MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ GÓI KÍCH CẦU ĐỂ NGĂN CHẶN SUY GIẢM KINH TẾ Ở NƯỚC TA

TS. LÊ XUÂN THÀNH – Vụ Kinh tế, Văn phòng Trung ương

Theo nhiều nhà nghiên cứu, đây là cuộc khủng hoảng nặng nhất kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai. Giới phân tích dự đoán, năm 2009 tăng trưởng kinh tế thế giới giảm xuống còn 0,5%. Kinh tế thế giới suy giảm sẽ có ảnh hưởng mạnh, và ngày càng rõ rệt đến nền kinh tế Việt Nam.

1. Thế giới đang lâm vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế trầm trọng

Theo nhiều nhà nghiên cứu, đây là cuộc khủng hoảng nặng nhất kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai. Giới phân tích dự đoán, năm 2009 tăng trưởng kinh tế thế giới giảm xuống còn 0,5%. Các nước Mỹ, EU, Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng âm: Mỹ tăng trưởng -1,6%, kinh tế khu vực đồng ơ-rô tăng trưởng -2%, Nhật Bản tăng trưởng -2,6%. Hàng loạt ngành sản xuất kinh doanh bị đình đốn; hoạt động kinh doanh của nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu bị đình trệ.

Sự giảm sút của ngành sản xuất ô tô, sự tụt dốc của thị trường chứng khoán, sự xuống dốc của thị trường bất động sản diễn ra trầm trọng ở các nước có nền kinh tế phát triển.

Xuất nhập khẩu bị suy giảm nặng nề. Trong vòng 1 năm qua, hàng xuất khẩu của Đài Loan giảm 42%, của Nhật Bản giảm 35%, của Hàn Quốc giảm 30%. Số người thất nghiệp năm 2009 dự kiến sẽ tăng thêm 51 triệu người, nâng con số người không có việc làm trên toàn thế giới lên tới 230 triệu. Chính vì vậy, nhiều chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới cảnh báo đây là giai đoạn tồi tệ nhất của kinh tế thế giới.

2. Chính phủ các nước tập trung sức lực vào ngăn chặn suy thoái, phục hồi kinh tế

Hàng loạt gói vốn khẩn cấp có trị giá lớn được chính phủ các nước thông qua nhằm cứu nguy cho hệ thống ngân hàng và công nghiệp. Gói khổng lồ của chính phủ Mỹ qua các đợt lên đến 2.250 tỉ USD, Trung Quốc 586 tỉ, các nước EU, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc,… cũng đã nhanh chóng thông qua các gói vốn hỗ trợ cho ngân hàng và các ngành kinh tế trị giá hàng trăm tỉ USD.

Continue reading

NÂNG CAO VÀI TRÒ DOANH NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT KINH DOANH

HỒ HƯỜNG – THỦY NGUYÊN – NAM PHƯƠNG – BÍCH NGỌC

Doanh nghiệp có quyền được tham vấn khi cơ quan nhà nước tiến hành hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh đã được thể chế hóa trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, vai trò góp ý, xây dựng chính sách pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả.

Để tăng cường năng lực góp ý xây dựng pháp luật của doanh nghiệp, được sự hỗ trợ của Star Việt Nam và Quỹ GE, sáng nay (24/3/2009) VCCI tổ chức Hội thảo “Nâng cao năng lực doanh nghiệp, hiệp hội trong công tác tham vấn hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật kinh doanh”. Thông qua kinh nghiệm tham vấn chính sách của VCCI và kinh nghiệm quốc tế, hội thảo sẽ trang bị thông tin về quyền của doanh nghiệp và những công cụ, kỹ năng cần thiết cho doanh nghiệp, hiệp hội trong quá trình góp ý hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật.

Đến tham dự buổi hội thảo sáng nay có đại diện của các vị lãnh đạo, các Hiệp hội doanh nghiệp và đông đảo các doanh nghiệp…

Phát biểu khai mạc, TS Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, buổi hội thảo hôm nay sẽ bàn về vấn đề tham gia của các doanh nghiệp và Hiệp hội doanh nghiệp vào quá trình xây dựng các chính sách do VCCI tiến hành lấy ý kiến tham vấn. Đây là buổi trao đổi kinh nghiệm, tăng cường giao lưu hợp tác của các doanh nghiệp.

Để phát huy hiệu quả công tác tham vấn, theo TS Vũ Tiến Lộc, cần phải đề cao năng lực và tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp với VCCI và giữa VCCI với các Cơ quan chính phủ, với Quốc hội. Từ đó nhằm nâng cao vai trò của các doanh nghiệp và đưa tiếng nói của doanh nghiệp tới được với các Cơ quan của chính phủ. Do đó, cần tập trung vào vấn đề nâng cao năng lực doanh nghiệp, hiệp hội trong công tác tham vấn hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật kinh doanh.

Tiếp theo phát biểu của TS Vũ Tiến Lộc, ông Trần Hữu Huỳnh – Trưởng Ban Pháp chế VCCI đã điểm qua một vài vấn đề trong quá trình xây dựng – thi hành pháp luật và vai trò của VCCI. Theo ông Huỳnh, quá trình này bao gồm 4 nội dung: Quá trình xây dựng và góp ý Dự thảo; Ban hành văn bản QPPL và Phổ biến PL; Bản án và Bình luận bản án; Thi hành và Giải quyết vướng mắc doanh nghiệp; Thi hành và Kiến nghị xây dựng pháp luật.

Continue reading

CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CÁC NHÂN TỐ SẢN XUẤT

TS. NGUYỄN HỮU HIỂU

Chất lượng tăng trưởng kinh tế là gì?

Tăng trưởng phản ánh sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định (thường là 1 năm). Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng hàng đầu, có liên quan mật thiết đến các biến số vĩ mô khác như việc làm, lạm phát, nghèo đói,… Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét tăng trưởng kinh tế (TTKT) trên giác độ số lượng thu nhập tăng thêm thì chưa đủ. Thực tế cho thấy nhiều “loại” tăng trưởng không những không đem đến cho con người cuộc sống tốt đẹp hơn mà trái lại còn để lại những hậu quả không tốt mà các thế hệ tương lai phải gánh chịu. Năm 1996, UNDP đã chỉ ra 5 loại tăng trưởng xấu để các quốc gia tham khảo, đó là:

  • Tăng trưởng không việc làm: Tăng trưởng không tạo ra việc làm mới.
  • Tăng trưởng không lương tâm: Tăng trưởng chỉ đem lại lợi ích cho một bộ phận nhỏ người giàu, điều kiện sống của phần đông người nghèo không được cải thiện.
  • Tăng trưởng không tiếng nói: Tăng trưởng không gắn với sự cải thiện về dân chủ.
  • Tăng trưởng không gốc rễ: Tăng trưởng nhưng đạo đức xã hội bị suy thoái.
  • Tăng trưởng không tương lai: Tăng trưởng nhưng huỷ hoại môi trường sống của con người.

Chính vì lẽ đó, nghiên cứu TTKT bên cạnh sự gia tăng về số lượng, còn cần và nhất thiết phải quan tâm đến khía cạnh chất lượng.

Vậy, chất lượng tăng trưởng là gì?

Chất lượng tăng trưởng phản ánh nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, duy trì trong một thời gian dài, gắn với đó là quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền tự do cho mỗi người.
Có thể tiếp cận chất lượng TTKT trên nhiều giác độ khác nhau như: theo nhân tố đầu vào, theo kết quả đầu ra, theo cấu trúc ngành kinh tế, theo năng lực cạnh tranh,… Bài viết này tập trung nghiên cứu chất lượng TTKT theo các nhân tố đầu vào.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI

030707_fear_greedHỒ QUỐC TUẤN – NCS, Đại học Manchester, Anh

Những khủng hoảng gần đây đều do đạo đức. Lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, dẫn đến khủng hoảng.

Xét lại luận điểm thị trường không hoàn hảo

Gần đây, trong giới học thuật tài chính và giới kinh doanh thực tiễn, người ta đã nghiêm túc xem xét lại luận điểm về thị trường không hoàn hảo trong các vấn đề định giá. Hiểu một cách nào đó, thị trường hoàn hảo là thị trường trong đó người ta có thể bắt chước (replicate) bất kỳ một chiến lược mua bán nào, sản phẩm nào (quyền chọn, cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán từ nợ dưới chuẩn…) từ những sản phẩm cơ bản khác. Bỏ qua các yếu tố kỹ thuật, điều này có nghĩa là gì? Nó có nghĩa người ta có thể phòng ngừa bất kỳ loại rủi ro nào trong tương lai. Ít nhất, trong nhiều mô hình tài chính và bảo hiểm, đây là ý tưởng căn bản về một mô hình của thị trường hoàn hảo.

Đây là luận điểm không mới và cũng không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là những mô hình tài chính được ứng dụng, vốn tưởng chừng cách xa các mô hình trong sách giáo khoa, cũng bằng cách này hay cách khác, vô tình hay cố ý, dựa trên những giải pháp trong đó giả định rằng tồn tại một thế giới mà trong đó người ta trung lập với rủi ro (risk neutral world), một thế giới mà các rủi ro có thể phòng ngừa được (hedgable).

Với việc giả định những điều trên, người ta chấp thuận một phần nào khái niệm thị trường là hoàn hảo (complete market), nói nôm na, là có đủ “đồ chơi” để phòng ngừa rủi ro. Trong một hội thảo gần đây ở London, người ta đã tranh cãi khá nhiều về chuyện một số mô hình tưởng chừng không giả thiết rằng thị trường là hoàn hảo, cuối cùng lại dùng những kỹ thuật tài chính để giải quyết vấn đề mà cuối cùng kỹ thuật đó lại thừa nhận thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó. Continue reading

BẢO ĐẢM AN NINH KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

PHẠM MINH CHÍNH – Bộ Công an

Cơn bão tài chính toàn cầu năm 2008 đã “quét” qua nhiều quốc gia và châu lục, không những làm sụp đổ nhiều tổ chức tài chính lớn, nhỏ với hàng trăm năm tuổi, mà còn kéo theo quy mô phá sản cấp quốc gia (Iceland). Song cơn bão này chưa hề có dấu hiệu suy giảm, và không ai biết nó còn kéo dài bao lâu, không ai có thể lường hết được sức công phá của nó. Nhanh chóng thực thi một số biện pháp nhằm bảo đảm an ninh kinh tế trong giai đoạn này là việc thực sự cấp bách đối với mỗi quốc gia hiện nay.

I- Bản chất của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008

1- Diễn biến khủng hoảng tài chính

Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á, thế giới lại đứng trước một cuộc khủng hoảng tài chính mà mức độ nghiêm trọng và khả năng tàn phá lớn hơn gấp nhiều lần. Xuất phát từ khủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ, do những chính sách tín dụng dễ dãi của các ngân hàng và tổ chức đầu tư bất động sản, thông qua mối quan hệ kinh doanh chằng chịt của hệ thống ngân hàng thời đại toàn cầu hoá, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều lĩnh vực và khu vực trên toàn thế giới.

Cả thế giới bàng hoàng khi hàng loạt các định chế tài chính lớn lần lượt sụp đổ, tiêu biểu nhất là sự phá sản của Lehman Brothers, ngân hàng mà chỉ một năm trước đó còn được đánh giá là ngân hàng đầu tư bất động sản tốt nhất nước Mỹ. Tiếp đó là các tên tuổi như Bradford and Bingley (Anh), Hypo Real Estate (Đức), Fortis (Bỉ), Dexia (Pháp), Yamamoto Life (Nhật Bản)… Tính tới cuối tháng 11 năm 2008, số ngân hàng thương mại phá sản ở Mỹ đã lên tới 22 (trong đó đứng đầu danh sách những thể chế tài chính xấu số này là Washington Mutual với tổng tài sản 307 tỉ USD), và chưa có dấu hiệu dừng lại. Số ngân hàng nằm trong danh sách “có vấn đề”(1) vẫn tăng không ngừng, đạt tới con số 171 trong quý III/2008, mức cao nhất kể từ năm 1995.

Dưới tác động của khủng hoảng tài chính, các hoạt động thương mại, đầu tư, tiêu dùng của mỗi quốc gia đều sụt giảm mạnh, nguy cơ suy thoái kinh tế đang đe dọa. Thậm chí, nhiều nước đang lâm vào tình trạng phá sản cấp quốc gia.

Những phản ứng bị động và lúng túng của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế cho thấy sự bất ngờ của thế giới trước cuộc khủng hoảng và tầm ảnh hưởng của nó. Sức tàn phá của “cơn sóng thần” tài chính đến từ Mỹ mạnh đến mức không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết cuộc khủng hoảng, mà đòi hỏi phải có sự chung tay của cộng đồng quốc tế. Khủng hoảng tài chính và cách giải quyết hậu quả đang trở thành chương trình nghị sự hàng đầu trên thế giới hiện nay.

2- Bản chất của cuộc khủng hoảng

Qua việc phân tích 3 nguyên nhân, đồng thời cũng là những đặc trưng như sau, có thể thấy được bản chất, sức tàn phá khủng khiếp của cơn bão tài chính tới an ninh kinh tế, chính trị và ổn định xã hội của các quốc gia trên thế giới.

Continue reading

CHÍNH SÁCH, GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHO KINH TẾ VIỆT NAM TĂNG TRƯỞNG NHANH VÀ BỀN VỮNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

VỤ CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Trong giai đoạn 2008 – 2009 nền kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là diễn biến bất thường của cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ, lan rộng ra toàn cầu làm kinh tế thế giới suy giảm mạnh. Kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn, lạm phát gia tăng làm ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.

Chính vì vậy, ngày 12/01/2009, Viện khoa học Tài chính – Bộ Tài chính đã tổ chức hội thảo “Chính sách, giải pháp đảm bảo cho kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn hiện nay”. Bài viết này nêu lên những nét chính được nhiều người quan tâm đó là: (i) hiểu thế nào là chất lượng tăng trưởng; (ii) những hạn chế của mô hình tăng trưởng ở Việt Nam hiện nay, (iii) những giải pháp khắc phục và bài học kinh nghiệm từ Hàn quốc.

Chất lượng tăng trưởng được hiểu đó là tốc độ tăng trưởng cao cần được duy trì trong dài hạn kéo dài trong nhiều năm khoảng 20 năm và tăng trưởng cần phải có đóng góp trực tiếp vào phúc lợi xã hội, cụ thể là phân phối thành quả của phát triển và xoá đói giảm nghèo. Với khái niệm này, cách nhìn nhận về tăng trưởng kinh tế trở nên toàn diện hơn.

Chất lượng tăng trưởng là vấn đề được quan tâm nổi bật và là tâm điểm của chiến lược phát triển bền vững mà các nước phát triển đang theo đuổi. Theo quan điểm tăng trưởng bền vững thì chất lượng tăng trưởng được đánh giá bởi sự phát triển ổn định về kinh tế – xã hội, môi trường trong sạch, nền văn hoá giữ được bản sắc dân tộc và lành mạnh, yếu tố con người được đề cao, quyền dân chủ của công dân được đảm bảo.

Để làm rõ hơn khái niệm này, các diễn giả đã đề cập đến 3 loại mô hình tăng trưởng:

– Mô hình tăng trưởng trì trệ: nền kinh tế có thể đạt tăng trưởng trong một giai đoạn ngắn nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm dần, dẫn đến trì trệ và khó duy trì tăng trưởng được lâu dài. Mô hình tăng trưởng loại này thường không bền vững. Lý do chính là đầu tư quá thấp vào hình thành các loại tài sản vốn nhất là vào vốn con người và vốn tài nguyên và hiệu quả đầu tư công rất thấp.

Continue reading

BẠN BIẾT GÌ VỀ “HÀNH VI KHÁCH HÀNG”

MAI QUỲNH TRANG (Dịch theo Knowthis)

Có lẽ khái niêm thách thức nhất trong marketing gắn liền với việc nắm bắt được nguyên nhân vì sao khách hàng lại hành động như thế này (hoặc không). Nhưng kiến thức như vậy được coi là then chốt đối với các chuyên gia tiếp thị khi họ có hiểu biết sâu sắc rằng hành vi khách hàng sẽ giúp họ hiểu được điều gì là quan trọng đối với khách hàng đồngt hời đưa ra những tác động quan trọng đối với việc ra quyết định của khách hàng. Sử dụng thông tin này, chuyên gia tiếp thị có thể tạo ra những chương trình marketing mà họ tin tưởng rằng sẽ mang lại lợi ích cho khách hàng.  

Bạn có thể đóan rằng, yếu tố tác động đến cách ra quyết định của khách hàng thật là phức tạp. Hành vi khách hàng bắt rễ và ăn sâu vào tâm lý phô trương của con người trong xã hội.  Vì mỗi một cá nhân trong xã hội không ai giống ai nên không thể có được những nguyên tắc đơn giản có thể giải thích được cách thức mà các quyết định của khách hàng được đưa ra. Nhưng những ai nghiên cứu họat động của khách hàng một cách nghiêm túc sẽ có thể đưa ra được “cẩm nang” về hành vi mua sắm của khách hàng: vì sao họ mua món hàng này và vì sao không?  

Trên thực tế, hãy thử lấy bất cứ cuốn giáo khoa nào nói về hành vi khách hàng để xem xét vấn đề. Viễn cảnh mà chúng ta có được thật hẹp và chỉ là những khái niệm cơ bản có thể được chấp thuận một cách thông thường như hành vi gây ảnh hưởng tới khách hàng.  Trong phần này, chúng ta sẽ thử xem hành vi mua sắm của khách hàng (ví dụ, khi nào thì người ta mua hàng vì lý do cá nhân), sau đó, chúng ta sẽ kiểm tra xem các yếu tố có thể tác động tới quyết định mua hàng của họ. 

Phân loại Quyết định Mua sắm của Người tiêu dùng

Gần như mỗi ngày người tiêu dùng đều phải đối diện với những quyết định mua sắm. Tuy nhiên, họ xử lý những quyết định này không phải lúc nào cũng giống nhau. Một số quyết định có tính phức tạp hơn nhiều so với những quyết định khác, do đó đòi hỏi người tiêu dùng phải nỗ lực hơn. Một số quyết định khác lại mang tính nếp quen hàng ngày, do vậy đòi hỏi ở họ ít nỗ lực hơn. Nhìn chung, người tiêu dùng thường phải đối diện với bốn loại quyết định mua sắm sau đây:

· Mua sắm mới thứ yếu – lại mua sắm này thể hiện cái gì đó là mới đối với người tiêu dùng, nhưng trong suy nghĩ của ọ, việc mua sắm này không thực ưự quan trọng xét về mặt mặt nhu cầu, tiền bạc hay vì một lí do nào khác (chẳng hạn địa vị trong nhóm người tiêu dùng)

Continue reading

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

TS. TRẦN ANH PHƯƠNG

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,HĐH) đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại.

Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) ở nước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) và thương mại – dịch vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp). Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượng lao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại…

1. Cơ cấu kinh đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Thực hiện định hướng cơ bản trên đây của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những kết quả nổi bật sau đây.

Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực. Đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000; 20,9% năm 2005, và đến năm 2008 ước còn 20,6%. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7%; năm 2005: 41% và đến năm 2008 ước tính sẽ tăng đến 41,6%. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7%; năm 2005: 38,1%; năm 2008 sẽ là khoảng 38,7%.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi.

Continue reading

MỘT SỐ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA

TS.ĐINH SƠN HÙNG

I. MỘT SỐ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Sản xuất hàng hóa và sau đó tiền tệ ra đời, đánh dấu sự phát triển về chất của kinh tế nhân loại. Đồng thời, dưới tác động của tiến bộ khoa học, kỹ thuật, của lực lượng sản xuất; sản xuất, lưu thông trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển và kéo theo sau đó là sự xuất hiện ngày càng đa dạng các loại thị trường; cơ chế thị trường hoạt động ngày càng linh hoạt, rộng khắp. Khi nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường thì gọi là nền kinh tế thị trường hoặc mô hình kinh tế thị trường, hay kinh tế thị trường. Đến thời điểm ngày nay, dù kinh tế thị trường có những khuyết tật bản chất của nó, nhưng đây vẫn là mô hình kinh tế ưu việt nhất.

Lịch sử phát triển kinh tế thị trường nhân loại, tới hôm nay, ở góc độ tổng quát có thể phân thành hai mô hình: mô hình kinh tế thị trường ”cổ điển“ và mô hình kinh tế thị trường “hiện đại”.

Đặc trưng cơ bản của mô hình kinh tế thị trường “cổ điển“ là duy trì, và khuyến khích rộng rãi tự do cạnh, tự do trao đổi, tự do tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở tín hiệu và sự điều tiết của thị trường. Do vậy, hoạt động của mọi chủ thể kinh tế, sự vận động của giá cả đều chịu tác động trực tiếp của hệ thống quy luật kinh tế thị trường, mà A.Smit gọi là “Bàn tay vô hình“. Trong giai đoạn vận động, phát triển của kinh tế thị trường “cổ điển“, Nhà nước chỉ đóng vai trò “giữ nhà“, nghĩa là Nhà nước can thiệp rất hạn chế và mang tính gián tiếp vào các hoạt động kinh tế. Tiêu biểu của mô hình này là nền kinh tế Tây Âu từ thế kỷ XVI đến gần cuối thế kỷ XIX.

Ưu điểm nổi bật của mô hình kinh tế thị trường “cổ điển“ là nền kinh tế phát triển năng động, linh hoạt. Nhưng sự tồn tại và vận động của nền kinh tế theo mô hình này đến một giai đoạn nhất định, khi trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất cao, thì những khuyết tật của thị trường bộc lộ một cách mạnh mẽ, mâu thuẫn nội tại trong phát triển ngày càng gay gắt, khủng hoảng kinh tế bột phát với sức tàn phá nặng nề. Mà cuộc khủng hoảng 1929-1933 là một minh chứng.

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN TÁC ĐỘNG KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ QUỐC LÝ – Vụ trưởng Vụ tài chính – tiền tệ, Bộ kế hoạch và đầu tư

Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ đã diễn ra ngày một sâu rộng trong các tháng qua và đã lan rộng ra khắp thế giới, đã có nhiều tác động không thuận đến các nền kinh tế, trong đó có nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, mức độ phạm vi ảnh hưởng chưa thể đánh giá và dự báo chính xác do tình hình khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đang tiếp tục diễn biến khó lường. Do vậy, trong bài báo này, bước đầu chúng tôi xin phân tích, đánh giá và đề xuất một số giải pháp ngăn chặn tác động khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới đến nền kinh tế nước ta trong thời gian tới.

I.  ĐIỂM LƯỢC TÌNH HÌNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ MỸ VÀ THẾ GIỚI TRONG THỜI GIAN QUA

Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đã có mầm mống khởi nguồn từ trước ngày 6/8/2007 khi Công ty Thế chấp nhà Mỹ (American Home Morgage) làm đơn xin phá sản. Tiếp theo sự khởi nguồn này là nhiều ngân hàng và công ty lâm vào khó khăn và bộc lộ rõ nét là sự sụp đổ và khó khăn của các ngân hàng và công ty tài chính lớn và nổi tiếng ở Mỹ (Wachovia, Washington Mutual Inc, Bear Sterns, Fannie Mae, Fredie Mac, Lehman Brothers, Merrill Lynch, Tâp đoàn bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIG), Goldman Sachs, Morgan Stanley…).

Bên cạnh sự sụp đổ của các tên tuổi lớn, hàng loạt các tổ chức tài chính khác cũng đã đổ theo với các khoản nợ có liên quan tới các vụ sụp đổ nói trên và sự giảm mạnh về giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Ngày 3/10, với 263 phiếu thuận và 171 phiếu chống Hạ viện Mỹ đã thông qua kế hoạch 700 tỷ USD nhằm giải cứu ngành tài chính nước này thoát khỏi khủng hoảng.

Mặc dù đã có rất nhiều biện pháp của Chính phủ Mỹ đã đưa ra nhưng đến đầu tháng 11 này, các cơ quan của Mỹ đã phải đóng của thêm một ngân hàng nữa là Freedom Bank đưa tổng số ngân hàng bị giải thể là 17 ngân hàng. Đến thời điểm hiện nay thì nhiều người dân Mỹ thi nhau xin phá sản, cụ thể là tháng 10/2008, cá nhân nộp đơn xin phá sản tăng 8% so với tháng trước (108.905 lượt người), tức là mỗi ngày có 4.936 đơn xin phá sản, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2007. Tại một số bang của Mỹ, tình hình người dân lâm vào phá sản rất cao, như tại bang Nevada, số đơn xin phá sản trong tháng 10/2008 tăng 70% so với cùng kỳ năm trước, bang California và Florida là 80% và 62%. Tóm lại nền kinh tế Mỹ hiện nay là khá trầm trọng và đã lây lan khủng hoảng này sang hầu khắp các nước trên thế giới.

Các thị trường chứng khoán trên thế giới đồng loạt sụt giảm mạnh trước diễn biến thị trường tài chính Mỹ. Đặc biệt, ngày 17/9, bất chấp nỗ lực giải cứu AIG, thị trường chứng khoán Mỹ đã có mức sụt giảm kỷ lục do đợt bán tháo cổ phiếu được coi là tồi tệ nhất kể từ sau sự kiện 11/9/2001. Continue reading

ĐIỀU KIỆN ĐỂ VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TRẦN VĂN THỌ

Kinh tế Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt. Những khó khăn hiện nay như lạm phát ở mức cao, cán cân thanh toán quốc tế và ngân sách thâm hụt nặng có thể được giải quyết tạm thời bằng một số biện pháp mạnh, bằng việc thực thi quyết liệt các biện pháp đó trước nguy cơ bất ổn xã hội. Nhưng ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề lâu dài hơn, đó là tính chất của giai đoạn phát triển sắp tới. Nếu chúng ta muốn giai đoạn sắp tới phải là giai đoạn tăng trưởng bền vững (sustained growth) thì hiện nay phải xây dựng những tiền đề về cơ chế, chính sách, chiến lược như thế nào? Tăng trưởng bền vững được thực hiện cũng có nghĩa là những biến động vĩ mô trầm trọng như hiện nay sẽ không xảy ra, do đó vấn đề sắp bàn cũng có liên quan đến những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện nay.

Từ thập niên 1980 ở Trung Quốc và Việt Nam và từ thập niên 1990 ở Đông Âu, các nền kinh tế kế hoạch tập trung từng bước chuyển sang kinh tế thị trường. Vào đầu thập niên 1990, chiến lược chuyển đổi và các biện pháp cụ thể được Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và nhiều chuyên gia Mỹ đúc kết thành ba nội dung chính: Tự do hóa (liberalization) các hoạt động kinh tế kể cả ngoại thương; giá cả, hối suất do thị trường tự do quyết định; ổn định hóa (stabilization) kinh tế vĩ mô, giảm chi tiêu Chính phủ; và tư nhân hóa (privatization) doanh nghiệp quốc doanh. Ba biện pháp này được khuyến khích tiến hành đồng loạt trong thời gian ngắn. Các nhà phân tích gọi đây là Đồng thuận Washington (Washington Consensus).

Continue reading

BỐN VẤN ĐỀ CĂN BẢN CỦA KINH TẾ VIỆT NAM

lgRestaurant-Economics Đầu tư Chứng khoán – Đánh giá mới đây của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với 4 vấn đề căn bản.Bất chấp tình hình kinh tế khó khăn, 9 tháng đầu năm 2008 đã có 43.954 doanh nghiệp (DN) đăng ký kinh doanh, tổng vốn đăng ký 335.601 tỷ đồng, tăng 26% về số DN và 27% số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007.

Đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng nhanh, trở thành nguồn tạo công ăn việc làm chủ yếu cho nền kinh tế, trong khi kinh tế nhà nước ngày càng giảm tỷ trọng trong GDP.

Đánh giá mới đây của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với 4 vấn đề căn bản.

Thứ nhất, mặc dù số lượng và vốn đầu tư của DN tăng đáng kể, song quy mô của DN vẫn còn nhỏ và tăng trưởng chậm. Theo thống kê của CIEM, Việt Nam hiện có tới 80% DN có vốn dưới 5 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô, CIEM cho hay, số DN có vốn từ 500 tỷ đồng trở lên chỉ có vài trăm, nên khi thống kê theo tỷ trọng, những DN này không xuất hiện trong bảng đánh giá.

Yếu về quy mô, những chỉ số khác đều cho thấy, DN Việt Nam còn phải phấn đấu nhiều, tăng trưởng tài sản DN đạt tốc độ trung bình 18,2%/năm, tăng trưởng vốn chủ sở hữu khiêm tốn hơn với 14,7%/năm, tăng trưởng về doanh thu đạt 17,5%/năm, còn tăng trưởng về lợi nhuận chỉ đạt 13%/năm.

Continue reading

SÁU ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

TUẤN VŨ

Mọi biến động về tiền tệ và ngân hàng luôn được người dân quan tâm. Sự kiện một loạt các định chế tài chính Mỹ sụp đổ như: Lehman Brothers phá sản; Merill Lynch sát nhập với Bank of America; AIG được bơm 85 tỷ USD để khỏi chung số phận với Lehman Brothers; hai công ty thế chấp hàng đầu Fannie Mae và Freddie Mac lâm nạn; Goldman Sachs, Morgan Stanley phải chuyển thành NH thương mại để tiếp cận các khoản vay của FED

Nguyên nhân sụp đổ của hệ thống tài chính xuất phát từ bong bóng của thị trường bất động sản xì hơi. Tiền được cho vay với lãi suất chỉ 2-3%/năm, trong khi giá bất động sản từ năm 2000 đến 2005 đã tăng đến 150%.

Vì vậy, dân chúng đổ xô đi vay tiền và đầu cơ nhà đất để kiếm lời và đến 2005 thì hoạt động liên quan đến bất động sản chiếm đến ½ GDP của Mỹ.

Nhà cửa mua bằng tiền vay được thế chấp tiếp tục để mua tiếp bất động sản khác và cứ như vậy, vòng xoay tín dụng có trường hợp đã đạt đến 30 lần, tạo ra một số tiền ảo cực lớn, gây lạm phát.

Chính phủ Mỹ phải đề xuất kế hoạch cả gói 700 tỷ USD để cứu thị trường tài chính nhưng theo một số chuyên gia thì phải có 1.500 tỷ USD mới có thể qua được cơn bão này.

Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, động thái cứu vãn bằng cách bơm tiền vẫn là động thái mờ mịt. Bởi, tung tiền ra thì sẽ gây lạm phát với các rủi ro rất lớn, nhưng nếu không tung tiền ra để cứu thị trường tài chính thì thị trường sẽ sụp đổ, người dân đổ xô đi rút tiền, doanh nghiệp tê liệt và rối loạn xã hội. Khó có thể nói rủi ro nào là cao hơn.

Continue reading

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

PGS.TS. QUÁCH ĐỨC PHÁP – Viện trưởng Viện khoa học Tài chính

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát là bài toán luôn thường trực trên bàn nghị sự của các Chính phủ nhưng cũng khó giải nhất đối với tất cả các nền kinh tế, kể cả nền kinh tế thị trường phát triển. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

Ở quốc gia nào cũng vậy, mục tiêu kinh tế hàng đầu là đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và liên tục nhằm phù hợp với xu thế kinh tế thế giới và đáp ứng yêu cầu nội tại của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc lựa chọn con đường tăng trưởng lại cực kỳ khó khăn. Thực tế khó có thể phát triển nhanh, mà giữ vững được trong dài hạn, vì bản thân tăng trưởng kinh tế nhanh thường chứa đựng nhiều nhân tố gây mất cân đối, thậm chí dẫn tới khủng hoảng. Nổi bật nhất là hiện tượng tăng trưởng quá nóng, lạm phát tăng và không phải quốc gia nào cũng tìm được cách “hạ nhiệt” an toàn. Trung Quốc cũng đã nhiều lần tìm các giải pháp để hạ nhiệt nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, có lúc lên tới hai con số. Bên cạnh đó, tính chu kỳ của nền kinh tế không chừa bất kỳ quốc gia nào, ngay cả đối với những nền kinh tế được gọi là “thần kỳ”.

Nền kinh tế nước ta mới chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy thời gian chưa nhiều, đủ để phát hiện và khảo sát tính chu kỳ của nền kinh tế, song những biểu hiện của nó đã xuất hiện tương đối rõ. Kể từ năm 1986 đến nay, tăng trưởng kinh tế đã trải qua 4 giai đoạn thăng trầm: năm 1986 – 1991 chỉ tăng trưởng 4,7%/năm; năm 1992 – 1997 tăng trưởng tới 8,7%/năm mà đỉnh cao là năm 1995 với GDP tăng 9,5%; năm 1998 – 2001 lại hạ xuống còn khoảng 6%/năm và năm 2002 – 2005 phục hồi với trên 7,6%/năm.

Continue reading

ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN DIỆN MỨC ĐỘ TỰ DO KINH TẾ Ở VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN NGỌC THƠ

Chỉ số xếp hạng tự do kinh tế đã đánh giá nền kinh tế VN là hầu như không có tự do kinh tế (điểm xếp hạng từ 3 đến 3,99 trên 5 điểm được xem là hầu như không có tự do kinh tế). Điều đáng ngại hơn nữa là nếu so sánh với các nước trong khu vực thì môi trường tự do kinh tế của VN hiện đang đứng ở vị thế thấp nhất và thua xa so với Campuchia, một quốc gia chỉ mới là thành viên của WTO trong vài năm gần đây và được xếp hạng có môi trường tự do hóa kinh tế ở mức cao.

Một chuyện có thật xảy ra ở Trung Quốc vào khoảng năm 1920, một ông khách Tây tới thăm phố Hàng Châu và khen ngợi những người phu kiệu cho ông mặc dù còn đang rất mỏi mệt vẫn cười đùa ầm ĩ. Ông cho rằng những người phu khiêng kiệu rất lạc quan và biết cách sống. Đã có rất nhiều những đánh giá khác nhau từ câu chuyện này. 

Người nước ngoài đi đến đâu cũng vậy, cứ ban phát vô tư những lời khen tặng bởi họ có mất mát gì đâu cho nên cười theo kiểu như thế là vô cảm và vô trách nhiệm, không thấy được nỗi nhục của sự tụt hậu. Người thì cho rằng cần phải lạc quan và yêu đời để vượt qua những thách thức của cuộc sống. Nhưng có trách nhiệm hơn cả, có lẽ là một thái độ nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm khắc hơn nữa về những gì mà chúng ta vẫn còn chưa làm được. 

Liên hệ với VN, dễ thấy rằng hễ có bất kỳ một khách ngoại quốc nào khen tặng những thành tựu kinh tế của chúng ta trong thời gian qua thì y như rằng hầu hết các phương tiện truyền thông đều đưa lên những hàng tít lớn. Khó có thể bình luận thực hư gì về những nhận xét kiểu như thế này bởi trong những lời khen tặng đó có những câu chuyện có thực, cũng có những điều mang tính ngoại giao.

Continue reading

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH PHỤC VỤ VIỆC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN

TS. ĐINH VĂN ÂN – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Đại hội lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định phải sớm “cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước…; tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCH”; coi đó là những nội dung đổi mới và nhiệm vụ chính trị quan trọng trong thời gian tới.

Nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 ban hành Chương trình Tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010, và mới đây là Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 6/2/2006 phê duyệt đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 – 2010, xác định cải cách hành chính là một trong 3 nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu năm 2007 và giai đoạn 2007 – 2010.

Để góp phần thực hiện những nhiệm vụ chính trị và chương trình cải cách nêu trên, bài viết này sẽ tập trung phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến cải cách hành chính ở Việt Nam có tham khảo kinh nghiệm một số nước. Nội dung chính của bài viết bao gồm 5 nhóm vấn đề và đây là cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp nhằm hướng công cuộc cải cách hành chính phục vụ tốt nhất cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.

Continue reading

HƯỚNG TỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

LÊ XUÂN ĐÌNH

Các tài liệu nghiên cứu gần đây đã đề cập nhiều đến nội dung, bước đi và yêu cầu thời đại của quá trình công nghiệp hóa đất nước. Riêng vấn đề phát triển nền kinh tế thị trường, thì hiện đại hóa, hay nói cách khác hướng tới nền kinh tế thị trường hiện đại là như thế nào, và cần khai thác những đặc điểm tương đồng gì giữa việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc hiện đại hóa thị trường Việt Nam, vẫn còn ít được đề cập.

1 – Hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường hiện đại

Hiện đại hóa (modelisation) đã được tiếp cận rất khác nhau qua các giai đoạn phát triển của lịch sử. Hiểu theo nghĩa rộng và phổ biến nhất hiện nay, hiện đại hóa là quá trình giải phóng sức sản xuất, giải phóng con người khỏi nghèo nàn, lạc hậu, áp bức, bất công, là sự phát triển nhằm thỏa mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu đa dạng của con người, bảo đảm sự phát triển toàn diện các cá nhân, là sự phát triển của xã hội, sự giàu mạnh và thịnh vượng của quốc gia. Theo cách tiếp cận đó, khái niệm hiện đại hóa bao hàm một nội dung rất rộng lớn, thể hiện toàn bộ mục tiêu phát triển của nền kinh tế – xã hội, trong đó công nghiệp hóa là phương tiện, công cụ của hiện đại hóa và cũng là nội dung cơ bản của hiện đại hóa.

Hiện đại hóa đã được sử dụng khá rộng rãi trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ từ rất lâu. Hiện đại hóa nền kinh tế – xã hội đã xuất hiện như một phạm trù triết học ở châu Âu vào cuối những năm 50 đầu những năm 60(1)của thế kỷ XX.

Continue reading

ĐƯỜNG LỐI CẢI CÁCH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

TS. NGUYỄN HỒNG OANH

Bằng một loạt những quyết định giải quyết những vụ tham nhũng lớn gần đây, Chính phủ đã nhận được sự cổ vũ và ủng hộ của nhân dân và thế giới về quyết tâm làm trong sạch bộ máy và đẩy mạnh cải cách để đưa dân tộc thoát khỏi sự kìm kẹp của đói nghèo và lạc hậu. Nhìn lại hai thập kỷ đã qua kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, có thể thấy VN hiện thuộc nhóm những quốc gia đang có đà tăng trưởng cao trong khu vực (khoảng 7,2%/năm) chỉ sau Trung Quốc (9.2%/năm) [1].

Chính sách ngoại giao ôn hoà, hợp tác, cùng với nỗ lực tham gia ASEAN, APEC, WTO và thu hút đầu tư nước ngoài đã cải thiện đáng kể uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Bên cạnh đó VN cũng được coi là một nước khá thành công trong xoá đói giảm nghèo và hạn chế những tác động tiêu cực do phát triển kinh tế gây ra trong thời kỳ quá độ. Tuy đã đạt được khá nhiều thành công, VN vẫn phải đối mặt với những thách thức rất lớn phía trước.  Cho đến nay VN vẫn chỉ được coi là một nước nghèo với thu nhập bình quân đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực (Biểu 1).  Tỉ lệ nghèo hiện nay vẫn còn khoảng trên 20% nghĩa là cứ 5 hộ thì có một hộ nghèo [2].  Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2004-2005, chỉ số cạnh tranh phát triển của VN bị tụt 4 hạng, xếp thứ 81 trên 117 quốc gia [3].   Điều này cho thấy trong khi những tác dụng của chính sách đổi mới trước đây đã đi vào ổn định, VN đứng trước nguy cơ có thể bị tụt hậu nếu không tiếp tục đẩy mạnh tiến trình cải cách.  Bài viết dưới đây chia sẻ một số ý kiến bàn luận về cải cách kinh tế của đất nước trong điều kiện hiện tại.

Continue reading

SÁU ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

TUẤN VŨ – BỘ CÔNG THƯƠNG

Mọi biến động về tiền tệ và ngân hàng luôn được người dân quan tâm. Sự kiện một loạt các định chế tài chính Mỹ sụp đổ như: Lehman Brothers phá sản; Merill Lynch sát nhập với Bank of America; AIG được bơm 85 tỷ USD để khỏi chung số phận với Lehman Brothers; hai công ty thế chấp hàng đầu Fannie Mae và Freddie Mac lâm nạn; Goldman Sachs, Morgan Stanley phải chuyển thành NH thương mại để tiếp cận các khoản vay của FED.

Nguyên nhân sụp đổ của hệ thống tài chính xuất phát từ bong bóng của thị trường bất động sản xì hơi. Tiền được cho vay với lãi suất chỉ 2-3%/năm, trong khi giá bất động sản từ năm 2000 đến 2005 đã tăng đến 150%.

Vì vậy, dân chúng đổ xô đi vay tiền và đầu cơ nhà đất để kiếm lời và đến 2005 thì hoạt động liên quan đến bất động sản chiếm đến ½ GDP của Mỹ.

Nhà cửa mua bằng tiền vay được thế chấp tiếp tục để mua tiếp bất động sản khác và cứ như vậy, vòng xoay tín dụng có trường hợp đã đạt đến 30 lần, tạo ra một số tiền ảo cực lớn, gây lạm phát.

Chính phủ Mỹ phải đề xuất kế hoạch cả gói 700 tỷ USD để cứu thị trường tài chính nhưng theo một số chuyên gia thì phải có 1.500 tỷ USD mới có thể qua được cơn bão này.

Continue reading