CÔNG VĂN SỐ 1402/BCT-ĐTĐL NGÀY 22 THÁNG 2 NĂM 2018 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN GIÁ BÁN ĐIỆN CHO HOẠT ĐỘNG GIẢI MÃ, KHAI THÁC ĐỒNG TIỀN ẢO

Kính gửi: Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Bộ Công Thương nhận được Công văn số 4887/EVN-KD ngày 18 tháng 10 năm 2017 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Công văn số 7908/EVN CPC-KD ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Tổng công ty Điện lực miền Trung, Công văn số 4572/EVNHCMC-KD ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Tổng công ty Điện lực thành phố Hồ Chí Minh và Công văn số 4604/EVN HANOI-B14 ngày 23 tháng 10 năm 2017 của Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội đề nghị hướng dẫn thực hiện giá bán điện cho khách hàng sử dụng điện có hệ thống máy tính xử lý dữ liệu tự động để phục vụ cho hoạt động giải mã, khai thác đồng tiền ảo như bitcoin, litecoin, ethereum và một số đồng tiền tương tự khác. Trên cơ sở ý kiến góp ý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Công văn số 9853/NHNN- PC ngày 04 tháng 12 năm 2017 về tính hợp pháp của hoạt động giải mã, khai thác tiền ảo và Bộ Tư pháp tại Công văn số 335/BTP-PLDSKT ngày 29 tháng 01 năm 2018 về việc thực hiện giá bán điện cho khách hàng sử dụng điện có hệ thống máy tính xử lý dữ liệu tự động để phục vụ cho hoạt động giải mã, khai thác đồng tiền điện tử, Bộ Công Thương hướng dẫn như sau:

Hoạt động giải mã, khai thác đồng tiền ảo như bitcoin, litecoin, ethereum và một số đồng tiền tương tự khác thông qua phần mềm đã được lập trình sẵn trên hệ thống máy tính xử lý dữ liệu tự động mang tính chất làm dịch vụ thông qua việc giải thuật toán để xác minh giao dịch mua bán trên mạng. Vì vậy, điện năng sử dụng cho hoạt động này thuộc đối tượng áp dụng giá bán lẻ điện cho mục đích kinh doanh.

Đề nghị Tập đoàn Điện lực Việt Nam chỉ đạo các Tổng công ty Điện lực áp dụng giá bán điện mục đích kinh doanh cho hoạt động giải mã, khai thác các loại tiền ảo này./.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

Hoàng Quốc Vượng

ĐIỀU LỆ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM (Ban hành kèm theo Nghị định số 26/2018/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ)

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Giải thích từ ngữ

Trong Điều lệ này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam” là nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, bao gồm:

a) Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp I);

b) Các đơn vị nghiên cứu khoa học, đào tạo;

c) Các công ty con của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp II);

d) Các công ty con của doanh nghiệp cấp II (doanh nghiệp cấp III);

đ) Các doanh nghiệp liên kết của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam.

2. “Tập đoàn Điện lực Việt Nam” (sau đây gọi tắt là EVN) là công ty mẹ trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu theo Quyết định số 975/QĐ-TTg ngày 25 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.

3. “Công ty con của EVN” (sau đây gọi tắt là công ty con) là các tổng công ty, các công ty hạch toán độc lập do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần, vốn góp chi phối hoặc nắm giữ quyền chi phối khác, được tổ chức dưới các hình thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (công ty TNHH một thành viên), công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (công ty TNHH hai thành viên trở lên), công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài, công ty ở nước ngoài và các loại hình công ty khác theo quy định của pháp luật.

Continue reading

KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN ĐẠI THẮNG

Chuyển giá gây nên nhiều hệ lụy, làm thất thu ngân sách nhà nước, gây nên bất ổn nền kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh. Do đó, kiểm soát hoạt động chuyển giá sẽ góp phần đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước, tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình hội nhập, việc tiếp thu những kinh nghiệm kiểm soát hoạt động chuyển giá của các quốc gia có nền kinh tế phát triển sẽ giúp hoàn thiện hành lang pháp lý, kiểm soát hoạt động chuyển giá và thực hiện tốt công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá.

1. Kinh nghiệm từ một số nước

Mỹ

Các quy định về giá chuyển giao đã trở thành một phần trong luật thuế của Mỹ kể từ thời chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Khởi đầu là phần 482 của Luật Thu nội địa (IRC) ban hành năm 1968. Tháng 10/1988, Cơ quan Thuế nội địa Mỹ (IRS) đề nghị hai phương pháp nhằm thiết lập tiêu chuẩn cân xứng với thu nhập. Một là, dựa trên phân tích các giao dịch có thể so sánh.

Hai là, dựa trên việc tách lợi nhuận giữa các bên có liên kết. Tháng 1/1992, IRS ban hành quy định giới thiệu ba phương pháp định giá mới, tất cả dựa trên việc đối chiếu các tài liệu về kết quả giao dịch. Tháng 1/1993, IRS ban hành quy định tạm thời. Ngày 1/7/1994, quy định chính thức được ban hành, có hiệu lực từ ngày 8/7/1994 cho đến nay. Mỹ rất quan tâm đến vấn đề kiểm soát chuyển giá của các công ty đa quốc gia. Điều này thể hiện trên các giác độ sau:

Continue reading

CHUYỂN GIÁ TRONG DOANH NGHIỆP FDI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TS. NGUYỄN THỊ THU HOÀI – Đại Học Kinh tế (ĐHQG Hà Nội)

NCS. DƯƠNG VĂN AN

Bên cạnh những đóng góp tích cực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, khu vực này cũng đã bộc lộ một số vấn đề như tình trạng chuyển giá, trốn thuế, gây thất thu ngân sách, tác động không tốt đến môi trường đầu tư của Việt Nam… Bài viết phản ánh hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và đề xuất một số giải pháp hạn chế thực trạng này.

Thực trạng hoạt động chuyển giá và chống chuyển giá

Thực tế cho thấy, vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam là khá rõ nét và đã được khẳng định. Hiện nay, cả nước có khoảng trên 15.000 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 218,8 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 106 tỷ USD.

Các dự án FDI góp phần tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống cho người lao động.

Continue reading

Thực trạng thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện này – MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA & THS. UÔNG HỒNG THẮNG

Theo thống kê của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp(DN) ở nước ta đã tăng trưởng mạnh mẽ. Tính đến hết tháng 9 năm 2017[1], cả nước có 93.967 DN đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 902.682 tỷ đồng, tăng 12.516 = tăng 15,3% về số DN và tăng 273.588 tỷ đồng= 43,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước[2]. Số lượng DN quay trở lại hoạt động là 21.100 DN, tăng 590 doanh nghiệp=2,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một DN trong 9 tháng đầu năm 2017 đạt 9,6 tỷ đồng, tăng 1,9 tỷ = 24 % so với cùng kỳ năm 2016. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các DN thành lập mới trong 9 tháng đầu năm 2017 là 886.453 lao động. Có thể thấy, hoạt động đăng ký thành lập DN mới đã và đang đáp ứng nhu cầu kinh doanh của nhà đầu tư, số lượng DN thành lập là khá lớn, trung bình cả nước mỗi tháng có khoảng 10.000 DN thành lập mới.

Có thể thấy, bên cạnh các biện pháp cải cách thủ tục hành chính trong thành lập doanh nghiệp, các quy định pháp lý của Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN năm 2014) và Luật Đầu tư năm 2014 đã góp phần đáng kể trong việc cải thiện môi trường đầu tư và phát huy quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc thành lập doanh nghiệp vẫn còn có rất nhiều bất cập. Theo Ông Trần Bửu Long, Phó Giám đốc Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNVVN TP. HCM cho biết, thủ tục xét duyệt cho các đối tượng được hưởng ưu đãi còn quá phức tạp, quá rườm rà khiến các doanh nghiệp không hào hứng tham gia. Rất nhiều doanh nghiệp phàn nàn về các thủ tục hành chính chưa gọn lẹ, gây phiền toái và mất thời gian của doanh nghiệp. Thời gian thực hiện các trình tự thủ tục đầu tư còn kéo dài và quản lý tài chính khá phức tạp là một trong những cản trở đối với việc triển khai nhanh các dự án cũng như mở rộng quy mô của nó cho phù hợp với sự chuyển biến năng động và liên tục của thị trường và của doanh nghiệp.

Continue reading

ĐIỀU LỆ MẪU ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐẠI CHÚNG (Ban hành kèm theo Thông tư số 95/2017/TT-BTC ngày 22/9/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 6/6/2017 của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng)

ĐIỀU LỆ MẪU

ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

ĐIỀU LỆ

CÔNG TY CỔ PHẦN

(Tên Công ty)

…, Ngày … tháng … năm 20 …

PHẦN MỞ ĐẦU

Điều lệ này được thông qua theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông tại đại hội tổ chức vào ngày … tháng … năm …

I. ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ TRONG ĐIỀU LỆ

Điều 1. Giải thích thuật ngữ

1. Trong Điều lệ này, những thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a. "Vốn điều lệ" là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp và quy định tại Điều 6 Điều lệ này;

b. "Luật doanh nghiệp" là Luật doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014;

c. "Luật chứng khoán" là Luật chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán ngày 24 tháng 11 năm 2010;

Continue reading

CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN VIỆT NAM – TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN

TS. ĐỖ THỊ HÀ THƯƠNG – Đại học Ngân hàng TP.HCM

THS. TRẦN NGUYỄN CẨM LAI – Đại học Công nghệ Sài Gòn

1. Đặt vấn đề

Hoạt động theo nguyên tắc chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận; công khai minh bạch trong hoạt động mua, xử lý nợ xấu, Công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) được thành lập ngày 18 tháng 5 năm 2013 với nhiệm vụ xử lý nợ xấu và giúp các tổ chức tín dụng (TCTD) khơi thông nguồn vốn ứ đọng nợ xấu để tiếp tục phát triển góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Bài viết nghiên cứu thực trạng hoạt động của VAMC trong thời gian qua; đồng thời, đề xuất một vài khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động của VAMC trong thời gian tới.

2. Nội dung

Khi kinh tế toàn cầu suy thoái dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Việt Nam trì trệ, kém hiệu quả. Các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa, tồn kho lớn, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, dẫn đến gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng, hệ quả là nợ xấu của các doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại (NHTM) tăng lên nhanh chóng. Để hạn chế tình trạng suy giảm trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và ảnh hưởng nghiêm trọng của vấn đề nợ xấu, Chính phủ đã công bố cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Theo đó, Chính phủ đã lần lượt ban hành các quyết định. Cụ thể:

Quyết định 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 phê duyệt đề án tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 với những định hướng chính: Đẩy mạnh việc cổ phần hóa DNNN (ngoại trừ DNNN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ); Chấm dứt việc đầu tư trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm và thực hiện thoái vốn đối với các khoản đầu tư “ngoài ngành”.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP: KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN

TRUNG TÂM THÔNG TIN TƯ LIỆU, VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TW

Mở đầu

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là chủ đề được quan tâm trong xã hội Nhật Bản, trước hết ở khu vực doanh nghiệp, giới nghiên cứu và truyền thông.

Từ thế kỷ 18, giới thương nhân Nhật Bản đã có triết lý kinh doanh Sampo Yoshi "Tốt cho người bán, cho người mua và cho xã hội" đề ra yêu cầu phải có ý thức chăm sóc cho người dân trong khu vực kinh doanh. Vào giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa thế kỷ 19, yêu cầu phục vụ cộng đồng đã được đặt ra cho các doanh nghiệp ở một số địa phương.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, giới kinh doanh Nhật bắt đầu tiếp cận với những quan điểm hiện đại về CSR từ phía Hoa Kỳ. Vào những năm 1970 và 1980, nhất là sau khủng hoảng dầu lửa 1973, nhiều doanh nghiệp đã nhận ra ưu thế và thụ hưởng lợi ích kinh doanh nhờ chính sách năng lượng sạch và đầu tư phát triển công nghệ bảo vệ môi trường; chủ động đề ra và thực hiện các chiến lược tích hợp hoạt động xã hội với ngành kinh doanh cốt lõi trong bối cảnh khách hàng và các đối tác có liên quan ngày càng quan tâm đến các tác động xã hội và môi trường của doanh nghiệp.

Tuy vậy, phải từ thập kỷ 1990, thuật ngữ, nội hàm và cách thức thực hiện CSR mới được các doanh nghiệp và các bên có lợi ích liên quan tiếp cận đầy đủ và có hệ thống. CSR trở thành mối quan tâm của toàn xã hội Nhật Bản, là một phần hoạt động tất yếu của các doanh nghiệp quy mô lớn và là nội dung bắt buộc trong các báo cáo đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. Sau hơn 20 năm, Nhật Bản được đánh giá là quốc gia hàng đầu về thực hiện CSR với số lượng đông đảo các doanh nghiệp có bộ phận CSR chuyên trách và công bố báo cáo hàng năm về phát triển bền vững và CSR.

Continue reading

TÁI CẤU TRÚC QUẢN TRỊ ĐỂ THÚC ĐẨY CƠ CẤU LẠI KHU VỰC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

THS. PHẠM ĐỨC TRUNG – Trưởng ban, Ban Cải cách và phát triển doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

 NGUYÊN THỊ MINH THU – Nghiên cứu viên, Ban Cải cách và phát triển doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Cơ cấu lại đầu tư công, thị trường tài chính và khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là ba trọng tâm của cơ cấu lại nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020. Trong thực hiện cơ cấu lại DNNN, tái cấu trúc quản trị DNNN là một nội dung quan trọng.

Mới đây, Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3 tháng 6 năm 2017 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII và Quyết định số 707/2017/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định "quản trị DNNN theo thông lệ quốc tế" là một trong những mục tiêu cần đạt được đến năm 2020. Bài viết này có mục tiêu làm rõ thực trạng và kiến nghị giải pháp tái cấu trúc quản trị DNNN theo thông lệ quốc tế để thúc đẩy cơ cấu lại DNNN ở Việt Nam đến năm 2020.

1. Nhưng vấn đề chung về quản trị doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước

1.1. Quản trị DNNN

Trong lịch sử phát triển của các mô hình tổ chức doanh nghiệp, một trong những bước tiến bộ quan trọng là sự tách bạch giữa người chủ và doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu và quyền quản lý điều hành. Dù vậy, mô hình tách bạch đã phát sinh những tác động tiêu cực. Hành vi tư lợi, phi đạo đức của người quản lý doanh nghiệp không chỉ đi ngược lại lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu mà còn gây hại cho những đối tượng có liên quan và cho cả nền kinh tế. Người chủ doanh nghiệp bị đẩy ra khỏi doanh nghiệp, chịu thiệt hại bởi các hành vi tư lợi của người quản lý.

Continue reading

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014

TS. NGUYỄN VINH HƯNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Thực tiễn kinh doanh một số năm gần đây cho thấy, trong số các loại hình công ty hiện nay của Việt Nam thì công ty hợp danh (general partnership), đang là loại hình công ty chiếm số lượng ít nhất. Kể từ Luật Doanh nghiệp năm 1999 đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, “công ty hợp danh hầu như không phát triển mấy ở Việt Nam”.[1] Tuy nhiên, đây lại “là một trong các hình thức công ty xuất hiện sớm nhất và đáp ứng rất tốt các đòi hỏi của thị trường”.[2] Nghiên cứu cho thấy, “tại các quốc gia Châu Á, nơi đặt nặng mối quan hệ thân thiết giữa các thành viên trong kinh doanh thì công ty hợp danh vẫn rất phát triển. Thậm chí ngay tại Châu Âu hoặc Hoa Kỳ – những nơi vốn nổi tiếng bởi truyền thống kinh doanh tư bản thực dụng thì công ty hợp danh vẫn luôn được đông đảo tầng lớp các nhà đầu tư tại đó ưa chuộng”.[3]

Tại Việt Nam, trong thời kỳ Pháp thuộc, công ty hợp danh đã từng xuất hiện dưới các hình thức như “công ty đồng danh hay hội hợp danh”.[4] Sau khi đất nước tiến hành đổi mới toàn diện thì “các hình thức kinh doanh như nhóm kinh doanh, tổ hợp tác… đều có thể coi là các dạng của công ty hợp danh ngày nay”.[5] Phải kể từ Luật Doanh nghiệp năm 1999, loại hình công ty hợp danh mới được chính thức quy định trở lại với vỏn vẹn bốn Điều luật.[6] Kế thừa và phát triển từ Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 tiếp tục hoàn thiện và mở rộng thêm các quy định về loại hình công ty hợp danh. Điều này chứng tỏ sự kỳ vọng của nhà làm luật đối với loại hình công ty hợp danh ngày càng lớn hơn.

Continue reading

Xác định lỗi của pháp nhân TRONG VI PHẠM PHÁP LUẬT

TS. BÙI XUÂN PHÁI– Đại học Luật Hà Nội

Trong hầu hết các công trình nghiên cứu, các văn bản pháp luật hay trong giáo trình giảng dạy luật ở bậc đại học… lỗi đều được xác định là thái độ hoặc trạng thái tâm lý tiêu cực của chủ thể đối với hành vi và hậu quả của nó.

Có thể thấy hàng loạt các ví dụ về khái niệm này. Chẳng hạn: “Lỗi phản ánh thái độ tâm lý bên trong của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật và hậu quả của hành vi đó”[1] hay “Lỗi là trạng thái tâm lý của cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi phạm”[2] hoặc “Lỗi là trạng thái tâm lý của người thực hiện hành vi trái pháp luật gây nguy hiểm cho xã hội”[3]; cũng có khi trực tiếp đồng nhất lỗi trong tội phạm với lỗi nói chung là: “…thái độ tâm lý của người phạm tội với hành vi phạm tội mà người đó thực hiện và đối với hậu quả của hành vi đó”[4].

Nói chung, theo những cách hiểu trên đây, lỗi được hiểu là hoạt động tâm lý bên trong của các chủ thể VPPL. Nó thuộc mặt chủ quan của VPPL[5]. Đây là một khái niệm phức tạp. Thứ nhất, lỗi là hoạt động tâm lý bên trong của chủ thể và vì vậy nó không thể cân, đong, đo, đếm được, do đó nó là một khái niệm rất trừu tượng và khó khái quát. Thứ hai, các khái niệm trên hầu như mới nói tới lỗi với tư cách là hoạt động tâm lý của cá nhân (hoặc con người cụ thể) chứ chưa nói tới loại chủ thể là tổ chức, trong đó có pháp nhân. Thực ra, nếu nói lỗi là hoạt động tâm lý bên trong của con người thì liệu có thể nói pháp nhân có lỗi được hay không? Hoạt động của pháp nhân là loại hoạt động phức tạp do sự phối hợp của nhiều người, trong khi đó, mỗi cá nhân là một thực thể độc lập, có nhân cách, suy nghĩ, tình cảm và nhu cầu khác nhau. Ngay cả trong một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì cũng phải có cơ cấu tổ chức để hoạt động vì một thành viên ở đây chỉ được xác định là thành viên sáng lập. Trên thực tế, sự quyết định của pháp nhân là quyết định của tập thể, trong đó mỗi cá nhân có một phần trách nhiệm gắn với những lợi ích mà họ có thể có được do những quyết định ấy. Họ là những người thực hiện các hoạt động của pháp nhân sau khi đã tham gia vào pháp nhân và đã thực hiện sự uỷ quyền (thuê, giao công việc…).

Continue reading

HIỂU THẾ NÀO VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP?

LS. TRẦN MINH HẢI – Công ty Luật BASICO

Doanh nghiệp là dạng khách hàng vay vốn chủ yếu trong cơ sở khách hàng của mỗi ngân hàng. Khi xét cấp một khoản tín dụng cho khách hàng, yêu cầu muôn thủa đối với ngân hàng và cán bộ ngân hàng là phải bảo đảm khách hàng vay vốn sử dụng đúng mục đích. Đúng mục đích, trước tiên được hiểu là mục đích vay vốn đúng với ngành nghề kinh doanh mà khách hàng được phép triển khai.

Vậy nên, hiểu các doanh nghiệp được hoàn toàn tự do kinh doanh những ngành nghề mà luật không cấm hay chỉ được kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật cho phép?

Câu hỏi này không hề mới. Tại khoản 1, Điều 7 của Luật Doanh nghiệp hiện hành, có nội dung xác định một trong những quyền năng cơ bản của doanh nghiệp là “tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm”. Tuy nhiên, để bảo đảm gắn kết với việc thẩm định mục đích vay vốn của doanh nghiệp, cán bộ ngân hàng nên có nhận thức thận trọng về phạm vi tự do kinh doanh của khách hàng.

Trước hết, ngân hàng phải loại trừ các trường hợp pháp luật cấm kinh doanh đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng doanh nghiệp. Có 7 trường hợp cấm kinh doanh cụ thể được nêu tại Điều 6 của Luật Đầu tư (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2016) như kinh doanh mại dâm, mua bán người, kinh doanh chất ma túy…

Loại trừ các trường hợp cấm kinh doanh, cơ chế quản lý Nhà nước về doanh nghiệp hiện nay là cơ chế đăng ký kinh doanh. Theo đó, doanh nghiệp được quyền lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực, phương thức để tiến hành hoạt động kinh doanh. Pháp luật về doanh nghiệp chỉ đặt ra một số giới hạn là những ngưỡng chặn nhất định. Nếu vượt qua những ngưỡng chặn đó, quyền tự do kinh doanh thuộc về doanh nghiệp.

Continue reading

VĂN BẢN SỐ 1066/TTg-CN NGÀY 20 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ TRẢ LỜI CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI DƯƠNG TRUNG QUỐC VỀ GRAB VÀ UBER

Kính gửi: – Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc;
– Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
– Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai.

Thủ tướng Chính phủ nhận được Công văn số 991/TTKQH-GS ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Tổng Thư ký Quốc hội gửi ý kiến chất vấn của Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai với nội dung như sau:

“Kính thưa Thủ tướng,

mới đây, tại cuộc tiếp xúc với doanh nhân, Thủ tướng có phát biểu khuyến khích việc để GRAB và UBER thử nghiệm như thể hiện sự cởi mở trong chính sách đầu tư của Việt Nam, nên tôi không đặt câu hỏi tại hội trường trong buổi Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình trả lời chất vấn. Tôi xin gửi tới Thủ tướng:

Tôi xin đặt câu hỏi về chủ trương của Chính phủ cho phép thử nghiệm phương thức kinh doanh chở khách của GRAB & UBER. Tôi không đề cập tới phương thức kinh doanh hay những xung đột lợi ích với các hãng xe taxi truyền thống là các hãng kinh doanh theo quy định hiện hành của nhà nước mà tôi được biết đã có nhiều kiến nghị của các hiệp hội taxi hay các sở giao thông của nhiều địa phương gửi Chính phủ.

Tôi chỉ bàn về chủ trương cho phép thử nghiệm của chính phủ dưới góc độ quản lý nhà nước. Chủ trương cho phép GRAB và UBER thử nghiệm vào thời điểm sự phát triển của taxi truyền thống trên những địa bàn đô thị quan trọng ở nước ta đã tới ngưỡng của sự cần thiết phải giới hạn về số lượng tương quan với nhu cầu và hạ tầng giao thông. Với GRAB và UBER được hoạt động thử nghiệm thì số lượng xe tham gia vận chuyển hành khách cả dưới dạng taxi truyền thẳng hay hợp đồng vận chuyển sẽ tăng lên gấp bội (GRAB và UBER khó kiểm soát vì nó "tàng hình" khó biết con số cụ thể nhưng chắc chắn sẽ nhiều hơn cả xe taxi truyền thống đang hoạt động); từ đó nảy sinh xung đột lợi ích và nhất là xung đột với mục tiêu quản lý nhà nước trên cơ sở quy hoạch về số lượng, sẽ làm trầm trọng hơn áp lực quá tải lên hạ tầng và ách tắc giao thông.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 707/QĐ-TTg NGÀY 25 THÁNG 5 NĂM 2017 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “CƠ CẤU LẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC, TRỌNG TÂM LÀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016 – 2020”

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2016 – 2020” với các nội dung sau:
1. Mục tiêu
a) Thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước để doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt; cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; quốc phòng, an ninh; lĩnh vực độc quyền tự nhiên; ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Thực hiện công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường và quy định của pháp luật trong cổ phần hóa và thoái vốn, không để xảy ra tiêu cực, lợi ích nhóm, thất thoát vốn, tài sản nhà nước.
b) Đầu tư của doanh nghiệp nhà nước tập trung vào các lĩnh vực khoa học, công nghệ; ngành, lĩnh vực mang tầm chiến lược, có tính dẫn dắt, định hướng xây dựng nền kinh tế tri thức, có hàm lượng công nghệ cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế. Nâng cao hiệu quả hoạt động, sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh, tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước; kiện toàn nâng cao năng lực quản lý và năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế; hoạt động của doanh nghiệp nhà nước được quản lý, giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch, bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 91/TANDTC-PC NGÀY 28 THÁNG 4 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC XỬ LÝ TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, BUÔN BÁN PHÁO NỔ TRONG NỘI ĐỊA

Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Tòa án nhân dân tối cao nhận được ý kiến phản ánh của nhiều Tòa án nhân dân về vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật để xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ trong nội địa. Về vấn đề này, sau khi xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12-06-2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 07-5-2009) thì “các loại pháo” thuộc Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh. Tuy nhiên, theo quy định của Luật đầu tư số 67/2014/QH13 (Luật đầu tư năm 2014) thì “kinh doanh các loại pháo” thuộc Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (Phụ lục 4 Luật đầu tư năm 2014). Luật này có hiệu lực thi hành ngày 01-7-2015.

Ngày 22-11-2016, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư năm 2014 (Luật sửa đổi, bổ sung Luật đầu tư năm 2014), trong đó có bổ sung quy định “kinh doanh pháo nổ” vào ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh (Điều 6). Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2017.

Để áp dụng đúng và thống nhất quy định của pháp luật trong việc xử lý các hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ trong nội địa, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao khi giải quyết các vụ án tàng trữ, vận chuyển buôn bán pháo nổ trong nội địa cần lưu ý:

Continue reading

PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Kết quả hình ảnh cho commercial entity IN LAW HOÀNG ĐỨC CƯỜNG -  Viện Kiểm sát quân sự Khu vực 43

1. Lược sử pháp nhân thương mại ở Việt Nam

Các văn bản quy phạm pháp luật trước đây của Nhà nước ta đã mô tả các dấu hiệu của pháp nhân như tại Thông tư số 525 ngày 26//3/1975 của Trọng tài Kinh tế, Nghị định số 17 ngày 16/01/1990 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Trọng tài kinh tế, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự ngày 01/7/1991. Điều 84 BLDS năm 2005 mô tả dấu hiệu (điều kiện) một tổ chức được công nhận là pháp nhân: “1. Được cơ quan có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. Điều 74, BLDS năm 2016 mô tả về “pháp nhân”: “1. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. 2…”. Qua các văn bản pháp luật đã ban hành, có thể đưa ra khái niệm pháp nhân như sau: Pháp nhân là tổ chức thống nhất, độc lập, hợp pháp có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Ở nước ta, có các loại pháp nhân sau: (i) Các pháp nhân là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang; (ii) các pháp nhân là các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội nghề nghiệp; (iii) Các pháp nhân là các tổ chức kinh tế; (iv) các pháp nhân là các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện (Điều 85, BLDS năm 2005). Như vậy, cho đến trước khi BLDS năm 2015 ban hành, pháp luật Việt Nam vẫn chưa hề có một văn bản quy phạm pháp luật nào đề cập đến “Pháp nhân thương mại”.

BLDS năm 2015 quy định về “Pháp nhân thương mại” tại Điều 75 như sau: “1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. 2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. 3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Continue reading

NHẦM LẪN VỀ CẤM ĐẶT TÊN

Hình ảnh có liên quanLS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO Trọng tài viên VIAC

Mỗi cái tên của doanh nghiệp có khả năng rơi vào một trong ba trạng thái: Không tốt, chẳng xấu (trung tính), tốt (hay) và xấu (dở). Vô thưởng, vô phạt thì khỏi phải bàn. Tốt thì pháp luật chẳng nên cấm, thậm chí cần khuyến khích. Còn xấu thì doanh nghiệp tự tránh. Chỉ có quá xấu đến mức nguy hại cho xã hội thì mới phải cấm (Tác giả viết bài này vào năm 2014, thời điểm sửa đổi Luật doanh nghiệp năm 2005 – Civillawinfor).

Cấm lấy tên danh nhân

Thông tư số 10/2014/TT-BVHTTDL ngày 01-10-2014 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch “Hướng dẫn đặt tên doanh nghiệp phù hợp với truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc” đã quy định 8 trường hợp cấm đặt tên doanh nghiệp, trong đó có việc cấm “sử dụng tên trùng tên danh nhân”. Và đây chính là điều gây ra tranh cãi nhiều nhất.

Việc đặt tên doanh nghiệp là nhằm để phân biệt trong giao dịch, là sự gửi gắm mong muốn điều tốt đẹp và cao hơn nữa là thể hiện tầm văn hoá của doanh nhân. Vậy thì, chẳng tìm ra lý gì để cấm việc đặt tên là Công ty Cơ khí Trần Hưng Đạo hay Công ty Thương mại Nguyễn Du. Thậm chí có một Công ty Quang Trung hùng mạnh xuất hàng sang Trung Quốc và thế giới thì là điều quá tốt. Tại sao không khuyến khích mà lại phải cấm đặt tên doanh nghiệp trùng với tên danh nhân, giống như đó là việc xấu xa, tội lỗi? Thời hội nhập kinh tế toàn cầu rồi, không nên quay ngược lại “truyền thống lịch sử”, kiểu như cấm đặt tên kỵ huý. Cũng đừng hành động như đã từng xảy ra tình trạng phổ biến vào nửa thế kỷ trước, đó là việc dân ta lấy tên các tổng thống của một nước xâm lược để gọi vật nuôi cho bõ ghét. Trong khi đó, nhiều người văn minh, yêu quý danh nhân thì mới mượn tên đặt cho thú cưng hay con cái của họ.

Mà phải tránh những tên danh nhân nào đây, khi từ này có nghĩa rất rộng nếu xét trên các góc độ khác nhau. Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), giải nghĩa đặc biệt ngắn gọn, danh nhân là “người có danh tiếng”. Nếu cứ bám theo nghĩa đó, thì không chỉ có danh nhân lịch sử, danh nhân văn hoá,… được thế giới hay quốc gia vinh danh, mà một ca sĩ thị trường đắt sô hoặc một cầu thủ bóng đá tài nghệ cũng đều có thể được gọi là “danh nhân”.

Nếu cho rằng, việc doanh nghiệp đặt theo tên danh nhân là tôn vinh họ, thì không cần hạn chế. Còn nếu nghĩ rằng, đó là việc xúc phạm danh nhân, thì hoàn toàn vô căn cứ. Suy cho cùng, thì việc lấy tên danh nhân đặt cho doanh nghiệp không hề nhằm tôn vinh hay xúc phạm ai. Pháp luật chỉ cần can thiệp theo hướng, cấm xúc phạm danh nhân và cấm tôn vinh phản động.

Continue reading

TÊN CÔNG TY PHI PHÁP LUẬT

Kết quả hình ảnh cho LAW ON COMPANY NAMELS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO Trọng tài viên VIAC

Theo Luật Doanh nghiệp, một công ty dù có quy mô là siêu công ty, tổng công ty, tập đoàn hay công ty đa quốc gia, thì cũng chỉ được gọi là công ty, không hơn, không kém. Nhưng thực tế thì đang có nhiều tên công ty không theo đúng quy định của luật (Tác giả viết bài này vào năm 2014, thời điểm sửa đổi Luật doanh nghiệp năm 2005 – Civillawinfor).

Từ quy định của luật

Theo Luật Doanh nghiệp, thì dù là nhà máy, xí nghiệp, xí nghiệp liên hợp, liên hiệp xí nghiệp, công ty, liên hiệp công ty, tổng công ty, tập đoàn,… như cách gọi tên từ trước đến nay, thì cũng chỉ được quy về loại hình pháp lý là công ty, nếu không thì chỉ là chi nhánh công ty. Mà đã là công ty, dù là TNHH, cổ phần hay hợp danh thì đều có tư cách pháp nhân. Còn nếu là đơn vị phụ thuộc công ty, thì phải có sự ủy quyền của công ty tham gia giao kết hợp đồng.

Theo quy định tại điều 3, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và điều 13, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15-4-2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, thì tên doanh nghiệp bao gồm hai thành tố: loại hình doanh nghiệp (bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và tên riêng của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, vì pháp luật chỉ quy định tên công ty phải có từ “công ty”, mà không quy định chặt chẽ, nên nó đang được biến đổi theo đủ mọi cách.

Đến tên gọi biến dạng

Thứ nhất là từ “công ty” đã được chuyển từ vị trí đầu tiên lùi vào giữa, như “Tổng công ty Hàng hải Việt Nam – Công ty TNHH một thành viên” hay “Tổng công ty May 10 – Công ty cổ phần”.

Thứ hai là cụm từ “TNHH” và “cổ phần” không còn đi liền sau từ “Công ty”, mà được đẩy xuống xa hơn, như “Công ty Luật TNHH” chứ không phải là “Công ty TNHH Luật” (theo Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi năm 2012), hay “Công ty tài chính cổ phần” chứ không phải là “Công ty cổ phần tài chính” (theo Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 4-10-2002 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính, sửa đổi năm 2008).

“Nếu theo đúng quy định của luật, thì tất cả tên của các công ty đương nhiên phải được bắt đầu bằng từ “Công ty”, chứ không còn ngoại lệ bắt đầu bằng “Tổng công ty” hay “Tập đoàn”. Hãy tạo ra sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, từ điều nhỏ nhất như tên gọi của công ty”.

Continue reading

KAIZEN NHẬT BẢN: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho japanese enterprises KAIZEN  TỐNG THÙY LINHViện Nghiên cứu Đông Bắc Á

Triết lý quản lý của người Nhật – Kaizen đã được áp dụng rộng rãi và thành công tại các công ty Nhật trong vòng hơn 50 năm qua, đóng góp lớn vào sự phát triển của từng doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế Nhật Bản. Tuy nhiên, tại Việt Nam, Kaizen chỉ mới phổ biến trong vài năm gần đây và chỉ một số ít các doanh nghiệp quan tâm đến triết lý quản lý này. Bởi vậy, Kaizen chưa trở thành một triết lý quan trọng, chưa được hiểu và áp dụng đúng tại các công ty. Bài viết này xin góp phần giúp các doanh nghiệp Việt Nam hiểu thêm về tầm quan trọng của Kaizen – CẢI TIẾN LIÊN TỤC cũng như cách thức triển khai triết lý này trong hoạt động kinh doanh.

Muốn triển khai triết lý CẢI TIẾN LIÊN TỤC thành công, trước tiên các doanh nghiệp cần hiểu và tuân theo 10 nguyên tắc cốt lõi trong Kaizen.

1. Nguyên tắc thứ nhất: Tập trung vào khách hàng.

Một nguyên tắc bất biến hàng đầu trong quản trị kinh doanh hiện đại là sản xuất và cung cấp dịch vụ theo định hướng thị trường và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Một công ty định hướng khách hàng là một công ty có thể xác định rõ đối tượng khách hàng cũng như nhu cầu của họ và định vị khách hàng hiện tại tương lai của mình. Đây là công ty mà hoạt động sản xuất kinh doanh được quan sát bằng con mắt của chính khách hàng. Công ty thường xuyên giám sát giá trị của sản phẩm, dịch vụ đã và đang cung cấp cho khách hàng và luôn luôn tìm mọi cách để cải tiến chúng. Các công ty, xí nghiệp hoạt động kinh doanh theo phương thức quản lý kiểu truyền thống lạc hậu trước đây đã không còn thích hợp và khó có thể tồn tại lâu dài. Khách hàng hiện nay có nhiều quyền hơn trong việc lựa chọn đối với những sản phẩm và dịch vụ mà họ muốn mua. Họ lựa chọn sản phẩm, dịch vụ dựa vào nhận thức về chất lượng và giá trị của chúng. Bởi vậy các doanh nghiệp cần nắm được những yếu tố quyết định giá trị và sự hài lòng của khách hàng. Khó khăn lớn nhất đối với doanh nghiệp là phải đảm bảo có được sự nhận thức đầy đủ của tất cả mọi người trong công ty về khách hàng và đảm bảo sao cho không chỉ có những người trực tiếp liên quan đến việc bán hàng và dịch vụ mới là những người duy nhất trong công ty có thể đánh giá và hiểu biết khách hàng. Điều đó cũng có nghĩa là mọi người trong tổ chức đều phải suy nghĩ về công việc của họ dưới góc độ làm sao để cung cấp giá trị cho khách hàng.

Continue reading