XÃ HỘI CÔNG DÂN TRUNG QUỐC: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ MÔI TRƯỜNG CHÍNH SÁCH

TS. PHÙNG THỊ HUỆ & THS. PHẠM NGỌC THẠCH – Viện Nghiên cứu Trung Quốc

Xã hội công dân đang dần có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Trung Quốc và nó cũng là một chủ đề thu hút sự thảo luận rộng rãi trong giới học thuật của nước này. Bài viết giới thiệu về xã hội công dân của Trung Quốc từ khía cạnh cơ sở hình thành cùng môi trường chính sách của Nhà nước Trung Quốc hiện nay, đồng thời tìm hiểu về tác động của nó đối với đời sống xã hội Trung Quốc hiện tại cũng như triển vọng của nó trong tương lai.

Trong vài thập niên trở lại đây, thế giới đã chứng kiến sự gia tăng ảnh hưởng của các tổ chức có phạm vi hoạt động ngoài nhà nước và thị trường – “xã hội công dân”. Được mệnh danh là “cuộc cách mạng hiệp hội toàn cầu” (Global Associational Revolution), sự phát triển của các tổ chức này diễn ra trong bối cảnh “cuộc khủng hoảng của nhà nước” đang lan tràn trên thế giới. Tại các nước có nền kinh tế phát triển, nhà nước đang đau đầu với bài toán về phúc lợi xã hội. Còn ở các nước đang phát triển, bất bình đẳng nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội đang làm gia tăng sự không hài lòng của người dân đối với nhà nước. Ngoài ra, nhiều vấn đề vượt ra khỏi biên giới quốc gia, như căn bệnh HIV, nghèo đói, thiên tai và suy thoái môi trường… đang đe dọa sức khỏe và an toàn sinh mạng của con người trên phạm vi toàn cầu cũng là một thách thức lớn đối với khả năng của chính quyền các nước(1). Trong bối cảnh đó, “xã hội công dân” – một bộ phận nằm ngoài nhà nước và thị trường, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kết nối người dân. Với cách thức tổ chức nhỏ gọn, linh hoạt cũng như có khả năng huy động sáng kiến và nguồn lực của người dân nhằm phục vụ xã hội, “xã hội công dân” có tầm quan trọng chiến lược trong quá trình tìm kiếm “con đường trung dung”, hay cách thức tránh sự quá phụ thuộc vào Nhà nước và thị trường để giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội nghiêm trọng đang tồn tại hiện nay(2).

Trong “cuộc cách mạng hiệp hội toàn cầu” nói trên, Trung Quốc không là ngoại lệ. Từ khi nước này tiến hành cải cách mở cửa năm 1978 đến nay, xã hội công dân Trung Quốc dần hình thành và có sự phát triển đáng chú ý. Các tổ chức công dân tham gia vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và đang dần nắm vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước có dân số lớn nhất thế giới này.

Continue reading →

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ VỀ XUNG ĐỘT XÃ HỘI

GS.TS. VÕ KHÁNH VINH – Phó chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là những vấn đề có tầm quan trọngđặc biệt trong sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Trong bài viết này, tác giả đã khảo sát các quan niệm khác nhau trong lịch sử về xung đột xã hội, từ thời cổ đại, cận đại đến nửa đầu thế kỷ XX. Theo tác giả, những ưu điểm và nhược điểm tạo thành thực chất của hiện tượng hết sức phức tạp như xung đột xã hội, ở mức độ đáng kể, được xác định bởi đặc điểm phương pháp luận của các phương hướng nghiên cứu; chúng ta có thể lựa chọn trong đó những tư tưởng có tính phổ quát và tính thời sự đối với các quan điểm hiện đại về xung đột xã hội.

Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, có phạm vi và quy mô rộng lớn, bao gồm nhiều nội dung, lĩnh vực cụ thể khác nhau. Kinh nghiệm nghiên cứunhững vấn đề này chưa có nhiều, hơn nữa, lại được đặt trong quá trình đổi mới đang được tiến hành ngày càng sâu rộng trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nước ta. Do vậy, xét trên tất cả các phương diện, đây là những vấn đề rất khó khăn và phức tạp. Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là những vấn đề “trường tồn” gắn liền với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, đồng thời ở mỗi giai đoạn phát triển xã hội, ngoài những quy luật, đặc điểm chung còn có các đặc điểm đặc thù do thực tiễn phát triển xã hội ở giai đoạn đó đặt ra. Có thể nói, nghiên cứu xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là nội dung quan trọngcủa nghiên cứu phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, là những vấn đề cơ bản cần được tiến hành thường xuyên, có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọngtrong việc bảo đảm cho đất nước phát triển ổn định và bền vững.

Trong những vấn đề nghiên cứu về xung đột xã hội, có những vấn đề thuộc về phương diện lịch sử của nó. Bài viết này bước đầu tìm hiểu phương diện đó.

XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở HÀN QUỐC. NGUYÊN LÝ “CÔNG TÍNH” TRONG BỐI CẢNH CHỦ NGHĨA TỰ DO MỚI

TS. CHOE HYONDOK  – Trường Đại học Phụ nữ Ehwa, Seoul, Hàn Quốc

Người dịch: ThS.LƯƠNG MỸ VÂN
Người hiệu đính: ThS.TRẦN TUẤN PHONG

Trong bài viết này, tác giả đưa ra và luận giải quá trình hình thành và phát triển xã hội dân sự và kinh tế thị trường ở Hàn Quốc trên cơ sở của nguyên lý “công tính” trong bối cảnh chủ nghĩa tự do mới. Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, tác giả cho rằng, để điều chỉnh những lợi ích cá biệt, cần phải xây dựng và phát triển xã hội dân sự theo hướng phục tùng lợi ích chung của toàn xã hội trên cơ sở của nguyên tắc “công tính”.

Đầu tiên, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Ban tổ chức đã mời tôi tham dự Hội thảo này và dành cho tôi cơ hội được học hỏi qua những tranh luận với các học giả Việt Nam về những vấn đề nóng bỏng mà xã hội Việt Nam đang đối mặt trong bối cảnh toàn cầu hóa. Ngày nay, nhất là khi tiến trình toàn cầu hoá đang song hành với sự bành trướng toàn cầu của kinh tế thị trường, không một đất nước nào thoát khỏi ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của những vấn đề nghiêm trọng do kinh tế thị trường đem lại. Tôi vô cùng quan tâm đến việc trao đổi kinh nghiệm và ý tưởng với các học giả Việt Nam, cũng như các học giả nước ngoài khác đến từ những bối cảnh kinh tế thị trường khác nhau.

Hàn Quốc thường được dẫn ra như một hình mẫu thành công, một quốc gia đã gặt hái được những thành tựu trong phát triển kinh tế và cả trong tiến trình dân chủ hoá về mặt chính trị. Ở một góc độ nào đó, điều đó là sự thật, nhưng từ những khía cạnh khác, chúng tôi hiện đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng, không chỉ là vấn đề kinh tế có liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn thế giới hiện thời, mà cả những vấn đề kinh tế – xã hội và văn hoá đáng lo ngại gắn với những biện pháp của chủ nghĩa tự do mới (ví dụ như cái gọi là “sự linh động hoá” của thị trường lao động và người lao động thời vụ), cũng như những vấn đề chính trị, bao gồm cả những xung đột về lợi ích trong lĩnh vực xã hội dân sự. Tôi xin trình bày ở đây kinh nghiệm của Hàn Quốc. Báo cáo của tôi là báo cáo mang tính mở. Tôi không giấu diếm những vấn đề tiêu cực, bởi tôi tin rằng, chúng ta có thể học hỏi được, kể cả từ những khiếm khuyết và sai lầm.

Continue reading →

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NHỮNG THÁCH THỨC XÃ HỘI TOÀN CẦU MỘT CÁCH NHÌN TỪ NƯỚC ĐỨC

GS. TS. GERHARD KRUIP – Đại học Mainz, Đức ( Người dịch: ThS.CAO THU HẰNG; Người hiệu đính: ThS.TRẦN TUẤN PHONG  – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam)

Trong bài viết này, tác giả, dưới góc nhìn từ nước Đức, đã phân tích một cách khái quát những lợi ích và thách thức xã hội toàn cầu của kinh tế thị trường tự do. Từ đó, trình bày ý tưởng của Giáo hội Thiên Chúa giáo và Tin Lành ở Đức về “nền kinh tế thị trường xã hội”, cái được coi là con đường tốt nhất để thực hiện tự do và công bằng trong xã hội hiện đại; phân tích những nhân tố cơ bản của nền kinh tế thị trường xã hội cũng như những vấn đề đặt ra hiện nay của kinh tế thị trường xã hội ở nước Đức. Đặc biệt, từ những kinh nghiệm vận dụng kinh tế thị trường xã hội ở Đức, tác giả đã có một số ý kiến đóng góp nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến sự chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam.

Nhận xét sơ bộ

Khái quát sự phát triển của các nước khác nhau trên thế giới cho thấy, những quốc gia có nền kinh tế mở với thị trường thế giới và có những cải cách nhằm tạo ra nhiều tự do hơn cho các cơ chế thị trường tự do đã thu được nhiều thành công về kinh tế hơn so với những nước vẫn duy trì mô hình kế hoạch hoá tập trung và tự cung tự cấp. Vấn đề ở đây dường như không phải là sự phụ thuộc vào những cấu trúc của kinh tế thế giới, mà (đúng hơn) là sự cô lập với tính năng động của nền kinh tế thế giới và toàn cầu hoá(1). Ví dụ điển hình cho nhận xét này là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam – một nước có đường lối phát triển rất đặc biệt và ấn tượng. Kể từ khi tuyên bố đổi mới năm 1986 và bắt đầu chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã có sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Trong những năm qua, Việt Nam đã trở thành nước có nền kinh tế phát triển nhanh thứ hai trên thế giới. Điều này giúp cải thiện mức sống của người dân và chống đói nghèo(2). Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay cho thấy, một sự phụ thuộc lẫn nhau như vậy cũng là nguyên nhân của nhiều vấn đề. Mặc dù vậy, việc thực hiện những mục đích phát triển sẽ trở nên dễ dàng hơn trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, cùng nhau giải quyết những vấn đề thông qua sự hợp tác quốc tế thay vì quay lại thời kỳ của chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa biệt lập.

I. Những lợi ích của nền kinh tế thị trường tự do 

Tại sao thị trường tự do lại dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhiều hơn? Những lợi thế của thị trường tự do là gì? So với nền kinh tế kế hoạch tập trung, theo tôi, nền kinh tế thị trường tự do có ít nhất 6 lợi thế, mà lúc này, tôi xem như một “mô hình lý tưởng” (Ideal model) – theo cách nói của Max Weber(3).

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 9: TRANH LUẬN VỀ QUYỀN PHỦ QUYẾT CỦA TÒA ÁN VÀ CÁCH BẦU CHỌN THẨM PHÁN

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 21 tháng Bảy năm 1787

Mặc dù điều khoản thiết lập nhánh tư pháp liên bang đã được Hội nghị thảo luận từ giữa tháng Sáu, nhưng sau này, do nhiều thay đổi và biến động, nên Hội nghị đã đưa ra thảo luận lại, đặc biệt là việc có trao quyền phủ quyết cho các thẩm phán không.

Thật bất ngờ là các đại biểu chủ chốt nhất của Hội nghị như Madison, Mason, G. Morris và James Wilson, những người được coi là khôn ngoan và thông thái nhất, lại hoàn toàn thất bại trong việc thuyết phục các đại biểu khác chấp nhận cho phép Tòa án Tối cao tham gia vào quyền phủ quyết của Tổng thống.

Trong những buổi họp này, cách thức bầu chọn thẩm phán cũng được thảo luận kỹ càng, bởi mục đích của cơ quan này là sự độc lập và sáng suốt, không chỉ để xét xử dân chúng mà còn để phán xét mọi sai trái của nhánh hành pháp cũng như nhánh lập pháp. Tuy nhiên, cũng như nhiều vấn đề phức tạp khác, sau khi đồng ý cho phép Quốc hội chọn lựa thẩm phán, khi bản dự thảo Hiến pháp được thảo luận lại vào cuối tháng Tám, Hội nghị lại trao quyền chọn thẩm phán cho Tổng thống.

Ngài WILSON: Đề xuất sửa đổi điều khoản số 10, nên viết là "nhánh tư pháp quốc gia sẽ cùng với bộ máy hành pháp giữ quyền phủ quyết các đạo luật do Quốc hội ban hành". Trước đây, đề xuất này đã được đưa ra nhưng bị bác bỏ. Nhưng ông tin vào tác dụng tích cực của qui định này, nên ông buộc phải nêu lại. Bộ máy tư pháp cần có cơ hội khuyên can và ngăn chặn sự tiếm quyền của dân chúng cũng như của Quốc hội. Các thẩm phán sẽ là những người giải thích Hiến pháp nên phải có trách nhiệm bảo vệ nó.

Cách thiết lập tòa án hiện nay cho phép cơ quan này có quyền lực lớn, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Luật pháp có thể không công bằng, có thể không khôn ngoan, có thể nguy hiểm, có thể mang tính phá hoại, nên sẽ không sáng suốt nếu không trao cho các thẩm phán quyền phủ quyết. Hãy để họ cùng chia sẻ quyền phủ quyết các đạo luật với Tổng thống. Họ sẽ phân tích những bộ luật và sẽ sử dụng quyền lực của mình chống lại những quan điểm sai trái của cơ quan lập pháp.

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 8: BẦU CHỌN VÀ NHIỆM KỲ TỔNG THỐNG

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 17 và 19 tháng Bảy năm 1787

Tổng thống là người đứng đầu nhánh hành pháp và có quyền lực vô cùng lớn. Vì thế, những qui định về việc chọn lựa Tổng thống là rất quan trọng. Các đại biểu đều chia thành hai phe. Một bên muốn cho dân chúng quyền bầu chọn, còn bên kia muốn các cơ quan lập pháp tiểu bang bầu chọn.

Nhưng đây là vấn đề rất phức tạp, trong đó, điều mấu chốt là làm thế nào thiết lập được một Tổng thống mạnh nhưng tránh được các nguy cơ suy thoái thành nền độc tài hay chế độ quân chủ, nên Hội nghị dành rất nhiều thời gian thảo luận về mô hình Tổng thống và mãi đến khi gần kết thúc Hội nghị, chi tiết điều khoản này mới được quyết định xong.

Đề xuất thứ 9: "nhánh hành pháp quốc gia sẽ gồm một người duy nhất do cơ quan lập pháp quốc gia bầu chọn" được đưa ra thảo luận.

Ngài GOUVERNEUR MORRIS: Kịch liệt phản đối. Tổng thống sẽ chỉ là tay sai của cơ quan lập pháp, nếu do cơ quan này bổ nhiệm và buộc tội. Tổng thống cần phải được dân chúng, những người chủ thực sự của đất nước này bầu ra. Cách bầu chọn này cũng gặp nhiều khó khăn, nhưng như việc bầu chọn Thống đốc ở New York và Connecticut, những khó khăn đó có thể vượt qua được.

Nếu dân chúng có quyền bầu chọn, họ sẽ không bao giờ nhầm lẫn trong việc ủng hộ những cá nhân xuất sắc, những người có uy tín trên khắp lục địa. Nếu cơ quan lập pháp bầu chọn, đó sẽ là công việc của những mưu đồ, bè đảng và phe phái, sẽ giống như cuộc bầu cử Giáo hoàng bởi cuộc họp của các Hồng y Giáo chủ, khi tư cách và giá trị thật sự của cá nhân ít khi là nguyên nhân chủ yếu để bổ nhiệm. Ông đề nghị bỏ chữ "Cơ quan lập pháp quốc gia" và thay bằng "những công dân của Hợp chúng quốc".

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 7: ĐA SỐ LÀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA NỀN CỘNG HÒA

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 2 và 5 tháng Bảy năm 1787

Bất đồng rất lớn của các đại biểu về quyền bỏ phiếu bình đẳng tại Thượng viện đã dẫn Hội nghị tới bế tắc và mọi thảo luận đều trở nên cực kỳ căng thẳng mà chẳng bên nào chịu nhường bên nào. Để giải quyết vấn đề này, một ủy ban được lập ra để tìm giải pháp hòa giải.

Sự thỏa hiệp đạt được là Hạ viện sẽ đại diện theo số dân, còn Thượng viện sẽ đại diện bình đẳng. Nhờ thỏa hiệp này và nhờ tư tưởng thỏa hiệp của hai phe mà Hội nghị cuối cùng đã thu được kết quả như mong muốn. Bedford là một trong những đại biểu các bang nhỏ đấu tranh mạnh mẽ nhất cho quyền bình đẳng tại Thượng viện.

Ngài PINKNEY: Sự bình đẳng phiếu bầu tại Thượng viện là điều không thể chấp nhận được. Nhưng đồng thời, ông thừa nhận rằng các bang lớn sẽ thiên vị các công dân của mình và ưu đãi họ trong cuộc bỏ phiếu. Các bang lớn có thể tìm được những điểm tương đồng về lợi ích thương mại và thúc đẩy những Hiệp ước ưu đãi họ. Có sự khác biệt chủ yếu giữa các lợi ích miền Bắc và miền Nam.

Tiểu bang Bắc và Nam Carolina và Georgia có nền văn hóa lúa gạo và chàm (Rice và Indigo) có lợi ích khác biệt và có thể bị hy sinh. Vậy khi đó phải ngăn chặn các bang lớn áp đặt chính quyền trung ương ban hành những biện pháp có lợi cho họ thế nào, nếu họ không đếm xỉa đến ý muốn của các bang nhỏ? Chỉ nên cho phép họ có ưu thế về phiếu bầu chứ không phải một tỷ lệ đầy đủ với qui mô dân số.

Ông đặc biệt lo ngại về kết quả của Hội nghị này, coi đó như cơ hội cuối cùng cho cuộc thử nghiệm. Trước đây, mọi nỗ lực nhằm sửa đổi hệ thống Liên bang của Quốc hội Hợp bang hầu như đều thất bại. Không có giải pháp nào ngăn chặn được sự giải tán Hợp bang ngoài việc triệu tập Hội nghị này. Ông rất lo ngại về những hậu quả nguy hiểm sẽ xảy ra nếu liên minh tan rã. Ông đề xuất chia các tiểu bang thành các hạng để bổ nhiệm số lượng Thượng nghị sĩ tương ứng.

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 6: TRANH LUẬN VỀ SỰ BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC TIỂU BANG TẠI QUỐC HỘI

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Từ ngày 28 tháng Sáu đến ngày 2 tháng Bảy năm 1787

Quyền đại diện là vấn đề rất nan giải trong quá trình thảo luận bởi mẫu thuẫn quá lớn giữa các bang lớn và nhỏ. Đây là điểm gây bất đồng lớn nhất và là cuộc tranh luận căng thẳng nhất tại Hội nghị. Trong khi các bang lớn khăng khăng đòi đại diện theo dân số, thì các bang nhỏ lại đòi sự bình đẳng.

Hội nghị Lập hiến đã thảo luận về vấn đề quyền đại diện từ ngày 27 tháng Sáu đến tận ngày 2 tháng Bảy, nhưng cũng chưa dứt điểm hoàn toàn. Vì sự bất đồng này mà Hội nghị gần như đứng trước ngưỡng cửa tan rã, buộc các đại biểu phải đề xuất một Ủy ban hòa giải. Nhận thấy những cuộc tranh luận này rất quan trọng trong Hội nghị Lập hiến, nên tôi chọn giới thiệu khá đầy đủ, dù không phải toàn bộ.

Ngày 28 tháng Sáu: Điều khoản thứ 6 "quyền bỏ phiếu tại Hạ viện sẽ căn cứ vào số dân" được đưa ra thảo luận.

Ngài L. MARTIN: Lại tiếp tục bài phát biểu đang bỏ dở hôm qua, kiên quyết khẳng định rằng chính quyền liên bang được hình thành là vì các tiểu bang, chứ không phải vì cá nhân dân chúng. Vì thế, nếu các tiểu bang đại diện theo tỷ lệ dân số, thì dù những đại biểu này được cơ quan lập pháp tiểu bang hay dân chúng bầu chọn, cũng chẳng khác gì nhau. Các bang nhỏ sẽ bị nô lệ hóa và phụ thuộc vào các bang lớn.

Nếu các bang lớn có cùng lợi ích như các bang nhỏ, việc cho mọi tiểu bang quyền bỏ phiếu bình đẳng sẽ chẳng gây mối nguy hiểm nào. Họ sẽ không làm tổn hại bản thân mình và nếu không làm hại chính mình, thì cũng không làm hại các bang lớn. Nhưng nếu những lợi ích đó trái ngược nhau thì sự bất bình đẳng về quyền bỏ phiếu sẽ gây nguy hiểm cho các bang nhỏ.

Như vậy, việc đề xuất bất cứ kế hoạch nào xúc phạm các bang nhỏ đều vô ích, vì chắc chắn viên chức chính quyền các bang nhỏ sẽ sử dụng ảnh hưởng của mình để ngăn cản dân chúng chấp thuận mô hình này. Hiện nay, các bang lớn, nhưng quyền bỏ phiếu lại không tương xứng với qui mô to lớn của mình, chỉ có cách chèn ép các bang nhỏ nhờ sức mạnh trong lá phiếu của họ.

Continue reading →

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP TẠI MỘT SỐ NƯỚC

NGUYỄN HÀ THANH – Văn phòng Trung ương Đảng

Một trong những thách thức lớn nhất đối với tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam là xây dựng phương thức tốt nhất để gắn kết và đảm bảo sự thống nhất hoạt động giữa các cơ quan tư pháp. Cải cách tư pháp cần được đặt trong tầm nhìn thống nhất của hệ thống tư pháp tổng thể, với các cơ sở lý luận rõ ràng về các chức năng của từng cơ quan tư pháp và mối liên hệ giữa chúng. Để giải quyết được bài toán này, thì một trong những nội dung quan trọng cần làm là nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp tại một số nước.

Với mục tiêu hỗ trợ cho nghiên cứu ban đầu, chúng tôi chỉ đưa ra phân tích tóm lược về tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp tại bốn nước Trung Quốc, Nhật Bản, Xinh-ga-po và Ốt -trây -li-a.

1. Nhật Bản

Nhật Bản là một nước quân chủ lập hiến với lưỡng viện Quốc hội được bầu cử dân chủ. Đảng Dân chủ Tự do (thực ra là đảng chính trị bảo thủ) đang có thời gian dài chiếm đa số ghế trong Quốc hội. Tuy nhiên, Nhật Bản có nhiều đảng đối lập đáng kể, lớn nhất là Đảng Dân chủ, hiện đang nắm số ghế lớn nhất trong tất cả các đảng đối lập tại Thượng viện.

1.1. Cơ quan Cảnh sát quốc gia không chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội

Các cơ quan điều tra hình sự tại Nhật Bản nằm dưới sự chỉ đạo của cảnh sát. Lực lượng cảnh sát Nhật Bản được tổ chức thành 47 khu vực (bao gồm lực lượng cảnh sát quận, cảnh sát thủ đô Tokyo và cảnh sát quận Hokkaido). Mỗi một lực lượng cảnh sát được hưởng quyền tự trị khu vực. Các lực lượng cảnh sát quận chịu sự giám sát của các Hội đồng an ninh quận. Tuy nhiên, các lực lượng cảnh sát quận được phối hợp hành động quốc gia bởi Cơ quan Cảnh sát quốc gia (NPA). NPA ban hành các chính sách và có quyền tiếp quản lực lượng cảnh sát quận trong trường hợp khẩn cấp quốc gia. Cảnh sát thủ đô Tokyo và cảnh sát quận Hokkaido nằm dưới sự quản lý độc lập của NPA, mặc dù NPA vẫn duy trì các bộ phận liên lạc để hợp tác với các lực lượng khác. Lực lượng cảnh sát Nhật Bản có sự độc lập với Chính phủ. NPA không chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội, nhưng chịu sự giám sát của Hội đồng an ninh quốc gia (NPSC). NPSC gồm một Bộ trưởng giữ vai trò Chủ tịch và 5 Uỷ viên được Thủ tướng bổ nhiệm, nhiệm kỳ 5 năm với sự thông qua của hai viện Quốc hội. NPSC có thể bổ nhiệm hoặc sa thải các lãnh đạo của NPA (với sự thông qua của Thủ tướng). NPSC còn bổ nhiệm và sa thải người đứng đầu lực lượng cảnh sát quận (với sự thông qua của Hội đồng an ninh quận có liên quan) và người đứng đầu lực lượng cảnh sát thủ đô Tokyo (với sự thông qua của Thủ tướng và Hội đồng an ninh thủ đô Tokyo).

Continue reading →

MỘT SỐ QUAN NIỆM CỔ ĐIỂN VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ

TRẦN HỮU QUANG

Trong lịch sử sinh thành của khái niệm "xã hội dân sự" nơi các nhà tư tưởng cổ điển Tây phương, người ta có thể nhận thấy rằng diễn trình biến chuyển của khái niệm này thực ra biểu hiện những sự thay đổi trong các quan điểm lý thuyết về các mối quan hệ giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội, đặc biệt là mối quan hệ giữa nhà nước với xã hội.

Quá trình biến chuyển này xét về đại thể đã trải qua bốn quan niệm khác nhau: từ (1) quan niệm đồng hóa xã hội dân sự với nhà nước/quốc gia qua Thomas Hobbes, John Locke và Jean-Jacques Rousseau vào các thế kỷ XVI-XVIII, (2) quan niệm xã hội dân sự là xã hội thị trường với Bernard Mandeville, Adam Ferguson và Adam Smith vào các thế kỷ XVII-XIX, (3) quan niệm xã hội dân sự tách khỏi nhà nước với Immanuel Kant, Benjamin Constant vào các thế kỷ XVIII-XIX, đến (4) quan niệm xã hội dân sự là xã hội thị dân hay xã hội tư sản với Georg Hegel, Karl Marx, Friedrich Engels và Antonio Gramsci vào các thế kỷ XIX-XX.

Trong tiếng Việt, các cụm từ "xã hội dân sự" và "xã hội công dân" thường được dùng để biểu thị khái niệm civil society trong tiếng Anh, société civile trong tiếng Pháp, hay bürgerliche Gesellschaft trong tiếng Đức.

Thực ra, tính từ civil (dân sự, hay dân chính, hay thuộc về lĩnh vực công dân) có thể mang những ý nghĩa khác nhau tùy theo văn cảnh sử dụng. Nó có thể được hiểu là đối lập với cái gì thuộc về tôn giáo (religious), đối lập với lĩnh vực quân sự(military), hay trong luật học là đối lập với hình sự (penal) haythương mại (commercial), trong chiến tranh thì được hiểu lànội chiến (civil war) đối lập với chiến tranh với ngoại bang, hay còn có thể hiểu theo nghĩa là văn minh, lịch sự (cùng gốc với chữ civilized) đối lập với cái gì hoang dã, thô lỗ, và cuối cùng cũng có nghĩa là lĩnh vực dân sự đối lập với lĩnh vực chính trị(political).

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 5: TRANH LUẬN VỀ NHIỆM KỲ CỦA THƯỢNG NGHỊ SĨ

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 26 tháng Sáu năm 1787

Trong ngày 26 tháng Sáu, Hội nghị tiến hành xem xét thời hạn nhiệm kỳ của Thượng viện. Để một chính quyền trở nên vững vàng, tránh ban hành những đạo luật quá vội vàng, thì Thượng viện phải là một cơ quan bền vững và kiên định. Vì thế, vai trò của Thượng viện trong nền chính trị Mỹ là rất quan trọng.

Các đại biểu đã phân tích rất kỹ lưỡng và chi tiết mọi khía cạnh về nhiệm kỳ của Thượng viện. Trong đó, những lập luận của Madison là rất sắc sảo và chính xác, trong đó, ông tiếp tục lặp lại lập luận về mẫu thuẫn giữa các tầng lớp trong xã hội. Ngoài ra, Ghorum và Wilson cũng có đóng góp lớn với đề xuất quay vòng bầu chọn 1/3 Thượng nghị sĩ nhằm tạo ra sự đối trọng ngay giữa những Thượng nghị sĩ với nhau.

Điều khoản qui định nhiệm kỳ của Thượng viện được đưa ra xem xét.

Ngài GHORUM: Đề xuất nhiệm kỳ sáu năm, cứ hai năm lại một lần bầu chọn lại 1/3 số đại biểu.

Ngài WILSON: Ủng hộ ý kiến này.

Tướng PINKNEY: Phản đối nhiệm kỳ sáu năm mà muốn có nhiệm kỳ bốn năm. Ông nói rằng các tiểu bang có những lợi ích khác nhau. Những bang miền Nam và đặc biệt là Nam Caroline rất khác so với các bang miền Bắc. Nếu các Thượng nghị sĩ được bổ nhiệm với nhiệm kỳ quá lâu, họ sẽ sống tại tiểu bang, nơi họ thi hành phận sự của mình và chẳng còn mấy thời gian làm người đại diện cho tiểu bang đã bầu chọn họ.

Ngài READ: Đề xuất nhiệm kỳ chín năm. Điều này lại rất thuận lợi vì cứ ba năm lại quay vòng 1/3 đại biểu. Dù ông tán thành nhất là nhiệm kỳ "suốt đời nếu có tư cách tốt", nhưng chẳng mấy người ủng hộ ý định này. Vì thế, ông sẵn lòng tán thành nhiệm kỳ dài nhất tới mức có thể.

Ngài BROOME: Ủng hộ quan điểm này.

Continue reading →

PHÁP ĐIỂN HÓA: Từ Bộ luật Hamurabi đến Bộ luật Dân sự Pháp

NGUYỄN LÊ

Thuật ngữ Pháp điển hóa (codification) có gốc là một từ Latin “Codex” – là sách đóng gáy – một phát minh của người La Mã nhằm thay thế cho sách ống cuộn trước đó. Như vậy, pháp điển hóa từ thời cổ đại có nghĩa là tập hợp các văn bản pháp lý có cùng một chủ đề dưới hình thức một “Codex”- cuốn sách.

Tuy nhiên, lịch sử của pháp điển hóa còn lâu đời hơn, từ Bộ luật Hammurabi cách đây gần 4.000 năm. Sau đó, vào thế kỷ V trước Công nguyên, xuất hiện Luật 12 tấm bảng (Lex Duodecim Tabularum) ở La Mã cổ đại. Vào thế kỷ VI sau công nguyên, Hoàng đế La Mã Justinianus chủ trì biên soạn Corpus Juris Civilis. Thời đó, luật La Mã cổ đại tập trung pháp điển hóa lĩnh vực dân luật, tức là luật tư mà bỏ qua luật công. Trong nhiều thế kỷ, ở các nước châu âu lục địa, nơi tiếp tục truyền thống của luật La Mã, các luật gia cũng đã gạt luật công sang một bên, vì cho rằng các luật này lẫn lộn với chính trị và không khác nhiều so với khoa học quản trị hành chính. Do xu hướng chú trọng đến dân luật nên có người giải thích rằng, những nước sau này chịu ảnh hưởng của Luật La Mã đều được gọi là các nước dân luật (civil law). Kết quả là ở các nước dân luật, Bộ luật Dân sự là văn bản trung tâm, hạt nhân của hệ thống pháp luật, tạo nên nền tảng mặc định cho tư duy và phương pháp luận pháp lý.

      Về các trường hợp pháp điển hóa nổi tiếng, trước hết phải kể đến các Bộ luật của Napoleon, trong đó Bộ luật dân sự Pháp (1804) là Bộ luật đầu tiên có hình dạng như ngày nay trong các nước dân luật. Đây là bộ luật kinh điển, được soạn thảo với một phong cách và ngôn ngữ tuyệt diệu. Bộ luật dân sự Pháp đã tập hợp gần 14 ngàn văn bản do Chính phủ cách mạng tư sản ban hành từ năm 1789, tinh lược chúng vào ba phần: Địa vị pháp lý cá nhân; Tài sản; Các quyền và nghĩa vụ. Rene David, một học giả người Pháp nhận định, pháp điển hóa thời kỳ cách mạng Pháp đã kết thúc quá trình tiến hoá nhiều thế kỷ của khoa học pháp lý, thể hiện luật pháp thích hợp với lợi ích của xã hội một cách rõ ràng, khác với sự rối rắm của Corpus Juris Civilis. Pháp điển hóa đã chấm dứt nhiều tàn tích cổ hủ của luật pháp, những tập quán cản trở thực tế trước đó. Những điểm này đã phân biệt pháp điển hóa với các bộ biên soạn tư nhân hoặc chính thức trước đây; Mang lại cho luật pháp những điều bổ ích nhưng chỉ thay đổi từng phần nhỏ của luật pháp; Nhưng phạm vi các vấn đề và quy mô áp dụng của chúng không đáp ứng được những yêu cầu của trường phái luật tự nhiên. Do đó, Bộ luật Napoleon có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống pháp luật của rất nhiều nước trên thế giới. Đến giữa thế kỷ XX, đã có trên 70 nước chịu ảnh hưởng từng phần hoặc toàn phần của Bộ luật này.

Continue reading →

PHÁP ĐIỂN HÓA: TỪ BỘ LUẬT HAMMURABI ĐẾN BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP

NGUYỄN LÊ

Thuật ngữ Pháp điển hóa (codification) có gốc là một từ Latin “Codex” – là sách đóng gáy – một phát minh của người La Mã nhằm thay thế cho sách ống cuộn trước đó. Như vậy, pháp điển hóa từ thời cổ đại có nghĩa là tập hợp các văn bản pháp lý có cùng một chủ đề dưới hình thức một “Codex”- cuốn sách.

Tuy nhiên, lịch sử của pháp điển hóa còn lâu đời hơn, từ Bộ luật Hammurabi cách đây gần 4.000 năm. Sau đó, vào thế kỷ V trước Công nguyên, xuất hiện Luật 12 tấm bảng (Lex Duodecim Tabularum) ở La Mã cổ đại. Vào thế kỷ VI sau công nguyên, Hoàng đế La Mã Justinianus chủ trì biên soạn Corpus Juris Civilis. Thời đó, luật La Mã cổ đại tập trung pháp điển hóa lĩnh vực dân luật, tức là luật tư mà bỏ qua luật công. Trong nhiều thế kỷ, ở các nước châu âu lục địa, nơi tiếp tục truyền thống của luật La Mã, các luật gia cũng đã gạt luật công sang một bên, vì cho rằng các luật này lẫn lộn với chính trị và không khác nhiều so với khoa học quản trị hành chính. Do xu hướng chú trọng đến dân luật nên có người giải thích rằng, những nước sau này chịu ảnh hưởng của Luật La Mã đều được gọi là các nước dân luật (civil law). Kết quả là ở các nước dân luật, Bộ luật Dân sự là văn bản trung tâm, hạt nhân của hệ thống pháp luật, tạo nên nền tảng mặc định cho tư duy và phương pháp luận pháp lý.

      Về các trường hợp pháp điển hóa nổi tiếng, trước hết phải kể đến các Bộ luật của Napoleon, trong đó Bộ luật dân sự Pháp (1804) là Bộ luật đầu tiên có hình dạng như ngày nay trong các nước dân luật. Đây là bộ luật kinh điển, được soạn thảo với một phong cách và ngôn ngữ tuyệt diệu. Bộ luật dân sự Pháp đã tập hợp gần 14 ngàn văn bản do Chính phủ cách mạng tư sản ban hành từ năm 1789, tinh lược chúng vào ba phần: Địa vị pháp lý cá nhân; Tài sản; Các quyền và nghĩa vụ. Rene David, một học giả người Pháp nhận định, pháp điển hóa thời kỳ cách mạng Pháp đã kết thúc quá trình tiến hoá nhiều thế kỷ của khoa học pháp lý, thể hiện luật pháp thích hợp với lợi ích của xã hội một cách rõ ràng, khác với sự rối rắm của Corpus Juris Civilis. Pháp điển hóa đã chấm dứt nhiều tàn tích cổ hủ của luật pháp, những tập quán cản trở thực tế trước đó. Những điểm này đã phân biệt pháp điển hóa với các bộ biên soạn tư nhân hoặc chính thức trước đây; Mang lại cho luật pháp những điều bổ ích nhưng chỉ thay đổi từng phần nhỏ của luật pháp; Nhưng phạm vi các vấn đề và quy mô áp dụng của chúng không đáp ứng được những yêu cầu của trường phái luật tự nhiên. Do đó, Bộ luật Napoleon có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống pháp luật của rất nhiều nước trên thế giới. Đến giữa thế kỷ XX, đã có trên 70 nước chịu ảnh hưởng từng phần hoặc toàn phần của Bộ luật này.

Continue reading →

VẤN ĐỀ ĐẢNG CẦM QUYỀN VÀ THẨM QUYỀN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở CÁC NƯỚC TƯ BẢN

PGS. TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG – Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Hiến pháp các nhà nước tư bản không quy định vai trò lãnh đạo của đảng

Trong tác phẩm Lôgic chính trị Mỹ (The Logic of American Politic), với tiêu đề Đảng là đứa con ngoài ý muốn của Hiến pháp, tác giả Samuel Kernell và Gary Jacobsson viết: “Hiến pháp không hề đề cập đến các đảng phái chính trị. Trong suốt thời kỳ lập quốc, các đảng phái bị đông đảo người dân coi là mối đe dọa đối với một chính phủ tốt và trật tự công, đặc biệt là những người Cộng hòa. Trong một bầu không khí như vậy, không một nhà lãnh đạo tự trọng nào lại công khai kêu gọi thành lập đảng phái chính trị”.

Trong những năm đầu của việc thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, quan điểm chung của mọi người là phản đối kịch liệt các đảng phái chính trị. Benjamin Franklin đã phát biểu chống lại “sự lạm dụng lẫn nhau vô hạn định của đảng phái, phá hủy tan tành những đặc trưng tốt đẹp nhất” (1). Trong bài Những người liên bang số 10, J. Madison đã gọi đảng là những biến thể của các bè phái, có những ý định đi ngược lại các quyền của các công dân khác, hoặc ngược với lợi ích chung và vĩnh cửu của cộng đồng. G. Washington đã dùng bài diễn văn từ nhiệm của mình để cảnh báo – theo cách thức trọng thể nhất – về các tác động tai hại của tinh thần đảng phái nói chung, và người kế nhiệm ông, J. Adams đã khẳng định rằng việc chia nền cộng hòa thành hai đảng phái lớn phải bị coi là điều đáng ghê sợ nhất về chính trị theo hiến pháp của chúng ta. Ngay cả T. Jefferson cũng có lần tuyên bố: “Nếu tôi không thể tới thiên đường vì không mang theo một đảng phái, tôi thà không tới đó còn hơn” (2). “Bị tất cả mọi người coi thường, nhưng các đảng phái vẫn phát triển rầm rộ. Tu chính án thứ nhất của hiến pháp bảo đảm quyền tự do nói, viết và hội họp đã xác định rằng, các hoạt động của đảng phái là hợp pháp. Ngoài ra, các khung thể chế được thiết lập bởi hiến pháp đã tạo ra những động lực mạnh mẽ để tiến hành các hoạt động giúp cho sự ra đời và duy trì các đảng phái”.

Continue reading →

THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN BẢO HIẾN CÁC NƯỚC

NGUYỄN ĐỨC LAM

Như đã biết, các cơ quan bảo hiến (toà án hiến pháp, hội đồng bảo hiến, toà án tối cao…) được lập ra nhằm tạo nên cơ chế bảo vệ hiến pháp. Để làm được điều này, ngoài các yếu tố về mặt tổ chức, cơ cấu thành phần, các cơ quan bảo hiến còn được trao những thẩm quyền nhất định. Những thẩm quyền đó đều liên quan đến những vấn đề hiến định và  phạm vi, mức độ áp dụng chúng không đồng nhất ở các nước. Vậy các cơ quan bảo hiến các nước có những thẩm quyền gì và chúng được thực hiện như thế nào?

I. THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN BẢO HIẾN: GIỚI THIỆU CHUNG[1]

1. Xác định thẩm quyền

Trước khi xem xét từng thẩm quyền của các cơ quan bảo hiến, cần phải lưu ý đến một đặc điểm là ở mỗi mô hình cơ quan bảo hiến có phương thức xác định thẩm quyền của mình. Dưới đây chúng ta sẽ làm quen với thẩm quyền của cơ quan bảo hiến theo từng mô hình: mô hình Mỹ, mô hình châu Âu, mô hình hỗn hợp.

a. Mô hình Mỹ

Theo mô hình Mỹ cổ điển, hoạt động bảo hiến không tách rời khỏi hệ thống toà án nói chung. Tại đây không có dạng vụ việc đặc biệt về các vấn đề hiến định, chúng có thể có mặt ở bất cứ vụ việc nào, cho dù đó là vụ hình sự, dân sự,hành chính, và được phán xét ở các toà có thẩm quyền chung, theo một trình tự chung. Hiến pháp và các luật về tổ chức toà án chỉ xác định thẩm quyền chung, chứ không xác định thẩm quyền về các vụ việc hiến pháp (mặc dầu ở các nhà nước liên bang những tranh chấp giữa liên bang và các chủ thể liên bang và giữa các chủ thể liên bang với nhau được quy định riêng).

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 4: TRANH LUẬN VỀ CHỦ QUYỀN LIÊN BANG VÀ NHIỆM KỲ CỦA HẠ NGHỊ SĨ

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 21 tháng Sáu năm 1787

Ngày 21 tháng Sáu, các đại biểu đã tranh luận về việc duy trì hay xóa bỏ chính quyền tiểu bang và nhiệm kỳ của Hạ nghị sĩ. Nói chung, hầu hết các đại biểu đều mong muốn duy trì chính quyền tiểu bang để kiểm soát và điều hành những vấn đề địa phương.

Còn đối với Hạ viện, những phân tích về thời gian nhiệm kỳ của Hạ nghị sĩ là rất cụ thể và sâu sắc. Các đại biểu đã phân tích mọi khía cạnh của việc bầu cử Hạ nghị sĩ và tình hình nước Mỹ để xác định nhiệm kỳ thích hợp nhất, vừa đảm bảo hiệu quả của Hạ viện, vừa đảm bảo các cuộc bầu cử được tiến hành thuận lợi và ít tốn kém.

Bác sĩ JOHNSON: Việc so sánh hai phương án đề xuất của Virginia và New Jersey cho thấy Phương án New Jersey được tính toán để duy trì quyền lợi riêng rẽ của các tiểu bang. Phương án của Virginia không định xóa bỏ chính quyền các tiểu bang, nhưng có lẽ là đi theo hướng này.

Chỉ riêng Ðại tá Hamilton, với việc chỉ trích Phương án New Jersey, đã mạnh mẽ tranh luận và kiên quyết đòi xóa bỏ chính quyền tiểu bang. Ngài Wilson và một đại biểu từ Virginia [Ngài Madison], cũng phản đối Phương án New Jersey ở mức độ khác nhau. Họ muốn các tiểu bang vẫn giữ một phạm vi quyền lực nhất định, dù chỉ là những quyền không quan trọng. Tuy nhiên, họ không chỉ ra những quyền này bao gồm những quyền gì để bảo đảm các tiểu bang không thể chống lại thẩm quyền liên bang.

Nếu những quyền dành cho các tiểu bang đó chỉ để làm hài lòng những người ủng hộ mô hình New Jersey rằng các tiểu bang riêng rẽ sẽ không bị nguy hiểm thì nhiều lập luận của họ, không nghi ngờ gì nữa, cần phải loại bỏ. Ông muốn xem xét kỹ lưỡng liệu các tiểu bang, như trong trường hợp đề xuất, ít nhất vẫn duy trì được một mức độ quyền lực nào đó thì những quyền này có được đảm bảo không nếu không cho họ tham gia một cách hiệu quả vào chính quyền trung ương và không trao cho họ một lá phiếu bình đẳng trong các hội đồng liên bang để tự bảo vệ mình.

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 3: NHỮNG LẬP LUẬN CỦA MADISON PHẢN ĐỔI PHƯƠNG ÁN NEW JERSEY

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 19 tháng Sáu năm 1787

Ngày 19 tháng Sáu, Madison đã có một bài phát biểu dài phản đối mọi đề xuất của Paterson. Với những lập luận rất chặt chẽ, ông đã viện dẫn rất nhiều ví dụ về lịch sử những Liên bang của châu Âu, để chứng minh sự cần thiết phải xây dựng một liên bang duy nhất.

Trong đó, các tiểu bang phải đại diện theo qui mô dân số. Đó là con đường duy nhất để duy trì sự ổn định và thịnh vượng của 13 tiểu bang Bắc Mỹ. Chính nhờ những lập luận sắc bén của ông mà Hội nghị đã đồng ý sử dụng Phương án Virginia làm nền tảng cơ bản cho mô hình chính quyền liên bang.

Sau này, những lập luận đó lại được Madison sử dụng trong các bài luận văn Người Liên bang.

Ngài MADISON: Nhiều đại biểu gây áp lực vì cho rằng Hội nghị này không được trao đủ quyền lực cần thiết để đề xuất bất cứ mô hình nào khác ngoài mô hình liên bang. Ngoài những điều đã được các đại biểu khác trình bày, ông muốn bổ sung thêm rằng không có một kế hoạch liên bang nào như vậy đáp ứng được đòi hỏi cấp bách hiện nay. Một đặc điểm trong chính quyền liên bang là quyền lực không áp đặt trên các cá nhân mà là áp đặt trên tập thể, trên các tiểu bang.

Nhưng trong một số trường hợp, như những vụ cướp biển, chiếm đoạt tài sản trên biển, theo Các điều khoản Hợp bang hiện nay và trong nhiều trường hợp được mở rộng như Ngài Paterson đề nghị, là điều hành trực tiếp đối với các cá nhân. Một đặc điểm khác là chính quyền liên bang không phải trực tiếp do dân chúng mà do các chính quyền tiểu bang chọn ra. Nhưng đại biểu Quốc hội Hợp bang của Connecticut và Rhode Island lại được chọn do dân chúng, chứ không phải do cơ quan lập pháp. Phương án của Ngài Paterson không dự định thay đổi điều này.

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 2: CÁC CUỘC TRANH LUẬN TẠI HỘI NGHỊ LẬP HIẾN

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Trong khi các đại biểu cuối cùng đang lần lượt ký tên vào bản Hiến pháp thì đại biểu đáng kính nhất là Franklin chỉ tay vào hình mặt trời sau lưng ghế Chủ tịch Hội nghị, nói với một vài đại biểu đứng gần đó rằng những họa sĩ vẽ nó khó phân biệt được đó là cảnh mặt trời đang mọc hay đang lặn.

Ông nói, trong cuộc họp này, ông thường nhìn vào hình mặt trời với những niềm hy vọng đan xen những nỗi sợ hãi và ông không thể nói được đó là cảnh mặt trời đang mọc hay đang lặn. Nhưng giờ đây, cuối cùng, ông đã cảm thấy hạnh phúc, vì biết chắc rằng đó là cảnh mặt trời đang mọc, chứ không phải đang lặn.

Ghi chép của Madison tại Hội nghị Lập hiến ngày 17 tháng Chín năm 1787

Hội nghị Lập hiến tiến hành theo hình thức thảo luận lần lượt từng điều khoản và từng mô hình chính quyền do các đại biểu đệ trình. James Madison được coi là tác giả chính của bản Hiến pháp, như sau này nhiều người gọi ông là "Cha đẻ bản Hiến pháp Mỹ". Không chỉ tham gia tích cực vào các cuộc thảo luận và đề xuất những giải pháp, Madison còn là người duy nhất không bỏ sót một buổi họp nào và ghi chép lại đầy đủ những cuộc tranh luận tại Hội nghị.

Ngoài bản ghi chép của Madison, còn có các bản chép tay của Rufus King, của Robert Yates và cả Biên bản chính thức của Hội nghị Lập hiến do Thư ký Jackson ghi lại. Nhưng bản ghi chép của Madison đầy đủ hơn bất cứ một bản ghi chép nào, kể cả biên bản của Hội nghị vì Jackson chỉ chép lại những ý kiến đề xuất của các đại biểu, sơ lược nội dung các cuộc tranh luận và kết quả bỏ phiếu cuối cùng.

Tới năm 1840, tức là 53 năm sau khi Hội nghị Lập hiến kết thúc và sau khi Madison mất được 4 năm, theo di chúc của ông, bản ghi chép này mới được công bố với tiêu đề "Những cuộc tranh luận tại Hội nghị Liên bang năm 1787". Có thể vì ông phải thực hiện đúng qui định của Hội nghị là cấm không công bố bất cứ thông tin nào về quá trình hội họp mà bản thân ông bị ràng buộc. Chỉ sau khi tất cả các đại biểu tham dự Hội nghị qua đời, thì Madison mới quyết định cho công bố văn kiện này.

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 1: TÓM TẮT QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HIẾN PHÁP MỸ

NGUYỄN CẢNH BÌNH

“Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Ơn Chúa tối cao, hãy đừng bao giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào. Nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay là chết”. Bài phát biểu của Patrick Henry, tại Đại hội tiểu bang Virgina, Ngày 23 tháng Ba năm 1775.

Hội nghị Lập hiến

Thứ Sáu, ngày 25 tháng Năm năm 1787, một lớp đất mới được trải lên con đường rải sỏi phía trước tòa nhà Hạ viện tiểu bang Pennsylvania, trên đường Chestnut , giúp những người đàn ông đang họp bên trong tránh khỏi những tiếng ồn ào của những chiếc xe ngựa chạy bên ngoài. Lính gác đứng ở cửa ngăn không cho những đám đông tò mò vào bên trong và giữ họ ở một khoảng cách xa.

Đây là những đại biểu tham dự Hội nghị Liên bang, được các tiểu bang cử đến với nhiệm vụ sửa đổi những thiếu sót của chính quyền đương thời. Hội nghị dự định khai mạc từ ngày 14 tháng Năm, nhưng lúc đó chỉ có mặt các đại biểu của tiểu bang Virginia và Pennsylvania, nên buộc phải hoãn lại.

Scene_at_the_Signing_of_the_Constitution_of_the_United_StatesTrong ngày đầu khai mạc Robert Morris, đại biểu tiểu bang Pennsylvania, nhà "tài chính" của cuộc Cách mạng Mỹ, đã mở đầu Hội nghị bằng việc đề cử Tướng George Washington cho chức Chủ tịch Hội nghị Lập hiến. Phiếu bầu hoàn toàn nhất trí. Với sự nghiêm trang và khiêm tốn, vị Tổng tư lệnh đã thể hiện sự bối rối của mình trong việc làm chủ tọa một Hội nghị trang trọng như vậy và xin lỗi nếu có bất kỳ sai sót nào mà ông có thể mắc phải trong quá trình thảo luận kỹ lưỡng này.

Continue reading →