những nước sử dụng hệ thống luật thành văn đều đã làm được. Vẫn có những đạo luật đơn lẻ được ban hành để giải quyết những vấn đề cụ thể mà không được pháp điển hoá. Những đạo luật này vẫn song song tồn tại với những bộ luật thành văn.

2. Lịch sử pháp điển hóa ở Hoa Kỳ

Người ta có thể đặt những câu hỏi như: không hiểu luật hình sự của Hoa Kỳ là luật thành văn hay là luật chưa thành văn. Hoa Kỳ có 50 bộ luật hình sự của 50 tiểu bang, đồng thời có bộ luật hình sự của liên bang; nhiều tiểu bang theo hệ thống luật dân sự (tức viết thành văn) để cho nhân dân và các luật sư dễ dàng tham khảo. Đa số các tiểu bang có bộ luật hình sự viết thành văn. Câu cuối cùng của các bộ luật hình sự tiểu bang viết là: “Không phải tất cả các tội phạm đều được quy định trong bộ luật hình sự có giá trị về mặt pháp lý, mà tất cả các tội phạm khác nữa không viết thành văn cũng được áp dụng”.

Continue reading →

CHỦ NGHĨA BẢO HỘ VÀ CHÍNH TRỊ

BRUCE STOKES – Chuyên mục Kinh tế quốc tế của tờ National Journal

Chủ nghĩa bảo hộ đã có một lịch sử tồn tại khá dài. Trước những áp lực chính trị, các chính phủ ở các quốc gia phát triển và đang phát triển đã phải bảo hộ ngành dệt may, sản xuất ô tô, nông nghiệp và các nhà sản xuất khác trước làn sóng nhập khẩu. Ở nhiều nơi, người nông dân mặc dù chỉ chiếm số ít nhưng lại được nhận trợ cấp bảo hộ, bởi lẽ họ nắm trong tay sức mạnh của những lá phiếu bầu cử. Do bảo hộ mang tính chính trị nên các giải pháp cũng phải mang tính chính trị.

Chủ nghĩa bảo hộ – những biện pháp của chính phủ nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với nước ngoài – có nguồn gốc sâu xa trong chính trị của các quốc gia trên thế giới. Chủ nghĩa bảo hộ vừa là sản phẩm của những nhóm lợi ích đặc biệt vừa phản ánh mối lo ngại chung của xã hội trước những thay đổi. Tuy vậy, chủ nghĩa bảo hộ cũng đi liền với cái giá phải trả rất lớn về kinh tế.

Việc chống lại tự do hóa thương mại cũng như căn nguyên chính trị của nó hầu như không phải là chuyện mới. Trong nửa đầu thế kỷ 19, nước Anh đã áp đặt thuế quan nhập khẩu để bảo hộ cho người nông dân và điền chủ nước Anh trước sự cạnh tranh của hàng ngũ cốc nhập khẩu rất rẻ từ nước ngoài. Song, mức thuế quan nhập khẩu đó đã làm tăng giá thực phẩm ở các thành phố của nước Anh, buộc tư bản công nghiệp miễn cưỡng phải trả lương cao hơn để công nhân có đủ tiền mua lương thực. Năm 1846, sau một cuộc đấu tranh lâu dài tại Quốc hội, Đạo luật Bảo hộ sản xuất ngô (Corn Laws) đã bị bãi bỏ, nhờ đó đã cởi trói và mở đường cho sự vươn lên về chính trị của tầng lớp trung lưu mới ở nước Anh. 

Các cuộc đấu tranh tương tự như vậy về thuế quan cũng trở thành vấn đề nổi cộm trong nền chính trị Hoa Kỳ trong một thời gian dài ở thế kỷ XIX. Vào đêm trước của cuộc Nội chiến ở Hoa Kỳ (1861-1865), các tiểu bang công nghiệp ở miền Bắc đã chủ trương dựng lên hàng rào thuế quan thật cao để bảo vệ ngành công nghiệp chế tạo của họ trước sự cạnh tranh từ châu Âu. Các tiểu bang miền Nam thì chủ trương áp dụng thuế quan thấp vì họ nhập khẩu rất nhiều hàng hóa tiêu dùng, từ vải lanh tới máy móc nông nghiệp. Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của vấn đề này như thế nào qua sự kiện sau: khi Jefferson Davis, chủ tịch của phe chủ trương ly khai khỏi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đọc diễn văn nhậm chức vào năm 1861, ông đã dành phần lớn thời gian trong bài phát biểu của mình để nói về việc cần áp dụng mức thuế quan nhập khẩu thấp, chứ không nói về chế độ nô lệ.

Continue reading →

KHỦNG HOẢNG CHO VAY THẾ CHẤP DƯỚI CHUẨN Ở MỸ: BÀI HỌC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

PHẠM TOÀN THIỆN – Phòng 1217, Toà nhà Crystal, Số 2000 phố South Eads, Arlington, Virginia 22202, Hoa Kỳ

Tóm tắt. Hầu như không có bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào, khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ đã bất ngờ nổ ra vào giữa năm 2007. Cuộc khủng hoảng này có tác động mạnh đến cả hệ thống tài chính lẫn nền kinh tế thực. Các cơ quan điều tiết tài chính của Mỹ, từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), Ủy ban Chứng khoán (SEC) cho tới Bộ Tài chính đều đã phải vào cuộc nhằm giải quyết khủng hoảng. Nguồn gốc ban đầu của cuộc khủng hoảng tồi tệ này là sự chứng khoán hoá các khoản cho vay mua nhà không đủ tiêu chuẩn.

Thứ nhất, cơ chế cho vay đã bị đơn giản hoá, dựa hoàn toàn vào những đánh giá của các công ty đánh giá mức độ tín nhiệm, dẫn đến nhiều khoản vay không đủ chuẩn.

Thứ hai, cơ chế chứng khoán hoá đã đánh đồng các khoản vay đủ chuẩn và không đủ chuẩn, gây ra cả bong bóng nhà đất lẫn chứng khoán. Kiến nghị của bài viết này là cần xem xét lại chức năng của chứng khoán hoá với tư cách là một công cụ tài chính, tránh việc đầu tư chủ yếu dựa vào đánh giá của các tổ chức đánh giá mức độ tín nhiệm, tìm ra phương thức định giá tài sản trong điều kiện thiếu thanh khoản, tăng tính minh bạch về rủi ro ngân hàng và suy ngẫm về mô hình kinh doanh mới.

Bài viết sử dụng khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn trong hệ thống tài chính toàn cầu như một ví dụ về tầm quan trọng của quản trị rủi ro trong các tổ chức tài chính. Cũng như Oxy, quản trị rủi ro chỉ được quan tâm khi thiếu nó. Thông thường, khi quản trị rủi ro hoạt động, chúng ta xem nhẹ nó, song khi nó ngừng hoạt động thì hệ thống “chuyển động” chậm lại và dừng hẳn…

Continue reading →

GÓT CHÂN ACHILLE CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI

LÊ NGỌC (Theo Le Monde)

Theo một kết quả thăm dò đầy bất ngờ mới đây, một trong những quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Ấn Độ hiện nay là… Mauritius – đảo quốc nhỏ bé nằm ở Đông Nam châu Phi. Nghĩa là vượt trên cả Pháp, Anh và thậm chí là Mỹ. Đây chỉ là một trong những biểu hiện của cái được gọi là “gót chân Achille của chủ nghĩa Tư bản”, có thể hiểu là những lỗ hổng được hình thành từ trong chính những quy luật lợi nhuận và thị trường của chủ nghĩa này.

Tổ chức phi chính phủ Global Witness (GW) cho hay, tháng 8.2006, Sassou Nguesso, con trai của Tổng thống Cộng hoà Congo, đã chi tới 35.000USD- nguồn thu từ dầu mỏ của nước này, để tiến hành những phi vụ mua bán xa xỉ tại những thành phố mua sắm nổi tiếng thế giới như Paris, Marbella và Dubai. Tổ chức GW thậm chí có những bản sao của một loạt hoá đơn người thanh niên này thanh toán cho những chiếc túi Vuitton, những đôi giày thể thao trị giá tới 2.500 euro, cũng như nhiều mặt hàng xa xỉ khác. Điều đáng nói là, Congo vừa cam kết sẽ trả hết nợ nước ngoài bằng cách nghiêm cấm mọi hình thức “xung đột lợi ích trong lĩnh vực dầu khí”, như hành vi lãng phí nói trên. Và con trai Tổng thống Congo hiện lại là lãnh đạo của Cotrade, một chi nhánh của tập đoàn dầu khí nước này.

Theo nhà kinh tế học Grerald Epstein, từ năm 1995 đến nay, tổng số tiền chảy ra khỏi châu Phi một cách phi pháp đã đạt 274 tỷ USD, bằng 145% tổng số nợ của cả châu lục này. Nhưng vấn đề không phải chỉ liên quan tới châu Phi. Theo thượng nghị sỹ dân chủ Mỹ Carl Levin, kho bạc quốc gia Hoa Kỳ mỗi năm mất đi 100 tỷ USD lợi nhuận vì các tập đoàn lớn đều biết cách tìm tới những miền đất được coi là “thiên đường thuế” để trốn những khoản thuế đắt đỏ ở quê hương mình. Và sự hiện diện của họ tại các miền đất ấy, đáng kể nhất là các quốc gia châu Phi, đã gây ra những nghịch lý nêu trên.

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 12: KÝ KẾT BẢN HIẾN PHÁP

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 17 tháng Chín NĂM 1787

Ngày 8 tháng Chín, sau khi thống nhất tất cả các điều khoản, Hội nghị lại bầu ra Ủy ban Văn phong để viết lại bản Hiến pháp này với câu chữ rõ ràng và chặt chẽ hơn. Bản Hiến pháp chính thức do Gouverneur Morris, người được coi là có khả năng viết tốt nhất, chắp bút dựa trên bản phác thảo, nhằm có được một văn bản ngắn gọn và mạch lạc. Sau một vài ngày sửa chữa, Hội nghị đã đồng ý với văn bản này.

Trong ngày 17 tháng Chín, ngày họp cuối cùng của Hội nghị, lễ ký kết bản Hiến pháp đã diễn ra rất trang nghiêm và cảm động. Đại biểu cao tuổi nhất, Bác sĩ FRANKLIN đã viết một trong những bài diễn văn hay nhất của mình.

Nhưng tại ngày họp cuối cùng, trong số 55 đại biểu từng tham dự, chỉ còn 42 người có mặt, và trong đó chỉ có 39 đại biểu đồng ý ký vào bản Hiến pháp. Ba đại biểu Gerry, Mason và Randolph đã từ chối ký và tuyên bố những lý do họ không thể ký vào bản Hiến pháp.

Bản thảo Hiến pháp viết được đọc trước toàn thể Hội nghị.

Bác sĩ FRANKLIN đứng lên với bài phát biểu cầm trong tay, nhờ Ngài Wilson đọc giùm.

"Thưa Ngài Chủ tịch,

Tôi thừa nhận rằng lúc này, có nhiều điểm trong bản Hiến pháp này, tôi không thể chấp nhận. Nhưng tôi không chắc rằng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận nó. Tôi đã sống đủ lâu để hiểu rằng chúng ta không nên dựa quá nhiều vào sự phán xét của chính bản thân mình. Tôi thường thấy mình sai lầm ngay tại những điều ưng ý nhất. Khi tôi càng nhiều tuổi, tôi càng nghi ngờ sự phán xét của chính mình và quan tâm chú ý hơn đến những nhận xét của người khác. Hầu hết loài người, cũng như những giáo phái trên thế giới, thường tự cho rằng mình mới là người hiểu biết sự thật và bất kể ai khác với quan điểm của mình đều là sai lầm.

Continue reading →

TẠI SAO GỌI LÀ FED MÀ KHÔNG GỌI CENTRAL BANK

TS. TÔN THANH TÂM

Đa phần, Chính phủ các nước trên thế giới sử dụng cụm từ “Central Bank” (Ngân hàng Trung ương), còn lại sử dụng cụm từ “Federal Reserve” (Dự trữ Liên bang) như Cục Dự trữ liên bang Mỹ – FED, hay “Reserve Bank” (Ngân hàng dự trữ) chẳng hạn như: Úc (Reserve Bank of Australia), New Zealand (Reserve Bank of New Zealand), Ấn Độ (Reserve Bank of India)…; mặc dù, về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của Central Bank giống như FED hay Reserve Bank, nhưng giữa Central Bank và FED vẫn có những điểm khác nhau khá lớn, tùy thuộc vào tính chất “sở hữu về vốn” và sự lựa chọn “mô hình” mà các quốc gia áp dụng.

Bài viết này không đi sâu so sánh bất cứ vấn đề gì giữa Central Bank và FED hay Reserve Bank, mà chỉ tóm lược một vài sự kiện quan trọng, tạo nên cái gọi là FED Hoa Kỳ, và các cuộc khủng hoảng tài chính do các thế lực tài phiệt quốc tế gây ra, để làm căn cứ cho bạn đọc tự so sánh, tìm hiểu.

1. Hội nghị Trà Boston – Giọt nước tràn ly

Như chúng ta đã biết, Hoa Kỳ vốn là thuộc địa của Anh cho đến năm 1774, để phản đối chính sách thuế của Anh đánh vào Trà (tea tax), một hội nghị trà được được tổ chức tại Boston (Boston Tea Party). Nhân dịp này, nhiều người Mỹ đóng giả người da đỏ nhảy lên tàu chở trà của Anh khiêu chiến và ném các thùng trà xuống biển. Hành động đó đã bị chính quyền cai trị Anh đàn áp. Để chống trả, phía Mỹ đã thành lập các đội quân chiến đấu chống lại quân đội Anh. Nhân sự kiện này, vào năm 1774, ông Benjamin Franklin đã đứng ra triệu tập một Hội nghị ở Philadelphia để đưa ra chính sách về quyền của người Mỹ được đóng thuế. Trong đó ông Benjamin nhấn mạnh: “Nếu như ngân hàng Anh không tước đoạt quyền phát hành tiền tệ của xứ thuộc địa (tức nước Mỹ) thì người dân của xứ này sẽ vui vẻ đóng các khoản thuế trà và các sản phẩm khác… và nó trở thành nguyên nhân chủ yếu gây ra cuộc chiến tranh độc lập của Mỹ”. Sau đó, với sự chiến thắng vang dội của đoàn quân Massachusetts, Hội nghị đã cho ra Bản tuyên ngôn độc lập ngày 4/7/1776 và dưới sự lãnh đạo tài tình của Tướng George Washington, quân đội Mỹ đánh thắng quân đội Anh vào năm 1781, theo Hiệp ước Versailles, năm 1785 Anh quốc chính thức công nhận độc lập cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tại thời điểm này, vai trò và tầm ảnh hưởng của ông Benjamin Franklin được xếp sau Tướng George Washington. Ông Benjamin được coi là người cha lập quốc của nước Mỹ, ông là người duy nhất ký tên vào 4 tài liệu chính thức về việc thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đó là: Tuyên ngôn độc lập, Hiệp ước Paris, Hiệp ước liên minh với Pháp, Hiến pháp Mỹ.

Continue reading →

CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG PHILIPPINES VỚI THẨM QUYỀN VỀ CẤP PHÉP ĐĂNG KÝ KINH DOANH

NGUYỄN ĐỨC LAM

Chính quyền địa phương Philippines hoạt động theo quy định của Hiến pháp 1987 và Bộ luật chính quyền địa phương 1991.Trong đó, chính quyền địa phương được thu thuế như thuế tài sản, thuế kinh doanh, phí, cấp phép kinh doanh đối với các doanh nghiệp chưa hoạt động và cấp lại một số giấy tờ đối với các doanh nghiệp đã hoạt động ở địa phương đó. Ngoài ra, chính quyền địa phương cũng có quyền chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp, thương mại và đất ở, thực thi các quy định về môi trường, thực thi Bộ luật Xây dựng, xây dựng và thông qua các kế hoạch sử dụng đất, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; quản lý việc sử dụng xe ba bánh; quy định về bảo vệ sức khỏe, phúc lợi xã hội, nông nghiệp, dịch vụ công….

1. Cơ chế chung về cấp phép kinh doanh

Chính quyền địa phương Philippines hoạt động theo quy định của Hiến pháp 1987 và Bộ luật chính quyền địa phương 1991. Theo Điều X của Hiến pháp, các địa phương được quyền tự chủ trong phạm vi của mình; Quốc hội phải ban hành một Bộ luật về chính quyền địa phương với nguyên tắc phân cấp; mỗi đơn vị địa phương có quyền tạo các nguồn thu, đánh thuế, phí theo hướng dẫn và giới hạn do Quốc hội đặt ra.

Dựa trên nguyên tắc phân quyền, Bộ luật chính quyền địa phương đã quy định một số thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương có quyền chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp, thương mại và đất ở, thực thi các quy định về môi trường, thực thi Bộ luật Xây dựng, xây dựng và thông qua các kế hoạch sử dụng đất, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; quản lý việc sử dụng xe ba bánh; quy định về bảo vệ sức khỏe, phúc lợi xã hội, nông nghiệp, dịch vụ công.

Trong lĩnh vực kinh tế, chính quyền địa phương được thu thuế như thuế tài sản, thuế kinh doanh, phí, cấp phép kinh doanh đối với các doanh nghiệp chưa hoạt động và cấp lại một số giấy tờ đối với các doanh nghiệp đã hoạt động ở địa phương đó. Thuế kinh doanh thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương, một dạng công cụ quản lý và là nguồn thu lớn của chính quyền địa phương ở Philippines.

Continue reading →

PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU ÂU

TRẦN THỊ THU THỦY

1. Quy định về trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Cộng hòa Liên bang Đức

Cộng hoà liên bang Đức không có Luật liên bang về trách nhiệm bồi thường nhà nước. Cơ sở pháp lý cho việc bồi thường nhà nước là những điều khoản lẻ tẻ và không hệ thống được quy định rải rác trong Hiến pháp; Bộ luật dân sự; Luật phòng, chống lây nhiễm; Luật bồi thường đối với các biện pháp hình sự…Khi chủ thể của hành vi công quyền trong lĩnh vực luật công mà hành vi của họ vi phạm quyền lợi của công dân, Hiến pháp Đức bảo đảm cho công dân sự bảo vệ pháp lý khi công chức nhà nước có hành vi vi phạm quyền lợi của họ. Theo đó, công dân khả năng được đề nghị thẩm định tính hợp pháp của hành vi nói trên (bảo vệ pháp lý nguyên phát). Sự bảo vệ pháp lý ấy còn được bổ sung bởi Luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước (ở một số bang mới sáp nhập) vì bên cạnh việc thẩm định hành vi công quyền qua Toà án, Luật này đưa ra khả năng đòi bồi thường hậu quả của sự vi phạm trên (bảo vệ pháp lý thứ phát).

Ở Đức, công dân có quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại, yêu cầu xoá bỏ hậu quả bất lợi trong một số trường hợp sau:

Thứ nhất, khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ của công chức. Người bị thiệt hại có thể đòi bồi thường toàn bộ thiệt hại, kể cả thu nhập (lãi) bị mất và tiền bồi thường cho thiệt hại tinh thần. Tuy nhiên, trong trường hợp vi phạm đó xảy ra do vô tình, công chức chỉ bị quy trách nhiệm nếu người bị thiệt hại không được bồi thường bằng một cách khác.

Thứ hai, khi có các biện pháp và quyết định bất hợp pháp của ngành tư pháp.

Khi thẩm phán có hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ trong quá trình xét xử, Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm nếu sự vi phạm đó đồng thời là tội phạm (bóp méo luật hoặc nhận hối lộ). Trong trường hợp phán quyết của Thẩm phán trong thủ tục thi hành án, lệnh trong tố tụng hình sự hoặc nghị quyết trong các thủ tục nhằm xác định án phí hoặc ấn định giá trị tố tụng sẽ được ngoại trừ để bảo vệ sự độc lập của Thẩm phán, bảo vệ hiệu lực pháp luật của các phán quyết Nhà nước.

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 11: PHÁC THẢO BẢN HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 06 tháng Tám năm 1787

Ngày 26 tháng Bảy, sau gần hai tháng thảo luận căng thẳng, cuối cùng, Hội nghị cũng đạt được thỏa thuận tại các điểm chính yếu nhất. Cùng ngày, các đại biểu bầu ra Ủy ban chi tiết để xây dựng bản dự thảo Hiến pháp trên cơ sở những điều đã được thống nhất, bao gồm 5 người: Nathaniel Gorham; John Rutledge, Chủ tịch Ủy ban này; Edmund Randolph; James Wilson và Oliver Ellsworth.

Sau 10 ngày nghỉ họp để Ủy ban này soạn thảo, ngày 6 tháng Tám, bản phác thảo đầu tiên đã được đệ trình lên Hội nghị. Đây là một văn bản khá rắc rối và dài dòng nếu so sánh với bản Hiến pháp sau này. Suốt một tháng sau đó, các đại biểu đã tranh luận và chỉnh sửa từng câu chữ, từng điều khoản cho tới khi mọi điều được hoàn tất vào ngày 8 tháng Chín.

Ngài RUTLIDGE trình bày bản Báo cáo của Ủy ban chi tiết:

"Chúng tôi, công dân các tiểu bang New Hampshire, Massachussetts, Rhode-Island và các đồn điền quan phòng, Connecticut, New York, New-Jersey, Pennsylvania, Delaware, Maryland, Virginia, Bắc Carolina, Nam Carolina, và Georgia, tuyên bố thiết lập bản Hiến pháp cho chính quyền của chúng tôi và cho sự thịnh vượng của chúng tôi.

Điều I

Tên gọi của chính quyền là "Hợp chúng quốc Hoa Kỳ" (The United States of America).

Điều II

Chính quyền sẽ có các thẩm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tối cao.

Điều III

Quyền lực được trao cho Quốc hội, gồm hai Viện riêng biệt, một Hạ viện và một Thượng viện, có quyền phủ quyết mọi đạo luật của nhau. Cơ quan lập pháp sẽ nhóm họp vào ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Mười hai hằng năm.

Continue reading →

TÌM KIẾM MÔ HÌNH MỚI VỀ TOÀN CẦU HÓA, PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

GS. G.F.MCLEAN – Chủ tịch Hội đồng Nghiên cứu Triết học và Giá trị, Trường Đại học Công giáo Hoa Kỳ

Trong quá trình luận giải nhằm “Tìm kiếm mô hình mới về toàn cầu hoá”, tác giả đã nhận ra và khẳng định rằng, châu Á – Thái Bình Dương hiện đang đóng một vai trò cốt yếu; rằng, ở phương Đông, cảm nhận về tổng thể rất sống động, rất đặc trưng và đó là một đóng góp quan trọng của khu vực này. Từ những phân tích lý luận, cả ở phương Đông và phương Tây, tác giả bài viết đã xác định những đặc điểm cơ bản của mô hình mới trong thời đại toàn cầu hoá, bao gồm: 1/ Nó không chỉ liên quan tới tính khách quan và quan hệ đối ngoại, mà là đặc điểm bên trong về tính chủ quan của con người; 2/ Nó là một tổng thể; 3/ Nó được đánh dấu bởi cảm nhận về sự hài hoà của phương Đông và 4/ Đó là mối quan tâm vô thượng mà nhờ vậy, mỗi dân tộc và nền văn hoá đều nỗ lực hướng tới một sự thống nhất.

Trong bước đi đầu tiên của chúng ta nhằm tìm kiếm một mô hình mới, tôi muốn khám phá độ hội tụ của hai sự thay đổi: một là, bổ sung sựđánh giá tổng thể bên cạnh việc tập trung vào từng phần; hai là, làm phong phú thêm sự khách quan bên ngoài bằng tính chủ quan bên trong. Liệu những truyền thống văn hóa châu Á – Thái Bình Dương có đóng góp gì vào việc này hay không? Nếu có thì đóng góp đó liệu có quan trọng đối với sự phát triển của một mô hình mới, cần thiết cho nhân loại sống trong một thời đại toàn cầu?

VẤN ĐỀ: MỘT THẾ GIỚI RẠN NỨT

Nếu thực sự thế giới là một tổng thể duy nhất mà mỗi phần của nó đều cân bằng với phần còn lại, thì vì sao nó lại bị xem như một khối rạn nứt và chia rẽ?

Tại Aten, thời cổ đại, việc hướng dẫn hành vi con người hiển nhiên là cần thiết. Lối nói hoa mỹ của các nhà ngụy biện cùng với chính sách mị dân kèm theo rõ ràng chưa đủ cho đời sống tại chính thể cộng hòa này; thực ra, bản thân Xôcrát cũng bị xử tử hình. Trước tình hình đó, Platôn đã đưa ra thuyết về một số ý tưởng bất biến để tham khảo: sự thống nhất và lòng tốt, sự thật và công bằng. Rất tiếc là, để có được những hướng dẫn vững chắc này đối với hành vi con người, ông đã tách chúng ra khỏi quá trình sống của con người, coi chúng như những đối tượng hay đồ vật tương phản và ở trên tầm chúng ta. Thậm chí cả thần thánh hay những vĩ nhân lớn nhất cũng cho những ý tưởng này là quá tầm và tương phản. Arixtốt đã chuyển trọng tâm trước mắt tới các vật thể và đồ vật hữu hình, rõ ràng và có thể cảm nhận được bằng các giác quan(1). Kết quả là đã có một định hướng khách quan ở phương Tây ưu tiên quan hệ với các đối tượng bên ngoài, còn thế giới bên trong của tinh thần chỉ xuất hiện một cách gián tiếp và khó khăn. Tuy vậy, hệ thống thứ bậc vẫn có chỗ dành cho Đấng Tối cao cai trị thế giới và đời sống con người.

Continue reading →

“GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT”: TOÀ ÁN TỐI CAO VỚI TƯ CÁCH LÀ CƠ QUAN THẨM ĐỊNH TÍNH HỢP HIẾN

A.E. DICK HOWARD

Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã ban hành nguyên tắc của chế độ bảo hiến – quyền quyết định tính hợp hiến trong các đạo luật – ngay trong một trong những phán quyết đầu tiên của Tòa. Một chuyên gia pháp lý nổi tiếng đề cập tới việc thực hiện chế độ bảo hiến của Tòa trong suốt 220 năm lịch sử của Tòa, trong đó có nhiều ví dụ từ thế kỷ XIX tới nay. Dù Tòa có nhiều phán quyết trong các vụ án cụ thể, song tác giả kết luận rằng “Vai trò đảm bảo chế độ pháp trị của Tòa đòi hỏi phải có sự nhất trí rộng rãi của người dân Hoa Kỳ”.

A.E. Dick Howard là Giáo sư Luật và Hành chính tại White Burkett Miller kiêm Giáo sư Luật tại Trung tâm Nghiên cứu Roy L. và Rosamond Woodruff Morgan, Đại học Virginia tại Charlottesville. Ông là chuyên gia trong lĩnh vực luật hiến pháp và Tòa án Tối cao. Từ năm 1985 đến 1992, ông là chủ tịch Hội đồng 200 năm Hiến pháp Hoa Kỳ tại Đại học Virginia.

Những người soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ đã tuyên bố rõ ràng rằng văn bản này sẽ được coi là luật của các loại luật. Điều VI quy định Hiến pháp và các đạo luật “được ban hành theo Hiến pháp này” (cũng như các điều ước) sẽ là “Luật tối cao của quốc gia”. Các nhà soạn thảo Hiến pháp cũng trao quyền, tại Điều III, cho một Tòa án Tối cao và các tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập. Liệu hai điều khoản này, cùng được viện dẫn, có tạo điều kiện cho Tòa án Tối cao quyền hạn bác bỏ các văn bản luật, trong đó có các đạo luật của Quốc hội, được coi là mâu thuẫn với Hiến pháp hay không?

Nếu như các nhà soạn thảo Hiến pháp đã có chủ trương rõ ràng tại Hội nghị lập hiến năm 1787 tại Thành phố Philadelphia, bang Pennsylvania rằng chính quyền liên bang mới cần phải có một ngành tư pháp thì họ lại dành rất ít thời gian để cân nhắc “quyền tư pháp” sẽ có phạm vi đến chừng mực nào. Họ dành thời gian nhiều hơn để tranh luận về quyền hạn mà chính quyền liên bang mới có thể có, cơ cấu của Quốc hội liên bang, việc cân bằng quyền lực giữa tiểu bang và liên bang và bản chất của cơ quan hành pháp liên bang mới. Khi Hiến pháp dự thảo được chuyển tới một số tiểu bang để thông qua thì các cuộc tranh luận về phê chuẩn lại tập trung chủ yếu vào các mối quan tâm về quyền lực của liên bang nói chung – và về việc thiếu một tuyên ngôn nhân quyền.

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 10: BẦU CHỌN, NHIỆM KỲ VÀTÁI CỬ CỦA TỔNG THỐNG

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 24 và 25 tháng Bảy năm 1787

Cách thức bầu chọn và nhiệm kỳ của Tổng thống là một điểm quan trọng của bản Hiến pháp Mỹ. Mọi đại biểu đều lo lắng và mong muốn tìm ra được giải pháp tối ưu để chọn được một Tổng thống có tư cách đạo đức tốt, không phụ thuộc vào những mưu đồ của những phe phái khác, cũng như không phụ thuộc vào các thế lực nước ngoài, như sau này vẫn xảy ra ở nhiều quốc gia khác.

Cũng như hiện nay, việc bầu chọn nguyên thủ quốc gia của rất nhiều nước chịu sức ép của chính nước Mỹ, điều mà khi đó, các đại biểu đều lo ngại. Giải pháp bầu cử bởi những đại cử tri là sự thỏa hiệp và sáng kiến của Hội nghị nhằm vừa có những cử tri có chất lượng, vừa bầu chọn theo tỷ lệ của các tiểu bang, lại không làm cho Tổng thống phụ thuộc vào Quốc hội.

Đôi khi có cảm tưởng rằng các đại biểu đã quá cẩn thận khi tính đến mọi chuyện có thể xảy ra, nhưng thực tế lại cho thấy, sự lựa chọn của họ là rất sáng suốt và mọi thảo luận kỹ lưỡng này đều là nhằm giảm tối đa bất cứ nguy cơ nào có thể phát sinh.

Qui định "Tổng thống được các đại cử tri bầu chọn" được đưa ra xem xét.

Ngài HOUSTON: Đề xuất Tổng thống sẽ được "cơ quan lập pháp quốc gia" bổ nhiệm thay cho "việc các đại cử tri được các cơ quan lập pháp tiểu bang chọn lựa, để bầu Tổng thống". Ông cho rằng không thể tập hợp được những đại cử tri ở những vùng quá xa xôi của đất nước.

Ngài SPAIGHT: Ủng hộ đề xuất này.

Ngài GERRY: Phản đối đề xuất đó vì không thấy những khó khăn nào như Ngài Houston nói. Việc bầu chọn Tổng thống cần phải được coi là quan trọng đặc biệt vì chức vụ này kích động lòng khao khát mãnh liệt của nhiều người muốn đạt chức vụ này. Nếu quan điểm này được đồng ý, cần phải để Tổng thống không thể được tái cử để ông ta độc lập với cơ quan lập pháp, vì sự phụ thuộc sẽ ảnh hưởng vô cùng xấu xa đến cách suy nghĩ và hành động của ông ta.

Continue reading →

TRÌNH TỰ TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH CỦA HỆ THỐNG TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH Ở PHÁP

MẦU VIỆT THẮNG (Sưu tầm)

Cơ quan tài phán hành chính của Pháp – Hội đồng Nhà nước (HĐNN) ra đời với cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 (tiền thân là Hội đồng nhà Vua). Ngay sau khi cơ quan này được thành lập, một đạo luật mới được ban hành trong đó quy định toà án tư pháp của nước này không còn thẩm quyền xét xử bộ máy hành chính.

Vì dưới chế độ cũ vua Lu-i XVI muốn cải tổ thông qua các đạo luật tiến bộ, các toà án lúc đó từ chối áp dụng các đạo luật này và vì vậy toà án bị coi là phản động, nó không có quyền thay thế hoặc kiểm soát bộ máy hành chính. Năm 1800, Na-pô-le-ông đã lập ra Hội đồng Nhà nước và các cơ quan ở tỉnh (sau này trở thành các toà án hành chính). Nhưng mãi đến năm 1986 Hội đồng Nhà nước mới được thừa nhận về mặt Hiến pháp như một cơ quan tài phán hành chính. Vì Hiến pháp năm 1958 chỉ quy định HĐNN cho ý kiến đối với các dự luật chứ chưa quy định chức năng tài phán, trái lại Hiến pháp năm 1986 quy định việc tồn tại hệ thống tài phán hành chính là một nguyên tắc của Hiến pháp.

Trình tự tố tụng hành chính là toàn bộ các nguyên tắc pháp lý chi phối việc xem xét đơn khiếu kiện của một công dân trước cơ quan tài phán hành chính. Nguyên tắc này phải rất cụ thể và mang tính bắt buộc đối với thẩm phán hành chính. Nếu toà án hành chính không tôn trọng các nguyên tắc tố tụng, thì có thể phạm những sai lầm nghiêm trọng và quyết định bị kháng án lên toà án cấp trên và toà án cấp trên có quyền huỷ bản án, việc khiếu nại của công dân được xem xét lại từ đầu để tôn trọng các nguyên tắc tố tụng.

Quá trình giải quyết một vụ việc khiếu kiện tại HĐNN có 2 giai đoạn là giai đoạn thẩm cứu và giai đoạn xét xử:

1. Giai đoạn thẩm cứu: Giai đoạn này có chức năng chuẩn bị cho giai đoạn thứ hai (giai đoạn xét xử). Giai đoạn thẩm cứu là việc nghiên cứu hồ sơ khởi kiện. Sau khi các thành viên của HĐNN đã xem xét kỹ đơn kiện, Hội đồng đưa ra các phán quyết của mình.

Continue reading →