SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG VÀ MỘT VÀI LƯU Ý TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG

 ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng là nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng và cũng là một nguyên tắc luật định. Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện một cách suôn sẻ hoặc hoàn hảo. Vẫn có những biến cố xẩy ra làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng của các bên. Trong đó có những sự cố nằm ngoài khả năng dự đoán và kiểm soát của các bên, và xẩy ra không phải do lỗi của các bên. Khi những sự cố này làm cho một bên không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ của mình thì vấn đề trách nhiệm sẽ ra sao? Hợp đồng có nên tiếp tục được thực hiện hay không? Là những câu hỏi sẽ được giải đáp bởi cơ chế "sự kiện bất khả kháng" trong luật hợp đồng.

1. Sự kiện bất khả kháng

Ngày 10/10/2008, Công ty A (Việt Nam) ký hợp đồng xuất khẩu dưa chuột cho công ty B (Singapore), thời hạn giao hàng là 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 20/10/2008, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Nhưng mãi đến tận 15/01/2009, Công ty A vẫn không giao hàng cho Công ty B. Công ty B khiếu nại thì Công ty A trả lời rằng do trong thời gian tháng 11/2008, lũ lụt xẩy ra ở khu vực Bắc Bộ của Việt Nam ảnh hưởng đến vụ mùa dưa chuột, nên không thể gom đủ hàng giao cho Công ty B, vì vậy Công ty A đề xuất hoàn trả lại tiền cho Công ty B và đề nghị được miễn trách nhiệm vì lý do bất khả kháng. Vấn đề đặt ra là sự kiện lũ lụt ở khu vực Bắc Bộ có phải là sự kiện bất khả kháng trong trường hợp này hay không?

Ngày 15/12/2009, Công ty A của Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu lô hải sản sang EU cho công ty B có trụ sở tại EU. Theo quy định của Hợp đồng thì hàng phải được giao tại cảng của EU trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 25/12/2009, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Tuy nhiên hàng đến chậm so với dự kiện 20 ngày, Công ty A nại lý do hàng đến chậm vì việc cơ quan hành chính Việt Nam còn lúng túng trong việc triển khai cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU nên thủ tục hành chính chậm chạp dẫn đến việc hàng đến chậm so với dự kiến và đề nghị được miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng. Vậy việc cơ quan hành chính Việt Nam túng túng, chậm trễ trong việc triển khai thủ tục cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU có phải là sự kiện bất khả kháng hay không?

Continue reading

ĐỂ TRÁNH LẠM DỤNG TUYÊN HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

TS. NGUYỄN QUỐC VINH

Tiếp theo vấn đề hợp đồng phù hợp hay vô hiệu của TBKTSG số 9-2010 ra ngày 25-2-2010, bài viết này của TS. Nguyễn Quốc Vinh sẽ phân tích về nguồn gốc học thuyết yêu cầu pháp nhân phải kinh doanh trong phạm vi đang ký kinh doanh (ĐKKD) trên thế giới, lược sử áp dụng quy định tại Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị để giải quyết vấn đề này.

Nguồn gốc của học thuyết ultra vires

Học thuyết yêu cầu doanh nghiệp phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD và trong văn kiện thành lập công ty, bao gồm điều lệ (Articles of Association) và thỏa thuận thành lập (Memorandum of Association), được hiểu chung trên thế giới là học thuyết về ultra vires (doctrine of ultra vires).

Học thuyết này có nguồn gốc từ nước Anh. “Ultra” theo tiếng La tinh có nghĩa là vượt quá còn “vires” có nghĩa là thẩm quyền của một người. Học thuyết được áp dụng phổ biến nhất trong pháp luật công ty với nghĩa là hành vi vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty mà đã được nêu trong văn kiện thành lập công ty.

Về lịch sử, học thuyết ultra vires được áp dụng đầu tiên tại Anh đối với công ty thành lập theo các đạo luật của Nghị viện (Acts of Parliament). Tuy nhiên, học thuyết chỉ bắt đầu được áp dụng phổ biến sau sự ban hành Đạo luật về công ty cổ phần năm 1856 (Joint Stock Company Act 1856).

Khi ban hành đạo luật này, các nhà lập pháp Anh quốc có suy nghĩ rằng một khi cho phép trách nhiệm của cổ đông là hữu hạn thì chủ nợ của công ty sẽ không được đảm bảo. Bởi vì, cổ đông trong công ty có thể lạm dụng địa vị trách nhiệm hữu hạn để trốn tránh trách nhiệm cá nhân của mình. Vì lẽ đó, để bảo vệ chủ nợ và cổ đông tương lai, đạo luật về công ty cổ phần 1856 yêu cầu rằng trong thỏa thuận thành lập, các cổ đông phải có điều khoản về phạm vi hoạt động (object clause) của công ty, trong đó liệt kê các lĩnh vực kinh doanh của công ty.

Continue reading

MỘT SỐ LỖI THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH THAM GIA, ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT HỢP ĐỒNG

LG. TRẦN MINH SƠN

Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng. Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chiếm một vị trí nòng cốt với hơn 300 điều trên tổng số 777 điều. Mục đích của pháp luật về hợp đồng là nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên. Quyền tự do ý chí này chỉ bị hạn chế bởi một số ngoại lệ nhằm bảo vệ trật tự công hoặc nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba.

Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật kinh doanh bảo hiểm…, tuy nhiên, Bộ luật dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vưc đó, ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại, hợp đồng bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm … Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy định chung còn các quy định về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng.

Pháp luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay, tuy có một số hạn chế nhất định đang được các nhà làm luật tiếp tục sửa đổi, bổ sung để bắt kịp với thực tiễn xã hội nhưng nhìn chung được xem là khá tiến bộ và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ hiện nay. Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung các chế định về hợp đồng đã phần nào quán triệt, thể chế hoá các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước, cụ thể hoá các quyền về kinh tế, dân sự của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và đáp ứng được các yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng đã thể hiện quan điểm tăng cường quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên được toàn quyền quyết định về đối tác tham gia ký kết hợp đồng, hình thức hợp đồng, nội dung của hợp đồng và trách nhiệm của các bên khi có vi phạm.

Continue reading

CÁC HÌNH THỨC PHÁP LÝ CHỦ YẾU CỦA TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI

TS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH – Trường Đại học Luật Hà Nội

Trong hoạt động thương mại, bên trung gian thực hiện các dịch vụ nhằm tạo điều kiện để bên có nhu cầu bán hàng, cung ứng dịch vụ… thiết lập quan hệ với bên có nhu cầu mua hàng, sử dụng dịch vụ… hoặc thông qua bên này mà hàng hoá, dịch vụ sẽ đến được với bên thứ ba. Ngay từ thế kỷ 19, luật pháp của nhiều nước trên thế giới (như Pháp, Đức, Ý, Nhật) đã quan tâm điều chỉnh các hoạt động thương mại qua trung gian. Ở nước ta, Luật Thương mại năm 2005 (LTM) đã đưa ra định nghĩa về hoạt động trung gian thương mại (TGTM), đồng thời, các hoạt động này được tập hợp thành một chế định: Các hoạt động TGTM (tại chương V, từ Điều 141 đến Điều 177).

Xin được nêu và so sánh ba hình thức hoạt động TGTM chủ yếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại theo pháp luật của các nước trên thế giới là: đại diện thương mại (ĐDTM), môi giới thương mại (MGTM), uỷ thác thương mại (UTTM) với các hình thức tương ứng theo pháp luật Việt Nam[1], đồng thời chỉ ra những nội dung cần lưu ý khi xác định hình thức cũng như hoạt động TGTM trên thế giới.

1. Đại diện thương mại[2]

Hiện nay, ĐDTM là hình thức hoạt động TGTM phổ biến nhất trên thế giới và được pháp luật của hầu hết các nước ghi nhận. Ở Pháp, ĐDTM được quy định từ Điều L134 -1 đến Điều 134 -17 Bộ luật thương mại (BLTM)[3]; ở Đức được quy định từ Điều 84 đến Điều 92 BLTM[4]; ở Nhật được quy định từ Điều 46 đến Điều 51 BLTM ; ở Thái Lan được quy định từ Điều 797 đến Điều 832 Bộ luật Dân sự và thương mại (BLDS và TM)5. Để kết hợp luật của các quốc gia thành viên liên quan đến những bên ĐDTM độc lập, Hội đồng châu Âu đã ban hành chỉ thị số 86/653/EEC ngày 18/12/1986 về những bên ĐDTM[5].

Qua nghiên cứu cho thấy, ĐDTM theo pháp luật của các nước nói trên có bản chất giống với hoạt động đại diện cho thương nhân theo pháp luật Việt Nam (được quy định trong LTM 2005 từ Điều 141 đến Điều 149).

Continue reading

BẢO VỆ BÍ MẬT THƯƠNG MẠI TRONG NHƯỢNG QUYỀN

KINH DOANH – Mọi hợp đồng nhượng quyền đều bao gồm nhiều điều khoản nhằm bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ, các sáng chế, bí quyết kinh doanh. Có nhiều hợp đồng lại thất bại do không chỉ ra được một cách thức đúng đắn nhằm bảo vệ một thứ được coi là tài sản quý giá nhất đối với mọi doanh nghiệp đó chính là các bí mật thương mại.

Xét trong bối cảnh của nghành công nghiệp nhượng quyền, thật rất cần thiết cho cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền hiểu thế nào là một bí mật thương mại, tại sao việc bảo vệ bí mật thương mại lại trở nên quan trọng, sự bảo vệ đó có thể thất bại ra sao và những nỗ lực cần thiết để giúp đảm bảo việc bảo vệ những bí mật thương mại trong nghành kinh doanh này nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh của hệ thống nhượng quyền.

Bí mật thương mại:

Một bí mật thương mại được định nghĩa chung như là một dạng thông tin mà các thông tin này có thể tạo ra cho người nắm giữ chúng một lợi thế cạnh tranh nhất định, do vậy thông tin này sẽ được giữ bí mật và người khác sẽ không biết gì về thông tin này và bí mật thương mại chính là đối tượng của những nỗ lực thiết thực nhằm duy trì tính bí mật của nó trong bất kì hoàn cảnh nào.

Tại sao việc bảo vệ bí mật thương mại lại quan trọng?

Những bí mật thương mại có thể mang lại một lợi thế canh tranh cho một doanh nghiệp miễn là các đối thủ không thể biết gì về chúng. Vì vậy, không giống bằng sáng chế, chỉ có giá trị đến 20 năm sau khi thông tin này đã được phổ biến rộng rãi, ngược lại, một bí mật thương mại có thể còn giá trị để mang lại một lợi thế cạnh tranh lâu dài hơn sau khi một bằng sáng chế đã hết hiệu lực.
Thí dụ, nếu công thức cho Coco-Cola đã được cấp bằng sáng chế thay vì được xác nhận như là một bí mật thương mại thì bằng sáng chế này chắc chắn đã hết hiệu lực từ lâu, mặt khác, với một lợi thế cạnh tranh, Coco-Cola và nghành kinh doanh nước giải khát của thương hiệu này đã được ỵêu thích hơn 100 năm qua.

Continue reading

BỐI CẢNH HỢP ĐỒNG

THS. TRẦN THANH TÙNG – THS. CAO THỊ HÀ GIANG

Nếu hợp đồng là một bức tranh thì bối cảnh chính là tờ giấy vẽ tranh. Bức tranh sẽ như thế nào nếu các bên ký kết chưa biết được tờ giấy của mình to hay nhỏ, vuông hay tròn?

Câu hỏi này có thể khiến một số người giật mình vì không nhiều người nghĩ đến bối cảnh khi soạn hợp đồng.

Hợp đồng cần bối cảnh

Hợp đồng là công cụ pháp lý không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh. Một khi được ký kết, hợp đồng chính là “luật” của các bên tham gia. Như những văn bản khác, hợp đồng thể hiện một hoàn cảnh cụ thể với những bên cụ thể, những mong muốn cụ thể.

Sẽ không có một hợp đồng mẫu phù hợp với mọi hoàn cảnh và mọi đối tượng. Bối cảnh khác nhau thì hợp đồng sẽ khác nhau, bối cảnh thay đổi thì hợp đồng cần phải thay đổi theo. Vậy bối cảnh hợp đồng là gì và ảnh hưởng như thế nào đến giá trị pháp lý của hợp đồng?

Bối cảnh hợp đồng ghi nhận những sự kiện, hoàn cảnh làm cơ sở cho các bên ký kết, như tư cách, chức năng của các bên, địa vị kinh tế, cơ sở pháp lý, kết quả mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng, sơ lược nội dung giao dịch…

Những sự kiện trong phần bối cảnh là những thông tin tiền đề cho việc ký kết, thực hiện hợp đồng. Trong một hợp đồng cụ thể, bối cảnh thường được nêu ngay trong phần “căn cứ”, “dẫn nhập” hoặc “recital”, “whereas” trong các hợp đồng thương mại quốc tế.

Phải nhìn nhận rằng phần bối cảnh hợp đồng hiện còn khá xa lạ đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Continue reading

CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ QUA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM, CÔNG ƯỚC CISG VÀ BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT

NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH – Khoa Luật, Đại học Huế

Đối với hợp đồng thương mại quốc tế, khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng, một trong những chế tài được áp dụng phổ biến là bồi thường thiệt hại (1). Luật Thương mại Việt Nam 1997 và 2005 đều dành điều khoản (Điều 229 Luật 1997 và Điều 320 Luật 2005) để quy định vấn đề này. Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước CISG) cũng dành Mục II Chương 5 cho chế tài bồi thường thiệt hại. Bộ nguyên tắc của Unidroit (2) về hợp đồng thương mại quốc tế (sau đây gọi tắt là Bộ nguyên tắc Unidroit) dành Mục 4 Chương 7 để thống nhất các vấn đề về bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, những quy định trên lại có những điểm khác biệt trong thuật ngữ, trong cách giải thích và trong thực tế áp dụng. Nằm trong nỗ lực hài hòa hóa pháp luật cho hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, bài viết sẽ phân tích những điểm còn khác biệt giữa những quy định trên.

1. Sự khác biệt và bổ trợ giải thích cho nhau giữa ba văn bản về chế tài bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm do không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới áp dụng3. Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định về chế tài bồi thường thiệt hại tại Điều 302. Chế tài này sẽ được áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi luật điều chỉnh hợp đồng là luật Việt Nam.

“Điều 302: Bồi thường thiệt hại

1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm4”.

Continue reading

KÝ KẾT HỢP ĐỒNG: LINH HOẠT ĐIỀU KHOẢN GIÁ

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương

Điều khoản giá là một trong những điều khoản quan trọng trong hợp đồng. Vì thế, các DN khi ký kết hợp đồng cần có những lưu ý thích đáng để tránh những tranh chấp phát sinh từ việc hiểu lầm hay không thống nhất về mức giá và cách thức xác định giá.

Tranh chấp giữa người mua Pháp – Cty Fauba Fidis GC Electronique và người bán Đức – Cty Fujitsu Mikroelectronik Gmbh. Tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng và liên quan đến việc xác định giá của hàng hóa. Tranh chấp được giải quyết tại Tòa Phúc thẩm Paris. Điều 14 của Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Diễn biến tranh chấp

Người mua gửi một đơn chào mua các linh kiện điện tử đến người bán. Trong đơn chào mua có quy định, giá mua do người mua đưa ra có thể được xem xét theo sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Nhận được đơn chào mua, người bán trả lời là giá cần được xem xét theo cả sự tăng lên và sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Người mua đã đồng ý về việc này. Hàng hóa được người bán gửi cho người mua theo đúng đơn chào mua, nhưng người mua lại đơn phương hủy đơn chào mua của mình và không nhận hàng. Người mua cho rằng điều khoản giá quy định như vậy là chưa đủ rõ ràng để hình thành hợp đồng giữa hai bên. Vì Pháp và Đức là hai quốc gia thành viên của CISG nên tòa án áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp. Tòa Phúc thẩm Paris trích dẫn điều 14 khoản 1 CISG, theo đó “Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu nó đủ chính xác và chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó. Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng và giá cả một cách rõ ràng hoặc ngầm định hoặc quy định các yếu tố để xác định số lượng và giá cả”.

Continue reading

KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai chủ thể có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có rủi ro rất lớn. Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, doanh nghiệp cần xây dựng một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hợp pháp, đầy đủ và chi tiết.

Với khuôn khổ một bài viết, chúng tôi không thể đề cập được một cách cụ thể và toàn diện về các nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ trình bày những vấn đề quan trọng nhất trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà các doanh nghiệp cần lưu tâm trong quá trình soạn thảo.

1.   Xác định chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Khi giao kết, tham gia bất kỳ một hợp đồng nào, điều đầu tiên mà các bên phải kiểm tra đó chính là đối tác giao kết, tham gia và thực hiện hợp đồng.

1.1.    Bên bán và bên mua

Trong thực tế giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhiều khi xẩy ra hiện tượng:

a)    Công ty mẹ là bên bán/mua đích thực (bên có và thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng với tư cách là bên bán/bên mua) nhưng bên ký hợp đồng lại là công ty con.

b)    Bên bán/bên mua là pháp nhân nhưng bên đứng ra ký kết hợp đồng chỉ là đơn vị trực thuộc của pháp nhân như chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng kinh doanh,…

c)    Bên ký kết hợp đồng là một công ty nhưng bên thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng lại là một công ty liên kết của công ty ký kết hợp đồng.

Continue reading

NHỮNG LƯU Ý ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

TRẦN MINH SƠN

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu, đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động và có vốn hiểu biết pháp luật vững vàng nhằm có được ưu thế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của thương trường qua đó đạt hiệu quả cao trong kinh doanh không chỉ đối với thị trường trong nước mà còn phải đứng vững trên thị trường thế giới. Tranh chấp trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, nhất là đối với cơ chế mở và một nền kinh tế thị trường đang theo xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay. Tuy nhiên, do sự chủ quan và không được trang bị kiến thức pháp luật đầy đủ, các doanh nghiệp thường gặp phải những tổn thất không đáng có dẫn tới sự thua thiệt, tổn thất rất lớn trong kinh doanh và thậm chí là phá sản.

Theo thống kê mới nhất hiện nay thì các vướng mắc, tranh chấp đã và đang diễn ra tập trung phần lớn trong quá trình đàm phán, giao kết và thực hiện hợp đồng. Vì vậy, trong phạm vi bài viết mang tính chất nghiên cứu này, tác giả có đề cập đến hợp đồng thương mại và những lưu ý đối với doanh nghiệp trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện loại hợp đồng này:

Trong hoạt động thương mại thì hợp đồng thương mại còn đóng vai trò là một phương tiện rất quan trọng để bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các bên trong hợp đồng, giúp các bên kiểm soát và dự báo được lợi nhuận cũng như các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. Hình thức của hợp đồng thương mại là đa dạng, từ những bản hợp đồng rất đơn giản với những thỏa thuận cũng rất đơn giản và ngắn ngọn đến những bản hợp đồng phức tạp, đồ sộ được soạn thảo công phu bởi những luật sự giỏi, dày dặn kinh nghiệm trên thế giới và có hiệu lực áp dụng vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia.

Những vẫn đề cần lưu ý khi soạn thảo, đàm phán hợp đồng thương mại:

1. Lưu ý chung:

Continue reading

HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ – NHỮNG NỘI DUNG DOANH NGHIỆP CẦN QUAN TÂM

MINH ĐỨC

Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc tế. Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao công nghệ… Sau đây là nội dung Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, một trong những loại Hợp đồng thương mại quốc tế thường gặp có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

1. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (còn được gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu) là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế (có yếu tố nước ngoài, có nhân tố nước ngoài). Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được hiểu không giống nhau tuỳ theo quan điểm của luật pháp từng nước.

– Theo Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế các động sản hữu hình:tính chất quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như: các bên giao kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hoá, đối tượng của hợp đồng, được chuyển qua biên giới một nước, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết hợp đồng giữa các bên được lập ở những nước khác nhau (Điều 1 của Công ước).

Nếu các bên giao kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ. Yếu tố quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Continue reading

HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG PHẦN VỐN GÓP

NGUYỄN HỒNG ANH

Phần vốn góp, cổ phần trong công ty có tư cách pháp nhân (“Phần Vốn Góp”) là các tài sản vô hình có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự thông qua hợp đồng chuyển nhượng. Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng làm phát sinh không những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với nhau mà còn liên quan tới công ty phát hành Phần Vốn Góp (“Công Ty”). Ta thử lần lượt tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng Phần Vốn Góp đối với các bên giao kết và đối với Công Ty cũng như đối với người thứ ba.

1. Đối với các bên giao kết hợp đồng

Phần Vốn Góp là một tài sản vô hình. Tài sản này không chiếm hữu được. Đó chỉ là quyền định giá được bằng tiền và không gắn liền với bất kỳ vật cụ thể, xác định nào. Luật pháp Việt Nam gọi chung những tài sản vô hình đó là quyền tài sản. Việc mua bán quyền tài sản được điều chỉnh bởi Điều 442 Bộ luật dân sự và một số các quy định riêng tại luật chuyên ngành như Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu Tư…

Giống như hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản (Phần Vốn Góp) được đặc trưng bởi việc bên chuyển nhượng có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu Phần Vốn Góp cho bên nhận chuyển nhượng. Đổi lại, bên nhận chuyển nhượng phải trả tiền cho bên chuyển nhượng (Điều 442 khoản 1 Bộ luật dân sự).

Ta thừa nhận rằng, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng. Thế nhưng chỉ có chừng đó nghĩa vụ liệu có đủ để đảm bảo cho quyền lợi của bên giao kết còn lại của hợp đồng? Ở các hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, người bán có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết về tài sản, bảo đảm chất lượng vật mua bán và bảo hành đối với vật mua bán cho người mua.

Continue reading

ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG HỢP TÁC KINH DOANH VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM

THS. LÊ KIM GIANG – Công ty thông tin VMS

Từ những năm đầu thế kỷ XXI, Đảng ta đã có định hướng phát triển khoa học và công nghệ cụ thể là: “Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với các ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp, không gây ô nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động. Chú trọng nhập khẩu công nghệ mới, hiện đại” (1). Đồng thời Đảng ta xác định, phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thực hiện những định hướng quan trọng trên đây, từ những năm cuối thập kỷ trước, ngành bưu chính viễn thông đã liên doanh được với nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông. Có được thành công này chính là nhờ “công cụ pháp lý” quan trọng là hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) trong lĩnh vực viễn thông.

1. Nguyên lý chung trong hợp đồng hợp tác kinh doanh dịch vụ viễn thông

Hợp đồng liên kết kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông là một hình thức hợp đồng cụ thể ghi nhận nội dung những cam kết, thỏa thuận; ghi nhận quyền và nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên.

Là một hợp đồng, nên hợp đồng liên kết kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông cũng phải tuân theo nguyên tắc về tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được quy định tại Điều 4 của Bộ luật Dân sự năm 2005: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào. Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”.

Continue reading

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

TS. BÙI NGỌC CƯỜNG

Hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM) “cho phép người khác thành công giống như chúng ta đã thành công”; “là sự lặp lại của thành công”. Đó là ý tưởng chủ đạo, định hướng tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực NQTM.

Hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM) “cho phép người khác thành công giống như chúng ta đã thành công”; “là sự lặp lại của thành công”. Đó là ý tưởng chủ đạo, định hướng tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực NQTM.

NQTM là loại hoạt động thương mại theo mô hình kinh doanh thống nhất, gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ và nhấn mạnh quyền kiểm soát hệ thống NQTM của bên nhượng quyền. Về bản chất, NQTM là:

– Loại thoả thuận mà theo đó, bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ và dấu hiệu thương mại của mình (như: nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết, biển hiệu) trong hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ;

– Bên nhận quyền phải tuân thủ phương pháp kinh doanh của bên nhượng quyền;

– Trong suốt thời hạn hợp đồng NQTM, bên nhượng quyền có trách nhiệm trợ giúp kỹ thuật, kinh doanh và tiếp thị cho bên nhận quyền.

1. Đặc thù của NQTM

1.1. Trong các yếu tố cơ bản của hợp đồng NQTM

a. Hợp đồng NQTM phải quy định về sự góp vốn của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền

Continue reading

BÀN LUẬN VỀ QUI ĐỊNH ĐĂNG KÍ GIAO DỊCH TẠI SỞ GIAO DỊCH HÀNH HÓA VÀ NHÂN ĐÓ SUY RỘNG TỚI MỘT VÀI ĐIỂM YẾU CỦA MỤC 3 CHƯƠNG 2 LUẬT THƯƠNG MẠI

NGUYỄN ĐỨC NGỌC

1. Mở đầu

Sở giao dịch hàng hóa là một loại hình thị trường phức tạp. Do đấy cách tiếp cận của việc điều chỉnh pháp luật thật không dễ dàng. Như thế để thấy rằng các qui định của Luật thương mại 2005 về sở giao dịch hàng hóa và các qui định hướng dẫn chi tiết ở cấp Nghị định quả là đáng quí. Trong quan niệm của chúng tôi, khi nghiên cứu về sở giao dịch hàng hóa theo bất kỳ nội dung pháp luật nào thì cũng cần phải dựa trên nhưng giả định sau đây về bản chất của sở giao dịch hàng hóa:

– Giao dịch tại sở giao dịch hành hóa là một hình thức đầu tư, kinh doanh hàng hóa là các công cụ phái sinh như hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi. Công cụ phái sinh được hiểu là hình thức đầu tư tìm kiếm lợi nhuận dựa trên lợi nhuận của việc kinh doanh một hàng hóa khác.

– Hiệu quả của các giao dịch trên sở giao dịch hàng hóa trước tiên là nhằm giảm thiểu rủi ro. Giao dịch qua các thị trường phái sinh là một kỹ thuật phòng ngừa rủi ro. Nhà sản xuất phải mua hàng hóa đầu vào cho sản xuất trong tương lai vì để tránh rủi ro tăng giá, và ngược lại, người bán là vì lí do giảm giá.

– Sở giao dịch hàng hóa là loại thị trường được tiêu chuẩn hóa. Mức độ tiêu chuẩn hóa được thể hiện bởi các điều kiện giao dịch, phương thức giao dịch. Chính quá trình tiêu chuẩn hóa này là nguồn gốc sâu xa cho tính thanh khoản của hàng hóa trên sở giao dịch. Cũng chính vì mức độ tiêu chuẩn hoá của sở giao dịch là rất cao nên việc đăng kí giao dịch tại sở cũng dựa trên những tiêu chuẩn và điều kiện nhất định. Pháp luật nước nào thì cũng phải qui định về đăng ký giao dịch tại sở giao dịch, cái khác chỉ là việc xử lí những vấn đề cụ thể.

Continue reading

TRANH CHẤP THỜI LẠM PHÁT

QUANG CHUNG – TIẾN TÀI

Giá nông sản, giá vật liệu xây dựng, giá nhà đất… cứ biến động như hiện nay thì chuyện đổ vỡ hợp đồng trong làm ăn tất yếu sẽ diễn ra, dẫn đến nhiều hệ lụy. Hiệp hội Điều Việt Nam đang bị khiếu nại do doanh nghiệp thành viên chậm giao hàng. Không ít công ty xây dựng phải vất vả thương lượng lại những hợp đồng đã lỡ ký. Nhiều cam kết mua bán nhà, đất đứng trước nguy cơ bị “bể kèo”…

Đổ vỡ cam kết…

Các doanh nghiệp nhập khẩu nhân điều của Mỹ và châu Âu vừa gửi thư khuyến nghị đến Hiệp hội Điều Việt Nam. Trong thư họ phàn nàn về việc một số doanh nghiệp xuất khẩu nhân điều Việt Nam vi phạm các hợp đồng đã ký kết; họ cảnh báo, nếu các doanh nghiệp Việt Nam không sớm khắc phục họ sẽ khởi kiện.

Hiện tượng “xù” hợp đồng xảy ra khi giá nhân điều trên thị trường thế giới tăng cao. Từ cuối năm 2007 đến nay, theo các nhà nhập khẩu, việc vi phạm hợp đồng đã ký kết của một số doanh nghiệp xuất khẩu nhân điều Việt Nam gây thiệt hại cho họ khoảng 45 triệu đô la Mỹ.

Giải thích sự việc này, Hiệp hội Điều cho rằng, đây là vấn đề “nan giải”. Khi ký hợp đồng xuất khẩu, giá điều thô chỉ 750-800 đô la Mỹ/tấn, nhưng đến cuối năm 2007, giá đã tăng lên 950-1.000 đô la Mỹ/tấn. Đồng thời, mùa vụ điều trong nước đến trễ và mất mùa; cộng với tình hình lạm phát bùng nổ, lãi vay ngân hàng tăng… gây khó khăn cho một số doanh nghiệp Việt Nam trong việc thực hiện các hợp đồng đã ký.

Hơn nữa, theo Hiệp hội Điều, các doanh nghiệp thành viên còn gặp khó khăn do bị một số đối tác nước ngoài “xù” hợp đồng bán nguyên liệu điều thô.

Continue reading

THỜI HẠN KHIẾU NẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI: PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN TÀI PHÁN VÀ CÁC QUAN ĐIỂM

TS. PHAN HUY HỒNG – Đại học Luật TPHCM

Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) không còn quy định: “quá thời hạn khiếu nại, bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại trọng tài, toà án có thẩm quyền” như khoản 1 Điều 241 Luật Thương mại 1997 (LTM 1997). Thực tế lập pháp đó làm nảy sinh vấn đề: tòa án hay trọng tài phải quyết định như thế nào trong trường hợp tương tự, khi không còn quy định rõ ràng về hậu quả pháp lý của việc bỏ qua thời hạn khiếu nại?

I. Thời hạn khiếu nại theo LTM 1997 và thực tiễn tài phán

1. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 không quy định về thời hạn khiếu nại. Bởi vậy, vấn đề này không hề xuất hiện trong thực tiễn tài phán liên quan đến Pháp lệnh này. Thậm chí, Pháp lệnh này cũng không quy định thời hiệu khởi hiện như các văn bản pháp luật nội dung sau này. Tuy nhiên, các bên hợp đồng kinh tế cũng chỉ có quyền yêu cầu Trọng tài kinh tế giải quyết tranh chấp trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày xảy ra vi phạm hợp đồng kinh tế hoặc từ ngày một bên cho là đã có vi phạm xảy ra (1). Thời hạn sáu tháng này sau đó cũng được Pháp lệnh về thủ tục xét xử các vụ án kinh tế năm 1994 tiếp nhận dưới hình thức thời hiệu khởi kiện (2). Dường như cả hai pháp lệnh này đều đã thể hiện chức năng đặc thù của pháp luật thương mại là đòi hỏi các tranh chấp phát sinh phải sớm được các bên tìm cách giải quyết thông qua quy định về thời hạn yêu cầu giải quyết tranh chấp hay thời hiệu khởi kiện ngắn (3).

2. LTM 1997 không thay thế Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, bởi vì phạm vi điều chỉnh của Luật này hẹp hơn, chỉ là hoạt động thương mại theo nghĩa hẹp, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân, được cụ thể hóa bằng 14 hành vi thương mại khác nhau (4), trong đó dịch vụ thương mại chỉ bao gồm các dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa (5). Như vậy, xét từ góc độ pháp luật hợp đồng thì Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 là luật chung (lex generalis), còn các quy định về hợp đồng trong LTM 1997 là luật riêng (lex specialis). Bản thân LTM 1997 không quy định rõ mối quan hệ giữa Luật này với Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (6), nhưng các cơ quan tài phán đều tuân theo nguyên tắc: Đối với các hoạt động thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM 1997 thì áp dụng quy định của Luật này, chỉ khi Luật này không điều chỉnh một vấn đề nào đó liên quan đến hợp đồng thì mới áp dụng quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế. Chẳng hạn, do LTM 1997 không điều chỉnh vấn đề hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động thương mại, nên việc xem xét hợp đồng đó có vô hiệu hay không được căn cứ quy định tại Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (7).

Continue reading

HỢP ĐỒNG PHỤ CÔNG NGHIỆP – PHÁT TRIỂN TÍNH CHUYÊN NGHIỆP VÀ NỘI ĐỊA HÓA SẢN PHẨM

TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG

Trong lịch sử, nhiều công ty của Hàn Quốc, Thái Lan đã đi theo hướng từ nhà thầu phụ, các kỹ sư xin làm thuê, làm công nhân trong liên doanh để sau một thời gian đủ ngắn bằng kinh nghiệm và mua li- xăng họ đã nội địa hoá sản phẩm cạnh tranh với công ty nước ngoài, biến công ty nước ngoài trở thành đơn vị gia công tỷ lệ nhỏ các linh kiện của sản phẩm chính mang nhãn hiệu riêng của công ty trong nước.

Hợp đồng phụ công nghiệp nhằm gắn kết các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp có mối liên hệ về cơ cấu vật chất của sản phẩm (nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết sản phẩm hoàn chỉnh) và dịch vụ (lao động, thiết kế mẫu, vốn) theo hướng chuyên môn hoá các chi tiết kết hợp mở rộng khả năng đa dạng hoá sản phẩm mới, phân chia lợi ích và rủi ro, rút ngắn thơi gian nghiên cứu chế thử và sản xuất sản phẩm với các quy mô cạnh trạnh.

Chúng ta có hướng đề nghị phía nước ngoài nâng tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm nhưng các bước hỗ trợ, xúc tiến các công ty trong nước tham gia các hợp đồng phụ không rõ ràng, thiếu các cam kết về chuyển giao công nghệ chế tạo thiết bị , phụ tùng, phụ liệu vào các công ty trong nước. Các khu Công nghiệp, Khu chế xuất ở Việt Nam đạt tỷ lệ nội địa hoá rất thấp, Khu Tân Thuận năm 1999 chỉ đạt khoảng 3,6% tức là các doanh nghiệp trong khu đã nhận 96,4% giá trị các hợp đồng phụ công nghiệp ngoài lãnh thổ nước ta. Hợp đồng phụ công nghiệp không chỉ ở trong nước mà cả với nước ngoài .

Các doanh nghiệp bên Việt Nam vì nhiều lí do đã không ý thức hết vai trò của nhà thầu phụ công nghiệp, có thể do đầu tư lớn, thị trường không ổn định, hiệu quả thấp, nên một số đã đi theo hướng kinh doanh thương mại, tự biến mình làm nhà tiêu thụ thuần tuý với lợi ích cá biệt, đã thủ tiêu ý chí vươn lên trở thành nhà thầu phụ công nghiệp sáng tạo dù đủ vốn và trí tuệ.

Trong lịch sử, nhiều công ty của Hàn Quốc, Thái Lan đã đi theo hướng từ nhà thầu phụ, các kỹ sư xin làm thuê, làm công nhân trong liên doanh để sau một thời gian đủ ngắn bằng kinh nghiệm và mua li-xăng họ đã nội địa hoá sản phẩm cạnh tranh với công ty nước ngoài, biến công ty nước ngoài trở thành đơn vị gia công tỷ lệ nhỏ các linh kiện của sản phẩm chính mang nhãn hiệu riêng của công ty trong nước.

Các công ty của Nhật đã từng kiên nhẫn tiếp cận thị trường ti vi của Hoa Kì qua các giai đoạn từ bán sản phẩm của Nhật mang nhãn của Hoa Kì, đến liên doanh, cung cấp linh kiện,… cho đến khi chiếm gần hết thị phần. Không thuần tuý là công nghệ mà là chiến lược tham gia vào thị trường công nghiệp, chia sẻ và vận động hợp tác thị trường từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

Continue reading

MUA BÁN, SÁP NHẬP VÀ DỊCH VỤ ĐIỀU TRA CHI TIẾT

LS. TRẦN THANH TÙNG – Văn phòng Luật sư Phuoc & Partners

Ở Việt Nam, hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (Merger and Acquisition – M&A) được dự báo là sẽ ngày càng sôi động, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, M&A là hoạt động đầy rủi ro. Một số thống kê của các hãng tư vấn nổi tiếng thế giới cho thấy khoảng hai phần ba các vụ M&A thất bại.

Giao dịch rủi ro

Chúng ta đã từng “sốc” khi nghe tin doanh nghiệp cổ phần Doanh nghiệp trẻ Đồng Nai (Dona Corp) đã mua lại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Cheerfield Vina với giá chỉ… 1 đô la Mỹ.

Tuy nhiên sau đó, Dona Corp đã gặp rắc rối khi người ký kết hợp đồng mua bán không được sự ủy quyền của các chủ đầu tư nước ngoài. Hay như vụ mua bán một hãng kem khá nổi tiếng đã gặp trục trặc chỉ vì hợp đồng mua bán đã không quy định về quyền sở hữu trí tuệ của các hình ảnh trên… khuôn kem.

Hoặc những vụ kiện liên quan đến mua bán doanh nghiệp mà rất lâu sau khi hai bên ký kết hợp đồng, chợt có người gõ cửa doanh nghiệp và yêu cầu doanh nghiệp trả những khoản nợ đã có từ trước khi mua bán.

Không kém phần lạ lẫm là những vụ M&A  đã hoàn tất thỏa thuận mua bán thì lại vướng ở khâu sau cùng – thủ tục đầu tư – vì thiếu các quy định pháp luật rõ ràng và nhất quán.

Có một nguyên nhân chung: sự thiếu thông tin của các bên về doanh nghiệp – đối tượng của hoạt động M&A – đã dẫn đến sự thất bại. Khi xúc tiến một hoạt động M&A, ít nhất có ba câu hỏi mà các bên cần quan tâm, đó là: Mua bán cái gì? Giá bao nhiêu? Trình tự mua bán và thủ tục như thế nào? 

Để trả lời cho các câu hỏi đó, các bên, đặc biệt là bên mua, cần đầy đủ thông tin. Đó là cơ sở cho một dịch vụ đặc thù chuyên hỗ trợ các vụ M&A: dịch vụ điều tra chi tiết. Dịch vụ này có nhiệm vụ nhận diện các rủi ro có thể có trong vụ M&A và từ đó tìm ra các giải pháp hạn chế rủi ro này.

Các dịch vụ điều tra chi tiết

Điều tra chi tiết (Due Diligence – DD), là quá trình nghiên cứu, xem xét toàn bộ hoạt động và nội tình của doanh nghiệp mục tiêu, đưa ra một bức tranh đầy đủ nhất, chi tiết nhất về doanh nghiệp đó. Quá trình DD được thực hiện bởi các chuyên gia với những kinh nghiệm chuyên sâu trong từng lĩnh vực.

Continue reading