THÔNG TƯ SỐ 50/2009/TT – BTC NGÀY 16 THÁNG 3 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 06 năm 2006;
Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 06 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán như sau
:

I. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về nguyên tắc, thủ tục tổ chức giao dịch điện tử trong hoạt động giao dịch chứng khoán trực tuyến, hoạt động trao đổi thông tin điện tử liên quan đến hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, lưu ký chứng khoán, niêm yết chứng khoán; hoạt động quản lý công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán; hoạt động công bố thông tin và các hoạt động khác liên quan đến thị trường chứng khoán theo quy định tại Luật Chứng khoán.

2. Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh bao gồm Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK), Trung tâm Lưu ký chứng khoán (TTLKCK), tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, công ty đại chúng, nhà đầu tư và các tổ chức trung gian khác lựa chọn giao dịch trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán bằng phương tiện điện tử.

3. Giải thích từ ngữ

3.1. Giao dịch điện tử trong lĩnh vực chứng khoán là các giao dịch trong hoạt động, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán được thực hiện bằng phương tiện điện tử, bao gồm: hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, lưu ký chứng khoán, niêm yết chứng khoán; hoạt động quản lý công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán; hoạt động công bố thông tin và các hoạt động khác liên quan đến thị trường chứng khoán theo quy định tại Luật Chứng khoán.

Continue reading

THỰC TRẠNG MÔ HÌNH NHƯỢNG QUYỀN Ở VIỆT NAM

PHẠM THỨ TRIỆU – Công ty chứng khoán Thăng Long – CN TP.HCM

Làm sao phát triển mô hình nhượng quyền tại Việt Nam một các có hiệu quả? Áp dụng nó vào thực trang của nước ta. Và đi tìm lợi thế của thương hiệu "Việt" vốn đã bị mất bao năm nay? Nhìn lại Việt Nam sau hơn 2 năm gia nhập WTO thì những cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp nước ta tận dụng và kiểm soát như thế nào? Trong phạm vi bài viết của tác giả chỉ đưa ra nhận định và đánh giá của cá nhân về một khía cạnh nhỏ có ảnh hưởng cũng như thực trạng phát triển của lĩnh vực này như thế nào ở nước ta, đó là “Nhượng quyền”.

Để có thể nhìn nhận và đánh giá mức độ phát triển của lĩnh vực này trên thế giới và nước ta trong thời gian qua và đến thời điểm hiện tại như thế nào, sơ lược như sau:

Điểm lại sự phát triển của lĩnh vực này trên thế giới của những thương hiệu nổi tiếng với quy mô nhân rộng và chúng đã có mặt hầu hết các quốc gia, điều đó cho thấy lĩnh vực kinh doanh này đã và đang nhân rộng, phát triển rất mạnh ở các nước phát triển với hàng trăm năm. Chính các thương hiệu mạnh và nổi tiếng nhất đã hình thành, phát triển từ đây và đang mở rộng tầm ảnh hưởng ra toàn cầu bằng các kênh phân phối cũng như các vệ tinh được tạo lập. Điều này đã tạo nên một tất yếu cho sự sống còn của các doanh nghiệp trong nước cũng như các quốc gia đang phát triển và đã dần dần đặt ra hai vấn đề lớn là: Tiếp nhận thương hiệu hay bật dậy từ chính nội lực.

Chẳng hạn, Mcdonald’s hơn 50 năm hình thành phát triển với trên 30 ngàn cửa hàng và có mặt trên 120 quốc gia trên toàn thế giới. Người ta ước tính rằng, cứ khoảng sau từ 4 đến 5 giờ đồng hồ thì trên toàn cầu xuất hiện thêm 1 nhà hàng nữa mang thương hiệuMcdonald’s với mức phí cố định thanh toán một lần mà bên nhận nhượng quyền phải là 45,000.000 USD và một khoản phí được thu hàng thàng là 1,9%, không dừng lại ở đó mà chính trong hệ thống của nó có hẳn một trường đào tạo nghiệp vụ phục cho các hoạt động kinh doanh và đào tạo nhân sự đảm bảo nhu cầu phát triển mô hình nhượng quyền của nó với tên gọi là "Trường đại học Mcdonald’s". Cũng như các thương hiệu khác như: Gà rán KFC, trà Dilmahs, khách sạn Marriott, khách sạn Hyatt, khách sạn Sheraton, cà phê Gloria Jean’s… là những thương hiệu hầu hết mọi người đều biết với những nét đặc trưng nhất định về chất lượng, kiểu dáng, mùi vị và không có sự khác biệt giữa các cửa hiệu khác nhau dù ta bắt gặp và thưởng thức từ bất cứ nơi đâu. 

Continue reading

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM – GIẢI PHÁP NÀO CHO SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

MBA. NGUYỄN KHÁNH TRUNG

Xu thế toàn cầu hoá đang từng giờ, từng ngày tác động nhiều lãnh vực họat động kinh tế xã hội Việt Nam. Sự hội nhập nền kinh tế thế giới càng được nhận thấy rõ qua các chỉ tiêu kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, số lượng công ty, sự phong phú về hàng hoá, dịch vụ, quảng cáo… Sự phát triển của các hệ thống nhượng quyền thương mại bằng cách tận dụng tối ưu các nguồn lực của các nhà nhượng quyềnnhà nhận quyền tại Việt Namcũng không nằm ngoài xu thế này. Trong xu thế đó, vần đề đặt ra là làm sao củng cố vững chắc hệ thống đại lý nhượng quyền trong xu thế cạnh tranh quốc tế như hiện nay?

Để củng cố và phát triển hệ thống nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, nhà nhượng quyền Việt Nam cần xây dựng môt hệ thống các qui trình, qui định, giải pháp sao cho hệ thống vừa đảm bảo phát triển hiệu quả trong ngắn hạn và bền vững trong dài hạn. Cụ thể là nâng cao chất lượng chuyển giao và chất lượng quan hệ cho hệ thống nhượng quyền của mình.

Chất lượng chuyển giao là chất lượng của toàn bộ các yếu tố ngắn hạn được chuyển từ nhà nhượng quyền cho nhà nhận quyền từ lúc khởi nghiệp. Chất lượng chuyển giao tập trung nhận diện và nhận định các nhân tố ảnh hưởng đến thành công của nhà nhận quyền trong việc khởi nghiệp, cụ thể là xem xét các tiêu chuẩn tối thiểu cho việc khởi sự và quản lý của nhà nhận quyền cho phù hợp và hiệu quả. Thông thường, các yếu tố này thường được nhà nhượng quyền thể hiện trong hồ sơ nhượng quyền và cụ thể hoá trong hợp đồng nhượng quyền. Trong đó, cả hai bên cam kết thực hiện hàng loạt các cam kết nhằm tối đa hoá lợi ích của hai bên. Chất lượng chuyển giao thường được quan tâm nhất là chất lượng của sản phẩm cung ứng, mô hình kinh doanh, thời gian hoạt động, qui trình đào tạo, vấn đề về cấp phép, thời gian cung cấp hàng hóa – dịch vụ, về quyền phân phối, độc quyền, phí chuyển nhượng, phí vận hành hàng tháng, hiệu quả của các chương trình tiếp thị, kinh doanh và những hỗ trợ khác như vận hành, tài chính, tiếp cận và cung cấp thông tin hệ thống, bí quyết kinh doanh, các qui định bắt buộc nhà nhận quyền tuân theo, thương hiệu, các qui trình kinh doanh, qui trình huấn luyện, khả năng phát triển kinh doanh của nhà nhận quyền, thái độ tham gia huấn luyện, cam kết thanh toán của các nhà nhận quyền, cam kết của nhà nhận quyền về tính đồng nhất và minh bạch trong kinh doanh…

Continue reading

THỰC TRẠNG MÔ HÌNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

PHẠM THỨ TRIỆU – Công ty Chứng khoán Thăng Long – CN TP.HCM

Làm sao phát triển mô hình nhượng quyền tại Việt Nam một các có hiệu quả? Áp dụng nó vào thực trang của nước ta. Và đi tìm lợi thế của thương hiệu "Việt" vốn đã bị mất bao năm nay? Nhìn lại Việt Nam sau hơn 2 năm gia nhập WTO thì những cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp nước ta tận dụng và kiểm soát như thế nào? Trong phạm vi bài viết của tác giả chỉ đưa ra nhận định và đánh giá của cá nhân về một khía cạnh nhỏ có ảnh hưởng cũng như thực trạng phát triển của lĩnh vực này như thế nào ở nước ta, đó là “Nhượng quyền”.

Để có thể nhìn nhận và đánh giá mức độ phát triển của lĩnh vực này trên thế giới và nước ta trong thời gian qua và đến thời điểm hiện tại như thế nào, sơ lược như sau:

Điểm lại sự phát triển của lĩnh vực này trên thế giới của những thương hiệu nổi tiếng với quy mô nhân rộng và chúng đã có mặt hầu hết các quốc gia, điều đó cho thấy lĩnh vực kinh doanh này đã và đang nhân rộng, phát triển rất mạnh ở các nước phát triển với hàng trăm năm. Chính các thương hiệu mạnh và nổi tiếng nhất đã hình thành, phát triển từ đây và đang mở rộng tầm ảnh hưởng ra toàn cầu bằng các kênh phân phối cũng như các vệ tinh được tạo lập. Điều này đã tạo nên một tất yếu cho sự sống còn của các doanh nghiệp trong nước cũng như các quốc gia đang phát triển và đã dần dần đặt ra hai vấn đề lớn là: Tiếp nhận thương hiệu hay bật dậy từ chính nội lực.

Chẳng hạn, Mcdonald’s hơn 50 năm hình thành phát triển với trên 30 ngàn cửa hàng và có mặt trên 120 quốc gia trên toàn thế giới. Người ta ước tính rằng, cứ khoảng sau từ 4 đến 5 giờ đồng hồ thì trên toàn cầu xuất hiện thêm 1 nhà hàng nữa mang thương hiệu Mcdonald’s với mức phí cố định thanh toán một lần mà bên nhận nhượng quyền phải là 45,000.000 USD và một khoản phí được thu hàng thàng là 1,9%, không dừng lại ở đó mà chính trong hệ thống của nó có hẳn một trường đào tạo nghiệp vụ phục cho các hoạt động kinh doanh và đào tạo nhân sự đảm bảo nhu cầu phát triển mô hình nhượng quyền của nó với tên gọi là "Trường đại học Mcdonald’s". Cũng như các thương hiệu khác như: Gà rán KFC, trà Dilmahs, khách sạn Marriott, khách sạn Hyatt, khách sạn Sheraton, cà phê Gloria Jean’s… là những thương hiệu hầu hết mọi người đều biết với những nét đặc trưng nhất định về chất lượng, kiểu dáng, mùi vị và không có sự khác biệt giữa các cửa hiệu khác nhau dù ta bắt gặp và thưởng thức từ bất cứ nơi đâu. 

Continue reading

MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

SAGA – Như chúng ta đã biết, nhượng quyền thương mại là một hình thức kinh doanh đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Đã có nhiều khái niệm được nêu ra của nhiều trường phái khác nhau nhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện họat động kinh doanh nhượng quyền đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia, nên các khái niệm này thường khác nhau.

Các khái niệm dưới đây được chọn lọc dựa trên sự khác nhau trong việc quản lý điều chỉnh các hoạt động nhượng quyền thương mại của một số nước tiêu biểu, có thể phân chia các nước trên thế giới thành bốn nhóm nước như sau:

(i)                 Nhóm các nước với hệ thống pháp luật bắt buộc (hoặc khuyến khích sự tự nguyện) công khai chi tiết nội dung của thoả thuận nhượng quyền thương mại.

(ii)                Nhóm các nước với hệ thống pháp luật khuyến khích sự tự nguyện, công bố chi tiết nội dung của thoả thuận nhượng quyền thương mại.

(iii)               Nhóm các nước có luật cụ thể, điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại.

(iv)              Nhóm các nước điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại theo luật về chuyển giao công nghệ.

Dựa trên 4 nhóm nước này, ta có một số khái niệm nhượng quyền tiêu biểu sau đây:

* Khái niệm nhượng quyền của Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise Association):

* Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise Association) là hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đã nêu ra Khái niệm nhượng quyền thương mại như sau:

 

Continue reading

BẠN BIẾT GÌ VỀ FRANCHISING?

THANH TRÚC (Dịch từ How Stuff Works)

Có thể bạn muốn tự xây dựng công việc kinh doanh của mình, bởi vì bạn muốn tự mình làm chủ? Nhưng bạn có nhất thiết phải bắt đầu từ vạch xuất phát không? Hay bạn nên mua lại công việc kinh doanh của những ông chủ khác, khi họ đang muốn sang nhượng lại cơ sở để nghỉ ngơi? Hoặc là, bạn nên mua một đơn vị kinh doanh theo hình thức nhượng quyền?

Bạn sẽ băn khoăn tự hỏi, bạn có còn là chủ không, khi mua một đơn vị nhượng quyền? Những người cùng kinh doanh theo hình thức nhượng quyền này sẽ là đồng minh hay trở thành đối thủ của bạn? Và bạn cần những kỹ năng đặc biệt nào để quản lý một cơ sở nhượng quyền?

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn những thông tin chi tiết nhằm giúp bạn có khái niệm đầy đủ về vấn đề nhượng quyền kinh doanh, từ đó tự quyết xem liệu đây có phải là hình thức kinh doanh phù hợp với bạn không.

Nhượng quyền kinh doanh là gì?

Hãy thử tưởng tượng rằng bạn sắp mở cửa hàng ăn nhanh McDonald’s. Muốn làm được việc đó, bạn cần phải mua “quyền kinh doanh” của Công ty McDonald’s. Để có đủ tư cách của một chủ cơ sở nhượng quyền theo quy ước thông thường, bạn phải có 175 ngàn USD (đây không được là khoản tiền vay mượn). Nhưng toàn bộ chi phí cho việc mở cửa hàng như thuê mặt bằng, xây dựng, trang trí, mua sắm trang thiết bị … sẽ nằm đâu đó trong khoảng từ 430 ngàn đến 750 ngàn USD, và 40% trong số này phải do bạn tự đầu tư (bằng tiền của bản thân).

Bạn sẽ trả trực tiếp cho công ty McDonald’s số tiền 45 ngàn USD gọi là Phí đăng ký nhượng quyền ban đầu. Những chi phí khác sẽ được thanh toán cho các nhà cung cấp, vì thế đây là loại phí duy nhất bạn phải trả cho McDonald’s. Sau đó, bạn sẽ tham gia một khoá huấn luyện nghiêm ngặt kéo dài 9 tháng, nơi bạn được dạy về các phương pháp làm việc theo đúng phong cách đặc trưng của McDonald’s như: tiêu chuẩn chất lượng, cung cách phục vụ, giá trị hình ảnh thương hiệu, công thức và cách chế biến từng món trong thực đơn, cách thức quản lý, các kỹ năng kiểm kê, giám sát… Bạn buộc phải chấp nhận điều kiện chỉ được mở một cửa hàng McDonald’s tại một địa điểm nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 20 năm, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc về bài trí cửa hàng, tuyển dụng nhân viên…và tất cả những yếu tố khác nữa, sao cho cửa hàng McDonald’s của bạn toát lên được “thần thái” của một McDonald’s thực sự.

Continue reading

BẠN CÓ BIẾT VỀ LUẬT PHÁP TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ?

NGUYỄN NGỌC LONG (Theo webpronews)

Việc kinh doanh trên mạng cũng có một số vấn đề về pháp lý tương tự như việc kinh doanh bình thường. Tuy nhiên, do việc truyền thông tin dễ dàng và khả năng thực hiện nó mà không phải xuất hiện nên internet có nhiều thách thức hơn. Và dưới đây, bạn sẽ được giới thiệu một số vấn đề pháp lý trên việc kinh doanh thương mại điện tử cũng như cách giải quyết.

Quyền hạn phân xử

Trong cuộc mua bán thông thường, cả người mua và người bán đều ở cùng một vị trí. Điều này giúp dễ xác định quyền hạn phân xử khi có tranh chấp. Tuy nhiên, đối với một cuộc giao dịch trên mạng, người mua có thể ở một vùng khác hay thậm chí ở một quốc gia khác. Thực tế người mua có thể không biết chính xác người bán ở chỗ nào. Điều này làm cho việc xác định cơ quan nào có quyền hạn phân xử trở nên khó khăn. Thông thường, quyền hạn phân xử được quyết định bởi một hợp đồng đã được thoả thuận giữa cả hai phía trong một cuộc giao dịch.

Hợp đồng

Cơ sở của một cuộc giao dịch thương mại điện tử là một hợp đồng, hay một sự thoả thuận giữa hai phía. Mặc dù người ta thường nói rằng hợp đồng là một tài liệu dài, phức tạp, nhưng một hợp đồng có thể được thực hiện bằng cách sử dụng e-mail. Bạn có thể gửi e-mail đến một người bạn của mình để mời cô ta ăn trưa vào ngày thứ sáu, và cô ta gửi thư phúc đáp cho biết đồng ý gặp bạn tại một quán cà phê mà bạn ưa thích thì bạn và cô ta đã có một “hợp đồng”.
Các hợp đồng có mặt khắp mọi nơi trên web. Nhiều site yêu cầu bạn phải đồng ý với một số điều khoản trước khi bạn có thể đăng nhập vào. Một trong những site sử dụng hợp đồng là site bán đấu giá của eBay. Site này sẽ không thành công nếu những người đấu giá không mua các món hàng khi họ thắng. Do đó, eBay nhắc nhở mọi người rằng khi họ đấu giá thì họ đồng ý với một hợp đồng rằng người thắng sẽ phải trả tiền cho người bán với giá đã đưa ra.

Tài sản trí tuệ

Khi thực hiện việc kinh doanh trên web hay ở bất kỳ nơi nào khác, công ty và cá nhân cần phải bảo vệ tài sản trí tuệ của mình và đảm bảo rằng không sử dụng trái phép tài sản và trí tuệ của người khác. Internet đã trở thành nơi làm phát sinh những vụ vi phạm tài sản trí tuệ, mặc dù hầu hết mọi người không nhận thức được cách mà họ đang vi phạm. Nhãn hiệu thương mại, bản quyền và giấy phép được sử dụng nhằm mục đích bảo vệ sở hữu trí tuệ.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI VÀ THỊ TRƯỜNG TƯƠNG LAI

image– Hiện nay, ở Việt Nam, hợp đồng tương lai và các giao dịch trên thị trường tương lai còn là những khái niệm khá mới mẻ với nhiều các nhân, tổ chức. Nhưng ở các nước có thị trường tài chính phát triển, nó đã hình thành, phát triển khá lâu đời, cùng tồn tại song song và đóng vai trò quan trọng không kém so với thị trường chứng khoán. Bài viết này xin giới thiệu sơ lược về hợp đồng tương lai và cách thức để tham gia giao dịch trên thị trường này.

1. Trước hết, ta cần phân biệt sự khác biệt giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng tương lai cũng như hợp đồng kỳ hạn, khác với options (có quyền không cần thực hiện hợp đồng) ở chỗ là có sự bắt buộc phải thực hiện hợp đồng vào ngày giao hàng đã thỏa thuận trước. Bên mua của hợp đồng được gọi là bên giữ thế trường vị (long position) của hợp đồng, bên bán của hợp đồng được gọi là bên giữ thế đoản vị (short position) của hợp đồng. Cả hai loại hợp đồng đều được ấn định rõ loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá tương lai, ngày giao hàng và địa điểm giao hàng. Cả hai đều là một trò chơi có tổng bằng 0, khoản lời của bên này chính là khoản lỗ của bên kia. Tuy vậy, giữa chúng cũng có một vài điểm khác biệt sau:

– Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, chỉ có giá là được thỏa thuận, mỗi hợp đổng đều được quy định một số lượng hàng hóa nhất định (gọi là contract size),ngày giao hàng và nơi giao hàng được ấn định cụ thể trên thị trường, không có sự đàm phán giữa hai bên tham gia vào hợp đồng. Ngược lại,mọi đều khoản của hợp đồng kỳ hạn đều có thể được thỏa thuận, đàm phán giữa hai bên.

– Hợp đồng tương lai được giao dịch trên các thị trường tương lai. Các bên có thể kết thúc hoặc chấm dứt vị thế của mình một cách dễ dàng. Bên giữ thế trường vị (người mua) có thể kết thúc vị thế của mình bằng cách bán lại  hợp đồng tương lai với cùng loại hàng hóa và cùng ngày giao hàng. Ngược lại,bên giữ thế đoản vị (người bán) cũng có thể kết thúc vị thế của mình bằng cách mua một hợp đồng tương lai tương tự. Ngược lại, ngoài thị trường hợp đồng kỳ hạn lãi suất  và thị trường kỳ hạn ngoại tệ, hầu hết các thị trường kỳ hạn đều rất kém thanh khoản.

Continue reading

LOGISTICS – MỘT THUẬT GIẢI TỐI ƯU CHO KINH DOANH

THS. VŨ VŨ

Vấn đề tối ưu hóa các công đoạn trong thao tác chân tay cũng như thao tác của máy móc thiết bị cơ khí đã được các nhà nghiên cứu từ các thế kỷ trước nghiên cứu rất nhiều và lý thuyết hóa thành các thuật toán tối ưu. Để giải quyết cho bài toán phân bổ các nguồn nhân lực và vật lực một cách tối ưu nhất về mặt không gian và thời gian cho các lực lượng quân đội vào chiến tranh Thế giới lần I, lý thuyết qui hoạch tuyến tính đã giải quyết bài toán vận tải này một cách xuất sắc. Để rồi đó nó trở thành một nhánh nhỏ của lý thuyết tối hóa, và bài toán vận tải trở thành kiến thức phổ cập cho mọi sinh viên các ngành kinh tế – kỹ thuật.

Dư luận gần đây quan tâm nhiều đến một lĩnh vực cổ xưa nhưng đã được hiện đại hóa lên nhiều lần thông qua những thành tựu vượt bậc của công nghệ thông tin. Đó là vấn đề tối ưu hóa các công đoạn của sản xuất kinh doanh hay đề cập đến logistics.

Logistics là gì?

“Logistics” một thuật ngữ xuất bắt nguồn trong lĩnh vực quân vụ và nguồn gốc của từ ấy có thể được xem xuất trích từ thuật ngữ loger của tiếng Pháp cổ chỉ về những doanh trại lính hay các khu doanh trại. Logistics theo ngữ nghĩa ấy chính là việc tổ chức cung ứng dịch vụ hậu cần cho mọi cuộc hành quân trong quân đội. Đi xa hơn theo ý nghĩa này, ta có thể bắt gặp thuật ngữ “military logistics” là lĩnh vực hoàn chỉnh, trong đó nó bao gồm cả việc cấp phát những quyền hạn và ứng dụng nhiều công nghệ để những hệ thống hậu cần được đáp ứng kịp thời, làm cơ sở cho sự khởi đầu cho mọi cuộc hành quân.

Continue reading

CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA GIAO SAU

THS. VŨ THỊ MINH NGUYỆT

Thị trường giao sau (futures market) là một thị trường tập trung có tổ chức rất cao, chỉ mua bán các sản phẩm dẫn xuất từ thị trường hàng hóa thực là các hợp đồng giao sau (HĐGS – futures contract). Thị trường đã ra đời và phát triển cùng với phương thức giao dịch thông qua các hợp đồng mua bán giao sau các loại hàng hoá thực. HĐGS được tiêu chuẩn hóa: về số và chất lượng hàng hóa, nơi giao hàng, thể thức thanh toán, tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ ký qũy bảo đảm thanh toán,… Nơi mua bán các HĐGS này người ta quen gọi là sàn giao dịch (pit) hay sở giao dịch (exchange).

Từ đây, người ta thường dùng thuật ngữ thị trường hàng hóa giao sau hay thị trường giao sau để ám chỉ sở giao dịch các HĐGS, bởi các hợp đồng giao sau chỉ được mua bán trong các sở giao dịch mà thôi. Cũng chính bởi lý do chỉ mua bán các hợp đồng giao sau tại sàn, hàng hóa cơ sở được giao nhận tại một nơi khác, nên nó có thể xem như một cái chợ ảo. Cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ viễn thông, thị trường giao sau ngày nay sở hữu khoảng 70% lưu lượng vốn toàn cầu vào – ra thị trường hàng ngày. Có được sự tăng trưởng nhanh chóng vậy cũng cần phải kể đến các dạng công cụ được giao dịch trên thị trường ngày càng phức tạp và tinh vi, giúp người tham gia thị trường nhiều cơ hội kinh doanh và phòng chống rủi ro.

Các dạng hợp đồng chuyển giao rủi ro

§ Các dạng hợp đồng truyền thống được sử dụng trên thị trường hàng hóa

o Hợp đồng giao ngay (spot contract ): là loại hợp đồng mà giá cả gọi là giá giao ngay (giá cả của hàng hóa được mua bán trên thị trường ngay tại thời điểm này), nghĩa là việc giao hàng và thanh toán chỉ có thể diễn ra trong vòng 1 hay 2 ngày (làm việc) kể từ khi bản hợp đồng được ký kết.

Continue reading

LỢI ÍCH CỦA MỐI LIÊN KẾT TIÊU THỤ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP QUA HỢP ĐỒNG

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

1- Một số vấn đề chung về tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp qua hợp đồng.

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng. Quyết định này đưa ra nội dung chủ yếu khuyến khích các doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ nông sản với người sản xuất và trách nhiệm của các ngành và tổ chức có liên quan chủ yếu gồm: nhà nông (người sản xuất), nhà doanh nghiệp (người tiêu thụ nông sản hàng hóa), Nhà nước và nhà khoa học (người nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật công nghệ); Vì thế mà chúng ta thường nói quyết định 80 với việc liên kết 4 nhà là vậy. Nội dung chủ yếu thể hiện qua liên kết 4 nhà như sau:

– Nhà nông (người sản xuất): có trách nhiệm cung ứng nông sản phẩm hàng hóa theo tiêu chuẩn đã được cam kết trong hợp đồng.

– Nhà doanh nghiệp (người tiêu thụ nông sản hàng hóa): có trách nhiệm tổ chức tiêu thụ hàng hóa đã được cam kết trong hợp đồng.

– Nhà nước: Cơ quan quản lý giá hướng dẫn nguyên tắc định giá sàn nông sản phẩm hàng hóa đảm bảo người sản xuất có lợi, doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả; Hàng năm ngân sách dành khoản kinh phí để hỗ trợ doanh nghiệp và người sản xuất áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, xúc tiến thương mại, đầu tư cơ sở hạ tầng với vùng sản xuất nguyên liệu tập trung và hỗ trợ hàng sản xuất, chế biến khẩu.

– Nhà khoa học: Thực hiện các hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất.

Continue reading

KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA – Công ty Vinaland Invest Corp

Hầu hết các công ty ở các nước phát triển luôn đề cao quy trình soạn thảo và ký kết hợp đồng, hợp đồng thương mại của họ rất chi tiết, chặt chẽ và dự liệu cả những tình huống hiếm khi xảy ra. Ví dụ: ông Bill Gate, trong một lần phỏng vấn các ứng viên thi tuyển vào Tập đoàn Microsoft đã đặt câu hỏi: “Theo các bạn đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của các hoạt động kinh doanh ngày nay ? ” Một ứng viên tiêu biểu đã trả lời: “Đó chính là tính chặt chẽ của hợp đồng”. Nhiều người khi đó đã nghi ngờ tính nghiêm túc trong câu trả lời của ứng viên này, nhưng Bill Gate không nghĩ vậy. Ông đã cho ứng viên này điểm tối đa và nhận anh ta vào làm việc.

Trong khi đa số các Công ty của Việt Nam hiện nay chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này, vẫn sử dụng những mẫu hợp đồng khuôn sáo, đơn điệu – “năm câu ba điều”, khó hiểu và thậm chí lạc hậu so với pháp luật hiện hành. Hậu quả là khi thực hiện hợp đồng rất khó khăn, dễ xảy ra tranh chấp và thường bị thua khi kiện tụng. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân: văn hóa kinh doanh trọng tín hơn trọng lý, quy mô kinh doanh còn nhỏ, chưa có bài học đau xót trong giao thương quốc tế nên chưa sợ…đặc biệt là còn thiếu hiểu biết pháp luật và kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại. Đó cũng chính là lý do tác giả viết bài này.

1. Những điểm chung cần quan tâm khi soạn thảo hợp đồng thương mại

a) Soạn thảo Dự thảo hợp đồng trước khi đàm phán:

Soạn dự thảo hợp đồng (bước 1), đàm phán, sửa đổi bổ sung dự thảo (bước 2), hòan thiện – ký kết hợp đồng (bước 3) là một quy trình cần thiết. Soạn dự thảo hợp đồng giúp cho doanh nghiệp văn bản hóa những gì mình muốn, đồng thời dự liệu những gì đối tác muốn trước khi đàm phán. Nó giống như một bản kế hoạch cho việc đàm phán, khi có một dự thảo tốt coi như đã đạt 50% công việc đàm phán và ký kết hợp đồng. Nếu bỏ qua bước 1 chỉ đàm phán sau đó mới soạn thảo hợp đồng thì giống như vừa xây nhà vừa vẽ thiết kế, nên thường dẫn đến thiếu sót, sơ hở trong hợp đồng, đặc biệt đối với những thương vụ lớn.

Continue reading

THỰC TIỄN CƠ CHẾ BẢO ĐẢM TIỀN VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

TRẦN MINH SƠN

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người…

1. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người[1]. Các DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Hợp tác xã, hoạt động theo nhiều loại hình doanh nghiệp, như doanh nghiệp nhà nuớc, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã, công ty hợp danh.

Xây dựng và phát triển đội ngũ DNNVV là một nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích, tạo thuận lợi cho DNNVV phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động. ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các DNNVV có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung, qua thực tiễn hoạt động và phát triển của DNNVV ở Việt Nam cho thấy, DNNVV có một số vai trò đối với kinh tế – xã hội:

Continue reading

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI – NHÀ NHƯỢNG QUYỀN VIỆT NAM CẦN BIẾT

NGUYỄN HOÀNG ÂN

Nhượng quyền thương mại cùng với các hình thức kinh doanh khác đã tạo nên một bức tranh sống động của nền kinh tế thế giới. Hình thành từ thế kỷ thứ 19, hình thức này không ngừng được mở rộng, phát huy tính hiệu quả trong kinh doanh.

Hàng năm hệ thống này tạo ra hàng triệu công ăn việc làm, đạt doanh số trên 1000 tỷ USD và phát triển không ngừng trên thế giới. Theo báo cáo của Lãnh sự quán Hoa kỳ năm 2004, tại Mỹ có trên 90% doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức này tồn tại sau 10 năm trong khi đó có trên 82% doanh nghiệp kinh doanh độc lập bị đóng cửa cũng trong thời gian như vậy.

Rõ ràng, hình thức này đã phát huy nhiều tính ưu việt so với các hình thức kinh doanh khác. Tại Việt Nam, hình thức nhượng quyền thương mại hình thành vào những năm 90 của thế kỷ 20 và mang tính tự phát rất cao. Trung Nguyên có thể coi là nhà tiên phong tại Việt Nam áp dụng hình thức kinh doanh này bằng cách phát triển hệ thống đại lý của mình theo hình thức nhượng quyền.

Cũng như các nước khác, hình thức này cũng đã phát huy tính hiệu quả của nó trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đến nay theo Hiệp hội Nhượng quyền Quốc tế, Việt Nam có trên 70 hệ thống kinh doanh nhượng quyền và ngày càng phát triển.

Continue reading

BÀN VỀ ƯU ĐÃI THANH TOÁN

MINH AN (Tổng hợp)

Trong kinh doanh, để có được khách hàng, khá nhiều công ty không ngần ngại đưa ra các hình thức ưu đãi và giảm giá. Nhưng đó lại là con dao hai lưỡi, nếu bạn dành cho khách hàng những điều kiện ưu đãi thanh toán mà không có đủ thông tin về họ hay sơ hở trong việc kết hợp điều kiện cơ sở giao hàng với phương thức thanh toán không đủ sức ràng buộc trách nhiệm của người mua hàng thì rủi rõ sẽ vô cùng lớn.

Là hãng kinh doanh đồ điện lạnh khá uy tín tại Pháp, Jean Francois Co.Ltd đã mở rộng thị trường của công ty sang nhiều thị trường lớn tại châu Á như Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật Bản,… Hãng rất chú trọng đến việc khai thác và phát triển thị trường Trung Quốc, một thị trường đầy tiềm năng và rất rộng lớn.

Từ tháng 4 năm 2004, sau nhiều nỗ lực, Jean Francois đã có được những hợp đồng xuất khẩu đầu tiên sang Trung Quốc cho một doanh nghiệp thương mại Trung Quốc là công ty Limex Shanghai. Những hợp đồng suôn sẻ ngày càng thắt chặt mối quan hệ thân tình giữa Jean Francois và Limex Shanghai. Không những thế, qua lời giới thiệu của một số doanh nhân Pháp sống tại Trung Quốc thì Limex Shanghai cũng là doanh nghiệp khá có uy tín, nên Jean Francois hoàn toàn yên tâm trong các giao dịch sau đó.

Continue reading

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG FRANCHISE

LS. HỒ HỮU HOÀNH

Với sự ra đời của Luật Thương mại 2005, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 và Thông tư số 09/2006/TT-BTM ngày 25/5/2006, nhìn chung hệ thống văn bản pháp luật quản lý, hướng dẫn hoạt động nhượng quyền thương mại đã được hoàn chỉnh.

 

Tuy nhiên, khi tổ chức thực hiện, một số vướng mắc đã và sẽ phát sinh do một số nội dung trong các văn bản pháp luật này chưa thực sự phù hợp với tình hình phát triển hoạt động NQTM hiện nay tại Việt Nam, cũng như việc kết nối giữa các đạo luật liên quan vẫn chưa thể liên thông do gặp phải các trở ngại mang tính kỹ thuật lập pháp.

* Về thủ tục đăng ký hoạt động NQTM

Ở một số nước trên thế giới, quy định này cũng có thể là bắt buộc hoặc khuyến khích tự nguyện đăng ký với mục đích để Nhà nước có thể thu thập thông tin về hoạt động nhượng quyền để xây dựng các chính sách, cơ chế pháp lý có nội dung khuyến khích, phát triển hoạt động nhượng quyền, đồng thời đảm bảo lợi ích hợp pháp của người mua franchise.

Continue reading

FRANCHISE LÀ CÁI CHI CHI?

TAM HÁT – VietFranchise

Bấy lâu nay, chắc quý vị thường nghe báo chí nhắc đến mấy cụm từ: franchise, franchising, nhượng quyền thương mại, nhượng quyền kinh doanh, nhượng quyền thương hiệu… Vậy tất cả những cụm từ trên dùng để chỉ cái gì? Nhưng trước hết, tác giả xin có một đính chính nhỏ, nếu ai hay dùng cụm từ “nhượng quyền thương hiệu” để chỉ hoạt động franchise (hay franchising) là chưa chính xác, bỡi vì thương hiệu chỉ là một phần trong nội dung nhượng quyền.

Franchise, franchising, nhượng quyền thương mại hay nhượng quyền kinh doanh (gọi tắt là franchise) dùng để chỉ một phương thức kinh doanh đặc biệt, có nhiều định nghĩa về franchise trên thế giới.

Tại Hoa Kỳ, Ủy ban Thương Mại Liên Bang (FTC) đã định nghĩ rằng: “franchise là hợp đồng, thỏa thuận giữa các bên, mà trong đó một bên chủ thương hiệu cho phép bên kia được quyền kinh doanh sản phẩm, dịch vụ theo kế hoạch, hệ thống gắn liền với thương hiệu của chủ thương hiệu. Người được cấp quyền phải trả cho bên cấp quyền các khoản phí trực tiếp hay gián tiếp, gọi là phí franchise“.

Continue reading

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI: LỊCH SỬ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

NGUYỄN KHÁNH TRUNG, MBA

Nhượng quyền thương mại được thế giới nhìn nhận là khởi nguồn tại Mỹ nhưng thực tế đã hình thành trước đó tại Trung Quốc với hình thức có 2 – 3 điểm bán lẻ cùng hình thức tại một số địa điểm khác nhau cùng kinh doanh. Năm 1840, các nhà sản xuất bia của Đức cho phép một vài quán bia quyền bán sản phẩm của họ. Năm 1851, lần đầu tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer của Mỹ ký cho thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh. Singer đã ký hợp đồng nhượng quyền và trở thành người tiên phong trong việc thoả thuận hình thức nhượng quyền. Năm 1880 bắt đầu nhượng quyền bán sản phẩm cho các đại lý độc quyền trong lĩnh vực xe hơi, dầu lửa, gas.

Trong thời gian này, phạm vi hoạt động nhượng quyền chỉ là chuyển quyền phân phối và bán sản phẩm của các nhà sản xuất. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hình thức này đã thực sự phát triển rất mạnh mẽ. Sự bùng nổ dân số sau chiến tranh đã kéo theo sự tăng vọt nhu cầu về các loại sản phẩm và dịch vụ và lúc này, nhượng quyền đã trở thành mô hình kinh doanh thích hợp để phát triển nhanh chóng trong ngành công nghiệp thức ăn nhanh và khách sạn.  Vào thập niên 60-70, nhượng quyền bùng nổ và phát triển mạnh ở Mỹ, Anh và một số nước khác.

Continue reading

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI (FRANCHISE – FRANCHISING)

Lantabrand.comFranchising được định nghĩa là sự liên kết hợp đồng giữa phía chuyển giao (nhà sản xuất hoặc tổ chức dịch vụ) với người nhận chuyển giao (người kinh doanh độc lập). Người chuyển giao cho mượn thương hiệu và hệ thống kinh doanh bao gồm tất cả các cách thức quản lý.Còn người nhận chuyển giao chi trả tiền bản quyền thuê thương hiệu và tiền phí để được kinh doanh với tên và hệ thống của nhà chuyển giao.

Hoạt động nhượng quyền kinh doanh (franchising) được coi là khởi nguồn tại Mỹ, vào giữa thế ký 19, lần đầu tiên trên thế giới, nhà sản xuất máy khâu Singer ký cho thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh. Hiện nay, hoạt động nhượng quyền đã có mặt tại 160 nước trên thế giới với tổng doanh thu lên tới 18,3 tỷ USD năm 2000.

Hoạt động nhượng quyền kinh doanh đang phát triển rất nhanh tại Việt Nam. Khởi đầu từ những năm 1990, với sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các hoạt động đó đã có doanh số 1,5 triệu USD vào năm 1996, trên 4 triệu USD vào năm 1998, và từ đó đến nay liên tục phát triển với tốc độ tăng trưởng dự báo 15-20%/năm.

Continue reading