KHÁI QUÁT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

THS. NGUYỄN HỒNG HẢI – Khoa Luật dân sự,  Đại học Luật Hà Nội

Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) của các nước trên thế giới được qui định gắn liền với các điều kiện kinh tế – xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân… Do đó, giữa các nước khác nhau thường có những qui định khác biệt về tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, về cơ bản tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: Sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và theo các qui định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định).

1. Tài sn ca v chng được xác định da trên cơ s hôn ước – Chế độ tài sn ước định

Hôn ước (hôn khế) là sự thoả thuận bằng văn bản (hợp đồng) do vợ chồng lập trước khi kết hôn để qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân (1). Nội dung của hôn ước thường xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản đó cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa họ với người thứ ba.

Continue reading

KHÁI QUÁT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG trong pháp luật về hôn nhân và gia đình của một số nước trên thế giới

NGUYỄN HỒNG HẢI

Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) của các nước trên thế giới được qui định gắn liền với các điều kiện kinh tế – xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân… Do đó, giữa các nước khác nhau thường có những qui định khác biệt về tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, về cơ bản tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: Sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và theo các qui định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định).

1. Tài sn ca v chng được xác định da trên cơ s hôn ước – Chế độ tài sn ước định

Hôn ước (hôn khế) là sự thoả thuận bằng văn bản (hợp đồng) do vợ chồng lập trước khi kết hôn để qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân (1). Nội dung của hôn ước thường xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản đó cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa họ với người thứ ba.

Continue reading

QUAN HỆ VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC SẢN XUẤT, KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HOÀ PHÁP

THS. BÙI MINH HỒNG – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật HN (NCS tại CH Pháp)

Trong đời sống giao lưu dân sự, kinh tế, có rất nhiều chủ thể mang tư cách vợ (hoặc chồng). Việc thực hiện những quan hệ này còn phải tuân theo những quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, thực tiễn lập pháp và nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề này dường như còn khá mới mẻ. Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy Pháp luật của Cộng hoà Pháp có nhiều quy định quan trọng mà chúng ta có thể tham khảo. Trong bài viết này, tác giả chỉ tập trung giới thiệu về “Sự hợp tác của vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh”, mà tác giả cho rằng chúng có thể có giá trị cho sự hoàn thiện pháp luật Việt Nam phù hợp với đà phát triển của xã hội.

I. Những quy định của luật chung liên quan đến các hoạt động nghề nghiệp của vợ chồng

1.1. Quyền tự chủ của vợ, chồng về nghề nghiệp

Trong phần quy định về các nghĩa vụ và quyền của vợ và chồng, Bộ luật dân sự (BLDS) đã ghi nhận một quyền rất quan trọng cho mỗi bên vợ chồng: quyền tự chủ về nghề nghiệp. Điều 233 quy định: “Mỗi bên vợ chồng có quyền tự do thực hiện nghề nghiệp, thu những món lợi và tiền lương và định đoạt nó sau khi đã đóng góp trách nhiệm đối với đời sống chung”. Sự tự chủ về nghề nghiệp có ý nghĩa đảm bảo cho vợ, chồng thực hiện được trách nhiệm của mình đối với đời sống gia đình nhưng không phá vỡ trật tự của hoạt động về nghề nghiệp đã được tiến hành từ trước khi kết hôn hoặc được thiết lập trong thời kỳ hôn nhân. Hơn nữa, quy định này còn mang một giá trị là nhằm giải phóng và phát triển năng lực của cá nhân.

Continue reading

GIẢI QUYẾT QUYỀN LỢI CỦA VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT THUÊ CỦA NHÀ NƯỚC

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Chánh tòa Dân sự, Tòa án nhân dân tối cao

1. Phải xác định giá trị quyền thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước là tài sản chung của vợ chồng

Trong nhiều vụ án ly hôn, hai bên đương sự tranh chấp với nhau về quyền thuê nhà của Nhà nước. Đương sự nào cũng yêu cầu được sử dụng diện tích nhà đang thuê củaNhà nước. Đối với trường hợp vợ chồng vừa có quyền sở hữu nhà đất, vừa có diện tích nhà thuê của Nhà nước thì trước năm 2001 các tòa án đều không coi quyền thuê nhà của Nhà nước là tài sản chung của vợ chồng. Sau năm 2001, mặc dù đã có Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ nhưng khi giải quyết, nhiều tòaán vẫn tỏ ra lúng túng, có không ít trường hợp tòa án không coi quyền thuê nhà là tài sản chung vợ chồng, nên không xác định giá trị để chia. Đây là một điều không hợp lý, dưới đây là một ví dụ:

Chị Phạm Thị Thanh, trú tại 38 Đại lộ Hồ Chí Minh, thành phố HD ly hôn anh Nguyễn Đình Chuyền, hiện đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Nga.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: "TRUY NHẬN" CHA SAU 20 NĂM

MINH TRÍ

Phường ra quyết định xác nhận cha cho con nhưng tòa bác vì cho rằng làm không đúng. Nếu sự xác nhận là tự nguyện và không có tranh chấp thì phường được quyền công nhận.

Đang mang thai cô S. hơn bảy tháng nhưng giữa năm 1986, mẹ cô vẫn quyết định ly hôn. Dù cha cô không đồng ý vì vợ đang có mang nhưng cuối cùng TAND quận 4 (TP.HCM) vẫn cho người mẹ được như ý. Hai tháng sau, cô S. được sinh ra và được đăng ký khai sinh tại UBND phường 16, quận 4. Trong giấy khai sinh bỏ trống phần người cha. Năm 1991, người cha mất nhưng mẹ S. không hay biết…

Phường công nhận, tòa không chịu

Năm 2007, mẹ cô S. đến UBND phường 16, tình cờ phát hiện thông báo cho biết cha cô chết để lại căn nhà nhưng không có người thừa kế. Biết đây là sự nhầm lẫn, bà vội vàng vào phường hỏi và làm thủ tục nhận cha cho con. Ngày 6-12-2007, UBND phường đã ra quyết định công nhận cha cho S. Biết được tin này, vài người em của cha S. đã khởi kiện ra tòa quận 4 yêu cầu hủy quyết định công nhận này của phường.

Continue reading

TRANH CHẤP XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: XÁC NHẬN CHA ĐÃ CHẾT LÀM SAO CHO ĐÚNG?

ÁI PHƯƠNG

Năm 1991, bà N. (Bình Trị Đông B, quận Bình Tân) có chung sống như vợ chồng với ông T. Sau đó, vì mâu thuẫn nên bà ra khỏi nhà khi đang mang thai. Đứa bé trai sinh năm 1993, được mang họ mẹ. Sau đó, ông T. kết hôn với người khác có hai đứa con trai và ly hôn vào năm 2003.

Vợ cũ phủ nhận con riêng của chồng

Cuối năm 2005, ông T. đột ngột qua đời nên hai mẹ con bà N. trở về dự đám tang. Cháu bé được bà con bên nội coi là cháu đích tôn. Họ lập biên bản xác nhận cháu là con của ông T. và hứa chia cho cháu một phần di sản thừa kế. Trên cơ sở này, bà N. xin chính quyền xác nhận ông T. là cha cháu bé. Bà nộp hồ sơ ngày 13-4-2006 và bốn ngày sau thì được UBND phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân ra quyết định công nhận cha, con.

Người vợ đã ly hôn của ông T. không đồng ý với quyết định trên. Tuy nhiên, UBND phường đã bác đơn khiếu nại của bà. Thấy vậy, bà đã khởi kiện đến TAND quận Bình Tân để yêu cầu hủy quyết định trên. Ngày 31-7-2007, TAND quận Bình Tân đưa vụ án ra xét xử.

Continue reading

NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ: CẦN MINH BẠCH CÁC KHOẢN TÀI TRỢ

ĐỨC MINH

Đề án thành lập quỹ nuôi con nuôi sẽ xây dựng xong trong quý I – 2009. Các khoản hỗ trợ bằng tiền cho cơ sở nuôi dưỡng trẻ em cần bắt buộc chuyển khoản để dễ kiểm tra, giám sát. Trong hai ngày 4 và 5-9, Bộ Tư pháp tổ chức hội nghị sơ kết năm năm thực hiện Nghị định 68 trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Một trong những thành công được nhắc tới của Nghị định 68 là quy định về cơ chế hỗ trợ của tổ chức con nuôi nước ngoài đối với cơ sở nuôi dưỡng thông qua dự án nhân đạo. Tuy nhiên, thực tế mặt trái của quy định này cũng đã bộc lộ.

Quyết đầu vào lẫn đầu ra

Theo số liệu từ Cục Con nuôi quốc tế (Bộ Tư pháp), hiện cả nước chỉ có 91 trong 378 cơ sở nuôi dưỡng được cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài. Báo cáo chưa đầy đủ cho biết từ năm 2003 đến nay, tổng giá trị hỗ trợ nhân đạo bằng tiền và vật chất khoảng 160 tỷ đồng, riêng năm 2007 đạt gần 60 tỷ đồng. Nhiều cơ sở nuôi dưỡng sau khi nhận được sự hỗ trợ nhân đạo tương đối lớn từ các tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài hoạt động trên địa bàn đã được sửa chữa lại khá khang trang. Mức nuôi dưỡng trẻ đạt trên dưới một triệu đồng/trẻ/tháng, gấp vài lần mức hỗ trợ chính thức từ nhà nước.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 68/2002/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 7 NĂM 2002 VỀ NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ

CẨM VÂN

Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã tạo ra một sự thay đổi căn bản, chuyển biến tích cực trong việc giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Việc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị định 68 là rất cần thiết trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị tham gia Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế, nhất là đáp ứng yêu cầu hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn để soạn thảo Luật Nuôi con nuôi.

Cơ chế mới trong xử lý vấn đề nuôi con nuôi quốc tế

Mặc dù còn một số tồn tại, khiếm khuyết cần tiếp tục được khắc phục, song Nghị định 68 có bước tiến vượt bậc so với Nghị định 184/CP ngày 30/11/1994 trong việc cải cách cơ chế, quy trình, thủ tục, giấy tờ giải quyết cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài theo hướng minh bạch, rõ ràng, cụ thể hơn, tiệm cận với thông lệ quốc tế, với các nguyên tắc của Công ước La Hay.

Continue reading

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: BI KỊCH TRONG MỘT VỤ "ĐẺ MƯỚN" Ở ẤN ĐỘ

PHAN ANH

DÂN TRÍ – Tương lai của một bé gái 12 ngày tuổi được một phụ nữ Ấn Độ sinh ra đang trở nên mù mịt khi cặp vợ chồng người Nhật, những người đi thuê “đẻ mướn”, đã ly hôn.

Manji Yamada chào đời vào ngày 25/7 vừa qua sau khi các bác sỹ dùng tinh trùng của người đàn ông Nhật Bản, Ikufumi Yamada, 45 tuổi, thụ tinh cho trứng được một phụ nữ Ấn Độ “hiến tặng”, rồi cấy ghép vào tử cung của một phụ nữ “đẻ mướn” Ấn Độ khác.

Nhưng ông Ikufumi Yamada lại ly dị vợ sau đó và người vợ cũ của ông không còn muốn có em bé đó nữa.

Theo như ban đầu, em bé sau khi được sinh ra, có quốc tịch Ấn Độ, sẽ được cha đẻ người Nhật nhận nuôi. Tuy nhiên, luật pháp Ấn Độ lại không cho phép một người cha độc thân nhận nuôi con gái.

“Phức tạp ở chỗ, người cha này mới ly dị vợ, và luật cho nhận con nuôi của Ấn Độ không cho phép đàn ông độc thân nhận nuôi bé gái”, Sanjay Arya, vị bác sỹ hiện đang chăm sóc bé Manji cho biết.

Continue reading

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: ẤN ĐỘ KHÔNG THỪA NHẬN CÁC HỢP ĐỒNG ĐẺ THUÊ

HỒNG CẨM (Theo Khaleej Times, Gulf Times, Times of India)

Theo luật Ấn Độ, người độc thân không được nhận con nuôi. Cuối tháng 7-2008, bé gái Manji Yamada chào đời trong một bệnh viện ở Ấn Độ. Tương lai của bé rồi sẽ không bình thường như bao trẻ khác bởi cha mẹ ruột của bé nhờ người mang thai thuê nhưng sau đó họ lại ly hôn nên có nguy cơ bé sẽ không có cha và mẹ.

Ly hôn phải mất con

Cha mẹ ruột của bé Manji Yamada là đôi vợ chồng người Nhật Ikufumi Yamada. Tháng 11-2007, họ đến Ấn Độ ký hợp đồng với một cô gái Ấn Độ nhờ cô này đẻ thuê.

Cô gái Ấn Độ mang thai từ trứng của một phụ nữ Ấn Độ khác kết hợp với tinh trùng của ông Ikufumi Yamada. Hai tuần trước khi bé Manji Yamada ra đời, hai vợ chồng người Nhật ly hôn.

Cô gái Ấn Độ sinh xong đã bỏ bé lại bệnh viện đi mất. Vợ cũ của ông Ikufumi Yamada tỏ thái độ không muốn nhận nuôi con. Ông Ikufumi Yamada dù rất muốn mang con về Nhật nuôi nhưng lại không thể vì chiếu theo luật Ấn Độ, người đàn ông đang trong tình trạng độc thân không được phép nhận con nuôi.

Continue reading

VỀ VỤ TRẺ EM TẠI NAM ĐỊNH BỊ LÀM GIẢ HỒ SƠ ĐƯA ĐI LÀM CON NUÔI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI: "KHÔNG LOẠI TRỪ KHẢ NĂNG TRỤC LỢI"

image HỒNG THÚY – Báo Pháp luật (Thực hiện)

Thông tin về việc Công an tỉnh Nam Định khám phá vụ làm giả hồ sơ trẻ sơ sinh cho người nước ngoài nhận làm con nuôi tại Trung tâm trợ giúp nhân đạo huyện Ý Yên và Trung tâm bảo trợ xã hội Trực Ninh đang làm dư luận bất bình. Liệu đây có phải là một mắt xích của đường dây đưa trẻ em ra nước ngoài làm con nuôi? Phóng viên Báo Pháp luật VN đã có cuộc phỏng vấn ông Vũ Đức Long, Cục trưởng Cục Con nuôi Quốc tế, Bộ Tư pháp về vấn đề này.

PV: Xin ông cho biết quy trình để một trẻ em bị bỏ rơi được cho đi làm con nuôi người nước ngoài được tiến hành như nào?

*. Nó rất phức tạp. Một người nước ngoài muốn xin con nuôi Việt Nam trước hết phải nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi quốc tế, Bộ Tư pháp. Hồ sơ phải đầy đủ các loại giấy tờ theo đúng quy định của pháp luật. Nếu thấy hồ sơ hợp lệ, Cục con nuôi Quốc tế cấp cho họ một cái giấy xác nhận đã nhận hồ sơ. Sau đó, nếu có thông tin về trẻ em bỏ rơi được các Cơ sở nuôi dưỡng địa phương nhận nuôi thì Cục gửi thư đề nghị Cơ sở nuôi dưỡng giới thiệu trẻ. Lúc đó, Sở Tư pháp sẽ kết hợp với Cơ sở nuôi dưỡng làm thủ tục giới thiệu đứa trẻ gửi lên Bộ Tư pháp. Trên cơ sở hồ sơ do địa phương gửi lên, Cục Con nuôi quốc tế nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy đầy đủ, hợp lệ thì sẽ làm một Công văn đề nghị Sở Tư pháp cùng với Cơ sở nuôi dưỡng chuẩn bị hồ sơ con nuôi. Hồ sơ con nuôi được quyền chuẩn bị trong 1 – 2 tháng, gồm rất nhiều loại giấy tờ như Biên bản trẻ bỏ rơi, Tường trình, Quyết định nhận vào Cơ sở nuôi dưỡng, Phiếu khám sức khoẻ của trẻ, một số đánh giá về trẻ v.v… Đồng thời Sở phải có công văn xác định trẻ đủ điều kiện. Bước tiếp theo, Cục Con nuôi Quốc tế sẽ gửi một bộ hồ sơ hợp lệ đã nhận được cùng với Thư đồng ý đề nghị địa phương cho trẻ đi làm con nuôi. Khi có Thư đề nghị của Cục, Sở Tư pháp sẽ trình hồ sơ lên UBND tỉnh, đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh (hoặc Phó Chủ tịch UBND tỉnh) ký quyết định đồng ý cho trẻ đi làm con nuôi người nước ngoài. Khi thủ tục được tiến hành hoàn tất thì địa phương mới tiến hành tổ chức bàn giao trẻ. Như vậy, toàn bộ quy trình này nếu làm đúng luật thì tối thiểu phải mất 4 tháng, trên thực tế thường kéo dài lâu hơn, phải 5 – 6 tháng. Toàn bộ hồ sơ về con nuôi quốc tế được lưu tại Bộ Tư pháp trong vòng 20 năm.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CANADA

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Canada (sau đây gọi là các Nước ký kết):

Công nhận rằng, để phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông;

Công nhận rằng, mỗi Nước ký kết phải tiến hành các biện pháp thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình;

Công nhận rằng, vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài có lợi là đem lại một gia đình lâu dài cho những trẻ em không tìm được một gia đình thích hợp tại nước gốc của mình;

Tin tưởng vào sự cần thiết phải áp dụng những biện pháp nhằm bảo đảm việc nuôi con nuôi nước ngoài được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em và để ngăn chặn việc dụ dỗ, bán hoặc buôn bán trẻ em;

Công nhận rằng, tại Canada, vấn đề nuôi con nuôi thuộc thẩm quyền của Tỉnh bang và lãnh thổ;

Mong muốn thiết lập những quy định chung vì mục đích này, có tính đến hai chế độ pháp luật của Canada và các nguyên tắc được công nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1989;

Đã thỏa thuận như sau:

Continue reading

THỎA THUẬN HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ QUÉBEC

CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(Sau đây gọi là “Việt Nam”)

CHÍNH PHỦ QUÉBEC
(Sau đây gọi là “Québec”)

Dưới đây được chỉ định là các Bên,

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em phải được lớn lên trong một môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, tình thương yêu và sự cảm thông;

Thừa nhận rằng, mỗi Bên phải có những biện pháp thích hợp cho phép trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình của mình và bảo đảm gia đình thay thế cho trẻ em không có môi trường gia đình gốc;

Thừa nhận rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế có lợi thế mang lại một gia đình vững bền cho trẻ em trong trường hợp không thể tìm được một gia đình phù hợp cho trẻ em đó tại Nước gốc của mình;

Dựa trên các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em ngày 20 tháng 11 năm 1989, đặc biệt những quy định nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền của trẻ em trong việc nuôi con nuôi;

Mong muốn thiết lập các quy định chung nhằm bảo đảm việc tôn trọng những quyền của trẻ em thường trú tại Việt Nam được những ngươi cư trú tại Québec nhận làm con nuôi và nhằm phòng ngừa việc thu lợi vật chất bất chính, bắt cóc trẻ em, bán và buôn bán trẻ em từ việc nuôi con nuôi;

Continue reading

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HÒA ITALIA

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Italia (sau đây gọi là các Nước ký kết);

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởng thành trong môi trường yêu thương, hạnh phúc và cảm thông của gia đình;

Thừa nhận rằng, mỗi Nước ký kết cần áp dụng các biện pháp thích hợp bảo đảm cho trẻ em được chăm sóc trong môi trường gia đình, những trẻ em không có gia đình được chăm sóc trong môi trường thay thế gia đình;

Thừa nhận rằng, nuôi con nuôi quốc tế là biện pháp phù hợp nhằm đem lại một môi trường gia đình ổn định cho trẻ em trong trường hợp không tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em đó ngay tại nước gốc của mình;

Thừa nhận rằng, trẻ em được nhận làm con nuôi theo Hiệp định này được hưởng trên lãnh thổ của mỗi Nước ký kết đầy đủ những quyền và lợi ích mà trẻ em là công dân hoặc thường trú trên lãnh thổ của Nước ký kết đó được hưởng;

Đã quyết định ký kết Hiệp định này với các điều khoản dưới đây:

Continue reading

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

Sweet Look bw1(e-mail) Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (sau đây gọi là các Bên);

Nhận thức rằng, để bảo đảm sự phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường yêu thương, hạnh phúc của gia đình;

Nhận thức rằng, các Bên cam kết trên cơ sở ưu tiên, áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo đảm cho trẻ em được chăm sóc trong môi trường gia đình ruột thịt;

Nhận thức rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế là biện pháp phù hợp nhằm đem lại một môi trường gia đình ổn định cho trẻ em trong trường hợp không tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em đó ngay tại Nước gốc của mình;

Mong muốn khẳng định rằng, công dân của Bên này nhận trẻ em là công dân của Bên ký kết kia làm con nuôi, được tiến hành trên cơ sở tôn trọng những giá trị và nguyên tắc cơ bản của mỗi Bên, phù hợp với Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế ngày 29 tháng 5 năm 1993 (sau đây gọi tắt là Công ước La Hay về nuôi con nuôi), đặc biệt là những điều khoản về việc bảo vệ lợi ích cho trẻ em một cách tốt nhất và tôn trọng những quyền cơ bản của trẻ em, nhằm ngăn chặn việc bắt cóc, buôn bán trẻ em và thu lợi bất hợp pháp từ quá trình nhận nuôi con nuôi, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của cha mẹ nuôi và cha mẹ đẻ;

Đã thỏa thuận như sau:

Continue reading

MUA BÁN TRẺ EM VÀ PHỤ NỮ: MỘT THỰC TẾ NHỨC NHỐI

responsibility21. Mỗi ngày có ít nhất 2 phụ nữ và trẻ em bị bán

VTCnews – Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2008, đã có 193 vụ với hơn 430 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục hoặc bị cưỡng bức lao động (trung bình mỗi ngày có ít nhất 2 phụ nữ, trẻ em bị đem bán).

Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) vừa cho biết thông tin trên tại cuộc họp báo sáng nay, 27/6, công bố Thông tư liên tịch số 03/2008 hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận phụ nữ trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về.

Theo Thông tư này, phụ nữ, trẻ em bị sử dụng vũ lực hoặc bị đe dọa sử dụng vũ lực, bị bắt cóc, bị ép buộc dưới nhiều hình thức để bán ra nước ngoài; bị lừa gạt, lợi dụng tình trạng dễ bị tổn thương để bán ra nước ngoài; đưa ra nước ngoài để nhận lợi ích vật chất khác… đều được xác định là nạn nhân của các vụ buôn bán ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột (cưỡng bức bán dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc làm việc như tình trạng nô lệ hoặc lấy đi các bộ phận cơ thể).

Continue reading

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: TRANH CHẤP VỀ XÁC ĐỊNH CHA CHO CON

A MA KHƯƠNG

Nhà nghèo, không có tiền đi giám định gien, một phụ nữ đã bị tòa bác yêu cầu truy nhận cha cho con…

Vừa qua, VKSND huyện Sông Hinh (Phú Yên) đã kháng nghị bản án sơ thẩm của TAND huyện này xử vụ chị T. kiện anh C. yêu cầu truy nhận cha cho con. Theo kháng nghị, việc TAND huyện bác yêu cầu của chị T. là không có cơ sở.

“Quất ngựa truy phong”…

Theo chị T., đầu năm 2006, chị và anh C. yêu thương nhau, mong muốn cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình và đã nhiều lần “quan hệ”. Đến giữa năm 2006, thấy mình có thai, chị thông báo và được anh C. chở đi TP Tuy Hòa siêu âm. Thế rồi khi thật sự biết chị mang thai thì anh C. trở mặt, từ chối nhận con và từ đó không còn quan tâm gì đến chị nữa.

Sau đó, gia đình chị nhiều lần đến gia đình anh C. nói rõ chuyện này nhưng không được chấp nhận. Cực chẳng đã chị phải làm đơn gửi UBND xã nhờ giúp đỡ nhưng cũng không giải quyết được gì. Đến tháng 5-2007, chị sinh được bé trai. Nay chị muốn TAND huyện xem xét, buộc anh C. phải chịu chi phí sinh nở và có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu bé đến khi trưởng thành.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2488/BTP-HCTP CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/NĐ-CP VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2006

Kính gửi: Sở tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Bộ Tư pháp nhận được phản ánh của một số Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về những vướng mắc trong thời gian đầu triển khai thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Trong khi chờ việc ban hành Thông tư hướng dẫn, Bộ Tư pháp hướng dẫn tạm thời một số nội dung như sau để bảo đảm áp dụng thống nhất trong toàn quốc:

Continue reading

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG THỤY SỸ

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Thụy Sỹ (dưới đây được gọi là các Nước ký kết),

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em phải được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, tình thương yêu và sự cảm thông;

Thừa nhận rằng, mỗi Nước ký kết phải có các biện pháp thích hợp bảo đảm cho trẻ em được lớn lên trong môi trường gia đình và bảo đảm gia đình thay thế đối với trẻ em không có môi trường gia đình;

Thừa nhận rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế là biện pháp phù hợp tạo cho trẻ em một gia đình ổn định trong trường hợp không tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em ngay tại nước gốc của mình;

Thừa nhận rằng, trẻ em được nhận làm con nuôi theo Hiệp định này phải được hưởng trên lãnh thổ của mỗi Nước ký kết đầy đủ các quyền và lợi ích mà trẻ em là công dân hoặc thường trú trên lãnh thổ của Nước ký kết được hưởng;

Đã quyết định ký kết hiệp định này.

Continue reading