TÁC ĐỘNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

THS. HOÀNG THÚY YẾN

Sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là một việc mới mẻ. Kết quả hồi quy sử dụng dữ liệu mảng của 64 tỉnh từ năm 1999-2003, cho thấy bất bình đẳng có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế thông qua cả hai kênh trực tiếp và gián tiếp. Giải pháp gì nhằm giải quyết hữu hiệu mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế, đó là nội dung chính của bài viết dưới đây.

Theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn và có tăng trưởng nhanh hơn. Tuy nhiên, có nhiều lý do cho thấy sự phân phối thu nhập bình đẳng hơn ở các nước nghèo như Việt Nam có thể có lợi cho tăng trưởng. Do đó, việc đánh giá đúng đắn tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam sẽ giúp cho các nhà quản lý đưa ra các chính sách thích hợp để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Mặc dù, đã có một số nghiên cứu về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế, song nghiên cứu này tập trung chủ yếu về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế sử dụng dữ liệu mảng nhằm làm tăng độ chính xác và bộ số liệu cập nhật theo thời gian nhằm khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu trước. Hơn nữa, nghiên cứu này có thể được xem là một nghiên cứu thực chứng nhằm góp phần tìm ra các tác động bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế.

1. Tác động trực tiếp của Bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng

Sử dụng mô hình toán với phương pháp hai giai đoạn (2SLS), kết quả hồi quy cho thấy bất bình đẳng thu nhập và đầu tư có tác động tương đối rõ nét đến tăng trưởng kinh tế. ở đây, chúng ta sử dụng biến HDI99 (giá trị HDI năm gốc) để làm biến giải thích cho biến INEQUALITY99 mô hình 2SLS (instrument variable) – mà cụ thể là HDI99 được giả định không tương quan với các đại lượng ngẫu nhiên (tức ei trong biểu thức (1)). Trong đó, tăng trưởng kinh tế (REALGROWTH) phụ thuộc vào bất bình đẳng (INEQUALITY99), giáo dục (EDU-sử dụng tỷ lệ tốt nghiệp cấp 2 làm biến đại diện) và biến tương tác INVEST_GDP (Đầu tư và GDP) cho kết quả hồi quy như sau:

REALGROWTH= -15.3808 + 1.062 * INEQUALITY99 + 0.145503 * INVEST_GDP + 0.1124 * EDUC

Từ phương trình hồi quy trên ta nhận thấy, nếu bất bình đẳng thu nhập tăng 1 đơn vị (nghĩa là chênh lệch giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất tăng thêm 1 lần) thì tăng trưởng kinh tế sẽ tăng thêm 1.06 điểm phần trăm với điều kiện các yếu tố khác không đổi và với mức ý nghĩa có thể chấp nhận được là 5%;

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TS. ĐINH VĂN ÂN – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương

Nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vừa tròn 2 năm. Đây là quãng thời gian chưa đủ dài để có thể đánh giá và nhìn nhận đầy đủ tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam. Hơn nữa thời điểm trở thành thành viên của WTO không phải là điểm bắt đầu và kết thúc của quá trình hội nhập của Việt Nam. Đồng thời với việc gia nhập WTO, nước ta cũng đã và đang tham gia nhiều hiệp định tự do thương mại khu vực với mức độ mở cửa thậm chí còn cao hơn cam kết trong WTO (như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); các khu vực mậu dịch tự do ASEAN + 1).

Những khác biệt trong cam kết giữa các hiệp định thương mại có thể tạo ra hiệu ứng thương mại và đầu tư khác nhau. Ngoài ra, từ đầu năm 2007 đến nay, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam còn chịu nhiều tương tác giữa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác. Biến động phức tạp của nền kinh tế toàn cầu (giá dầu, giá lương thực leo thang và đặc biệt là khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế của Hoa Kỳ) cũng làm cho việc đánh giá tác động này đối với nền kinh tế trở nên khó khăn hơn.

Tuy nhiên, thực tế diễn biến của các chỉ số kinh tế – xã hội năm 2007 – 2008 có thể bước đầu giúp nhìn nhận tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của việc gia nhập WTO. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 5-2-2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO” cũng đã chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế khi nước ta gia nhập WTO. Những nhận định đó cùng với các kết quả nghiên cứu về tác động của quá trình tự do hóa thương mại và hội nhập chính là “điểm xuất phát” cho việc đánh giá tác động gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam (1).

Điều rõ ràng là thời gian 2 năm qua đã để lại những dấu ấn đáng ghi nhớ, không chỉ với nhiều chỉ số thống kê khác biệt đáng kể so với những năm trước, mà còn với cả những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh hay chưa lường hết. Dưới đây là những kết quả chủ yếu sau 2 năm Việt Nam gia nhập WTO trên các khía cạnh: thương mại, đầu tư, tăng trưởng kinh tế; ổn định kinh tế vĩ mô (lạm phát, cán cân thanh toán quốc tế, thu ngân sách, sự ổn định hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính), xã hội và thể chế kinh tế. Qua đó, chúng ta không chỉ đánh giá đúng mình hơn, mà còn có thể rút ra được nhiều bài học có ý nghĩa cho công tác hoạch định chính sách.

1 – Những kết quả chủ yếu

Về thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế:

– Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 và 2008 tương ứng đạt 48,6 tỉ và 62,9 tỉ USD, tăng tương ứng 21,9% và 29,5%; riêng năm 2008, nếu loại trừ trị giá tái xuất sắt thép, vàng và yếu tố tăng giá thì xuất khẩu hàng hóa chỉ tăng 13,5%. Như vậy có thể nói, xuất khẩu vẫn chưa thể hiện mức độ bứt phá so với các năm trước.

Continue reading

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ĐỂ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

TS. NGUYỄN LÊ TRUNG – THS. LÊ QUANG MẠNH

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng. Sự phát triển của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Cho đến nay, chúng ta đã thu hút được một số lượng lớn các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp nhà nước cũng đạt được rất nhiều kết quả trong quá trình tái cơ cấu, chuyển đổi loại hình hoạt động, khu vực doanh nghiệp dân doanh không ngừng mở rộng và phát triển vượt bậc, hệ thống hợp tác xã đang dần được

Le propionate de drostanolone est un acide gras essentiel que le corps ne peut pas produire seul et souvent absent des régimes modernes, mais essentiel au développement du cerveau, à la santé oculaire et au fonctionnement cardiaque. En tant que réducteur de l’inflammation, les oméga-3 sont bénéfiques Masteron 10 ampoules (200 mg / ml) en ligne pour les tissus articulaires. Formule entièrement naturelle, une fois par jour pour améliorer la paix intérieure et la tranquillité. Des études montrent une réduction significative de l’anxiété, de la dépression et des problèmes d’attention pendant l’enfance. Atteignez un état d’attention calme.

củng cố. Tính đến hết năm 2007, cả nước có hơn 300 ngàn doanh nghiệp, bao gồm: 290.000 công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, khoảng 3.000 doanh nghiệp nhà nước, 7.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 16.000ahợp tác xã.

Có được kết quả đó, một nhân tố vô cùng quan trọng là sự quyết tâm, nỗ lực của Đảng, Nhà nước ta trong việc nghiên cứu, ban hành và triển khai hiệu quả vào thực tế cuộc sống những cơ chế, chính sách để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp theo hướng khuyến khích mọi thành phần kinh tế cùng phát triển.

Những kết quả tích cực

Kể từ năm 2000 đến nay, việc cải thiện môi trường kinh doanh đã đạt được nhiều kết quả, thể hiện trên một số mặt cơ bản như sau:

Một là, hệ thống pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp Việt Nam tương đối đầy đủ và tạo lập được khung quản trị doanh nghiệp cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Từ chỗ chủ yếu chỉ tạo khung khổ cho việc quản lý và vận hành một loại hình doanh nghiệp duy nhất là doanh nghiệp nhà nước, đến nay đã hình thành một hệ thống pháp luật cho hoạt động của mọi loại hình doanh nghiệp khác nhau.

Khi xây dựng và ban hành, mục tiêu cơ bản của hệ thống pháp luật doanh nghiệp đều hướng tới việc tạo lập và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường trong đó mọi loại hình doanh nghiệp đều được bảo đảm quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và bình đẳng trước pháp luật; huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp.

Pháp luật về doanh nghiệp đã ghi nhận các quyền cơ bản của doanh nghiệp và thiết chế được khung quản trị doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu cơ bản của kinh tế thị trường. Đó là: quyền tự do kinh doanh; quyền được tự chủ, tự quyết định các công việc của mình; quyền được bình đẳng trước pháp luật. Đồng thời, bước đầu tạo lập được khung quản trị doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu cơ bản của kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế nhằm tạo động lực và tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp trước pháp luật.

Continue reading

KINH TẾ TẬP THỂ GÓP PHẦN HƯỚNG TỚI XÃ HỘI HỢP TÁC CÙNG PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN MINH TÚ

Với nền tảng tư tưởng hợp tác và phong trào HTX gần 200 năm qua, Kinh tế tập thể (KTTT) đã trở thành một loại hình tổ chức phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội to lớn đối với từng quốc gia. Không những thế, KTTT còn trở thành phong trào quốc tế sâu rộng, liên kết trong tổ chức Liên minh HTX quốc tế (ICA- International Cooperative Allien). Đối với nước ta, phát triển KTTT là một tất yếu khách quan trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội và củng cố nền quốc phòng – an ninh đất nước, là chủ trương lớn, nhất quán và xuyên suốt của Đảng trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

VỊ TRÍ CỦA KTTT TRONG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Về kinh tế: KTTT đóng góp quan trọng cho GDP của cả nước trên hai kênh: trực tiếp và gián tiếp thông qua việc nâng cao hiệu quả của kinh tế thành viên hợp tổ chức KTTT. KTTT chiếm bình quân gần 8,28% GDP (1995-2006), trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân (bao gồm các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp) chiếm bình quân 7,92%, khu vực kinh tế nhà nước chiếm bình quân 39,06%, khu vực kinh tế cá thể chiếm bình quân 31,93% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm bình quân 12,36% trong cùng thời kỳ.

Kinh tế thành viên tổ chức KTTT là bộ phận hữu cơ của KTTT, thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực nông nghiệp, hiện đang được thống kê vào khu vực kinh tế cá thể, cùng với KTTT ước tính chiếm trên 15% trong GDP.

Về xã hội: KTTT tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập cho thành viên và người lao động, cung cấp hàng hoá và dịch vụ xã hội. Hiện có khoảng 14 triệu người, trong đó khu vực HTX khoảng 10,5 triệu lao động, tổ hợp tác khoảng 3,5 triệu lao động. Lao động khu vực KTTT tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông lâm thuỷ sản, chiếm tới 96% tổng số lao động.

Thông qua việc đạt được lợi ích chung về kinh tế, thành viên tổ chức KTTT tăng thu nhập, gắn kết hơn với nhau, mở rộng các sinh hoạt cộng đồng, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, cải thiện đời sống văn hoá.

Về chính trị- văn hoá: KTTT hướng tới phát huy vai trò trong phát triển tinh thần “hợp tác”, cộng đồng, từng bước hiện thức hoá các giá trị đạo đức cao đẹp và các nguyên tắc HTX; nâng cao trách nhiệm xã hội của từng công dân cũng như của cộng đồng; tạo điều kiện cho cộng đồng ngày càng ổn định và gắn kết với nhau hơn. Thông qua tổ chức KTTT, thành viên của cộng đồng có thể cùng nhau giải quyết các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của họ, góp phần giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ dân cư, củng cố an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhất là ở các vùng nông thôn, miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc.

Continue reading

BÀN LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ GIA CÔNG Ở VIỆT NAM

1. GÁNH NẶNG CỦA NỀN KINH TẾ GIA CÔNG

Ts. Vũ Quang Việt

Cần nhìn nhận lại thực chất của nền kinh tế tăng trưởng nhờ xuất khẩu của ta. Cái đạt được hiện nay có thể gọi là một nền kinh tế gia công, khác hẳn nền kinh tế công xưởng của Trung Quốc. Và cần phải thoát khỏi nó.

    Tăng trưởng tùy thuộc xuất khẩu

    Trong một bài viết ngày 8/2/2009, tôi cho rằng GDP Việt Nam năm 2009 chắc chỉ tăng 3-4%. Đấy là dựa trên dự đoán về xuất khẩu giảm 15%, sau khi theo dõi tỷ suất xuất khẩu giảm mạnh khoảng 25% cho toàn khu vực châu Á. Sau đó đầu tháng tư Tổng cục Thống kê công bố GDP quí I chỉ tăng 3,1%. Điều này phù hợp với cái nhìn của tôi.

    Thống kê xuất khẩu quí I, sau khi loại giá trị xuất khẩu vàng, cũng cho thấy xuất khẩu Việt Nam giảm 15%. Khi tính lại tương đối cẩn thận hơn trong bài viết mới đăng trên Kinh tế Sài Gòn, nếu xuất khẩu giảm 15% (tính theo giá cố định) cả năm, thì GDP Việt Nam khó tăng hơn 3-4%.

    Nhóm kinh tế gia của Thời báo Economist cho rằng GDP không tăng năm 2009 vì họ dự đoán xuất khẩu giảm 30%. IMF dự báo GDP Việt Nam tăng 4,8% vì cho rằng xuất khẩu giảm 15% (tính theo giá hiện tại), tức là giảm ít hơn 15% tính theo giá cố định. Điều này nói lên rằng dự báo tăng trưởng tùy thuộc rất nhiều vào dự báo xuất khẩu.

    Do nền kinh tế quá phụ thuộc vào xuất khẩu, (xuất khẩu bằng 70% GDP), tệ hơn nó còn phụ thuộc vào nhập khẩu ở mức độ cao hơn, lên tới hơn 90% GDP, nên khả năng tăng xuất khẩu là yếu tố quyết định tốc độ tăng GDP.

    Điều đáng quan tâm không chỉ là tỷ lệ tăng GDP, thậm chí nó chưa phải là điều đáng lo bằng tỷ lệ nhập siêu ngày càng tăng “chóng mặt”. Đây chính là một trong những chỉ số nói lên rằng nền kinh tế ta hoàn toàn không bền vững. Tỷ lệ nhập siêu ở mức trên 5% đã là tỷ lệ báo động. Nhưng ở Việt Nam tỷ lệ này đã ở mức 25%.

Tỷ lệ nhập siêu so với GDP

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
-2% -2% -5% -8% -8% -5% -5% -13% -25%

    Chạy theo tăng trưởng

    Cái may là cuộc khủng hoảng năm 2008 do chính sách chạy theo chỉ số tăng GDP tạo ra và bây giờ là khủng hoảng kinh tế thế giới đã khiến chính phủ phải tạm đình lại chính sách chạy theo chỉ tiêu này.

    Đình lại để đánh giá một cách rốt ráo về chính sách trong quá khứ, để xem xét thấu đáo về chính sách cho tương lai có phải là điều đang được thực hiện không thì tôi không thể biết. Rõ ràng, ít nhất từ năm 2002 ta sống khá vì dòng vốn nước ngoài đổ vào. Càng quyết chạy theo chỉ tiêu tăng GDP cao càng đẩy nền kinh tế lún vào nhập siêu.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

GS.TS. PHẠM NGỌC QUANG – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Phát huy vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chính là cách thiết thực góp phần bảo đảm công bằng xã hội, vì sự phát triển dân chủ, văn minh của đất nước, song vẫn giữ được bản sắc chính trị – xã hội của dân tộc trong thời kỳ hội nhập toàn cầu.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những vấn đề căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam hiện nay. Không phải đến khi khủng hoảng tiền tệ xuất phát từ Mỹ năm 2008 gây ảnh hưởng lan tỏa ra hầu khắp thế giới như hiện nay, cùng những giải pháp cơ bản mà các nước đang sử dụng với hy vọng ngăn ngừa những kết cục bi thảm về mặt kinh tế – xã hội do khủng hoảng đó gây ra, chúng ta mới thấy tính phi lý của cái gọi là “thị trường tự do”, “bàn tay vô hình”. Từ rất sớm, chúng ta đã khẳng định, nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước. Kiên trì tư tưởng đó, tại Đại hội X, Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải “bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”(1).

Ở Việt Nam hiện nay, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn xuất phát từ tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bài viết này chỉ tập trung vào khía cạnh thứ hai vừa nêu.

Thị trường, kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người trong sản xuất, trao đổi và tiêu dùng, nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội, của thể chế chính trị mà nền kinh tế đó tồn tại. Với mức độ đáng kể, sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay bị chi phối và nhằm phục vụ cho định hướng xã hội chủ nghĩa. Đương nhiên, nhân tố sâu xa bảo đảm định hướng chính trị đối với kinh tế là đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền. Song, để đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế, chúng phải được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và được triển khai bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, dưới sự quản lý của Nhà nước do Đảng lãnh đạo. Xét từ giác độ đó, Nhà nước có tác động trực tiếp nhất tới việc định hướng sự vận động của kinh tế thị trường. Pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước chỉ đúng, khi chúng phản ánh chính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường, lấy quy luật thị trường làm cơ sở. Xét ở mặt này, chúng mang tính khách quan. Nhưng chúng lại là sự thể chế hóa, cụ thể hóa mục tiêu chính trị của Đảng, nên cũng có mặt chủ quan. Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, định hướng chủ quan (ý chí của Đảng, của Nhà nước và nhân dân ta) là ở chỗ, cùng với việc bảo đảm lợi ích hợp lý của doanh nhân, thì việc ưu tiên bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là một vấn đề có tính nguyên tắc. Nhà nước có cơ chế, chính sách để bảo đảm sự ưu tiên đó, thể hiện ở cả ba lĩnh vực kinh tế cơ bản sau:

Continue reading

MỘT SỐ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI

TAPCHIKETOAN – Tham gia hội nhập kinh tế thế giới mở ra những cơ hội tăng trưởng kinh tế cho nước ta. Việc trở thành thành viên WTO sẽ tạo ra các công cụ để nâng cao lợi ích kinh tế của các nước thành viên thông qua việc tham gia vào các cuộc đàm phán thương mại đa biên. Tuy nhiên không ít thách thức đối với tăng trưởng kinh tế khi VN hội nhập kinh tế thế giới. Những thách thức đó đe dọa sự phát triển cao và bền vững nền kinh tế.

Trong những năm qua VN có nỗ lực lớn trong tăng trưởng kinh tế, GDP thời kỳ 1991-2000 đã tăng bình quân hàng năm là 7,4%, thời kỳ 2001-2003 tăng 7,1%, năm 2002 – 7%, có tốc độ tăng trưởng cao đứng thứ 2 sau Trung Quốc. Nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá, từ 1986 đến nay, tăng trưởng trung bình 5,5%. So với một số nước Indonesia 2,3%, Philippines 2,6%, Thái Lan 1,9%, Malaysia 3,2%. Từ 2001-2003, nông nghiệp VN tăng bình quân 5%. Công nghiệp tăng bình quân trong 10 năm qua 12,8-13%, 2001-2003 tăng 14,6%.

Tham gia hội nhập kinh tế thế giới mở ra những cơ hội tăng trưởng kinh tế cho nước ta. Việc trở thành thành viên WTO sẽ tạo ra các công cụ để nâng cao lợi ích kinh tế của các nước thành viên thông qua việc tham gia vào các cuộc đàm phán thương mại đa biên.

Tuy nhiên không ít thách thức đối với tăng trưởng kinh tế khi VN hội nhập kinh tế thế giới. Những thách thức đó đe dọa sự phát triển cao và bền vững nền kinh tế. Sau đây là một số thách thức :

Thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng giảm (Bài viết vào thời điểm năm 2006)

Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài đang diễn ra quyết liệt giữa nước ta với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là các nước khu vực Đông Nam Á có một số mặt lợi thế hơn ta. Thực vậy với số dân tương đồng với VN, tỉnh Quảng Đông thu hút đầu tư từ Nhật nhiều hơn gấp đôi, khoảng 20 tỷ yên. Năm 2001 VN thu hút số vốn đầu tư từ Nhật chỉ bằng 1/33 của Trung Quốc, 1/12 của Thái Lan, bằng 1/5 cuả Malaysia hoặc Indonesia. Trong những năm qua đầu tư trực tiếp nước ngoài vào VN giảm, giai đoạn 1991-1995 vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, giai đoạn 1996-2000 chiếm 24%, hai năm 2001-2002 chỉ chiếm hơn 18,5% và có hiện tượng công ty đầu tư nước ngoài chuyển sang Trung Quốc. Theo dự báo làn sóng đầu tư của Mỹ vào khu vực Đông Nam Á sẽ tăng mạnh trong những năm sau 2004 do ổn định chính trị và cam kết cải cách rõ ràng. Song dòng vốn đầu tư của Mỹ không chảy đều vào các quốc gia ĐNA mà đích nhắm tới là những nước như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Philippines. Khi hàng rào quan thuế của các nước ASEAN bị bãi bỏ, các công ty đa quốc gia sẽ tập trung sản xuất tại những nước có phí tổn thấp nhất trong khu vực AFTA. Thách thức của VN là làm sao “giữ chân” các cơ sở hiện có của các công ty đa quốc gia và tạo cơ hội để các công ty đa quốc gia đầu tư vào nước ta. Theo đại sứ Nhật tại nước ta, trên thế giới đang có một cuộc cạnh tranh rất khốc liệt và Việt Nam cần phải nhìn nhận rằng môi trường đầu tư của ta chưa hấp dẫn. 

Đã đến lúc chúng ta cần xây dựng môi trường đầu tư thực sự thông thoáng, phải tăng thu hút FDI về mặt chất lượng, ưu đãi đối với những lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao, những lĩnh vực sản xuất tư liệu sản xuất, các ngành hỗ trợ và liên quan để đảm bảo sản xuất hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong hội nhập kinh tế quốc tế.

VN trở thành thị trường tiêu thụ hàng nước ngoài

Nhiều công trình khoa học cho thấy việc mở cửa thương mại nhiều hơn đã dẫn đến tốc độ tăng trưởng dài hạn cao hơn, loại bỏ sự mất cân đối, nhờ đó mà nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Những nước mất cân đối thương mại cao có mức tăng năng suất thấp hơn so với những nước mất cân đối thương mại ít hơn.

Continue reading

KINH TẾ VIỆT NAM TRƯỚC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

TS. NGUYỄN VĂN TẠO – Trường BDCB Tài chính, Bộ Tài chính

I. Đánh giá tác động của khủng hoảng tài chính tòan cầu đến Việt Nam

1. Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta chậm lại. Kế hoạch đầu năm 2008, tăng trưởng GDP dự kiến từ 8,5 – 9%. Tháng 5 năm 2008 Quốc hội đã điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng GDP xuống 7%, nhưng đến tháng 10 năm 2008 tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế là 6,52%, dự kiến năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ từ 6,5 đến 6,7%.

2. Đối với hệ thống tài chính – ngân hàng

Mặc dù hiện tại hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam chưa chịu tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vì hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của hội nhập; nhưng trước mắt sẽ có những hạn chế trên một số lĩnh vực như:

– Mức độ liên thông giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam với thị trường tài chính bên ngoài và với ngân hàng Mỹ sẽ gặp khó khăn;

Trong ngắn hạn, do tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính, lợi nhuận của nhiều ngân hàng có thể giảm, thậm chí một số ngân hàng nhỏ có thể thua lỗ; nợ xấu tăng lên; nên hệ thống ngân hàng tài chính Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng trong một vài năm;

– Khả năng giao dịch ngân hàng, tài chính quốc tế sẽ giảm, ảnh hưởng đến nợ vay ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng và doanh nghiệp.

3. Đối với hoạt động xuất khẩu

Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam chiếm khoảng 20-21% kim ngạch xuất khẩu. Khủng hoảng tài chính đã tác động đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ do cầu tiêu dùng tại thị trường Mỹ đang trên đà giảm mạnh. Việc suy giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của ViệtNam trong năm 2008 và cả năm 2009 (nếu nền kinh tế Mỹ chưa có dấu hiệu phục hồi). Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn tuỳ thuộc vào tính chất của từng mặt hàng.

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP KÍCH CẦU NHẰM CHỐNG SUY GIẢM VÀ ỔN ĐỊNH VĨ MÔ NỀN KINH TẾ

VÕ HỒNG PHÚC – Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trong năm 2008, với việc thực hiện có kết quả 8 nhóm giải pháp của Chính phủ, lạm phát đã được kiềm chế, kinh tế vĩ mô cơ bản giữ được ổn định, an sinh xã hội được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6,23%. Đạt được kết quả trên là do có chủ trương đúng đắn của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, sự giám sát có hiệu quả của Quốc hội, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Từ tháng 10-2008 đến nay, tình hình kinh tế thế giới diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kinh tế nước ta, làm cho sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu giảm sút, ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm và đời sống nhân dân.

Trước tình hình khủng hoảng tài chính thế giới, Chính phủ xác định phải tập trung điều hành thực hiện mục tiêu tổng quát và các giải pháp của kế hoạch năm 2009 mà Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư đã thông qua, trong đó nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách là phải tập trung mọi nỗ lực để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009.

Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách nói trên, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11-12-2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội với 5 nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; (2) Thực hiện các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng; (3) Chính sách tài chính và tiền tệ; (4) Bảo đảm an sinh xã hội; (5) Tăng cường công tác điều hành, tổ chức thực hiện chính sách.

Để triển khai thực hiện nhanh, kịp thời, đồng bộ và có hiệu quả các nhóm giải pháp trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 12/2009/QĐ-TTg ngày 19-01-2009 phân công cụ thể từng nội dung công việc cho các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện.

Mặc dù trong thời gian ngắn nhưng các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước đã khẩn trương triển khai thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP của Chính phủ theo từng nội dung công việc được phân công tại Quyết định số 12/2009/QĐ-TTg ngày 19-01-2009. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện ngay chủ trương, nhiệm vụ, các giải pháp nêu trong Nghị quyết và có chương trình hành động thiết thực để đạt được những kết quả cụ thể.

Tình hình triển khai thực hiện các giải pháp chống suy giảm và ổn định vĩ mô nền kinh tế

1- Về chính sách tài chính tiền tệ

Chính phủ đã cho phép giảm, giãn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của quý IV năm 2008 và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2009 để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm, thuỷ sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử. Đây là khối doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động và chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu.

Continue reading

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CÁC THỂ CHẾ KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TS. TRƯƠNG CÔNG HÙNG – Giám đốc Dự án quốc gia Hỗ trợ thể chế cho Việt Nam của Quốc hội

Nhằm góp phần làm sâu sắc hơn các định hướng chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư của chúng ta trong bối cảnh quốc tế hiện nay, chúng tôi xin đưa ra một số đánh giá, phân tích về kinh nghiệm có tính chất tham khảo từ một số nền kinh tế của các nước, đã từng trải qua quá trình điều chỉnh, tái cơ cấu cũng như những hệ quả của nó.

1 – Từ kinh nghiệm của một số nền kinh tế đã qua khủng hoảng trong khu vực và trên thế giới…

Trong thời gian rất ngắn vừa qua, Chính phủ đã ban hành hàng loạt giải pháp về kinh tế, tài chính – tiền tệ, trong đó đặt trọng tâm, ưu tiên số một là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Trước mắt, các giải pháp kinh tế, tài chính – tiền tệ đã có sự phối hợp đồng bộ, giải quyết nhanh có trọng tâm các khó khăn về kinh tế, chấp nhận lựa chọn điều chỉnh giữa mục tiêu tăng trưởng cao với chống lạm phát. Tuy nhiên, việc sớm giải quyết các vấn đề bất ổn của nền kinh tế đang ngày càng gay gắt, nhanh chóng khôi phục sự ổn định kinh tế vĩ mô phụ thuộc rất lớn vào việc thực hiện triệt để 8 nhóm giải pháp mà Thủ tướng Chính phủ đề ra(1). Về lâu dài, Việt Nam cần củng cố và xây dựng khả năng vững chắc của nền kinh tế nhằm tạo sự tăng trưởng và phát triển bền vững hơn, phù hợp hơn với bối cảnh quốc tế mới- bối cảnh của thời kỳ sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế đã hội nhập sâu rộng, toàn diện và ngày càng bị chi phối hơn bởi nền kinh tế thế giới.

Điều nổi bật chúng tôi muốn nêu ở đây là những điểm giống nhau về định hướng phát triển và cơ cấu kinh tế của những nước đã trải qua khủng hoảng cũng như những nước hiện đang gặp phải những khó khăn cùng những hạn chế của những giải pháp điều chỉnh trong quá trình tái cơ cấu kinh tế.

Nhìn lại thời điểm trước và ngay sau khi khủng hoảng bùng nổ, những nền kinh tế hùng mạnh này không đủ sức để chống đỡ nổi những cú sốc về mặt tài chính quốc tế, cụ thể là đầu cơ tiền tệ, yếu kém trong quản lý vốn, sự di chuyển ồ ạt của các luồng vốn ngắn hạn(2). Rõ ràng, bên trong của những nền kinh tế này đã có những yếu tố sai lệch tiềm tàng về cơ cấu và chỉ bùng phát khi khủng hoảng xảy ra.

Ở đây, chúng tôi chỉ giới hạn việc nghiên cứu về sự đánh giá cơ cấu kinh tế của những nước bị khủng hoảng, phân tích những nhân tố bắt buộc phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, hiệu quả và tác động của những giải pháp điều chỉnh và cách thức nhìn nhận mới về những vấn đề này như là sự lựa chọn phát triển của các quốc gia.

Continue reading

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH PHÙ HỢP VỚI CÁC CAM KẾT HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM (Phần 1)

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công thương

Những nỗ lực cải thiện thể chế môi trường kinh doanh được phản ánh qua việc thăng hạng đáng kể thứ bậc môi trường kinh doanh của Việt Nam dựa trên 10 tiêu chí của Công ty tài chính quốc tế (IFC) thuộc Ngân hàng thế giới (WB); Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI theo VCCI và Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI…

Tuy nhiên, những nỗ lực cải cách thể chế MTKD như vậy là chưa đủ. So với các nước trong khu vực, thứ bậc về mức độ thuận lợi và dễ dàng trong kinh doanh ở Việt Nam thấp hơn nhiều (như Singapore đứng thứ nhất, Thái Lan 15, Malaysia 24, Trung Quốc 83…), đòi hỏi Việt Nam cần phải có những nỗ lực mạnh mẽ trong cải thiện thể chế MTKD để thu hẹp khoảng cách với các nước nhằm nâng cao tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, các doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, đảm bảo sự thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Đánh giá về môi trường kinh doanh của Việt Nam theo 10 tiêu chí của WB/IFC

Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh năm 2007 của Ngân hàng Thế giới và Công ty Tài chính quốc tế công bố ngày 06/9/2007, Việt Nam đã tụt hạng từ 98 trong năm 2005 xuống 104 năm 2006 trong số 175 quốc gia.

Biểu đồ 1. Chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam 2005 – 2008 theo đánh giá của WB/IFC

image

Nguồn: WB, IFC, Doing Bussiness 2009

Môi trường kinh doanh năm 2008 theo WB/IFC được phản ánh qua 10 tiêu chí sau đây:

– Thành lập doanh nghiệp: Trong năm 2007/2008 chi phí thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam giảm xuống còn 16,8% mức thu nhập trên đầu người so với mức 20% của năm trước. Chỉ số Thời gian thành lập doanh nghiệp của Việt Nam vẫn giữ nguyên 50 ngày nh ư năm 2007.

Continue reading

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN VƯỢT XA HƠN CUỘC KHỦNG HOẢNG

ARMARTYA SEN (Nguyễn Quang A dịch theo The New York Review of Books, Volume 56, Số 5, 26-2-2009)

1. 2008 là một năm của các cuộc khủng hoảng. Trước tiên, chúng ta đã có một cuộc khủng hoảng lương thực, đặc biệt đe dọa đến người tiêu dùng nghèo, nhất là ở châu Phi. Cùng với nó là một sự tăng giá dầu kỷ lục, đe dọa tất cả các quốc gia nhập khẩu dầu. Cuối cùng, khá bất ngờ vào mùa thu, suy giảm kinh tế toàn cầu ập đến, và bây giờ đang tăng tốc với mức độ khủng khiếp.

Năm 2009 dường như có nhiều khả năng là suy giảm sẽ gia tăng gay gắt, và nhiều nhà kinh tế đang tiên liệu một cuộc suy thoái hoàn toàn, thậm chí lớn như suy thoái trong các năm 1930. Trong khi những “gia tài” kếch xù đã bị sụt giảm quá mức, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất lại là những người đã bị thua thiệt nhất rồi.

Câu hỏi nổi lên gay gắt nhất bây giờ liên quan đến bản chất của chủ nghĩa tư bản và liệu nó có cần phải được thay đổi hay không. Một số người bảo vệ chủ nghĩa tư bản vô độ [không bị kiềm chế], những người chống lại sự thay đổi, tin chắc rằng chủ nghĩa tư bản bị đổ lỗi quá nhiều vì các vấn đề kinh tế ngắn hạn – các vấn đề mà họ gán cho các thuộc tính khác nhau như sự quản trị tồi (ví dụ từ chính quyền Bush) và hành vi xấu của một số cá nhân (hay như cái mà John McCain mô tả trong cuộc vận động bầu cử tổng thống là “sự tham lam của Wall Street”). Những người khác, tuy nhiên, có nhìn thấy những khuyết tật thật sự nghiêm trọng trong những cách sắp xếp kinh tế hiện tồn và muốn cải cách chúng, tìm kiếm một cách tiếp cận thay thế khác, ngày càng được gọi là “chủ nghĩa tư bản mới.”

Ý tưởng về chủ nghĩa tư bản cũ và mới đã tiếp sinh lực cho một hội thảo được gọi là “Thế giới mới, Chủ nghĩa tư bản mới” được tổ chức tại Paris vào tháng 1-2009, do Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy và cựu Thủ tướng Anh Tony Blair làm chủ, cả hai người đã hùng hồn trình bày về sự cần thiết phải thay đổi. Bà Thủ tướng Đức, Angela Merkel, cũng thế, bà nói về ý tưởng cũ của Đức, về một “thị trường xã hội” – một thị trường được kiềm chế bởi một hỗn hợp của các chính sách tạo đồng thuận – như là một kế hoạch khả dĩ cho chủ nghĩa tư bản mới (dù Đức đã không làm tốt hơn mấy các nền kinh tế thị trường khác trong khủng hoảng mới đây).

Ý tưởng về thay đổi tổ chức xã hội trong dài hạn rõ ràng là cần thiết, độc lập với các chiến lược đối phó với cuộc khủng hoảng trước mắt. Tôi sẽ tách ba câu hỏi ra khỏi nhiều câu hỏi có thể được nêu lên. Trước tiên, chúng ta có thực sự cần một loại “chủ nghĩa tư bản mới” nào đó hơn là một hệ thống kinh tế không đơn nhất, dựa trên các định chế đa dạng khác nhau được lựa chọn một cách thực dụng, và dựa trên các giá trị xã hội mà chúng ta có thể bảo được vệ về mặt đạo đức? Chúng ta có cần tìm kiếm một chủ nghĩa tư bản mới hay một “thế giới mới” – dùng thuật ngữ khác được nhắc tới tại hội nghị Paris – cái có một dạng khác hay không?

Continue reading

LỰA CHỌN PHÁT TRIỂN SAU KHI GIA NHẬP WTO VÀ TRONG ĐIỀU KIỆN QUỐC TẾ MỚI

TS. TRƯƠNG CÔNG HÙNG – Giám đốc Dự án Quốc gia Hỗ trợ Thể chế cho Việt Nam, Văn phòng Quốc hội

NGUYỄN THỊ VY – Phó Trưởng Ban Chuyên đề cơ sở Tạp chí Cộng sản

Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được gần hai năm cũng là lúc cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ toàn cầu diễn ra buộc các nhà nghiên cứu phải xem xét đến các vấn đề về thể chế. Nhiều nhà nghiên cứu chiến lược đặt vấn đề về sự cần thiết phải đổi mới nhận thức và điều kiện phát triển trong tình hình mới.

Khi đánh giá về cuộc khủng hoảng hiện nay ở Mỹ và các nước phương Tây, U-ma Hây-kiu (Umair Haque), nhà nghiên cứu chiến lược của Mỹ, đã đề cập tới những thay đổi mang tính thể chế. Ông viết: “Mặc dù đó là một khoảng thời gian kinh hoàng, chán nản và đầy thất vọng – người ta vẫn có thể tìm thấy một tia hy vọng trong cơn khủng hoảng, đó là: nó phụ thuộc vào việc chúng ta tái hình dung, thay đổi quan niệm, và tái sáng tạo chúng…”(1).

Nguyên nhân của khủng hoảng bắt nguồn từ những đầu cơ bong bóng vào thị trường nhà, đất ở Mỹ, nhưng gốc rễ của nó chính là sự bất ổn của các thể chế tài chính – tiền tệ của tư bản chủ nghĩa. Các chương trình tái đầu tư, điều chỉnh tái cơ cấu đã được Mỹ và các nước châu Âu đề ra với những nguồn tiền khổng lồ từ ngân sách nhằm ổn định lại thị trường tài chính thế giới, như Quốc hội Mỹ thông qua giải pháp 700 tỉ USD, Cộng hòa Liên bang Đức chi 600 tỉ ơ-rô. Nhiều nước cũng đang kêu gọi sự giúp đỡ khẩn cấp của các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

1. Những thuận lợi và thách thức đối với các nước đang phát triển sau khi gia nhập WTO và trong bối cảnh thế giới năm 2008

Mặc dù quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế thế giới đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, tự do hoá thương mại, tự do hoá tài chính dường như đang tạo ra những cơ hội đầu tư, sản xuất và xuất khẩu to lớn, song các nước đang phát triển không dễ gì đạt được sự phát triển theo cơ cấu kinh tế mà họ mong muốn.

Ngoài các yếu tố về chính trị, khoa học, kỹ thuật, theo chúng tôi, về khía cạnh kinh tế, một trong những điểm khác căn bản của môi trường quốc tế hiện nay là các thể chế kinh tế quốc tế đã được hoàn thiện và các nước phát triển có khả năng áp đặt các điều kiện “chơi” đối với các nước đang phát triển. Thực chất của vấn đề toàn cầu hoá, tự do hoá các nền kinh tế là thúc đẩy các nền kinh tế phải mở cửa, tham gia vào tự do hoá thương mại, đầu tư và thúc đẩy tự do cạnh tranh quốc tế. Các thể chế trong khuôn khổ của là một ví dụ. Sự áp đặt các điều khoản tự do về thương mại, thúc đẩy giao lưu hàng hoá theo hướng có lợi cho các nước phát triển không chỉ thể hiện qua các hàng rào kỹ thuật, các điều kiện về thanh toán quốc tế, mà còn thể hiện ngay trong cùng một sân chơi giữa các nước đều là thành viên của WTO. Những yêu cầu đặt ra đối với các nước gia nhập WTO sau càng lớn hơn lên và sẽ ngày càng làm bất lợi cho những nước tham gia sau nữa.

Continue reading

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2006 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2006

THS. CAO MINH NGHĨA

1. Tổng quan kết quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố giai đoạn 2006 đến tháng 06/2008:

– Qua hai năm rưỡi triển khai thực hiện, Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố đã góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố theo hướng tích cực, đúng theo định hướng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII đề ra; kinh tế thành phố tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng. GDP tiếp tục tăng trưởng cao: năm 2006, tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn thành phố tăng 12,2% (bằng với mức tăng năm 2005 là 12,2%); năm 2007, GDP tăng 12,6% (cao hơn mức tăng cả 2 năm 2005, 2006 là 12,2%). Đây là mức tăng cao nhất trong 4 năm qua (năm 2004 tăng 11,7%, năm 2005 tăng 12,2%, năm 2006 tăng 12,2%). Trong đó, khu vực dịch vụ năm 2006 tăng 13,8% (cao hơn mức tăng năm 2005 là 12,8%); năm 2007 tăng 14,3% (cao hơn mức tăng năm 2006 là 13,8%). Khu vực công nghiệp và xây dựng năm 2006 tăng 10,5% (thấp hơn mức tăng năm 2005 là 11,8%); năm  2007 tăng 10,8% (cao hơn mức tăng năm 2006 là 10,5%). Khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản năm 2006 tăng 5,6% (cao hơn mức tăng năm 2005 là 1,6%); năm 2007 tăng 5,1% (thấp hơn mức tăng năm 2006 là 5,6%). Trong 6 tháng đầu năm 2008, do những biến động phức tạp của nền kinh tế thế giới, kinh tế – xã hội thành phố gặp nhiều khó khăn thách thức mới như lạm phát tăng, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, thị trường tài chính – ngân hàng diễn biến phức tạp, thị trường chứng khoán và bất động sản suy giảm mạnh, giá xăng dầu, giá vàng tăng cao, tỷ giá USD biến động bất thường… đã dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế có biểu hiện chậm lại và chỉ đạt 10,5%; trong đó, khu vực dịch vụ tăng 10,8%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,3%, khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%.     

– Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển biến theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành dịch vụ; giảm dần tỷ trọng các ngành nông – lâm – ngư nghiệp để dần đưa thành phố trở thành trung tâm thương mại – dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao của cả nước, ngay cả trong điều kiện kinh tế thành phố gặp nhiều khó khăn như trong 6 tháng đầu năm 2008. Bên cạnh đó, nội bộ các ngành kinh tế cũng đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: tăng tỷ trọng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, hàm lượng khoa học – kỹ thuật cao; giảm các ngành nghề thâm dụng lao động, gây ô nhiễm môi trường, dần dần hình thành các loại hình dịch vụ chất lượng cao. Điều này chứng tỏ nền kinh tế thành phố đã chuyển dịch cơ cấu đúng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII. Cụ thể như:

Continue reading

HỢP ĐỒNG PHỤ CÔNG NGHIỆP – PHÁT TRIỂN TÍNH CHUYÊN NGHIỆP VÀ NỘI ĐỊA HÓA SẢN PHẨM

TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG

Trong lịch sử, nhiều công ty của Hàn Quốc, Thái Lan đã đi theo hướng từ nhà thầu phụ, các kỹ sư xin làm thuê, làm công nhân trong liên doanh để sau một thời gian đủ ngắn bằng kinh nghiệm và mua li- xăng họ đã nội địa hoá sản phẩm cạnh tranh với công ty nước ngoài, biến công ty nước ngoài trở thành đơn vị gia công tỷ lệ nhỏ các linh kiện của sản phẩm chính mang nhãn hiệu riêng của công ty trong nước.

Hợp đồng phụ công nghiệp nhằm gắn kết các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp có mối liên hệ về cơ cấu vật chất của sản phẩm (nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết sản phẩm hoàn chỉnh) và dịch vụ (lao động, thiết kế mẫu, vốn) theo hướng chuyên môn hoá các chi tiết kết hợp mở rộng khả năng đa dạng hoá sản phẩm mới, phân chia lợi ích và rủi ro, rút ngắn thơi gian nghiên cứu chế thử và sản xuất sản phẩm với các quy mô cạnh trạnh.

Chúng ta có hướng đề nghị phía nước ngoài nâng tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm nhưng các bước hỗ trợ, xúc tiến các công ty trong nước tham gia các hợp đồng phụ không rõ ràng, thiếu các cam kết về chuyển giao công nghệ chế tạo thiết bị , phụ tùng, phụ liệu vào các công ty trong nước. Các khu Công nghiệp, Khu chế xuất ở Việt Nam đạt tỷ lệ nội địa hoá rất thấp, Khu Tân Thuận năm 1999 chỉ đạt khoảng 3,6% tức là các doanh nghiệp trong khu đã nhận 96,4% giá trị các hợp đồng phụ công nghiệp ngoài lãnh thổ nước ta. Hợp đồng phụ công nghiệp không chỉ ở trong nước mà cả với nước ngoài .

Các doanh nghiệp bên Việt Nam vì nhiều lí do đã không ý thức hết vai trò của nhà thầu phụ công nghiệp, có thể do đầu tư lớn, thị trường không ổn định, hiệu quả thấp, nên một số đã đi theo hướng kinh doanh thương mại, tự biến mình làm nhà tiêu thụ thuần tuý với lợi ích cá biệt, đã thủ tiêu ý chí vươn lên trở thành nhà thầu phụ công nghiệp sáng tạo dù đủ vốn và trí tuệ.

Trong lịch sử, nhiều công ty của Hàn Quốc, Thái Lan đã đi theo hướng từ nhà thầu phụ, các kỹ sư xin làm thuê, làm công nhân trong liên doanh để sau một thời gian đủ ngắn bằng kinh nghiệm và mua li-xăng họ đã nội địa hoá sản phẩm cạnh tranh với công ty nước ngoài, biến công ty nước ngoài trở thành đơn vị gia công tỷ lệ nhỏ các linh kiện của sản phẩm chính mang nhãn hiệu riêng của công ty trong nước.

Các công ty của Nhật đã từng kiên nhẫn tiếp cận thị trường ti vi của Hoa Kì qua các giai đoạn từ bán sản phẩm của Nhật mang nhãn của Hoa Kì, đến liên doanh, cung cấp linh kiện,… cho đến khi chiếm gần hết thị phần. Không thuần tuý là công nghệ mà là chiến lược tham gia vào thị trường công nghiệp, chia sẻ và vận động hợp tác thị trường từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

Continue reading

NHỮNG ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý VỀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG

NGUYỄN QUẾ ANH – CSTT (Dịch từ BHF bank)

Từ nửa cuối năm 2008, kinh tế toàn cầu suy giảm nhanh chóng và dự kiến sẽ còn tiếp tục còn suy giảm với quy mô khó lường trước trong năm 2009: Ở ba khu vực kinh tế lớn Mỹ, EU và Nhật, GDP thực tế giảm trên 2% trong năm 2008 – một phần do người tiêu dùng và các công ty giảm chi tiêu trong bối cảnh triển vọng kinh tế ảm đạm, và một phần do thắt chặt tài trợ.

Khủng hoảng cũng đang ảnh hưởng đến các thị trường mới nổi, chẳng hạn như Trung Quốc năm nay tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng chỉ đạt 5%, chỉ bằng một nửa của tốc độ tăng trưởng năm ngoái. Sức cầu yếu từ các nước công nghiệp, giá các hàng hoá suy giảm mạnh và các thị trường chứng khoán khó có khả năng phục hồi đều gây những khó khăn cho các quốc gia mới nổi.

NHTW và các nhà hoạch định chính sách đang cố gắng hành động để ngăn chặn sự sụp đổ kinh tế toàn cầu. Các chính sách được chú trọng trước tiên là các biện pháp để ổn định hệ thống tài chính: Những biện pháp này bao gồm việc mở rộng cho vay của NHTW, tái cơ cấu vốn hoặc thậm chí quốc hữu hoá ngân hàng, bảo lãnh cho các tài sản nợ của ngân hàng và thúc đẩy các cơ chế đảm bảo tiền gửi. Thứ hai, là các biện pháp ổn định hoạt động kinh tế thông qua. Các chương trình chi tiêu thông thường từ trợ cấp bằng tiền và cắt giảm thuế đến viện trợ cho những ngành nhất định, ví dụ như ngành công nghiệp ô tô và xây dựng dân dụng. Cắt giảm lãi suất cũng có thể là một trong các biện pháp ổn định hoạt động kinh tế.

Một số lượng lớn tiền đang được huy động cho các gói cứu trợ: Các phương tiện truyền thông đã nói về những con số khổng lồ hàng tỷ Euro. Vào giữa năm 2008, chính phủ Mỹ đã thông qua gói 150 tỷ USD thuế tiền mặt, vào mùa thu Mỹ tiếp tục đưa ra gói giải cứu các tài sản xấu (TARP) trị giá 700 tỷ USD và tháng 2/09 gói kích thích kinh tế trị giá 800 tỷ USD cũng đã được thông qua. Nhiều nước khác bao gồm Anh, Nhật, Pháp và Trung Quốc cũng đang đưa ra các gói giải pháp với quy mô tương tự. Chính phủ Đức đã đưa ra một gói 500 tỷ Euro để hỗ trợ hệ thống ngân hàng; tháng 11/08, Chính phủ nước này đã công bố 31 tỷ Euro kích thích kinh tế và tháng 1/09 đưa ra gói giải pháp thứ 2 trị giá 50 tỷ Euro.

Cùng thời điểm, các bảng cân đối của các NHTW đang tăng cao. Trong suốt năm 2008, bảng cân đối của ECB đã mở rộng một khoản trên 500 tỷ Euro – tăng hơn 1/3. Điều này chủ yếu do cấp vốn cho các tổ chức tín dụng sau khi thị trường liên ngân hàng gần như cạn kiệt vốn khả dụng và cần cung cấp khẩn cấp thanh khoản. Đối với Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed), năm ngoái bảng cân đối đã tăng thêm 1.340 tỷ USD, tương đương gần 150% lên tới 2.266 tỷ USD.

Continue reading

BÁO CÁO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ NĂM 2008 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

TỔNG QUAN

Nền kinh tế Việt Nam năm 2008 đã phải trải qua rất nhiều khó khăn thách thức nhưng với sự năng động, tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, thương mại điện tử Việt Nam vẫn kế thừa được sự phát triển sôi động của năm 2007 và đang dần đi vào chiều sâu, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện trong những năm tới.

Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2008 được xây dựng trên cơ sở đánh giá kết quả 3 năm triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010, tình hình triển khai một số hoạt động về bảo vệ dữ liệu cá nhân và ứng dụng các tiêu chuẩn công nghệ hỗ trợ thương mại điện tử. Trên cơ sở đó, Báo cáo đề xuất những khuyến nghị nhằm thực hiện thành công Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010.

Phần tổng quan này sẽ điểm lại những nét nổi bật nhất của thương mại điện tử Việt Nam năm 2008. Mục tiêu chính là giúp người đọc nắm bắt nhanh tình hình phát triển thương mại điện tử Việt Nam qua những nét lớn này.

1. Thương mại điện tử đã được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp với hiệu quả ngày càng tăng

Kết quả điều tra với 1600 doanh nghiệp trên cả nước của Bộ Công Thương trong năm 2008 cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp đã triển khai ứng dụng thương mại điện tử ở những mức độ khác nhau. Đầu tư cho thương mại điện tử đã được chú trọng và mang lại hiệu quả rõ ràng cho doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp đã quan tâm tới việc trang bị máy tính, đến nay hầu như 100% doanh nghiệp đều có máy tính. Tỷ lệ doanh nghiệp có từ 11–20 máy tính tăng dần qua các năm và đến năm 2008 đạt trên 20%. Tỷ lệ doanh nghiệp đã xây dựng mạng nội bộ năm 2008 đạt trên 88% so với 84% của năm 2007. Đến nay, có tới 99% số doanh nghiệp đã kết nối Internet, trong đó kết nối băng thông rộng chiếm 98%. Tỷ lệ doanh nghiệp có website năm 2008 đạt 45%, tăng 7% so với năm 2007. Tỷ lệ website được cập nhật thường xuyên và có chức năng đặt hàng trực tuyến đều tăng nhanh.

Một trong những điểm sáng nhất về ứng dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp là tỷ lệ đầu tư cho phần mềm tăng trưởng nhanh, chiếm 46% trong tổng đầu tư cho công nghệ thông tin của doanh nghiệp năm 2008, tăng gấp 2 lần so với năm 2007. Trong khi đó, đầu tư cho phần cứng giảm từ 55,5% năm 2007 xuống còn 39% vào năm 2008. Sự dịch chuyển cơ cấu đầu tư này cho thấy doanh nghiệp đã bắt đầu chú trọng đầu tư cho các phần mềm ứng dụng để triển khai thương mại điện tử sau khi ổn định hạ tầng công nghệ thông tin. Doanh thu từ thương mại điện tử đã rõ ràng và có xu hướng tăng đều qua các năm. 75% doanh nghiệp có tỷ trọng doanh thu từ thương mại điện tử chiếm trên 5% tổng doanh thu trong năm 2008. Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm bố trí cán bộ chuyên trách về thương mại điện tử.

Continue reading

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

NGUYỄN TRẦN BẠT – Chủ tịch/Tổng GĐ INVESTCONSULT GROUP

Những sai lầm trên quy mô hệ thống

Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ nền kinh tế. Nhiều quốc gia mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của hình thức kinh tế này và tích cực phát triển nó như một công cụ hiệu quả để phát triển kinh tế. Tuy nhiên đã có thời không ít người, đặc biệt là các nhà lý luận theo mô hình Xô Viết lên án kinh tế tư nhân và chủ trương xóa bỏ nó. Họ coi kinh tế tư nhân là trở ngại chủ yếu cho việc xây dựng xã hội mới, nhưng thực tế đã minh chứng ngược lại, trong khi Chủ nghĩa Xã hội kiểu Xô Viết sụp đổ thì kinh tế tư nhân lại phát triển không ngừng và càng ngày càng thể hiện ưu thế và sức mạnh to lớn của nó. Hiện tượng lịch sử trên cho thấy kinh tế tư nhân không chỉ liên quan đến sự thành bại của một quốc gia, mà nó còn có tác động rất quan trọng tới tiến trình phát triển của toàn nhân loại.

Nhưng kinh tế tư nhân không chỉ là bài học lịch sử, nghiên cứu về kinh tế tư nhân sẽ không chỉ nhằm giải thích hiện tượng lịch sử quan trọng như sự sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, mà quan trọng hơn nhận thức được con đường đi tới tương lai.
Thể chế kinh tế quyết định chế độ xã hội hay là sự tuyệt đối hóa vai trò của sở hữu

Vì sao Chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô Viết sụp đổ? Đó là câu hỏi lớn cần có lời giải đáp. Ngày nay trong chúng ta có quá nhiều học giả mắc căn bệnh "mặc nhiên thừa nhận". Khi mô hình Liên Xô áp dụng tràn lan, họ coi những vấn đề lý luận của mô hình này như một thứ khuôn vàng thước ngọc để tuân thủ, rập khuôn vô điều kiện, nhưng khi Liên Xô và các nước Đông âu sụp đổ họ né tránh hoặc làm ngơ và cũng "thừa nhận mặc nhiên". Chúng ta cần đi sâu phân tích để thấy được bản chất của sự thật lịch sử này. Những phân tích của chúng ta không nhằm mục đích kết tội hay lên án bất kỳ ai mà điều quan trọng là chúng ta có được một cơ sở lý luận đúng đắn để xử lý những vấn đề mà cuộc sống hiện tại đang đặt ra trước mắt.

Chủ nghĩa xã hội theo mô hình Liên Xô sụp đổ vì nền kinh tế kế hoạch tập trung của nó đã thất bại trong cạnh tranh với nền kinh tế thị trường. Cần thấy rằng nền kinh tế kế hoạch như một toà lâu đài được xây dựng trên nền móng là thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa, cụ thể là chế độ sở hữu nhà nước và chế độ sở hữu tập thể. Chính đây mới là nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm cho kinh tế Xã hội chủ nghĩa không năng động và kém hiệu quả Thậm chí hy vọng về sự bình đẳng cho con người thông qua hình thức "phân phối theo lao động" do chế độ công hữu tạo ra cũng chỉ là ảo tưởng. Trên thực tế phương thức phân phối theo lao động bị bóp méo và hoàn toàn không có khả năng kích thích trở lại sản xuất.

Continue reading

PHẢN ỨNG CHÍNH SÁCH NÀO CẦN ƯU TIÊN TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU?

PGS.TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN – Quyền Viện trưởng, Viện Nghiên cứu kinh tế Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế và khủng khoảng kinh tế toàn cầu hiện nay đã có nhiều tác động đến nền kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh đó, phản ứng chính sách của chúng ta cần phải như thế nào? Chính sách nào nên được ưu tiên?

Nhận diện cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính lần này có nhiều điểm khác biệt với cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông á cách đây 10 năm.

Thứ nhất, nó bắt nguồn từ những nền kinh tế hùng mạnh nhất, phát triển nhất như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản. Còn cuộc khủng hoảng Đông á (1997 – 1998) bắt nguồn và lan rộng chủ yếu trong phạm vi những nền kinh tế phát triển trung bình mới nổi – như Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Nga, …

Thứ hai, cuộc khủng hoảng này "đánh sập" cả những “gã khổng lồ”, thậm chí là “khổng lồ nhất”, những "đại gia" có tuổi đời già dặn hằng thế kỷ, trong lĩnh vực tài chính lẫn lĩnh vực phi tài chính; những tập đoàn được coi là có cấu trúc vững chắc và quản trị hoàn hảo.

Thứ ba, đây là cuộc khủng hoảng có sức lan tỏa nhanh và mạnh, theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Các nền kinh tế thuộc nhóm phát triển nhất lần lượt rơi vào suy thoái – từ Mỹ lan sang EU, tràn tới Nhật Bản, rồi "hạ gục" Xin-ga-po. Điều đáng lưu ý rằng, đó là những nền kinh tế thường xuyên đứng ở thứ hạng cao nhất trong bảng xếp hạng sức cạnh tranh tăng trưởng toàn cầu.

Cuộc khủng hoảng đó từ khu vực tài chính tràn sang khu vực "thực", chuyển thành suy thoái kinh tế. Cả hai thứ cộng hưởng với nhau, "công phá" toàn diện hệ thống kinh tế toàn cầu.

Hệ quả của quá trình lan tỏa suy thoái là sự chao đảo của cả hệ thống kinh tế toàn cầu. Cho đến nay, chưa ai nói chắc đâu là giới hạn của sức lan tỏa. Chiều hướng tác động tiêu cực đang tiếp tục mở rộng, sức tác động đang gia tăng.

Tuy chưa đầy đủ, song mức độ nghiêm trọng của tình hình ngày càng lộ rõ và có thể nhận biết đại thể qua một vài con số. Đó là số tiền hàng ngàn tỉ USD mà các chính phủ đã phải bỏ ra để thực hiện cuộc giải cứu lịch sử này, là mức sụt giảm mạnh tốc độ tăng trưởng GDP, là con số các “đại gia” bị phá sản với lượng tài sản lên tới hàng chục ngàn tỉ USD. Và những con số này hiện vẫn chưa dừng lại.

Continue reading