TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI: THIẾU HỢP ĐỒNG THANH LÝ . . . ĐƯA NHAU RA TÒA

HỮU TUẤN

Hơn 100 tỷ đồng tiền mua bán hàng hoá trong vòng 7 năm mà không hề có hợp đồng thanh lý, chốt nợ là nguyên nhân khiến hai bên phải kéo nhau ra toà…  Toà án Kinh tế, Toà án Nhân dân TP. Hà Nội vừa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Công ty TNHH Daewoo Hanel (Công ty Hanel) và Công ty TNHH Dịch vụ Thảo Anh (Công ty Thảo Anh). Đây là vụ tranh chấp kinh tế khá đặc biệt khi nhà sản xuất kiện ra toà đòi nợ đại lý phân phối sản phẩm.

Từ năm 1998 đến 2005, giữa Công ty Hanel và Công ty TNHH Dịch vụ Thiên Hưng (mà sau năm 2002 là Công ty Thảo Anh) có ký kết hợp đồng mua bán hàng điện tử, điện lạnh do Công ty Hanel sản xuất với giá trị hàng hoá hơn 100 tỷ đồng. Theo hợp đồng đã được ký kết giữa hai bên về phương thức thanh toán là hàng tháng sẽ quyết toán, cộng sổ sách một lần, một năm sẽ cộng sổ, chốt nợ một lần.

Phương thức thanh toán là không thanh toán theo từng hoá đơn, mà thanh toán trên tổng số tiền hàng bán ra. Cũng từ đây mọi rắc rối bắt đầu nảy sinh. Giữa hai bên đã có hàng chục "thông báo tình hình thanh toán và xác nhận số dư nợ" có ký tên, đóng dấu của ông Đỗ Hữu Nghĩa, Giám đốc Công ty Thảo Anh, với các đại diện Công ty Hanel. Đây là những khoản nợ đọng gối đầu sau các giao dịch mua bán hàng hoá giữa hai bên.

Cho đến ngày 31/8/2005, số công nợ mà hai bên xác nhận với nhau là 1.038.560.213 đồng. Ngày 23/02/2006, Hanel có đơn khởi kiện Công ty Thảo Anh. Đại diện Công ty Hanel, ông Dương Kim Sơn cho rằng, ngoài số tiền nợ trên (tính từ tháng 8/2005 đến tháng 6/2009), bên Thảo Anh phải trả số tiền lãi suất của 46 tháng theo quy định là 418.020.425 đồng. Tuy nhiên, để thể hiện thiện chí, ông Sơn đã đề nghị Công ty Thảo Anh chỉ phải trả số nợ gốc mà không phải trả tiền lãi.

Continue reading

TIN LUẬT HAY TIN … “CÒ”?

QUỐC DŨNG

Trong các Hợp đồng môi giới, bà Nguyễn Thị Kim Dung (xã Đại Hưng, Mỹ Đức, Hà Nội) cam kết sẽ đền bù gấp đôi số tiền đặt cọc nếu không “mua” được đất cho những người thuê bà. Nhưng khi đất không có, bà Dung hoàn toàn… vô sự, trong khi người thuê thì… mất tiền. Thực tế ấy đã đặt câu hỏi, người sử dụng dịch vụ phải tin vào luật, hay tin… “cò”, để tham gia thị trường bất động sản ?

Đúng lý: Vẫn mất tiền !

Để thực hiện thương vụ môi giới mua đất tại khu đô thị mới Nam An Khánh thuộc các xã An Khánh, An Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội, bà Dung đã thể hiện thỏa thuận thành văn bản cụ thể với những người có nhu cầu với “tên” rất kêu: “Hợp đồng thuê làm thủ tục Đăng ký và mua quyền sử dụng” – nghĩa là ngay từ tiêu đề đã thể hiện người muốn mua đất đã chủ động thuê môi giới. Các hợp đồng đều có người làm chứng, có các điều khoản ràng buộc, có thời gian thực hiện, mức tiền, mức bồi hoàn, điều khoản xử lý vi phạm… Tóm lại là rất đầy đủ nội dung đối với một thỏa thuận dân sự và chắc chắn về pháp lý.

Chính vì thế, chỉ với hai khách hàng trong giai đoạn tháng 12/2007 và tháng 1/2008, bà Dung đã thu được tới 3,9 tỷ VND…. Trên hợp đồng, bà Dung và người giao tiền công nhận đó là tiền đặt cọc để phục vụ nhu cầu mua được đất. Nhưng cầm tiền xong, bà Dung không thực hiện được cam kết “mua được đất với giá gốc… trong vòng 15 ngày từ khi ký Hợp đồng tại khu đô thị mới Nam An Khánh”. Thế nên, bà Dung viết các giấy hẹn ghi rõ ngày thanh toán, trả lại tiền đặt cọc cho khách. Kết quả là tới tận bây giờ, những nạn nhân của bà vẫn chưa lấy lại được một xu trong số tiền 3,9 tỷ trên.

Theo quy định của các Hợp đồng môi giới, khi có mâu thuẫn hoặc một bên vi phạm cam kết thì các bên phải tiến hành hòa giải, không hòa giải được thì tòa dân sự là nơi giải quyết tranh chấp. Như vậy, nếu làm đúng luật để buộc “cò” phải trả tiền cho mình, các nạn nhân sẽ phải khởi kiện ra Tòa án. Phải theo đuổi suốt thời gian dài kiện tụng. Theo đuổi mà không biết có đòi lại được tiền hay không. Vì chắc chắn tòa án tuyên họ thắng kiện, nhưng việc lấy lại tiền thì do cơ quan thi hành án quyết định, và phụ thuộc vào tình trạng gia sản của “cò”. Vậy là, dù rất đúng luật, nhưng nguy cơ mất trắng tiền môi giới rất rõ ràng với những người mua đất qua “cò”. Thế nên, nếu các cơ quan chức năng không vào cuộc làm rõ đây có phải một vụ lừa đảo hay không, thì dường như những người tin “cò” chẳng biết bấu víu vào đâu để mà bảo đảm quyền lợi cho mình.

Continue reading

MỘT SỐ VỤ VIỆC CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH DO CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH XỬ LÝ

Công ty Glaxo Group Limited khiếu nại về chỉ dẫn gây nhầm lẫn của Công ty Vidipha

Thời gian: Tháng 01-03/2006

Nội dung: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn làm sai lệch nhận thức của khách hàng giữa sản phẩm

Zinnat của Glaxo và Zaniat của Vidipha.

Hành vi: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Xử lý: Điều tra sơ bộ

Kết quả: Đình chỉ điều tra sơ bộ theo Quyết định số 19/QĐ-QLCT ngày 29/03/2007

 

Vụ việc khiếu nại về khẩu hiệu kinh doanh của Công ty Syngenta

Thời gian: Tháng 8-9/2007

Nội dung: Văn phòng Luật sư Investconsult đại diện Công ty Syngenta khiếu nại Công

ty An Nông sử dụng trái phép khẩu hiệu kinh doanh “Be bồ chứa lúa”

Hành vi: Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Xử lý: Trả lại hồ sơ

Kết quả: Trả lại hồ sơ khiếu nại do Bên khiếu nại không bổ sung hồ sơ trong thời hạn quy định

 

Vụ việc Công ty CP Liên kết tri thức in tờ rơi có nội dung sai lệch về sản phẩm bán hàng đa cấp

Thời gian: Tháng 8-11/2007

Nội dung: Chi cục QLTT Hà Nội chuyển hồ sơ và biên bản ghi nhận Công ty CP Liên

kết tri thức in tờ rơi có nội dung sai lệch về sản phẩm bán hàng đa cấp

Hành vi: Bán hàng đa cấp bất chính

Xử lý: Điều tra theo thủ tục tố tụng cạnh tranh

Kết quả: Quyết định phạt tiền 85 triệu đồng

 

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI: LẠI TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN BÔNG

QUỲNH NHƯ

Doanh nghiệp dệt Việt Nam không nắm hết các quy định, điều khoản trong giao dịch mua bán bông nên khi có tranh chấp rất dễ bị thiệt. Cuối năm 2008, một số công ty Việt Nam bị một công ty Mỹ phản ứng vì “xù” hợp đồng mua bông. Mới đây, đến lượt một công ty Ấn Độ phản ứng với nội dung tương tự.

Đặt mua khi giá cao…

Ông Nguyễn Văn Tuấn – Phó Chủ tịch Hiệp hội Sợi Việt Nam cho biết sự vụ lần này liên quan đến ba doanh nghiệp dệt sợi Việt Nam. Đầu năm 2008, ba doanh nghiệp này đã đặt mua khoảng 3.000 tấn bông từ Công ty D.D Cotton (Ấn Độ), giá bông lúc đó còn cao và trên đà tăng giá, cao điểm đến 1.750 USD/tấn bông. Tuy nhiên, trong lúc chưa chuyển hàng, nhận hàng gì thì giá bông thế giới tụt rất nhanh, còn 1.400 USD/tấn. Vì vậy mà doanh nghiệp dệt sợi không muốn tiếp tục hợp đồng.

Nếu doanh nghiệp vẫn tiếp tục hợp đồng và nhận bông thì phải thanh toán cho Công ty D.D Cotton số tiền tương ứng với giá bông thời điểm ký hợp đồng trước đây (giá cao). Sau khi nhận, nếu doanh nghiệp bán sang tay số bông này cho doanh nghiệp khác thì phải bán theo giá thị trường sau này (giá thấp). Nếu không sang tay mà dùng bông này làm ra sợi hoặc dệt vải và bán cho các doanh nghiệp dệt may thì cũng phải bán theo giá thị trường (giá thấp), nếu bán giá cao thì công ty dệt may sẽ tìm mối hàng khác giá rẻ. Như vậy, tính đường nào cũng chịu lỗ, cứ nhận về mỗi tấn bông thì doanh nghiệp sẽ lỗ khoảng 300 USD. Như vậy, 3.000 tấn bông sẽ lỗ 900.000 USD, tương đương 15,3 tỷ đồng.

Vào lúc khác thì cũng có thể bấm bụng thanh toán cho xong, coi như rủi ro trong kinh doanh. Tuy nhiên, năm 2008-2009 là thời điểm khó khăn tài chính, mất một đồng cũng đau lòng xót dạ, nói gì 15,3 tỷ đồng. Do đó, các doanh nghiệp này mới muốn hủy hợp đồng, không mua bông nữa.

Trì hoãn giao hàng, chờ giá thấp?

Tình trạng tương tự cũng đã xảy ra với nhà cung cấp bông ở Mỹ (Công ty Louis Grewfus). Cuối năm ngoái, nhà cung cấp này đã sang Việt Nam làm việc với Bộ Công thương để yêu cầu mười doanh nghiệp mua bông giải quyết. Mười doanh nghiệp này đã đặt mua khoảng 6.000 tấn bông (doanh nghiệp mua nhiều nhất là 1.000 tấn, ít nhất là 200 tấn) vào thời điểm giá cao.

Continue reading

PHÁN QUYẾT LẠ THƯỜNG VỀ VẬN ĐƠN

LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC

Thực tiễn thương mại và hàng hải quốc tế cũng như quy định của Bộ Luật Hàng hải VN đã có quy định rõ ràng về vận đơn (trong đó có 2 loại: vận đơn đích danh và vận đơn theo lệnh). Tuy nhiên, vừa qua có một vụ việc mà tòa án lại ra phán quyết trái ngược với luật pháp VN và thông lệ quốc tế.

Cuối năm 2006, Cty S ở phía Nam bán một container gồm 2.970 túi xách và balô cho Cty E Sydney – Autralia theo giá FOB TP HCM: 87.035 USD, mã số DN của E ở Autralia là ABN 29112062554-NSW2020 (thực tế đây là một Cty ma tại Autralia). Hợp đồng mua bán chỉ có 1 trang và hết sức sơ sài, đặc biệt không đề cập khi nào quyền sở hữu lô hàng chuyển từ người bán sang người mua.

Sau khi ký hợp đồng mua bán, E uỷ thác Cty giao nhận vận tải T ở phía Bắc thuê tàu chở hàng từ TP HCM đi Sydney. T ký hợp đồng lưu cước với Hãng tàu MOL. Ngày 20/12/2006 hàng được bốc lên tàu tại TP HCM, Hãng tàu MOL cấp vận đơn chủ (Master B/L) cho T, trên cơ sở đó T cấp vận đơn thứ cấp (House B/L) cho S với tư cách là người giao hàng (vận đơn của T theo mẫu FIATA). Vận đơn ghi rõ E (cùng với địa chỉ của họ) là người nhận hàng đích danh ở cảng đích.

Hàng đến Sydney 6/1/2007, Hãng tàu MOL giao hàng cho đại lý của T ngày 14/1/2007. Từ đó trở đi E không đến lấy hàng. Phí lưu kho, phạt lưu container lên đến 19.000 đôla Australia, hàng hoá có nguy cơ hư hỏng hoàn toàn.

Theo tập quán và luật pháp Australia (tương tự như ở VN) ngày 1/3/2007 đại lý của Cty T đã đưa hàng vào kho ngoại quan của Hải quan Sydney để xử lý. Mãi ngày 14/4/2007, Cty S mới ra lệnh cho Cty T đưa hàng về VN nhưng T không thể thực hiện được vì hàng đã đưa vào kho ngoại quan, hơn nữa đây là vận đơn đích danh nên Cty S không thể ra lệnh chở hàng về. Tuy vậy, ngày 14/5/2007, Cty E đã đến kho ngoại quan nhận hàng, đại lý của Cty T không thu hồi vận đơn gốc. Từ đó trở đi, Cty S luôn khẳng định rằng tuy hàng bán theo giá FOB nhưng với vận đơn gốc trong tay, Cty S vẫn là chủ sở hữu lô hàng. Vì vậy, do không đòi được tiền hàng từ E, Cty S đã khởi kiện Cty T tại một Toà án ở phía Bắc đòi bồi thường 1,7 tỷ VND bao gồm trị giá hàng FOB của lô hàng 87.035 USD và khoảng 350.000.000 VND các loại tiền phạt lưu kho bãi.

Continue reading

TRANH CHẤP MUA BÁN CỔ PHIẾU GIỮA VIGECAM VÀ VINACAM: HỢP ĐỒNGTRÁI LUẬT, TÒA VẪN BUỘC THỰC HIỆN?

MINH LÝ

Một vụ chuyển nhượng cổ phiếu trái luật, gây thất thoát cho nhà nước nhiều tỷ đồng do ông Trần Văn Khánh (nguyên Tổng giám đốc Tổng Công ty Vật tư Nông nghiệp – Vigecam, người đã bị khởi tố, bắt tạm giam do liên quan đến một loạt vụ tiêu cực khác tại Vigecam) đã ký kết trước đó. Đáng lẽ vụ việc này cũng phải được khởi tố để điều tra thì lại được TAND Hà Nội "hợp thức hóa" bằng một vụ án, kinh tế và bất ngờ hơn là phán xét của Tòa lại "chấp nhận" kết quả chuyển nhượng mà nhiều cơ quan chuyên môn cho là trái luật.

"Nhắm mắt" ký hợp đồng trái luật

Được biết, trước đó Vigecam là cổ đông sáng lập sở hữu 43.400 mệnh giá 100.000/01 cổ phần tại Bảo Minh. Sau này Bảo Minh qui đổi thành 434.000 cổ phần mệnh giá 10.000/01 cổ phần. Ngày 24.8.2005, người đại diện của Vigecam, lúc đó là ông Trần Văn Khánh đã ký hợp đồng số 01: HĐCN/05 chuyển nhượng toàn bộ 43.400 cổ phần trên cho Cty cổ phần vật tư nông nghiệp (Vinacam) với giá 130.000/01 cổ phần (đúng bằng giá khi Vigecam góp vốn vào Bảo Minh, trong khi giá thị trường tại thời điểm này là 280.000/01 cổ phần) với số tiền là 5.642.000.000 đồng, khiến Nhà nước bị thất thoát hơn 7 tỷ đồng. Việc ký hợp đồng này, không được tổ chức đấu giá theo qui định nên đã gây thất thoát nghiêm trọng tài sản của Nhà nước. Song, do quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ của Bảo Minh cấm việc chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông sáng lập trong thời hạn 3 năm (chỉ đến tháng 09.2007 mới được chuyển nhượng) nên trong hợp đồng chuyển nhượng nêu trên có thêm nội dung: Bên A sẽ sang tên cổ phần…cho bên B ngay sau thời gian cho phép. Sau đó, Vinacam đã thanh toán hết tiền mua cổ phần cho Vigecam.

Tháng 5.2007, Bảo Minh tăng vốn điều lệ và có chính sách ưu tiên cho các cổ đông cũ được mua thêm với tỷ lệ số cổ phần được mua thêm bằng 40% so với số cổ phần đang nắm giữ với giá 150.000/01 cổ phiếu. Do lúc này cổ phần vẫn mang tên Vigecam nên ông Khánh lại tiếp tục uỷ quyền cho Vigecam đứng tên Vigecam mua 173.600 cổ phần. Thời điểm này cổ phiếu Bảo Minh đã đăng ký trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh với giá khoảng 250.000/01 cổ phiếu, khiến Nhà nước bị thất thoát hơn khoảng 17 tỷ đồng. Trước tháng 10.2007, đến thời hạn phải sang tên cổ phần thì tại Vigecam xảy ra nhiều "lình xình" (các cơ quan pháp luật đã khởi tố, điều tra và bắt giam lãnh đạo Vigecam là ông Trần Văn Khánh). Vì vậy, Hội đồng quản trị mới của Vigecam đã xin ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc có chuyển nhượng – sang tên số cổ phần này cho Vinacam hay không?. Ngày 20.8.2007, Bộ này có công văn số 2314 hỏi ý kiến Bộ Tài Chính về việc này và Bộ Tài chính đã có văn bản trả lời: Theo pháp luật, số cổ phần này được xem là tài sản Nhà nước. Việc chuyển nhượng phải thông qua tổ chức đấu giá, không được chuyển nhượng như hợp đồng đã ký trước đây. Trước ý kiến của cơ quan chủ quản và cơ quan chuyên môn, Hội đồng quản trị mới của Vigecam đã đề nghị Vinacam huỷ hợp đồng số 01: HĐCN/05 đã ký và bồi thường lãi suất theo luật định. Không đồng ý với đề nghị này, Vinacam đã khởi kiện ra toà yêu cầu: Tiếp tục chuyển nhượng – sang tên số cổ phần theo hợp đồng và đòi bồi thường gần 62 tỷ đồng tiền chênh lệch giá cổ phiếu, cùng lãi suất (tháng 09.2007), giá cổ phần rất cao (92.020/01 cổ phần), đến tháng 12.2008 xuống thấp (16.000/01 cổ phiếu).

Continue reading

PHÁN QUYẾT LẠ ĐỜI VỀ VẬN ĐƠN

LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC

Thực tiễn thương mại và hàng hải quốc tế cũng như quy định của Bộ Luật Hàng hải VN đã có quy định rõ ràng về vận đơn (trong đó có 2 loại: vận đơn đích danh và vận đơn theo lệnh). Tuy nhiên, vừa qua có một vụ việc mà tòa án lại ra phán quyết trái ngược với luật pháp VN và thông lệ quốc tế.

Cuối năm 2006, Cty S ở phía Nam bán một container gồm 2.970 túi xách và balô cho Cty E Sydney – Autralia theo giá FOB TP HCM: 87.035 USD, mã số DN của E ở Autralia là ABN 29112062554-NSW2020 (thực tế đây là một Cty ma tại Autralia). Hợp đồng mua bán chỉ có 1 trang và hết sức sơ sài, đặc biệt không đề cập khi nào quyền sở hữu lô hàng chuyển từ người bán sang người mua.

Sau khi ký hợp đồng mua bán, E uỷ thác Cty giao nhận vận tải T ở phía Bắc thuê tàu chở hàng từ TP HCM đi Sydney. T ký hợp đồng lưu cước với Hãng tàu MOL. Ngày 20/12/2006 hàng được bốc lên tàu tại TP HCM, Hãng tàu MOL cấp vận đơn chủ (Master B/L) cho T, trên cơ sở đó T cấp vận đơn thứ cấp (House B/L) cho S với tư cách là người giao hàng (vận đơn của T theo mẫu FIATA). Vận đơn ghi rõ E (cùng với địa chỉ của họ) là người nhận hàng đích danh ở cảng đích.

Hàng đến Sydney 6/1/2007, Hãng tàu MOL giao hàng cho đại lý của T ngày 14/1/2007. Từ đó trở đi E không đến lấy hàng. Phí lưu kho, phạt lưu container lên đến 19.000 đôla Australia, hàng hoá có nguy cơ hư hỏng hoàn toàn.

Theo tập quán và luật pháp Australia (tương tự như ở VN) ngày 1/3/2007 đại lý của Cty T đã đưa hàng vào kho ngoại quan của Hải quan Sydney để xử lý. Mãi ngày 14/4/2007, Cty S mới ra lệnh cho Cty T đưa hàng về VN nhưng T không thể thực hiện được vì hàng đã đưa vào kho ngoại quan, hơn nữa đây là vận đơn đích danh nên Cty S không thể ra lệnh chở hàng về. Tuy vậy, ngày 14/5/2007, Cty E đã đến kho ngoại quan nhận hàng, đại lý của Cty T không thu hồi vận đơn gốc. Từ đó trở đi, Cty S luôn khẳng định rằng tuy hàng bán theo giá FOB nhưng với vận đơn gốc trong tay, Cty S vẫn là chủ sở hữu lô hàng. Vì vậy, do không đòi được tiền hàng từ E, Cty S đã khởi kiện Cty T tại một Toà án ở phía Bắc đòi bồi thường 1,7 tỷ VND bao gồm trị giá hàng FOB của lô hàng 87.035 USD và khoảng 350.000.000 VND các loại tiền phạt lưu kho bãi.

Continue reading

TRANH CHẤP DO VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH: Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức cạnh tranh thiếu lành mạnh?

NGUYỄN MINH

Với mục tiêu hướng đến nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn, bền vững, những năm gần đây, các ngành chức năng tích cực tuyên truyền nông dân hạn chế sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hóa học trong trồng trọt. Lợi dụng điều này, một số doanh nghiệp đã sản xuất phân bón giả, kém chất lượng dưới nhãn mác phân hữu cơ sinh học, đánh lừa nông dân. Vụ việc mới xảy ra tại Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức ở Phú Minh (Sóc Sơn – Hà Nội) là một ví dụ.

Biến phân vô cơ thành phân hữu cơ

Năm 2006, Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức tung ra thị trường sản phẩm phân bón hữu cơ sinh học K-Humat 18.000ppm loại 15ml và 10ml. Điều đáng nói là loại phân này không hề có trong Danh mục các loại phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành.

Tại văn bản ngày 27/11/2006 do ông Trương Hợp Tác, Trưởng phòng Sử dụng đất và phân bón (Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và PTNT) trả lời báo Nông nghiệp Việt Nam có ghi: “Phân hữu cơ sinh học K-Humat do Công ty Minh Đức sản xuất hiện nay chưa thấy có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành kèm theo Quyết định số 40 ngày 19/8/2004; Quyết định số 77 ngày 23/11/2005; Quyết định số 55 ngày 7/7/2006”.

Cũng tại văn bản số 942 do Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Trí Ngọc ký ngày 5/8/2008 về việc xác nhận sản phẩm phân bón K-H của Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức và Công ty cổ phần Thanh Hà cho Trung tâm Thông tin doanh nghiệp cho thấy: Sản phẩm K-Humat của Công ty Minh Đức không có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam. Trong danh mục này, chỉ có sản phẩm MĐ 101 và MĐ 201HT của Công ty Minh Đức, nhưng chúng nằm trong mục phân vô cơ chứ không phải hữu cơ sinh học.

Trong Công văn số 23/CV/MĐ-2008 của Công ty cổ phần Sinh hoá Minh Đức gửi các ban ngành, ông Nguyễn Thanh Đức, Giám đốc Công ty cho rằng: “Chúng tôi không có sản phẩm nào có tên thương mại là K-H… Việc quảng cáo thành phần K-Humat 18.000ppm tuân thủ theo đúng pháp luật”. Tuy nhiên, ông Đức không biết rằng, theo quy định về nhãn mác, tên thành phần bao giờ cũng phải ghi nhỏ hơn tên thương mại của sản phẩm. Một điều nữa là trong bản tự công bố sản phẩm của Công ty Minh Đức không hề có thành phần nào là hữu cơ sinh học K-Humat.

Continue reading

TRANH CHẤP DO VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH: CÔNG TY CỔ PHẦN SINH HÓA MINH ĐỨC CẠNH TRANH THIẾU LÀNH MẠNH?

NGUYỄN MINH

Với mục tiêu hướng đến nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn, bền vững, những năm gần đây, các ngành chức năng tích cực tuyên truyền nông dân hạn chế sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hóa học trong trồng trọt. Lợi dụng điều này, một số doanh nghiệp đã sản xuất phân bón giả, kém chất lượng dưới nhãn mác phân hữu cơ sinh học, đánh lừa nông dân. Vụ việc mới xảy ra tại Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức ở Phú Minh (Sóc Sơn – Hà Nội) là một ví dụ.

Biến phân vô cơ thành phân hữu cơ

Năm 2006, Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức tung ra thị trường sản phẩm phân bón hữu cơ sinh học K-Humat 18.000ppm loại 15ml và 10ml. Điều đáng nói là loại phân này không hề có trong Danh mục các loại phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành.

Tại văn bản ngày 27/11/2006 do ông Trương Hợp Tác, Trưởng phòng Sử dụng đất và phân bón (Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và PTNT) trả lời báo Nông nghiệp Việt Nam có ghi: “Phân hữu cơ sinh học K-Humat do Công ty Minh Đức sản xuất hiện nay chưa thấy có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành kèm theo Quyết định số 40 ngày 19/8/2004; Quyết định số 77 ngày 23/11/2005; Quyết định số 55 ngày 7/7/2006”.

Cũng tại văn bản số 942 do Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Trí Ngọc ký ngày 5/8/2008 về việc xác nhận sản phẩm phân bón K-H của Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức và Công ty cổ phần Thanh Hà cho Trung tâm Thông tin doanh nghiệp cho thấy: Sản phẩm K-Humat của Công ty Minh Đức không có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam. Trong danh mục này, chỉ có sản phẩm MĐ 101 và MĐ 201HT của Công ty Minh Đức, nhưng chúng nằm trong mục phân vô cơ chứ không phải hữu cơ sinh học.

Trong Công văn số 23/CV/MĐ-2008 của Công ty cổ phần Sinh hoá Minh Đức gửi các ban ngành, ông Nguyễn Thanh Đức, Giám đốc Công ty cho rằng: “Chúng tôi không có sản phẩm nào có tên thương mại là K-H… Việc quảng cáo thành phần K-Humat 18.000ppm tuân thủ theo đúng pháp luật”. Tuy nhiên, ông Đức không biết rằng, theo quy định về nhãn mác, tên thành phần bao giờ cũng phải ghi nhỏ hơn tên thương mại của sản phẩm. Một điều nữa là trong bản tự công bố sản phẩm của Công ty Minh Đức không hề có thành phần nào là hữu cơ sinh học K-Humat.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN: ĐÒI “CHIA PHẦN” KHI ĐÃ TỪ BỎ QUYỀN LỢI

ANH ĐỨC

Tháng 6 năm 2005, Tổng công ty Vật tư nông nghiệp (TCT VTNN) góp vốn với một số pháp nhân khác thành lập Công ty cổ phần Vinacam, trụ sở tại 28 Mạc Đĩnh Chi (quận 1 – TP. Hồ Chí Minh). Tháng 9 và 10 năm 2005, TCT VTNN đã lập biên bản bàn giao tài sản và tự nguyện từ bỏ mọi quyền lợi có liên quan, đồng thời bán hết cổ phần tại Vinacam. Tuy nhiên, hiện nay, đơn vị này muốn được quay lại chia chác tài sản không phải của mình.

Bán cổ phần và từ bỏ quyền lợi

Tháng 6/2005, HĐQT Tổng công ty VTNN ra quyết định phê duyệt đề án góp vốn với một số pháp nhân khác thành lập Công ty cổ phần Vinacam. Theo đó, trong tổng vốn điều lệ 34 tỷ đồng của Vinacam, VTNN góp 12,5 tỷ đồng (36,76%). Vốn đóng góp không phải bằng tiền mặt mà bằng giá trị trụ sở, các động sản, bất động sản mà Chi nhánh TCT VTNN tại TP. Hồ Chí Minh (địa chỉ 28, Mạc Đĩnh Chi) đang quản lý sử dụng.

Việc góp vốn đã được xác lập tại biên bản bàn giao tài sản giữa TCT VTNN và Vinacam ngày 5/7/2005. Biên bản này là cơ sở để Vinacam kê khai nhập tài sản, đăng ký làm các thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với các tài sản theo quy định của pháp luật….

Ngày 19/9/2005, TCT VTNN có Công văn số 462/VTNN gửi HĐQT Vinacam đề nghị cho chuyển nhượng lại 125.000 cổ phần (100.000 đồng/cổ phần) của mình tại đơn vị này, với lý do: “Giá phân bón tăng cao khoảng 50% so với năm 2004, trong khi hạn mức tín dụng ngân hàng thương mại dành cho TCT VTNN để nhập khẩu phân bón không thay đổi. Để tháo gỡ khó khăn trên, TCT VTNN có chủ trương chuyển nhượng cổ phần tại các công ty cổ phần mà TCT VTNN góp vốn, để sử dụng vốn vào việc nhập khẩu phân bón”.

Sau khi xem xét đề nghị của TCT VTNN, HĐQT Vinacam quyết định mua tối đa 108.000/125.000 cổ phần của TCT VTNN. Sau khi thỏa thuận, trong 2 ngày (5 và 10/10/2005), Vinacam chuyển 10, 8 tỷ đồng vào tài khoản của TCT VTNN. Tiếp đó, ngày 15/6/2006, TCT VTNN lại có Công văn 205/VTNN-CV gửi Vinacam muốn chuyển nhượng tiếp 17.000 cổ phần còn lại. Vinacam đồng ý mua và đã chuyển 1,7 tỷ đồng vào tài khoản của TCT VTNN (ngày 22/6/2006).

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY NỢ: HỢP ĐỒNG VAY CỦA DOANH NGHIỆP DƯỚI HÌNH THỨC VIẾT TAY KHÔNG CÓ DẤU, CHỮ KÝ VÀ HỌ TÊN CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT LIỆU CÓ HIỆU LỰC?

THIÊN LONG

Chỉ là tờ giấy viết tay có nội dung nhận tiền, không có dấu, chữ ký, họ tên của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (DN), Bộ Tài chính xác định không đủ tiêu chuẩn là chứng từ kế toán của DN, chỉ là giấy nhận tiền giữa các cá nhân với nhau… Vậy mà, qua 2 cấp Toà vẫn coi đây là giấy vay nợ của DN và buộc DN phải thanh toán số tiền 1, 9 tỷ đồng.

Nhập nhằng giấy vay nợ

Năm 2005, bà Nguyễn Thị Thanh Sơn rủ ông Vũ Minh Lương – Giám đốc công ty TNHH sản xuất và thương mại Minh Hà (Minh Hà) nhập một lô thép của Nhật Bản. Bà Sơn đã góp 400 triệu đồng vào công ty Minh Hà và được bổ nhiệm làm kế toán trưởng. Song, thực tế bà Sơn không góp số vốn này vào công ty Minh Hà. Để có tiền kinh doanh, bà Sơn nhờ bà Hà Thị Thái giúp đỡ. Ngày 8.9.2005, ông Lương, bà Sơn và bà Thái thống nhất lập giấy nhận nợ có nội dung: ông Lương, bà Sơn thuộc công ty Minh Hà có mượn của ông bà Hà Thị Thái và Nguyễn Mạnh Trường quyển giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và đất ở… để thế chấp ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam Eximbank vay số tiền 2 tỷ đồng. Ngày 12.9.2005, Eximbank Hai Bà Trưng cho bà Thái vay 1, 9 tỷ đồng. Tại ngân hàng, bà Thái giao ngay số tiền 1, 9 tỷ đồng cho bà Sơn. ông Lương nhận từ bà Sơn 1, 8 tỷ đồng và chuyển luôn số tiền này cho đối tác là ông Nguyễn Đình Lộc- Tổng giám đốc công ty Matexim Thăng Long. Khi nhận 1, 8 tỷ đồng từ bà Thái, bà Sơn đã viết vào mặt sau của tờ giấy nhận nợ nói trên với nội dung: “12.9.2005 Sơn và Lương đã nhận đủ 1.900.000.000 (một tỷ chín trăm triệu đồng) và ký tên phía dưới (Nguyễn Thị Thanh Sơn).

Continue reading

VỤ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN 400 TẤN SẮN LÁT: ÁN THƯƠNG MẠI XỬ DÂN SỰ?

DŨNG CHÍNH – MỸ DUYÊN

Từ năm 2006, Công ty TNHH Tân Thịnh Phát (Cty TTP) có trụ sở tại 83 Phan Chu Trinh, thành phố Quy Nhơn hợp đồng mua bán sắn lát với vợ chồng ông Trần Đình Liêm và bà Đinh Thị Hường ở thôn Lục Lễ, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước (Bình Định). Chuyện làm ăn giữa một bên là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh và một bên là tư nhân đang thuận buồm xuôi gió thì bất ngờ ngày 12.5.2007, hai bên đụng nhau vì 19 phiếu cân hàng, đến mức phải đâm đơn ra Toà…

* Bên bán hàng: Chưa thanh toán… vì còn giữ biên nhận.

* Bên mua hàng: Đã thanh toán… nhưng quên thu biên nhận.

Kẻ tám lạng người nửa cân

Không ngã ngũ, vợ chồng ông Liêm khởi kiện ra Toà. Kèm theo đơn kiện, nguyên đơn cung cấp: Giấy biên nhận (không có ghi ngày tháng) 19 phiếu cân tại kho Long Mỹ; bản báo cáo hàng nhập kho do kế toán trạm cân Trần Thanh Tân cung cấp; và giấy xác nhận của các tài xế lái xe có chở hàng nhập kho vào thời điểm xảy ra tranh chấp. ông Liêm tường trình: Từ ngày 4 – 8.5.2007, vợ chồng ông đã chở 19 xe sắn, khối lượng 395.160 kg, trị giá 636.68.800 đồng đến nhập tại kho Long Mỹ của Cty TTP. Đến 10.5.2007, ông đến trụ sở chính của Cty TTP tại 83 Phan Chu Trinh, TP Quy Nhơn để yêu cầu thanh toán 19 phiếu hàng mà kế toán trạm cân đã cấp trước đó. Tại đây vì không có tiền mặt, ông Lê Dương Phùng – kế toán Cty đã viết cho vợ chồng ông giấy biên nhận và hẹn 2 ngày sau đến thanh toán. Thế nhưng sau đó Cty này đã trở mặt làm trái, không giải quyết… (?)

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ: CÔNG TY THÉP NHẬT QUANG THUÊ XÂY NHÀ NHƯNG KHÔNG MUỐN TRẢ TIỀN

NGÂN HÀ

Năm 2006, Công ty TNHH Thép Nhật Quang ký hợp đồng thuê Công ty Cổ phần xây dựng Quần Phương (Hà Nội) xây dựng nhà xưởng nhưng sau khi công trình hoàn tất và đưa vào sử dụng, Công ty TNHH Thép Nhật Quang lại không thanh toán tiền, buộc Công ty Cổ phần Xây dựng Quần Phương phải khởi kiện ra tòa để đòi nợ. Sau nhiều lần hoãn, ngày 17.9.2008, TAND huyện Văn Lâm đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ kiện trên.

Thỏa thuận một đằng, thực hiện một nẻo!

Ngày 15.4.2006, Công ty TNHH Thép Nhật Quang (Cty Nhật Quang) ký hợp đồng kinh tế số 48/HĐKT với Công ty Cổ phần Xây dựng Quần Phương (Cty Quần Phương). Theo hợp đồng đã ký, Cty Quần Phương có trách nhiệm thi công xây dựng các hạng mục công trình của Nhà máy Thép Nhật Quang tại xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Cty Quần Phương đã tiến hành thi công và bàn giao các hạng mục công trình cho Cty Thép Nhật Quang. Ngày 30.6.2007, hai bên đã ký hợp đồng thanh lý và Cty Thép Nhật Quang đã thanh toán đủ 3, 9 tỷ đồng (lấy số tròn -PV) cho Cty Quần Phương.

Ngày 22.12.2006, hai bên ký tiếp hợp đồng kinh tế số 43/HĐKT, theo đó Cty Quần Phương có trách nhiệm thi công xây dựng các hạng mục công trình như nhà ở, nhà ăn cho công nhân…tại Nhà máy Thép Nhật Quang (giá trị của hợp đồng này là 3, 34 tỷ đồng). Công trình này đã được hoàn thiện vào ngày 20.8.2007 (theo đúng thời hạn đã ký trong hợp đồng) và hiện Cty Nhật Quang đã quản lý và sử dụng.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI: TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG PHÂN PHỐI THIẾT BỊ

VŨ ÁNH DƯƠNG

 

Các bên

Các vấn đề được đề cập:

Nguyên đơn: Nhà xuất khẩu Mỹ
Bị đơn: Nhà phân phối Argentina
Hợp đồng phân phối hàng hoá
Phán quyết bộ phận
Chọn luật thực chất và hợp đồng không đàm phán (adhesion contract)
Chấm dứt hợp đồng
Rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng
Quan hệ trước khi ký kết hợp đồng
Giảm thiểu thiệt hại

Tóm tắt vụ việc:

Trong Hợp đồng phân phối hàng hoá quốc tế (sau đây gọi là hợp đồng) ký ngày 8/8/1979, nguyên đơn đã chỉ định bị đơn làm nhà phân phối thiết bị của mình ở Argentina.

Điều 15 của hợp đồng quy định khi có tranh chấp hoặc bất đồng xảy ra giữa các bên mà không thể dàn xếp thông qua thương lượng thì các bên sẽ đưa ra trọng tài theo các quy tắc của Phòng Thương mại quốc tế (ICC). Nơi xét xử trọng tài (như đã sửa đổi ngày 31/8/1979) là Trinidad và Tobago, West Indies. Hợp đồng sẽ tự động chấm dứt sau hai năm nhưng có thể gia hạn hợp đồng bằng một văn bản thoả thuận giữa hai bên. Hợp đồng đã hết hạn ngày 8/8/1981. Tuy nhiên, nguyên đơn và bị đơn đã ký các thoả thuận gia hạn hợp đồng ngắn hạn và vì vậy, cả hai bên tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN LÀ VỐN GÓP VÀO DOANH NGHIỆP: ĐÃ BÁN … LẠI ĐÒI LẠI

PHƯƠNG NAM – VIẾT ĐOÀN

TCty Vật tư nông nghiệp Việt Nam (TCty VTNN) đã góp vốn với 4 cổ đông khác thành lập Cty CP Vinacam để hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực VTNN. Hoạt động được một thời gian, TCty đã bán hết cổ phần cho các cổ đông sáng lập. Nhưng gần đây, TCty này quay lại đòi “tiếp nhận lại” một phần tài sản đã góp!?…

Theo đề án được phê duyệt, TCty góp 12,5 tỷ đồng, chiếm 36,76% vốn điều lệ. Nguồn vốn góp bằng giá trị nhà 28 Mạc Đĩnh Chi và các tài sản, BĐS khác của TCty hiện chi nhánh TP HCM đang quản lý sử dụng. Trong đó, có quyết định bàn giao nhà số 28 Mạc Đĩnh Chi, Q 1, TP HCM (được định giá góp vốn 3,991 tỷ – giá trị thẩm định lại của Trung tâm thẩm định giá Bộ Tài chính là 3,595 tỷ) và nội dung biên bản là cơ sở để Cty Vinacam kê khai nhập tài sản và đăng ký làm thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với các tài sản theo quy định của pháp luật. Kể từ ngày bàn giao, TCty từ bỏ mọi quyền và lợi ích có liên quan đến tài sản đã bàn giao.

Kẻ bán, người đòi

Nhưng chỉ hơn 4 tháng sau, TCty có văn bản gửi Vinacam đề nghị chấp thuận cho chuyển nhượng 125.000 CP (mệnh giá 100.000 đồng/CP) tương đương với 12,5 tỷ cho các cổ đông của Vinacam. Trên cơ sở này, Vinacam đã tổ chức Đại hội cổ đông bất thường, đồng ý để TCty nhượng bán tối đa là 108.000 CP, phần còn lại 17.000 CP (tương đương 5% vốn điều lệ) được quyền bán tiếp trong năm 2006 nếu có nhu cầu. Toàn bộ số cổ phiếu này được coi là “cổ phiếu quỹ” của Vinacam.

Continue reading

CÔNG TY COMA 18: "MẤT NHÀ" KHÔNG BIẾT

Ngày 16/9/2008, các cổ đông của Cty cổ phần Cơ khí Xây dựng số 18 (COMA 18) – TCty Xây dựng Việt Nam thông tin cho biết, khối tài sản của Cty là ngôi nhà 76 Lê Lợi, Hà Đông, Hà Nội có trong sổ kiểm toán là tài sản của Cty không hiểu vì sao bỗng “biến mất” một cách bất thường. Trong khi đó, các cổ đông vẫn phải bỏ tiền ra hàng năm để chịu khấu hao tài sản, chi phí khác… cho ngôi nhà. 

Ông Dương Văn Đằng, cổ đông mã số 471 của Cty cho biết: “Cty COMA 18 đã phải cố gắng lắm mới vượt qua được khó khăn và bắt đầu có lãi. Điều đó, làm chúng tôi tin tưởng hơn vào chiến lược phát triển của Cty, nhưng cũng rất cần sự minh bạch tài chính. Chúng tôi không hiểu sao khối tài sản trị giá gần 30 tỷ đồng (theo thời giá thị trường hiện nay) của Cty lại bí mật sang tên cho chủ sở hữu khác mà cổ đông không hề biết. Điều đáng nói là trong sổ sách kế toán của Cty không hề thu được một đồng nào từ việc này”.

Do… tiền nhiệm

Trao đổi với PV, Ban lãnh đạo đương nhiệm của Cty COMA 18 cho biết: Qua quá trình quản lý, sử dụng ngôi nhà 2 tầng trên diện tích 279 m2 đất tại 76 Lê Lợi – Hà Đông, trong giai đoạn 2003 -2006 không rõ nguyên nhân gì, các cấp lãnh đạo tiền nhiệm của Cty đã đơn phương gửi Công văn số 556/CV-CT ngày 28/3/2005 đề nghị UBND tỉnh Hà Tây, thị xã Hà Đông (cũ), xin trả lại nhà 76 Lê Lợi và ký hợp đồng nguyên tắc với Cty CP Ngân Phát ngày 6/4/2005 để giao nhà 76 Lê Lợi cho Cty CP Ngân Phát sử dụng.

Continue reading

TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN: TRANH CHẤP VỀ GIAO HÀNG KÉM CHẤT LƯỢNG

CÁC BÊN CÁC VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC GIẢI QUYẾT

Nguyên đơn: 1 Doanh nghiệp TPHCM (DNVN)
– Bị đơn: 1 thương nhân Nhật Bản

– Người xuất khẩu có giao hàng kém phẩm chất không.
– Những chi phí nào phát sinh từ việc tái chế hàng phải bồi thường

* Tóm tắt

Ngày 13/02/1996 thương nhân Nhật ký hợp đồng bán cho DNVN 1400 MT UREA 5%, thanh toán bằng L/C trả chậm 330 ngày kể từ ngày giao hàng.

Ngày 06/07/1996, hàng về đến cảng Sài Gòn, DNVN mời Cty giám định hàng hóa tại TP HCM đến giám định lô hàng. Biên bản giám định kết luận biuret của UREA không đạt tiêu chuẩn quy định của hợp đồng, các bao UREA có hàng bên trong bị cứng, vón cục từng phần, trọng lượng của các bao không thống nhất nhau. Vì thế DN VN buộc phải chuyển hàng từ cảng vềkho của Công ty tái chế để thuê tái chế, thay thế bao bì, đóng gói lại.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG: HAI NGÂN HÀNG KIỆN "CON NỢ"

HUỲNH ANH

Ngày 9/9/2008, 2 ngân hàng đã khởi kiện ra tòa đối với bà Võ Hoàng Minh Khoa, vợ của Trưởng Phòng công chứng số 1, Cần Thơ do không có khả năng trả nợ. Ngoài ra, bà Khoa còn vay hàng chục tỷ đồng từ nhiều nơi khác.

Ngày 9/9, TAND quận Ninh Kiều vừa tiếp nhận hồ sơ của 2 ngân hàng, đề nghị khởi kiện bà Võ Hoàng Minh Khoa (SN 1996, ngụ tại số 96/5, đường Lý Tự Trọng, phường An Cư, quận Ninh Kiều) để đòi nợ, do bà Khoa đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và vi phạm hợp đồng vay.

Trong thời gian vay, bà Khoa đã không đóng lãi, hoàn trả vốn cho ngân hàng theo khế ước đã ký với số tiền vốn và lãi gần 9 tỉ đồng. Cụ thể, Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội là 5 tỉ đồng tiền vay và 259 triệu tiền lãi, được bà Khoa thế chấp, đảm bảo bằng 3 thửa đất tại đường Đề Thám, phường An Cư.

Còn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn thì bà Khoa thế chấp căn nhà số 36/44 đường Trần Việt Châu, phường An Hoà, quận Ninh Kiều, để vay số tiền 3,5 tỉ đồng và lãi phát sinh đến nay là gần 200 triệu đồng.

Continue reading

CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ MỸ – VIỆT: MỘT BẢN HỢP ĐỒNG BẤT THƯỜNG

DDDN.COM.VN – Chiều 26/8/2008, tại văn phòng Cty CP Thương mại và Đầu tư Mỹ – Việt đã xảy ra huyên náo khi một nhóm người kéo đến đòi thanh lý hợp đồng tư vấn đã ký với họ đồng thời yêu cầu Cty “giải ngân” số tiền gọi là “phí tư vấn” lại cho họ.

Trong chuyến công tác của chúng tôi mới đây tới một số tỉnh như Ninh Bình, Nammotbanhopdong11a Định, một hiện tượng khiến nhóm phóng viên không khỏi chú ý, đó là một số người bàn tán xôn xao về việc có thể ký hợp đồng với một DN tại Hà Nội để “Tìm nguồn vốn tài trợ không hoàn lại cho dự án” xây trường học, làm đường tại các xã. Trong bối cảnh hiện nay, khi nơi nơi thiếu vốn, cơ sở vật chất điện, đường, trường, trạm tại các tuyến cơ sở còn nhiều khó khăn thì nguồn tin trên thu hút sự chú ý là điều dễ hiểu. Tại sao lại có chuyện một DN có thể “thu xếp” được vốn đầu tư cho hàng loạt xã vào các hạng mục như trên với số tiền lên tới hàng trăm, thậm chí hàng triệu USD?

Continue reading