TRANH CHẤP VỀ VIỆC CHUYỂN NGHĨA VỤ

VŨ ÁNH DƯƠNG

Các bên:

Các vấn đề được đề cập

Hậu quả đề xuất

Nguyên đơn: Người bán VN

Bị đơn: Người mua Hồng Kông

– Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba hay chuyển nghĩa vụ
– Tiền lãi của số tiền chậm trả

– Trách nhiệm giao hàng vẫn thuộc về bị đơn;

– Bác tiền lãi số tiền chậm trả

Tóm tắt vụ việc:

Bị đơn ký hợp đồng mua của nguyên đơn 5.000 MT gạo trắng loại 5% tấm với giá 340 USD/MT FOB cảng Sài Gòn hoặc Cần Thơ, thanh toán bằng L/C không huỷ ngang, giao hàng trong vòng 25 ngày kể từ ngày bên bán nhận được thông báo L/C. Bị đơn uỷ thác cho nguyên đơn thuê tàu chở hàng và tiền cước thanh toán bằng TTR.

Một Cty Ma Cao (người mua lại lô hàng đó của bị đơn) do bị đơn chỉ định đã thay bị đơn mở L/C tại Ngân hàng Thương mại Ma Cao cho nguyên đơn hưởng lợi. Sau khi nhận được thông báo L/C, nguyên đơn đã thuê tàu và ngày 20/8/1995 đã giao xong 5.000 MT gạo trị giá 1.700.000 USD. Hàng đã được dỡ và lưu kho cảng, nhưng một phần hàng đã bị ẩm từ trong hầm tàu và bị hư hỏng. Người mua Ma Cao không chấp nhận bộ chứng từ để đi nhận hàng với lý do bộ chứng từ không hợp lệ.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI GIỮA CÔNG TY DŨNG HẢI VÀ CÔNG TY STEMCOR: MỘT BÀI HỌC ĐẮT GIÁ

NGUYỄN HƯƠNG – BÁ TÚ

Có lòng tin trong kinh doanh là cần thiết nhưng khi lòng tin đặt không đúng chỗ có thể gây hậu quả đáng tiếc. Câu chuyện về công ty TNHH Dũng Hải (Quán Toan, Hồng Bàng, Hải Phòng) bị đối tác lợi dụng lòng tin là một ví dụ đắt giá.

Là doanh nghiệp chuyên sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thép có “thâm niên” nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài nên khi nhận được thư chào hàng ngày 21/3/2005 của đại diện công ty TNHH Stemcor (SEA) có trụ sở tại 350 đường Orchard, số 18 Shaw House, Singapore và văn phòng đại diện tại số 2, Ngô Quyền, Hà Nội về mặt hàng thép lá cán nóng có chiều dài “tối thiểu 600 – 1.200 mm, tối đa 1.500 – 4.000 mm, tỷ lệ cong vênh chiếm 5%/500 tấn”; công ty  Dũng Hải đã nhanh chóng “vào cuộc”.

Cả tin mà ký

Ngày 1/4/2005, 2 bên ký kết hợp đồng (HĐ) thương mại số SP 27929Tvà hàng đã được chuyển về bãi hàng của công ty Dũng Hải. Sau khi thanh toán và nhận hàng, Cty Dũng Hải nhận ra hàng của mình toàn là “sắt vụn”. Lúc này bản HĐ thương mại mới bộc lộ rõ những điểm bất lợi cho người mua.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ BẢO ĐẢM HỢP ĐỒNG VÔ ĐIỀU KIỆN

NGUYỄN THU TRANG

Các bên:

Các vấn đề được đề cập

Hậu quả đề xuất

Nguyên đơn: Người cung ứng Mỹ

Bị đơn: Người mua Mỹ

– Thẩm quyền: Tranh chấp có thể được giải quyết bằng Trọng tài không?
– Bảo đảm thực hiện vô điều kiện ;
– Vi phạm nghiêm trọng hợp đồng
Tiếp tục thực hiện hợp đồng dù đang có tranh chấp

Tóm tắt vụ việc:

Bằng Hợp đồng mua bán ngày 12/7/1982, nguyên đơn cam kết cung ứng cho bị đơn một số tủ văn phòng và tủ đựng quần áo. Sau đó, Bị đơn sẽ cung ứng số hàng hoá này cho một Cty Arập Xê-út (khách hàng). Hợp đồng quy định tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết bằng trọng tài ICC tại Washington.

Theo hợp đồng, trong vòng 15 ngày kể từ ngày ký hợp đồng nguyên đơn phải cung ứng:

“Một bảo đảm thực hiện hợp đồng vô điều kiện và không hủy ngang có thể được [bị đơn] chấp nhận, do một Ngân hàng Mỹ phát hành và xác nhận cho [bị đơn] hưởng lợi với trị giá là 10% giá bán … như là một bảo đảm cho thoả thuận này” (sau đây gọi tắt là “L/C bảo đảm thực hiện”).

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ HỦY HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN DO KHÔNG XẾP HÀNG

Các bên:

Lý do tranh chấp

Hậu quả đề xuất

Nguyên đơn: Chủ tàu Việt Nam
Bị đơn: Người thuê tàu Hồng Kông

Bốc hàng chậm hay không thực hiện nghĩa vụ bốc hàng

Huỷ hợp đồng

image

image

Tóm tắt vụ việc:

Nguyên đơn ký kết với Bị đơn một hợp đồng chở 5.200 tấn gỗ tròn từ Rangoon, Burma đến Huangpu, Trung Quốc. Bị đơn cam kết trả khoán 140.000 USD cước vận chuyển cho ngân hàng do nguyên đơn chỉ định trong vòng ba ngày làm việc kể từ khi hoàn thành việc xếp hàng lên tàu và ký vào vận đơn. Tàu phải đến cảng bốc hàng và phải ở tình trạng sẵn sàng để xếp hàng vào khoảng thời gian giữa ngày 5/2 và ngày 15/2/1992.

Nguyên đơn đưa tàu đến Rangoon thứ sáu ngày 12/2/1992 và gửi Thông báo sẵn sàng bốc hàng vào hồi 17h10 cùng ngày. Như vậy theo các qui định về thời gian bốc hàng trong hợp đồng thì thời gian bốc hàng sẽ bắt đầu tính từ 13h00 ngày thứ bảy.

Continue reading

CÔNG TY TIẾN LÊN KIỆN ĐÒI TIỀN BẢO HIỂM: BẢO MINH CÓ CHỐI BỎ TRÁCH NHIỆM

THÀNH TRUNG

Mỗi năm, Cty TNHH Tiến Lên (Biên Hoà, Đồng Nai) đã phải chi ra 72 triệu đồng để mua bảo hiểm vật chất cho đội xe cơ giới vận chuyển sắt thép từ Cty Bảo hiểm TP HCM (Bảo Minh). Thế nhưng, một trong số đội xe cơ giới đó bị tai nạn thì Cty Bảo hiểm Bảo Minh (BHBM) đã từ chối trách nhiệm bồi thường. Cty Tiến Lên đã khởi kiện BHBM ra Toà án kinh tế TP HCM. Vậy thực chất sự việc này như thế nào? Ai đúng? Ai sai?

Ngày 1/3/2003, trong lúc giao hàng sắt thép tại kho bãi của cơ sở Trường Tiền tại xã Thuận Giao, huyện Thuận An, Bình Dương, chiếc xe cẩu hiệu ASIA mang biển số 60N – 4368 bị luồng điện bên trên phóng xuống, gây cháy toàn bộ thân xe (thiệt hại 85%). Rất may là tài xế và phụ xe nhảy xuống kịp thoát nạn. Bà Phạm Thị Hồng – GĐ Cty TNHH Tiến Lên cho biết: “Từ ngày đưa Đội xe cơ giới vào hoạt động vận chuyển sắt thép, mỗi nămCty TNHH Tiến Lên phải chi ra 72 triệu đồng đểmua bảo hiểm vật chất cho 13 chiếc xe cơ giới từ BHBM.

Continue reading

NGHIÊN CỨU MỘT VỤ TRANH CHẤP TRONG NGOẠI THƯƠNG

Diễn biến của một vụ kiện do trung tâm trọng tài quốc tế VIAC, bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam thụ lý. Chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu và thảo luận.
Nguyên đơn: Công ty TNHH THÉP THÀNH LONG (Người mua Việt Nam).
Bị đơn: Công ty XINXIN TRADING DEVELOPMENT CO.,LTD (Người bán Trung Quốc).
Ngày 15/5/2006 Nguyên đơn ký hợp đồng số TL/XX0306 mua của Bị đơn 750MT thép góc Q235 (+/- 10%) giá 445 USD/MT CNF FO cảng Hải Phòng theo Incoterms 2000.

  • Giao hàng chậm nhất 30/6/2006.
  • Thanh toán bằng L/C không huỷ ngang trả tiền ngay.
  • Điều 8 của hợp đồng quy định: trong trường hợp chất lượng của hàng ở cảng đến không phù hợp với hợp đồng, Người mua có thể khiếu nại Người bán bằng biên bản giám định do SGS cấp và gửi cho Người bán trong vòng 40 ngày kể từ ngày hàng đến cảng đến.

Ngày 17/5/2006, Nguyên đơn mở L/C số 009LC01061370002 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á cho Bị đơn hưởng lợi.
Ngày 8/6/2006 lô hàng đầu tiên 436,484 MT đã cập cảng Hải Phòng. Nguyên đơn tự thấy hàng không đủ tiêu chuẩn chất lượng nên đã không nhận hàng và thông báo cho Bị đơn về những khiếm khuyết của lô hàng.
Ngày 25/7/2006, Nguyên đơn đã kiện Bị đơn lên VIAC. Trong đơn kiện Nguyên đơn đưa ra bằng chứng nói Bị đơn thừa nhận lô hàng “có vấn đề nghiêm trọng” (Trong công văn gửi Nguyên đơn ngày 23/6/2006) và cam kết “sớm giải quyết vấn đề tái xuất hàng trong thời gian sớm nhất” (Trong công văn gửi Nguyên đơn ngày 27/6/2006).
Đồng thời trong công văn gửi cho Hải quan Việt Nam và cho Nguyên đơn, Bị đơn đã thừa nhận lô hàng không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu theo hợp đồng, và cam kết sẽ thay thế hàng trong thời hạn 10 ngày. Tuy nhiên đến nay Bị đơn vẫn chưa thực hiện việc thay thế lô hàng.
Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải trả khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là 8% giá trị toàn bộ lô hàng, tương đương 26.700 USD, cộng với các khoản thiệt hại khác sẽ tính toán sau.
Trong bản tự bảo vệ ngày 1/10/2006 Bị đơn khẳng định đã giao hàng đúng hợp đồng là loại thép Q235B, cho rằng “dù mặt lô thép có vết chân chim trong phạm vi cho phép, nhưng không hề ảnh hưởng đến việc sử dung nó một cách bình thường”.
Bị đơn cho rằng Nguyên đơn đã đặt nhầm hàng vì sau đó ngày 2/8/2006 lại kí hợp đồng mua của Bị đơn thép Q345 với cung quy cách như hợp đồng TL/XX0306, nên không có thiện chí nhận hàng.
Lô hàng thứ hai 286,898 MT đưa lên thuyền ngày 18/6/2006 cập cảng Hải Phòng ngày 28/6/2006 nhưng Nguyên đơn không đến xem hàng. Bị đơn nhiều lần đề nghị Ngân hàng thanh toán nhưng không được thanh toán. Đồng thời Bị đơn đưa ra văn bản Nguyên đơn gửi cho Ngân hàng Đông Á trong đó đề nghị huỷ L/C ngày 20/6/2006.
Bị đơn cũng đưa ra lí do đã hơn 80 ngày nhưng chưa nhận được bất kì chứng từ nào của SGS tức là Nguyên đơn đã tự mình từ chối quyền yêu cầu bồi thường theo hợp đồng.
Trong văn bản trả lời Nguyên đơn phủ nhận việc mua nhầm hàng và nói rằng chất lượng lô hàng Bị đơn cung cấp là quá kém. Giám đốc bên Bị đơn cũng thừa nhận “hàng có vấn đề nghiêm trọng về chất lượng” nên không cần mời SGS giám định.
Nguyên đơn cũng khẳng định việc Ngân hàng Đông Á không tiến hành thanh toán là theo yêu cầu của Ngân hàng của Bị đơn. Nguyên đơn cho rằng việc Ngân hàng này yêu cầu Ngân hàng Đông Á ngừng việc thanh toán và trả lại bộ chứng từ là do họ cũng đã nhận ra bộ chứng từ không phù hợp với chất lượng của lô hàng trên thực tế và không phù hợp với quy định của hợp đồng.
Chúng ta có thể thấy rõ ràng là phía Trung Quốc đã vi phạm hợp đồng, tuy nhiên, với những hành vi dẫn tới hậu quả tước bỏ quyền lợi của Việt Nam, liệu phía Việt Nam có được bồi thường đầy đủ. Xin các Saganor nêu ra ý kiến của mình.

SAGA.VN – S.T

ÁP DỤNG ÁN LỆ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NGỌC DUY MỸ

Có một thực tế là, dù VN rất tích cực đổi mới pháp luật theo những nguyên tắc của kinh tế thị trường, nhưng pháp luật về kinh tế, thương mại của nước ta vẫn còn có những khoảng cách nhất định so với pháp luật về thương mại của các nước, đặc biệt là với những chuẩn mực pháp lý của WTO mà VN sẽ trở thành thành viên trong một tương lai gần. Vấn đề không chỉ là những cách biệt về mặt quan điểm và kỹ thuật pháp lý, mà trong thực tiễn, chúng tạo nên những khó khăn cho việc hội nhập và nhất là đối với các quan hệ thương mại quốc tế. Một dẫn chứng sau đây cho thấy điều đó:

Vụ việc

Năm 1995, Công ty TNHH Tyco ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Leighton về việc xây dựng một khu nghỉ mát tại miền Trung VN. Hai bên thỏa thuận tranh chấp sẽ do Trọng tài thương mại tại Queensland (Úc) giải quyết.

Khi có tranh chấp, Trọng tài Queensland đã thụ lý vụ kiện và phán quyết theo hướng có lợi cho Tyco, sau đó được chuyển về đề nghị công nhận và cho thi hành tại VN.

Ngày 23.5.2002, Tòa kinh tế Tòa án nhân dân TP.HCM đã công nhận phán quyết trọng tài và cho thi hành tại VN. Công ty Leighton không chấp nhận với lý lẽ rằng hợp đồng tranh chấp là hợp đồng về xây dựng, nên quan hệ hợp đồng này không phải là quan hệ thương mại theo Luật thương mại năm 1997 (xây dựng không phải là hành vi thương mại theo luật này). Toà án bác bỏ lý lẽ của Công ty Leighton và giải thích rằng hợp đồng được ký trước khi Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực, do đó không thể kết luận các giao dịch đưa ra trong hợp đồng không mang bản chất thương mại vào thời điểm ký kết hợp đồng.

Công ty Leighton khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM, còn Công ty Tyco đề nghị Bộ tư pháp giải thích tính áp dụng của Luật thương mại năm 1997. Tháng 8.2002, Bộ tư pháp có ý kiến rằng: trước Luật thương mại 1997, không có sự phân biệt nào giữa hành vi thương mại và hành vi phi thương mại, do đó không thể cho rằng các giao dịch trong hợp đồng ký năm 1995 không có bản chất thương mại. Với quan điểm của Bộ tư pháp, phán quyết của Trọng tài Queensland đủ điều kiện công nhận và cho thi hành tại VN.

Tháng 01.2003, Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM đã xem xét lại vụ việc và bác quyết định của Tòa kinh tế TAND TP.HCM. Tòa án nhân dân tối cao phán quyết rằng các giao dịch trong hợp đồng năm 1995 của Leighton và Tyco liên quan tới hoạt động xây dựng không mang bản chất thương mại theo pháp luật VN khi đó cũng như theo Luật thương mại năm 1997. Như vậy, phán quyết của Trọng tài Queensland không đủ điều kiện để được công nhận và thi hành tại VN.

Vấn đề

Vụ việc trên đặt ra những vấn đề sau:

– Có sự khác biệt giữa pháp luật VN và quốc tế về khái niệm thương mại:

Trong hệ thống pháp luật truyền thống của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, cách hiểu thương mại thường là theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hành vi kinh doanh như sản xuất, mua bán và dịch vụ. Trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, nội dung thương mại còn bao gồm cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ vốn còn rất xa lạ trong quan niệm thương mại của VN. Trong Bộ luật thương mại Pháp, người ta liệt kê một loạt các hành vi thương mại, theo đó mọi hành vi từ sản xuất, khai thác hầm mỏ, nguyên liệu đem bán, chế biến sản phẩm, mua bán, các hoạt động giải trí, môi giới, trung gian thương mại, ngân hàng, hối đoái, … đều được xem là hành vi thương mại.

Ngược lại, trong Luật thương mại VN năm 1997, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại là những hành vi thương mại theo liệt kê như: mua bán hàng hoá, đại diện, đại lý, môi giới, gia công, giám định, quảng cáo, khuyến mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá, hội chợ triển lãm thương mại. Đây là quan niệm thương mại theo nghĩa hẹp; tức chỉ bao gồm hoạt động mua bán hàng hoá và những tác vụ có liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hoá. Luật thương mại năm 2005, tuy đưa ra định nghĩa về hoạt động thương mại, là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác; song lại tự giới hạn phạm vi điều chỉnh của Luật ở những hành vi mà về cơ bản giống như Luật thương mại năm 1997, còn những lĩnh vực khác được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành có liên quan. Thực tế này có thể dẫn đến cách hiểu không nhất quán trong việc giải quyết tranh chấp, đặc biệt là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài.

– Nếu cho phép vận dụng án lệ, vấn đề trở nên dễ dàng hơn:

Theo đó ở hầu hết các quốc gia kinh tế thị trường, các hành vi xây dựng không tách rời với hoạt động thương mại. Có nhiều vụ tranh chấp về xây dựng được giải quyết dưới tác động của việc tham chiếu đến các bản án đã có từ trước. Các thẩm phán hoàn toàn có thể dựa vào đó làm cơ sở để đưa ra những phán quyết hoặc công nhận phán quyết của các cơ quan trọng tài. Theo cách lý giải này, một cơ quan trọng tài thương mại hoàn toàn có thể thụ lý và đưa ra phán quyết. Phán quyết sẽ được công nhận và thi hành tại VN qua một thủ tục pháp lý tương tự việc thi hành các bản án của toà án, trọng tài trong nước.

Trong quan hệ thương mại quốc tế, nhiều khi một hợp đồng lại liên quan đến pháp luật của nhiều nước khác nhau. Chẳng hạn: một công ty của Anh ký kết hợp đồng mua bán với một công ty của Đức. Hợp đồng này được thiết lập ở Pháp, hàng hoá được xếp xuống tàu tại một cảng của Achentina để vận chuyển đến một cảng của Đan Mạch trên một con tàu của Hà Lan. Nếu tranh chấp phát sinh giữa các bên trong hợp đồng này, rõ ràng việc chọn luật để giải quyết tranh chấp nhiều khi rất phức tạp, nhất là khi xảy ra tình trạng xung đột pháp luật trong thương mại quốc sẽ làm trầm trọng thêm các quan hệ.

Đăt vấn đề này trong bối cảnh của việc thực hiện pháp luật tại VN, hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, bất cập, trong khi đó sự xuất hiện liên tục những yếu tố mới trong giao dịch như thương mại điện tử chẳng hạn, nhà kinh doanh sẽ gặp nhiều trắc trở và dễ bị tổn thương do cách hành xử không theo kịp thực tế của các cơ quan công quyền.

Án lệ

Chính sự hạn chế của pháp luật và năng lực của các cơ quan công quyền khi giải quyết những vấn đề sinh động trong thực tiễn kinh doanh, thương mại ở các nước phương Tây, đã làm nảy sinh nhu cầu sử dụng một hình thức pháp luật đặc thù, đó là án lệ. An lệ là trường hợp các quyết định xét xử của toà án hoặc của cơ quan hành chính được sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra sau đó. Đặc trưng cơ bản của án lệ là việc toà án tham gia tích cực vào hoạt động xây dựng pháp luật. Sở dĩ như vậy là vì bản án của toà trong trường hợp này có giá trị như một căn cứ pháp lý – vốn là chỗ dựa để các quan toà đưa ra các bản án. Nói cách khác, án lệ là cách thức giải thích và áp dụng pháp luật của toà án về một hoặc một số vấn đề nhất định, lâu dần cách áp dụng này trở thành một tiền lệ, một chuẩn mực để thẩm phán dựa vào đó mà xử lý các trường hợp tương tự về sau. Như vậy, án lệ ra đời thường là do pháp luật chưa đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội hoặc bản thân các quy định của pháp luật có thiếu sót, hoặc không thể giải thích.

Các luật gia ở các nước thuộc hệ thống luật Anh, Mỹ chứng minh sự cần thiết của án lệ khi cho rằng toà án trong nhiệm vụ xét xử của mình có quyền sáng tạo các quy tắc mang tính chuẩn mực trong án lệ, giúp tạo ra quan niệm đồng nhất trong xét xử, nhất là trong điều kiện pháp luật thường lạc hậu hơn so với những gì đang diễn ra trong đời sống. Trong thực tiễn, việc vận dụng án lệ buộc các thẩm phán phải đọc các án văn của các toà án khác cũng như những bản án của toà án cấp trên trong quá trình phúc thẩm, nhất là các bản án giám đốc thẩm.

Thực ra, án lệ có lịch sử xuất hiện từ rất lâu. Trong pháp luật La Mã có một nguyên tắc là “Stare decisis”, nghĩa là phải tuân theo các phán quyết đã có (án lệ bắt buộc). Theo nguyên tắc này, một phán quyết của Tòa án ngoài ý nghĩa là cách giải quyết một vụ án cụ thể, còn có ý nghĩa thiết lập ra một ”tiền lệ” để áp dụng cho những vụ án tương tự sau này. Có thể được tóm tắt án lệ qua những đặc điểm như: tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử các vụ giống nhau; giúp tiên lượng được trước kết quả của các vụ tranh chấp, điều này giúp các bên lưu ý khi đàm phán, soạn thảo hợp đồng; tiết kiệm công sức của các thẩm phán và các doanh nhân tham gia tranh tụng vì sử dụng những tình huống tương tự đã được giải quyết làm căn cứ giải quyết vụ việc …

Thông thường, người ta có quan niệm rằng án lệ là một hình thức pháp luật đặc thù của các nước thuộc hệ thống Anh, Mỹ. Tuy nhiên, tại các nước vốn có truyền thống dân luật như Pháp, Đức, Nhật cũng đã xem các bản án của toà phúc thẩm có giá trị như một nguồn luật qua việc công bố các bản án của toà cấp phúc thẩm để làm tài liệu cho thẩm phán các cấp tham chiếu khi xét xử các vụ việc tương tự.

Trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế, từ lâu án lệ luôn được sử dụng như là một cách thức để toà án, trọng tài thương mại dựa vào để giải quyết các vụ tranh chấp thương mại. Cũng cần lưu ý rằng mức độ thừa nhận và vận dụng án lệ là không giống nhau ở các quốc gia và các hệ thống tài phán. Chẳng hạn, trong tài phán quốc tế về thương mại, WTO không công nhận nguyên tắc án lệ; tuy nhiên trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế, các ban hội thẩm thường dựa rất nhiều vào việc tham khảo cách thức giải quyết của các ban hội thẩm trước đó qua những vụ việc tương tự. Điểm khác là, các bản án xét xử này chỉ có giá trị tham khảo chứ không trở thành các quy định có tính bắt buộc như ở hệ thống các quốc gia theo thông luật.

Áp dụng ở VN

VN trước nay không xem án lệ là một nguồn luật. Thẩm phán khi xét xử vụ việc chỉ dựa vào các quy định trong văn bản pháp luật, không đặt ra những tiền lệ để áp dụng sau này. Bộ luật dân sự năm 2005, tại điều 3 có đề cập đến khả năng áp dụng tập quán và áp dụng pháp luật tương tự nhưng không đề cập đến án lệ như là hình thức vận dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp tại toà. Việc không thừa nhận án lệ trong các tranh chấp thương mại ở VN có thể làm tăng thêm khó khăn cho các chủ thể tố tụng như các thẩm phán, luật sư và cả các bên đương sự. Sở dĩ như vậy là vì từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá bao cấp sang nền kinh tế thị trường, các vụ việc tranh chấp trong kinh doanh có một số điểm đặc thù so với tranh chấp trong dân sự thông thường.

Mặt khác, một yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc nghiên cứu một cách nghiêm túc khả năng áp dụng án lệ ở VN là việc VN đang nỗ lực hội nhập nền kinh tế quốc tế, tham gia vào các điều ước thương mại quốc tế song phương hoặc đa phương và sắp tới là việc gia nhập WTO. Điều này đặt ra yêu cầu là công tác tài phán phải biết cách tiếp cận các vụ án có yếu tố nước ngoài qua việc công nhận và cho thi hành tại VN. Phương án sử dụng án lệ có thể được xem như là một nguồn luật bổ sung tuỳ theo mức độ để hoà nhập hệ thống tài phán của VN với hệ thống tài phán quốc tế. Điều này không hề làm giảm sút quyền lực của cơ quan tư pháp nước ta mà trái lại tạo được sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế như là một điều kiện quan trọng để các doanh nhân có thể yên tâm về việc lựa chọn tài phán tại VN thay vì phải đưa vụ tranh chấp ra các cơ quan tài phán của nước ngoài.

Thực hiện áp dụng án lệ tại VN là một quá trình lâu dài, song hành với tiến trình hội nhập. Trước mắt, Toà án nhân dân tối cao đã hoàn chỉnh và công khai hóa các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại điển hình của năm 2004, trong đó có các quyết định giám đốc thẩm về các vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại. Đây là cách tiến hành theo hướng hình thành và công nhận án lệ. Cần phải thừa nhận những nỗ lực từ lâu của ngành toà án với việc trong các báo cáo tổng kết hàng năm của mình, Tòa án nhân dân tối Cao đều có trình bày, phân tích những vụ án điển hình, chỉ ra những vướng mắc, sai sót trong tố tụng ở cấp sơ thẩm và ban hành các thông tư hướng dẫn để các Tòa án nhân dân địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm trong công tác xét xử khi gặp những vụ việc tương tự. Điều này có thể xem là những nỗ lực ban đầu theo hướng tiếp cận án lệ phục vụ công tác xét xử. Về lâu dài, cần xuất bản hẳn một tập san án lệ như cách làm của nhiều nước. Tập san án lệ sẽ thường xuyên phổ biến những quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao làm căn cứ cho tòa án các cấp. Tất nhiên, cùng với điều này, phải có những quy định bắt buộc đối toà án các cấp trong việc sử dụng có hiệu quả các phán quyết của toà cấp trên khi gặp những vụ việc tương tự.

Phổ biến án lệ cần chú ý đến việc cập nhật những án lệ thương mại của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Điều này hoàn toàn hợp lý, vì những vụ tranh chấp thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế mà Việt Nam đang gặp phải thì các nước phát triển cũng đã từng trải qua. Những kinh nghiệm như vậy cực kỳ quý giá, giúp các thẩm phán đỡ phải lúng túng mà bản thân các doanh nhân cũng có thể trù liệu những vấn đề thường gặp để hạn chế rủi ro mắc phải. Cần phải nghĩ đến việc phổ biến công khai các bản án của Toà án nhân dân tối cao trên các phương tiện thông tin như internet chẳng hạn. Điều này góp phần không nhỏ vào việc tăng cường giáo dục pháp luật và tạo niềm tin nơi doanh nhân và công chúng vào tính minh bạch, công khai của hệ thống toà án – một điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của VN ª

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 5/2006

VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN TỪ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TY TNHH HÀ VINH

NGUYỄN THẾ VINH – Giám đốc Công ty TNHH Hà Vinh-Bắc Ninh

PHẦN 1: NGUYÊN NHÂN VÀ HÀNH VI VI PHẠM CỦA HẢI QUAN
Vụ việc liên quan đến việc áp mã thuế cho Công ty TNHH Hà Vinh kéo dài từ năm 2002 đến nay qua nhiều cấp từ Chi Cục Hải Quan đến Cục Hải Quan, Viện Nghiên Cứu Hải Quan,Vụ Kiểm Tra Tính Thuế, Vụ Pháp Chế, Thanh tra Tổng Cục.
Công ty TNHH Hà Vinh đư­ợc thành lập theo Luật Doanh nghiệp, mọi hoạt động của doanh nghiệp chấp hành theo luật pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Năm 2000 sau khi khảo sát thị trư­ờng thấy giấy tráng sáp trong nư­ớc ch­ưa sản xuất, hoàn toàn phải nhập ngoại trong khi chính sách nhà nư­ớc khuyến khích đầu t­ư trong n­ước đồng thời chi nhánh XNK H­ưng Yên đặt dây chuyền sản xuất giấy tráng sáp ghép đầu lọc và điếu thuốc lá tại phố mới thị xã Lao Cai.
Công ty Hà Vinh sau khi xem dây chuyền sản xuất của Chi nhánh XNK H­ưng Yên, thuế nguyên liệu đã đư­ợc nhập khẩu thư­ờng xuyên qua cửa khẩu Quốc Tế Lao Cai. Để cẩn thận Công ty lấy mẫu giấy gửi Chi Cục Hải Quan Lao Cai, Chi Cục Hải Quan Lao Cai cho giám định tại Viện Giấy và Xenluylô theo đúng quy định về giám định cấp nhà nư­ớc. Sau khi có giám định Chi Cục Hải Quan Lao Cai phân tích phân loại áp mã 4805 6000 vì giấy có trọng l­ượng d­ới 150 gam/m2 cùng mã với Chi nhánh XNK H­ưng Yên đang thực hiện nhập khẩu bình thư­ờng (Chi nhánh XNK H­ưng Yên giám định mẫu giấy tại VINACONTRON ) Như­ vậy với hai kết quả giám định đều đ­ược Chi Cục Hải Quan phân tích phân loại đều áp mã 4805. Công ty tiến hành đầu tư­ dây chuyền sản xuất giấy tráng sáp công dụng làm phụ liệu cho sản xuất giấy ghép đầu lọc thuốc lá và giấy tráng bao gói chống ẩm chống dính khác…
Từ tháng 8 năm 2000 Công ty Hà Vinh chính thức nhập khẩu giấy về để sản xuất và đ­ược áp mã 48056000 thuế xuất 5% để tính thuế nhập khẩu, như­ vậy Công ty TNHH Hà Vinh chấp hành theo đúng quy trình của Tổng Cục Hải Quan quy định cho công tác xuất nhập khẩu.
Tháng 7/2001, Công ty TNHH Hà Vinh không đáp ứng yêu cầu một số cán bộ Hải quan Lao Cai và mã số thuế bắt đầu thay đổi từ 48056000 lên 48052900 thuế xuất 10% mặc dù bất hợp lý nh­ưng Công ty vẫn chấp nhận không khiếu nại và công việc nhập khẩu vẫn bình th­ường.
Tháng 6/2002, mặt hàng này lại bị chuyển sang áp mã 48139000 thuế xuất 30% để tính thuế trong khi luật thuế biểu thuế xuất nhập khẩu không hề thay đổi, Công ty TNHH Hà Vinh phản đối ngay và nhận đ­ược cách giải quyết là nếu đồng ý ký vào thông báo thuế thì cho thông quan, để có nguyên liệu cho sản xuất Công ty chúng tôi phải chấp nhận và khiếu nại, sau gần một tháng ân hạn thuế nhập khẩu và khiếu nại Công ty chúng tôi nhận đ­ợc quyết định điều chỉnh thuế từ 48139000 thuế xuất 30% sang mã 48025190 Thuế xuất 40% và không đ­ược biết nguyên nhân và nhận đ­ược trả lời là làm theo sự chỉ đạo của Tổng Cục Hải Quan, yêu cầu ngư­ời khai Hải Quan chấp hành không cho biết lý do. Ngay lập tức Công ty TNHH Hà Vinh làm đơn khiếu nại yêu cầu Chi Cục Hải Quan ra quyết định chính xác mã số thuế 48025190 là đúng cho Công ty chúng tôi lấy cơ sở khiếu nại tiếp theo đến Thanh Tra Cục Hải Quan Lao Cai , Cục Trư­ởng Cục Hải Quan Lao Cai. Trong thời gian chưa có trả lời, việc nhập hàng vẫn cứ tạm áp mã cho đến tháng 10, Công ty Hà Vinh mới nhận đư­ợc công văn trả lời của Chi Cục Hải Quan Lao Cai là căn cứ vào kết quả phân tích phân loại của Viên Nghiên Cứu Hải Quan làm cơ sở.
Để cho Viện Nghiên Cứu trả lời khách quan Công ty TNHH Hà Vinh tạm dừng nhập khẩu sử dụng Công ty TNHH Thuận Phát là Công ty tiêu thụ đứng ra nhập khẩu cho Công ty TNHH Hà Vinh theo tờ khai số 3835 ngày 25/11/2002 và ngay lập tức bi lập biên bản giữ hàng không cho thông quan đến ngày 4/12/2002 ra quýêt định giữ hàng hoá, cả biên bản của Chi Cục Hải Quan và Quyết định của Cục Hải quan đều không hẹn ngày giải quyết, sau đó Công ty Thuận Phát đ­ược Viện Kiểm sát tỉnh Lao Cai mời, Công ty Thuận Phát phải làm đơn đề nghi giải toả hàng. Viện Kiểm sát tỉnh Lao Cai đồng ý nh­ng Phòng tham mưu chống buôn lậu Cục Hải Quan Lao Cai đồng ý trả hàng với điều kiện phải đặt cọc tiền phạt là: 57.600.000đ. Công ty cũng đành phải nộp để lấy hàng cho sản xuất. Trong khi chư­a có quyết định mã số thuế chính xác, Cục Hải Quan ra quyết định tạm giữ hàng, xử phạt hoàn toàn tùy tiện trái pháp luật cho đến nay số tiền đặt cọc không xử lý và cũng không trả lại.
Thấy việc nhập khẩu qua đơn vị khác không ổn Công ty Hà Vinh lại tiếp tục nhập trên tờ khai Công ty tự khai mã 48056000 kiểm hoá Hải Quan kết luận mã 48139000 bộ phận tính thuế áp mã 48025190. Nh­ vậy chỉ có 1 loại hàng mà trên tờ khai áp 3 mã khác nhau với những mã đều do Chi Cục Hải Quan Cửa khẩu Lao Cai ban hành.
Ngày 8/3 Cục Hải Quan Lao Cai làm việc Công ty Hà Vinh ban lãnh đạo Cục Hải Quan Lao Cai không thừa nhận việc áp mã 48025190 là đúng biểu thuế nhập khẩu hiện hành lấy lý do làm theo chỉ đạo của Tổng Cục Hải Quan.
Ngày 3/7/2003 Công ty TNHH Hà Vinh đư­ợc làm việc trực tiếp với một số cán bộ lãnh đạo của Tổng cục Hải quan[1]. Tại buổi làm việc này chưa có câu trả lời việc áp mã thuế 48025190 là đúng hay không đúng với chính sách thuế, biểu thuế XNK hiện hành.
Từ khi xảy ra sự việc thay đổi mã số thuế nói trên, doanh nghiệp bị ra quyết định giữ hàng không cho thông quan, xử phạt vi phạt hành chính, thế chấp tiền phạt mới cho thông quan hàng hoá. Doanh nghiệp khiếu nại kéo dài đến 15 tháng nhưng không nhận đư­ợc bất cứ quyết định giải quyết khiếu nại từ cấp Chi Cục, Thanh Tra Cục, Cục Hải Quan, Trung Tâm Phân Tích Phân Loại, Vụ Kiểm Tra Tính Thuế, Vụ Pháp Chế, Thanh Tra Tổng Cục, Tổng Cục Hải Quan.
Quá trình khiếu nại, Công ty đã có 4 lần đối thoại với các cơ quan chức năng
Lần 1: ngày 08/3/2003 tại Cục Hải quan Lao Cai
Lần 2: ngày 30/5/2003 tại trung tâm phân tích phân loại miền Bắc có sự chứng kiến của Thanh tra tổng cục Hải quan.
Lần 3: ngày 10/6/2003, Hội thảo chuyên ngành do Trung tâm phân tích, phân loại Miền Bắc và các ban ngành trong và ngoài Tổng cục Hải quan.
Lần 4: ngày 3/7/2003 Tổng Cục Phó Lê Mạnh Hùng, Đ/c Chuẩn – Chánh Thanh tra, Đ/c X­ương Phó Thanh tra, Đ/c Xuân Giám đốc Trung tâm phân tích phân loại Miền Bắc, Đ/c Hồng Vụ phó Vụ Pháp chế, Đ/c Tâm Vụ Tr­ưởng kiểm tra tính thuế Tổng cục Hải quan.
Ngày 26-9-2003 Thanh tra Tổng cục Hải quan trả lời Công ty và báo Đầu tư­ theo công văn gửi khẳng định do Hải quan không tuân thủ các quy định về pháp luật, huỷ các quyết định xử phạt và biên bản vi phạm hành chính và h­ướng dẫn cụ thể theo mặt hàng và thuế nhập khẩu.
Ngày 3 tháng 10 năm 2003 theo biên bản Công ty làm việc với Cục Hải quan Lao Cai theo chỉ đạo của Thanh tra Tổng cục đều thống nhất huỷ bỏ quyết định xử phạt và biên bản vi phạm hành chính theo kết luận của thanh tra, như­ vậy về thủ tục hành chính doanh nghiệp không vi phạm Công ty yêu cầu hoàn trả tiền thuế tiền phạt tiền thuế phạt đặt cọc hải quan Lao Cai hoãn xem lại.
Ngày 6-2-2004, theo biên bản Công ty khiếu nại nhiều lần hải quan Lao Cai mới làm việc với Công ty. Kết qủa thống nhất phần trả tiền phạt, tiền thuế phạt đặt coc, tiền bồi thư­ờng các khoản trên còn tiền thuế hải quan không chấp nhân chờ ý kiến trên.
Ngày 16-4-2004 Cục Hải quan Lao Cai lại thay đổi sang một mã thuế nhập khẩu 4823 với tên hàng giống các lô hàng mà công ty đang tranh chấp mã số thuế, nh­ng thực tế tại mã số thuế nhập khẩu mới không đúng với tên hàng công ty nhập từ tr­ước tới nay và bắt công ty phải chấp nhận và phạt hành chính bất chấp sự phản đối và khiếu nại của Công ty.
Năm 2005 khi Pháp lệnh giám định tư pháp và Nghị định hư­ớng dẫn thi hành Pháp lệnh giám định t­ư pháp có hiệu lực, Công ty Hà Vinh khởi kiện ra Toà hành chính và đã đư­ợc xử nhiều lần. Toà án và Hải quan đi tr­ưng cầu đơn vị không có chức năng giám định t­ư pháp và đây cũng là nguyên nhân b­ước sang một tên hàng mới không đúng nội dung theo quyết định xử phạt và từ đó phần thắng luôn thuộc về hải quan phần thua thuộc về doanh nghiệp. Tại thời điểm này Công ty Hà Vinh mất hết niềm tin vào Luật khiếu nại, Tố cáo vì khi chuyển Toà, Hải quan lại thông đồng với toà án “hành” doanh nghiệp.
Kết luận tại nhiều kỳ đối thoại trực tiếp không một cấp nào, lãnh đạo nào khẳng định việc áp mã số thuế xuất nhập khẩu đang áp đặt cho 3 Công ty Hà Vinh, Công ty Thuận Phát, Công ty H­ưng Phát là đúng chính sách và Luật thuế xuất, nhập khẩu hiện hành, đồng thời không một lãnh đạo nào khẳng định việc xử lý của Cục Hải quan Lao Cai là đúng Luật Hải quan, Nghị định 101, Luật khiếu nại, tố cáo là đúng luật pháp và pháp lệnh cán bộ, công chức.
Luật khiếu nại, tố cáo đã đư­ợc Quốc Hội n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành số 09/1998/QH 10 ngày 02/12/1998 trong đó các Điều từ 34 đến 38 của Luật ghi rõ thời hạn giải quyết khiếu nại, đến nay việc giải quyết khiếu nại của Tổng Cục Hải quan đã quá thời hạn theo luật định.
Kính th­ưa hội nghị.
Cùng một mặt hàng giấy nguyên liệu chúng tôi nhập về để sản xuất mà bị áp thuế như­ sau:
Năm 2000 thuế 5%
Tháng7 /2001 lên thuế nhập khẩu 10%
Tháng 6/2002 lên thuế nhập khẩu 30% và sau đó lên 40%
Tháng 10-2003 xuống 20% với mã số thuế mới không đúng với tên hàng theo biểu thuế
Đầu năm 2005 khi khởi kiện tại Toà, lập tức tên hàng lại đư­ợc thay đổi theo đúng với biểu thuế hiện hành.
Năm 2007 khi Công ty tiếp tục khiếu nại và đối thoại tại Bộ Tài chính và ngay lập tức tên hàng lại thay đổi về đúng với giấy nguyên liệu [Hải quan kết luận giấy làm nền sản xuất giấy gói đầu lọc thuốc lá] và ng­ược lại nhiều lần doạ làm biên bản nh­ưng khi doanh nghiệp quy trách nhiệm thì Hải quan không phản hồi.
Trong khi theo Luật thuế xuất nhập khẩu, biểu thuế xuất nhập khẩu không hề thay đổi dẫn đến sự việc khiếu nại kéo dài gây ảnh hư­ởng đến sản xuất của Công ty Hà Vinh đồng thời làm mất uy tín của ngành Hải quan. Đến nay 5 năm 1 tháng, Viện Nghiên cứu Hải quan là người xây dựng các mã thuế cũng không thừa nhận là mã thuế nào đúng chính sách thuế xuất nhập khẩu hiện hành trong khi doanh nghiệp vẫn phải chấp hành, xử phạt một cách trái pháp luật do một số công chức Hải quan không làm đúng pháp luật.
Khi có các văn bản của Tổng cục, Thanh tra Hải quan đến nay ch­ưa trả hoàn toàn và mới trả một phần trong số thuế được trừ và Hải quan không trừ ngay. Trong khi doanh nghiệp nộp thuế chậm thì bị phạt nhưng Hải quan hoàn thuế chậm thì lại không bị chế tài gì.
Trên các biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt, bản án của Toà không chứng minh đ­ược doanh nghiệp vi phạm luật Hải quan, như­ng vẫn bị phạt và Toà án vẫn bảo vệ Hải quan.
– Nhữ­ng sai sót của Hải quan và Toà án: Vi phạm luật hải quan, nghị định, quy chế, quy trình, Pháp lệnh giám định tư­ pháp, Nghị quyết toà án nhân dân tối cao.
– Về thiệt hại: Do việc ách tắc gây cho doanh nghiệp thiệt hai nhiều về mất cơ hội kinh doanh, mất thị trường, mất uy tín doanh nghiệp, thiệt hại vì phải trả lãi suất ngân hàng, chi phí đi lại, bảo quản hàng hoá, phạt hợp đồng.
-Quá trình giải quyết thniệt hại: Công ty đề nghị nhiều lần họ không giải quyết vì ho biết sai nh­ưng do trình độ thấp, cấp trên chỉ đạo sao nghe vậy không giám trái lệnh. Doanh nghiệp luôn luôn yêu cầu bồi th­ường với số tiền thiệt hại và mong muốn qua hội nghị này đề nghị các cơ quan hữu quan có biện pháp để doanh nghiệp đ­ược bồi th­ường thoả đáng.
Kiến nghị:

Việc xây dựng Luật Bồi thư­ờng nhà n­ước đối với doanh nghiệp là hoàn toàn cấp bách và cần thiết cho toàn dân và các doanh nghiệp. Khi xây dự­ng phải mang tính chất công bằng ví dụ nh­ư sau. Theo luật thuế thì khi doanh nghiệp nợ thuế bị phạt chậm ng­ược lại khi tiền bồi thư­ờng, và các khoản tiền thu sai phải trả cũng phải tính phạt chậm theo luật thuế. Đề nghị phải có tổ chức giám sát vi phạm bồi thư­ờng độc lập nếu không khi các cơ quan nhà n­ước sai họ không nhận ngay mà Toà lại đứng về phía cơ quan nhà nước thì người dân và doanh nghiệp biết kêu ai.
Thay mặt Công ty Hà Vinh, Công ty Thuận Phát, Công ty H­ưng Phát
Chúc hội nghị lời chúc sức khoẻ .
Xin Chân thành Cảm ơn.
CÔNG TY HÀ VINH BẮC NINH
————————————————-
TÀI LIỆU THAM KHẢO:

SỰ VIỆC CỦA CÔNG TY TNHH HÀ VINH (ĐÌNH BẢNG BẮC NINH)


Phóng sự-Điều tra
Nhập nhằng áp mã thuế
(Nguồn: Báo Đầu tư)

Kỳ 1
Một mặt hàng do một doanh nghiệp (DN) nhập về qua chỉ một cửa khẩu, nhưng trong vòng chưa đầy 4 năm đã bị hải quan tỉnh Lào Cai áp tới 5 mã số thuế khác nhau và tương đương với nó là 5 mức thuế suất. Doanh nghiệp (DN) càng thắc mắc, thuế suất nhập khẩu càng… tăng lên và các cơ quan đầu ngành của Tổng cục Hải quan đã phải vào cuộc để tháo gỡ. Nhưng điều này lại khiến cho sự việc rắc rối thêm. Chủ DN đã không hề ngoa khi nói rằng “đây là vụ việc tiêu biểu cho tình trạng một số cán bộ hải quan lợi dụng chức quyền sách nhiễu DN”.

Đầu năm 2000, khi thấy giấy tráng sáp vàng đầu lọc thuốc lá là sản phẩm trong nước chưa sản xuất được, phải nhập ngoại, ông Nguyễn Tiến Vinh, một doanh nhân ở tỉnh Bắc Ninh đã quyết định thành lập Công ty TNHH Hà Vinh (DN Hà Vinh) để gia công sản xuất loại giấy sáp vàng đầu lọc thuốc lá từ nguồn giấy nguyên liệu nhập khẩu của Trung Quốc.
Trước khi chính thức bắt tay vào sản xuất, ông Vinh đã lấy mẫu giấy nguyên liệu nhập khẩu gửi Hải quan Cửa khẩu Lào Cai, còn gọi là Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai để cơ quan này chuyển đi giám định tại Viện Giấy và Xenluylô theo đúng quy định về giám định cấp nhà nước. Sau khi có kết quả giám định, Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai phân tích phân loại áp mã 48056000 với thuế suất thuế nhập khẩu là 5%.
Vậy là từ tháng 8 năm 2000, Công ty Hà Vinh bắt đầu nhập khẩu giấy nguyên liệu về để sản xuất. Mọi chuyện diễn ra ổn thoả cho cho đến tháng 7 năm 2001 – thời điểm mà Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai có sự thay đổi ở cấp lãnh đạo. Khi đó, ông Nguyễn Trung Tĩnh được Cục Hải quan Lào Cai điều về làm Chi cục trưởng Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai. Theo ông Vinh, những sách nhiễu, gây khó dễ cho DN Hà Vinh được ông Tĩnh thực hiện qua việc thay đổi mã số thuế đối với mặt hàng giấy nguyên liệu nhập về, từ 48056000 thành 48052900. Điều này có nghĩa là DN Hà Vinh đã bị nâng thuế nhập khẩu đánh vào mặt hàng giấy nguyên liệu nhập về thành 10%, thay vì mức 5% như lúc đầu.
“Khi đó, tuy nhận thấy việc thay đổi mã số thuế như nói trên là bất hợp lý, nhưng vì mỗi tấn giấy nhập về thuế chỉ tăng thêm hơn 2 triệu đồng và do không muốn mất thời gian, tiền bạc vào việc khiếu nại, khiếu kiện nên DN đành chấp nhận”, ông Vinh giải thích. Nhưng sự nín nhịn này chẳng giúp Công ty TNHH Hà Vinh yên ổn. Đầu tháng 6 năm 2002, khi ông Tĩnh được thăng chức Cục phó Cục Hải quan Lào Cai thì cũng là lúc mức thuế đánh vào mặt hàng giấy nguyên liệu nhập khẩu của DN Hà Vinh nhảy vọt từ 10% lên 30%, trong khi biểu thuế suất nhập khẩu không hề có sự thay đổi. Cơ sở của việc tăng thuế này là sự chuyển đổi một lần nữa mã số thuế của các lô hàng giấy nguyên liệu mà Công ty Hà Vinh nhập về từ 48052900 sang thành 48139000.
Sự tăng vọt số thuế phải nộp đã khiến cho ông chủ Công ty Hà Vinh không thể cam chịu được và đã khiếu nại ngay sau khi nhận được thông báo về mức thuế của lô hàng. Tuy nhiên, 1 tháng sau đó, thay vì nhận được văn bản giải thích từ phía hải quan Lào Cai, Công ty Hà Vinh lại nhận được Quyết định điều chỉnh thuế suất lô hàng nhập về từ 30% (theo mã số thuế 48139000) lên 40% (theo mã số thuế 48025190). Bị “sốc” trước quyết định này, ông Vinh tiếp tục làm đơn khiếu nại yêu cầu Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai có quyết định chính thức xác nhận việc áp mã số thuế 48025190 với với suất 40% cho lô hàng giấy nguyên liệu của Công ty Hà Vinh nhập về là đúng chính sách thuế hiện hành để Công ty có cơ sở khiếu nại tiếp lên Thanh tra và Cục trưởng Cục Hải quan Lào Cai… Thế nhưng phải tới 4 tháng sau, Công ty Hà Vinh mới nhận được văn bản trả lời của cơ quan hải quan, trong đó giải thích việc áp mã số thuế nói trên (48025190) là “căn cứ vào kết quả phân tích, phân loại của Viện Nghiên cứu khoa học hải quan (Tổng cục Hải quan), nên Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai không thể ra được quyết định chính thức xác nhận việc áp mã số thuế cho lô hàng của DN”.
Tuỳ tiện ra quyết định phạt DN?
Nhận thấy việc “đối đầu” với hải quan Lào Cai không giải quyết được triệt để vấn đề, đồng thời cũng để chờ Viện Nghiên cứu Hải quan có câu trả lời khách quan đối với mẫu giấy của Công ty nhập về, DN Hà Vinh đã tạm dừng nhập khẩu. Thế nhưng, do yêu cầu sản xuất, công ăn việc làm của người lao động và đảm bảo hợp đồng giao hàng cho khách, vào cuối tháng 11 năm 2002, DN Hà Vinh đã thông qua Công ty TNHH Thuận Phát (là công ty tiêu thụ sản phẩm của DN Hà Vinh) để nhập khẩu hộ giấy nguyên liệu về. Ngay lập tức, lô hàng nhập về đã bị hải quan Lào Cai lập biên bản và ra quyết định tạm giữ, không cho thông quan. Theo ông Vinh, cả Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai lẫn Cục Hải quan Lào Cai trong biên bản và quyết định giữ hàng hoá đều không hẹn ngày giải quyết. Quá bức xúc. Công ty đã làm đơn gửi Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Lào Cai nhờ can thiệp. Khi đó, Phòng Tham mưu Chống buôn lậu Cục Hải quan Lào Cai mới đồng ý “tạm tha” cho DN với điều kiện phải nộp phạt thêm một lần tiền thuế là 57,6 triệu đồng. Không còn cách nào khác, Công ty Thuận Phát đã phải nộp tiền phạt để lấy hàng về sản xuất.Ngoài ra, do chưa một cơ quan thẩm quyền nào thuộc Bộ Tài chính hay Tổng cục Hải quan có quyết định chính thức xác nhận các lô giấy nguyên liệu mà Công ty Hà Vinh và Công ty Thuận Phát… nhập về thuộc mã số thuế nào, nên trong suốt thời gian qua, trong tờ khai hải quan DN cứ kê khai một kiểu, bộ phận kiểm hoá Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai kết luận một kiểu và bộ phận tính thuế XNK của Chi cục Hải quan (cửa khẩu) Lào Cai lại tính thuế theo kiểu khác. Hậu quả là DN lãnh đủ bằng những quyết định xử phạt hành chính của hải quan Lào Cai cho mỗi lô hàng nhập về.
Cảm thấy quá oan ức, Công ty Hà Vinh và Công ty Thuận Phát đã gửi đơn khiếu nại, tố cáo tới Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan nhờ can thiệp. Khi đó, Thanh tra Tổng cục Hải quan đã thành lập Đoàn Thanh tra sự việc nêu trên. Đến cuối tháng 9 năm 2003, Đoàn Thanh tra kết luận rằng, việc các đơn vị nghiệp vụ thuộc Cục Hải quan tỉnh Lào Cai ra các quyết định xử phạt hành chính cũng như bắt DN phải đặt cọc tiền phạt như trên là “chưa tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính về hải quan” và yêu cầu Cục Hải quan tỉnh Lào Cai phải huỷ các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với DN Hà Vinh và Công ty Thuận Phát…
Căn cứ vào Quyết định nói trên của Đoàn Thanh tra, Hải quan Lào Cai đã làm việc với đại diện Công ty Hà Vinh và Công ty Thuận Phát, thông báo sẽ huỷ các quyết định xử phạt hành chính trái pháp luật đã ban hành, đồng thời hoàn lại các khoản tiền phạt mà DN đã nộp. Nhưng đã hơn 1 năm trôi qua kể từ khi có các cuộc gặp gỡ đôi bên, theo đại diện của DN Hà Vinh và Thuận Phát, hiện họ vẫn chưa nhận được quyết định cũng như khoản bồi hoàn tiền phạt mà mình đã nộp.

Kỳ 2:
Báo Đầu tư số 132 ra ngày 3/ 11/2003 đã phản ánh việc Công ty TNHH Hà Vinh (Bắc Ninh) bị một số cán bộ Hải quan Lào Cai sách nhiễu, gây khó khăn trong việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất. Để giải quyết khiếu nại của Công ty TNHH Hà Vinh trong việc áp mã thuế nhập khẩu giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu, Viện Nghiên cứu khoa học Hải quan, Vụ Kiểm tra thu thuế Xuất nhập khẩu, Vụ Pháp chế, Thanh tra Tổng cục Hải quan… đã vào cuộc. Thế nhưng, không hiểu sao các cơ quan chuyên môn của Tổng cục Hải quan lại làm cho vấn đề phức tạp thêm.
Cấp dưới đổ cho cấp trên.
Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, ông Nguyễn Quang Hùng, Trưởng phòng Nghiệp vụ Cục Hải quan Lào Cai thừa nhận, trong vòng 4 năm mà thay đổi tới 5 mã số thuế áp cho một loại hàng hoá mà Công ty TNHH Hà Vinh nhập về qua cửa khẩu Lào Cai là “điều không bình thường và không chuẩn”. Tuy nhiên, ông Hùng không thừa nhận lỗi thuộc về Cục Hải quan Lào Cai mà đổ cho tại vì phải thực hiện theo “chỉ đạo” của Tổng cục Hải quan.“Từ năm 2002, thực hiện Luật Hải quan, chúng tôi đã lấy mẫu giấy nguyên liệu nhập khẩu của Công ty TNHH Hà Vinh gửi về Tổng cục Hải quan để phân tích, phân loại. Sau đó, Tổng cục Hải quan đã có tới gần 10 văn bản yêu cầu chúng tôi thu thuế nhập khẩu 40%, theo mã số thuế 4802.51.90 đối với những lô hàng này”, ông Hùng giải thích. Vẫn theo ông Hùng, một số cán bộ Hải quan Lào Cai nhận thấy có vấn đề không ổn từ những văn bản này, nhưng vì là cơ quan cấp dưới nên họ buộc phải thực hiện theo. “Tổng cục Hải quan đã có văn bản chỉ đạo trực tiếp, cụ thể, tại chỗ nên không có lý gì Cục Hải quan Lào Cai lại bác bỏ, không thực hiện theo”, ông Hùng phân bua. Những văn bản “chỉ đạo” mà ông Hùng nói đến ở trên là của Cục Kiểm tra thu thuế Xuất nhập khẩu, Viện Nghiên cứu Hải quan…
Tất nhiên là Công ty TNHH Hà Vinh đã không chấp nhận cách áp thuế như vậy và tiếp tục khiếu nại lên Bộ Tài chính. Phải mất gần một năm thực hiện áp mã thuế các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh theo thuế suất 40%, vào trung tuần tháng 9 năm 2003, Tổng cục Hải quan mới có Công văn số 4494/TCHQ – KTTT do Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Lê Mạnh Hùng ký, trong đó chỉ đạo Cục Hải quan Lào Cai tiến hành áp thuế nhập khẩu đối với các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh nhập về trước ngày 1 tháng 9 năm 2003, theo thuế suất 30% (tương ứng với mã số thuế 4823.90.90). Còn những lô hàng nhập về sau ngày 1 tháng 9 năm 2003 thì áp thuế suất 20% (tương ứng với mã số thuế 4823.90.91).
Công văn 4494 của Tổng cục Hải quan đã chính thức phủ nhận những văn bản do các bộ phận nghiệp vụ của Tổng cục ký trước đó. Cũng theo tinh thần Công văn này thì Cục Hải quan Lào Cai phải tiến hành thoả thuận hoàn trả và đền bù thiệt hại cho doanh nghiệp, do thu vượt ít nhất là 10% thuế nhập khẩu các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh . Tuy nhiên, những bất cập của Tổng cục Hải quan trong việc chỉ đạo thu thuế đối với Công ty TNHH Hà Vinh đến đây chưa phải là đã hết.
Càng “chỉ đạo” càng sai.

Sau khi có Văn bản số 4494 của Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan Lào Cai đã tổ chức cuộc gặp với đại diện Công ty TNHH Hà Vinh để huỷ bỏ các Quyết định xử phạt Công ty TNHH Hà Vinh và thoả thuận bồi thường thiệt hại. Nhưng tại buổi làm việc này, Cục Hải quan Lào Cai đã nhận ra các lô hàng mà Công ty TNHH Hà Vinh nhập về trước đó thuộc loại giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu nên không thể tính thuế nhập khẩu của loại giấy tráng sáp vàng (loại giấy thành phẩm) mà Tổng cục Hải quan đã hướng dẫn trong Công văn số 4494. Do vậy, Cục Hải quan Lào Cai phải xin khất doanh nghiệp để “tiếp tục xin ý kiến chỉ đạo cụ thể hơn của Tổng cục Hải quan để thực hiện trong thời gian sớm nhất”.
Tuy nhiên, cuộc gặp này cũng đã giúp Cục Hải quan Lào Cai và Công ty TNHH Hà Vinh đạt được thống nhất là sẽ bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp do các quyết định xử phạt và lập biên bản vi phạm hành chính của Cục Hải quan Lào Cai đối với Công ty TNHH Hà Vinh. Trường hợp hai bên không thoả thuận được mức bồi thường thì đưa vụ việc ra phân xử tại Toà hành chính.Khoảng nửa tháng sau khi ban hành Công văn số 4494, vào ngày 29 tháng 9 năm 2003, một Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan khác là ông Nguyễn Ngọc Túc đã ký văn bản “đính chính” Công văn này. Theo văn bản “đính chính” thì nguyên liệu giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu mà Công ty TNHH Hà Vinh nhập về cũng áp mã số thuế như giấy thành phẩm tráng sáp vàng. Điều này đã đi ngược lại chủ trương của Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính là bảo hộ sản xuất trong nước thông qua việc đánh thuế nhập khẩu hàng hoá thành phẩm cao hơn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Việc giải quyết khiếu kiện của Công ty TNHH Hà Vinh vì thế càng thêm rắc rối và tiếp tục kéo dài.
“Nếu tôi là lãnh đạo Tổng cục Hải quan thì để giải quyết dứt điểm vụ việc trên, tôi chỉ cần ban hành một văn bản áp thuế suất nhập khẩu đối với mặt hàng giấy nguyên liệu của doanh nghiệp nhập về thấp hơn thuế suất nhập khẩu giấy thành phẩm. Đây cũng chính là điều mà khung bảng thuế nhập khẩu các loại hàng hoá khác đang thể hiện”, một cán bộ Hải quan Lào Cai nói. Một số cán bộ Hải quan Lào Cai đã mang thắc mắc này tới hỏi các chuyên gia của Hải quan Nhật Bản đang công tác tại Tổ chức Hải quan Thế giới. Các chuyên gia Nhật Bản đã trả lời : Tổng cục Hải quan Việt Nam đã xếp mặt hàng giấy nguyên liệu vào nhóm mặt hàng giấy thành phẩm (mã số 4823) là không phù hợp với thông lệ quốc tế.
Trong thời gian chờ đợi hướng dẫn cụ thể của Tổng cục Hải quan, Công ty TNHH Hà Vinh vẫn bảo lưu mã số thuế đã khai từ ngày đầu nhập khẩu (với thuế suất nhập khẩu chỉ là 5%), còn Hải quan Cửa khẩu Lào Cai thì buộc phải theo “chỉ đạo” cũ là áp thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng giấy nguyên liệu bằng mặt hàng giấy thành phẩm là 20%. Vì sự khập khiễng này mà Hải quan Cửa khẩu Lào Cai vẫn lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH Hà Vinh, nhưng không dám ra quyết định xử phạt theo Luật Hải quan, vì sợ khi có kết luận chính thức lại phải làm thủ tục bồi hoàn cho doanh nghiệp. Tất nhiên, sự dai dẳng khiếu kiện của Công ty TNHH Hà Vinh đã làm lực lượng hải quan ở Lào Cai khó chịu và không ít lần họ đã dùng các thủ tục hành chính để gây khó cho Công ty TNHH Hà Vinh. Chẳng hạn, lần nhập khẩu 100 tấn giấy nguyên liệu của Công ty TNHH Hà Vinh vào ngày 30 tháng 10 năm 2004, ông Nguyễn Hải Phú, Cán bộ thuộc Đội Nghiệp vụ Hải quan Cửa khẩu Lào Cai từ chối cho làm thủ tục với yêu cầu doanh nghiệp phải giải trình bổ sung thêm vì sao trên các loại giấy tờ trong bộ hồ sơ nhập khẩu như C/O, Invoice, Packing List không thể hiện màu của giấy mà trong tờ khai hải quan doanh nghiệp lại ghi “giấy có màu vàng”. Rất may là sau đó lãnh đạo Hải quan Cửa khẩu Lào Cai đã bỏ qua hành vi này, cho hàng của doanh nghiệp thông quan.
Hải quan sợ ra Quyết định?
Cho đến nay, Cục Hải quan Lào Cai và Công ty TNHH Hà Vinh vẫn chưa thoả thuận được mức tiền đền bù thiệt hại do việc thu thuế nhập khẩu không đúng và xử phạt oan Công ty TNHH Hà Vinh. Thế nhưng, Công ty TNHH Hà Vinh hiện tại không thể kiện Cục Hải quan Lào Cai ra Toà hành chính vì tất cả những việc làm của Cục Hải quan Lào Cai đều tuân thủ công văn chỉ đạo nội bộ của Tổng cục Hải quan gửi xuống. Mà những công văn này khi đưa vào hồ sơ xét xử lại không có giá trị về mặt pháp lý.
Do vậy, ông Nguyễn Tiến Vinh, Giám đốc Công ty TNHH Hà Vinh mới đây đã gửi đơn đến ông Vũ Ngọc Anh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, đề nghị ông Vũ Ngọc Anh khi trả lời đơn khiếu nại của doanh nghiệp phải ra Quyết định giải quyết khiếu nại để Công ty TNHH Hà Vinh có cơ sở kiện Cục Hải quan Lào Cai ra Toà hành chính. Được biết, trước đó ông Vũ Ngọc Anh đã ký Công văn hướng dẫn số 1684/TCHQ-GSQL, ngày 16 tháng 4 năm 2004 về việc phân loại áp mã số thuế nhập khẩu mặt hàng giấy không tráng láng dạng cuộn đã nhuộm màu toàn bộ để làm cơ sở cho Cục Hải quan Lào Cai tiến hành áp mã, thu thuế nhập khẩu các lô hàng của Công ty TNHH Hà Vinh.
Theo ông Vinh, việc ông Vũ Ngọc Anh chỉ ra Công văn giải quyết khiếu nại cho Công ty TNHH Hà Vinh là không đúng với quy định của Luật Khiếu nại tố cáo. “Chúng tôi muốn ông Vũ Ngọc Anh sớm có Quyết định giải quyết khiếu nại và gửi trực tiếp cho Công ty TNHH Hà Vinh”, ông Vinh nói.
Vẫn theo ông Vinh, sở dĩ ông muốn nhờ Toà hành chính xét xử vụ việc vì ngoài việc phải nộp oan tiền thuế, tiền phạt vi phạm hành chính…Công ty TNHH Hà Vinh, thời gian qua, còn phải chi phí không nhỏ cho việc đi lại, giải quyết các lô hàng bị tạm giữ không đúng pháp luật tại Cửa khẩu Lào Cai. “Khi Công ty tôi nợ thuế chỉ một ngày là họ (Cục Hải quan Lào Cai) đã tính ngay lãi suất phạt chậm nộp thì để công bằng, họ cũng phải trả tôi lãi suất tiền thu thuế sai, phạt hành chính không đúng”, ông Vinh bức xúc nói.
Trưởng phòng Nghiệp vụ Cục Hải quan Lào Cai Nguyễn Quang Hùng thừa nhận, các khoản tiền phạt vi phạm hành chính (không đúng pháp luật) của Công ty TNHH Hà Vinh đang nằm trong tài khoản tạm giữ của Cục Hải quan Lào Cai, có thể hoàn trả ngay cho doanh nghiệp. Nhưng các khoản khác (tiền chênh lệch thuế suất thuế nhập khẩu, lãi suất…), đã nộp vào ngân sách, phải hoàn trả cho doanh nghiệp thì Cục Hải quan Lào Cai không biết sẽ lấy từ nguồn nào. ng

[1] Đ/c Lê Văn Hùng Phó Tổng Cục tr­ưởng Tổng cục Hải quan, Đ/c Xuân Giám đốc Trung Tâm Phân tích phân loại Miền Bắc- Tổng Cục Hải quan TCHQ, Đ/c Tâm- Vụ Trưởng Vụ kiểm tra tính thuế- Tổng cụo Hải quan, Đ/c Hồng- Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế- Tổng cục Hải quan, Đ/c Chuẩn- ChánhThanh Tra, Đ/c Xư­ơng-Phó Chánh Thanh Tra TCHQ, Đ/c C­ường cán bộ phân tích phân loại và là tác giả của mã thuế 48025190.

=====================================

SOURCE: WWW.VCCI.COM.VN