BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA VIỆC NUÔI CON NUÔI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

THS. GVC. NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật Hà Nội

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi các bên đương sự thể hiện rõ ràng ý chí của mình đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết của việc nuôi con nuôi. Nói cách khác, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi các sự kiện cấu thành đã hội tụ đầy đủ và được liên kết lại với nhau tại thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật về nuôi con nuôi. Vì vậy có thể nói dưới góc độ là sự kiện pháp lí, việc nuôi con nuôi có bản chất là cấu thành sự kiện hay là sự kiện pháp lí phức hợp giản đơn (còn gọi là phức hợp tự do).

1. Khái niệm chung về nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi có thể được hiểu theo hai góc độ: Là sự kiện pháp lí hoặc là quan hệ pháp luật. Bài viết này đề cập việc nuôi con nuôi dưới góc độ là sự kiện pháp lí theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Với ý nghĩa là sự kiện pháp lí, việc nuôi con nuôi bao gồm các sự kiện sau:

– Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi. Người nhận nuôi con nuôi phải thể hiện ý chí của mình về việc mong muốn nhận nuôi đứa trẻ và thiết lập quan hệ cha mẹ và con với đứa trẻ đó. Ý chí, mong muốn đó của người nhận nuôi phải được thể hiện qua đơn xin nhận nuôi con nuôi;

– Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi. Ý chí của những người này trong việc cho trẻ em làm con nuôi phải minh bạch, và xuất phát từ sự tự nguyện thật sự của bản thân họ mà không có bất cứ sự tác động, thúc ép, dụ dỗ, hứa hẹn hoặc một áp lực nào. Nói cách khác, ý chí đó phải hoàn toàn độc lập. Nội dung của ý chí đó là đồng ý cho con mình làm con nuôi của người khác. Sự đồng ý đó có thể thể hiện bất cứ lúc nào nhưng nó chỉ có ý nghĩa sau khi đứa trẻ được sinh ra mà còn sống;

Continue reading

THU HỒI, HỦY BỎ GIẤY KHAI SINH NÀO LÀ HỢP LÝ?

NGUYỄN THANH XUÂN

Điều 78 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27.12.2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp huyện trong quản lý nhà nước về hộ tịch. Theo đó, UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trong địa phương mình, có nhiệm vụ và quyền hạn ra Quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định tại Nghị định 158. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết việc thu hồi và hủy bỏ giấy tờ hộ tịch cấp trái quy định pháp luật đã dẫn đến một số khó khăn cho cán bộ hộ tịch và người dân.

Tháng 7.1991, ông Võ Thành Lâm đến UBND xã L.T, huyện L.V, tỉnh Đồng Tháp đăng ký khai sinh cho con là Võ Thành Son với năm sinh 1991. Tháng 5.1997 ông lại đến UBND xã L.T đăng ký tiếp cho con ông một giấy khai sinh nữa với năm sinh năm 1990. Hiện tại Võ Thành Son có hai bản chính giấy khai sinh với hai năm sinh khác nhau là 1990 và 1991. Xuất phát từ việc đăng ký giấy khai sinh thứ hai với năm sinh 1990, con ông Lâm đã xác lập các hoạt động học tập, đăng ký các giấy tờ nhân thân của mình như chứng minh nhân dân, hộ khẩu gia đình… với năm sinh là năm 1990. Tháng 3.2009, ông Võ Thành Lâm đến UBND huyện L.V, Đồng Tháp yêu cầu hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1991 với lý do con ông có hai giấy khai sinh và chỉ sử dụng giấy khai sinh đăng ký năm 1997. Xem xét hồ sơ học tập cùng các giấy tờ nhân thân khác của Võ Thành Son sử dụng năm sinh  1990, UBND huyện L.V ra Quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1991 để đương sự có thể sử dụng giấy khai sinh đăng ký năm 1997 cho phù hợp với các giấy tờ nhân thân.

Về sự việc này, nhiều ý kiến cho rằng, UBND huyện L.V ra Quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1991 của Võ Thành Son là không đúng quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo quy định tại Điểm k, Khoản 1, Điều 78 Nghị định 158, UBND cấp huyện có quyền ra quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định.

Continue reading

ĐĂNG KÝ KHAI SINH CHO CON NUÔI CÒN VƯỚNG MẮC

THANH XUÂN

Dự thảo Luật Nuôi con nuôi đang trong lộ trình hoàn thiện, nhằm đưa ra các quy định pháp lý phù hợp cho việc nuôi con nuôi. Tuy nhiên, Dự Luật vẫn chưa đề cập việc đăng ký khai sinh để bảo đảm quyền lợi cho người con nuôi, trong khi việc thực hiện quy định pháp lý hiện hành về vấn đề này đang còn vướng mắc.

Vướng khi thay đổi phần khai cha, mẹ trong giấy khai sinh của con nuôi

Hiện nay, theo quy định tại Thông tư số 01/2008/TT-BTP hướng dẫn Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì những người có mối quan hệ gia đình đều có quyền nhận nuôi con nuôi, chẳng hạn mẹ kế có quyền nhận con riêng của chồng, cha dượng có quyền nhận con riêng của vợ làm con nuôi, khi có đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, việc nhận nuôi con nuôi mà làm thay đổi thứ bậc trong gia đình (như trường hợp ông, bà nhận cháu hoặc anh, chị nhận em làm con nuôi) thì không giải quyết. Thực tế cho thấy, vướng mắc nảy sinh khi giải quyết việc thay đổi phần khai về cha, mẹ trong giấy khai sinh của người con nuôi. Ví dụ, cháu Trương Văn T đăng ký khai sinh ngoài giá thú (không có tên cha trong giấy khai sinh), mẹ là Trương Thị A. Sau đó, cha dượng của cháu T là ông Huỳnh Văn C đến UBND xã xin  nhận cháu T làm con nuôi. Sau khi kiểm tra hồ sơ thủ tục, cán bộ tư pháp xã tiến hành giải quyết việc nuôi con nuôi. Nhưng, khi ông C yêu cầu bổ sung phần khai người cha vào bản chính giấy khai sinh của cháu T thì cán bộ tư pháp “vướng”, vì theo quy định hiện hành, có nhiều ý kiến khác nhau về việc giải quyết vấn đề này.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI: CẦN QUI ĐỊNH CỤ THỂ TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NUÔI CON NUÔI

PHẠM ĐỨC THÀNH

Việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện được quy định gần như tách bạch trong hai hệ thống văn bản pháp luật khác nhau. Dự thảo Luật Nuôi con nuôi điều chỉnh thống nhất vấn đề này, nhằm mục đích đem lại mái ấm gia đình và lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Tuy nhiên, nghiên cứu Dự thảo Luật cho thấy, một số nội dung cần được cân nhắc để quy định phù hợp hơn.

Nên coi trọng mục tiêu nuôi con nuôi trong nước

Dự thảo Luật Nuôi con nuôi đã quy định cả vấn đề nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi quốc tế. Điều này là hợp lý. Tuy nhiên, nên coi trọng mục tiêu nuôi con nuôi trong nước. Bởi, tìm mái ấm cho các em tại quê hương gốc sẽ góp phần làm dịu nỗi đau bị bỏ rơi, mồ côi hoặc có hoàn cảnh đặc biệt. Nuôi con nuôi nước ngoài chỉ là biện pháp cuối cùng, khi không thể thu xếp ở trong nước. Do đó, dự thảo Luật Nuôi con nuôi cần quy định theo hướng kéo dài thời gian tìm mái ấm trong nước cho trẻ. Tuy nhiên, tại điểm b, khoản 1 Điều 15 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi quy định: “UBND cấp xã có trách nhiệm tìm biện pháp hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại địa phương hoặc thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương, trong thời hạn 30 ngày để tìm gia đình thay thế cho trẻ em. Đối với trẻ em bị bỏ rơi, thì việc thông báo tìm gia đình thay thế được thực hiện kết hợp với thông báo về trẻ em bị bỏ rơi trước khi làm thủ tục khai sinh theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch. Việc cho trẻ em làm con nuôi được giải quyết sau khi hết thời hạn thông báo”. Như vậy, quy định về thời hạn tìm mái ấm cho trẻ em trong nước là quá ngắn, nên kéo dài hơn, khoảng từ 4 đến 6 tháng là phù hợp. Đây là thời gian cần thiết để các cơ quan chức năng có thể thực hiện được các biện pháp tìm mái ấm cho trẻ em ở trong nước. Continue reading

ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ KHOA

Đạo đức gia đình là toàn bộ những quan niệm về giá trị và quy phạm về hành vi của con người trong vấn đề hôn nhân và gia đình. Mọi cử chỉ, hành vi, thái độ của mỗi người về hôn nhân và gia đình vừa thể hiện bản chất đạo đức cá nhân, vừa cho biết bản chất đạo đức của mối quan hệ trong gia đình. Sự hình thành đạo đức gia đình không chỉ dựa trên những quy định của pháp luật, của phong tục tập quán và truyền thống dân tộc, mà còn dựa trên niềm tin và dư luận xã hội.

Ở nước ta, từ xa xưa, "tam tòng tứ đức”, “chung thuỷ”, "trinh tiết" đã từng là quy định của đạo đức gia đình đối với người phụ nữ, hiếu đễ đã từng là quy định của đạo đức gia đình về quan hệ cha mẹ – con cái, anh chị em. Cùng với sự phát triển của đất nước, tự do kết hôn, hôn nhân một vợ một chồng, tình yêuchung thuỷ đối với cả hai vợ chồng hay mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình… cũng đã được coi là những quy định của đạo đức gia đình mới.

Một số biểu hiện lệch chuẩn của đạo đức gia đình hiện nay

Continue reading

XÓM ĐẺ CHUI!

ĐOÀN NHƯ PHONG

Con vừa lọt lòng được ba ngày, người mẹ đã ẵm nó trốn viện để khỏi đóng viện phí. Thế là đứa trẻ không có giấy chứng sinh nên không thể làm giấy khai sinh và thất học. Có hàng chục đứa trẻ ở khu phố 5, P.10, Q.8, TP.HCM rơi vào hoàn cảnh như thế.

“Thôi mà, ở đây tùm lum người, kể chi chuyện đó, dị lắm!” – chị Lê Thị Cẩm Nga, 28 tuổi, nhà ở tổ 85, cười lảng tránh rồi ậm ờ khi nghe có người đề nghị kể lại cách mình trốn viện sau khi đẻ. Tất cả phụ nữ đẻ “chui” ở tổ 85-86, khu phố 5 đều ngại ngùng như vậy khi nhắc đến chuyện tế nhị đó. Họ biết đẻ “chui” là xấu hổ, nhưng dường như đó là cách duy nhất để những đứa con được sinh ra an toàn trong tình cảnh cha, mẹ chúng nghèo rớt mồng tơi.

Đẻ xong, ôm con… “lủi”

Đường hẻm vào xóm đẻ “chui” bé tẹo, giữa trưa nắng mà hẻm nhập nhoạng như trời đã sang chiều. Nhà cửa người dân ở đây chắp vá và nằm xúm xít nhau ven rạch. Dưới rạch, dòng nước đen kịt. Tương lai của những đứa trẻ được đẻ “chui” trong khu phố này cũng mù mịt, đen đúa không thua gì màu nước.

Bán vở của con để chi tiêu

Bà Hoàng Ngọc Loan kể: “Rút kinh nghiệm những lần trước, bây giờ mỗi khi đi phát sách vở cho mấy em nhỏ ở khu này, chúng tôi chỉ phát vài cuốn chứ không phát một lần cả chồng gồm 20 cuốn nữa. Vì phát hôm trước thì hôm sau bố mẹ các em đã đem cả chồng vở đi bán để chi tiêu”.

“Năm 2005, tui chuyển dạ con bé út, bụng đau quằn quại. Mẹ tui đưa tui vào Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Q.5. Sau ba ngày con út được sinh, canh khoảng giữa trưa bảo vệ bệnh viện nghỉ đi tuần, tui liền phủ chiếc áo lên đầu để che mặt, còn mẹ tui cầm gói quần áo, chúng tui lủi ra cổng bệnh viện rồi về thẳng nhà” – sau một lúc ngần ngại, cuối cùng chị Lê Thị Cẩm Nga thì thầm kể lại “thủ thuật” đẻ “chui” của mình.

Theo lời chị, sau khi sinh, chỉ cần ba ngày nằm tịnh dưỡng tại bệnh viện là hồi sức nên ôm con trốn viện khỏe re. Chị có bốn con, đều là gái. Chỉ có đứa đầu tiên nay đã 10 tuổi là đẻ có phí, ba bé còn lại toàn đẻ “chui”. “Mỗi lần đẻ chỉ mất 300.000-500.000 đồng nhưng tiền ăn còn không có, lấy tiền đâu lo chuyện đẻ” – chị Nga nói như phân bua.

Sinh bé út được vài tháng, chồng chị Nga đi nhậu và đâm chết một người bạn nên lãnh án 14 năm tù. Thế là căn nhà ọp ẹp ven rạch của chị phải bán để nuôi bốn đứa con. Hiện chị và đàn con nhỏ sống lay lắt bằng nghề giặt đồ mướn và ở đậu nhà người cậu ruột gần đó.

Continue reading

TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI BẠO HÀNH GIA ĐÌNH: GỠ CHẤN THƯƠNG TÂM THẦN BẰNG CÁCH NÀO

QUẾ NGÂN

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam vừa công bố kết quả khảo sát tình trạng bạo lực gia đình ở 8 tỉnh, thành như sau: 23% gia đình có hành vi bạo hành về thể chất; 25% gia đình có hành vi bạo hành tinh thần; 40% phụ nữ được hỏi thừa nhận phải chịu cảnh bị chồng ngược đãi, lạm dụng, cưỡng bức dưới nhiều hình thức.

Nạn nhân của tình trạng bạo hành gia đình là trẻ em và quan trọng hơn là nó đã gây chấn thương tâm thần cho trẻ ở mức trầm trọng. Điều đó thật dễ hiểu và dễ lý giải, vì sao những trẻ em sinh ra, lớn lên ở những gia đình diễn ra tình trạng bạo hành thì dễ bị trầm cảm, mặc cảm, tự ti, thậm chí hoảng hốt, sợ khi thấy người đàn ông lạ xuất hiện… Tiến sỹ tâm lý học Trần Minh Thu khẳng định: bạo hành gia đình sẽ gây chấn thương tâm thần ở trẻ, chấn thương đó có thể kéo dài suốt đời, gây ra những vết hằn sâu trong tâm trí của trẻ.

Thực tế, nếu bạn trực đường dây nóng tư vấn 18001567 chỉ một giờ đồng hồ thôi, chắc chắn bạn sẽ không thể cầm lòng bởi những câu hỏi, những lời kể thấm đẫm nước mặt của các bé gái, bé trai tuổi nhi đồng, thiếu niên. Em Nguyễn Thị Hoà (12 tuổi) ở Hà Nam, vừa nói chuyện vừa khóc trong điện thoại như sau: "Tuổi thơ của 4 chị em cháu là những ngày tháng liên tục phải chứng kiến cảnh cha đánh mẹ. Chẳng có lý do gì cha cũng đánh mẹ. Vui cũng đánh, buồn, khổ, tức giận… cũng đánh. Cha cháu là người vũ phu, gia trưởng và độc đoán. Anh trai cháu 16 tuổi, thấy cha đánh mẹ, vào can liền bị cha đánh cho một trận, lột quần áo và đuổi đi khỏi nhà. Vì thương mẹ, thương các em, anh không bỏ đi nhưng ngày càng lầm lỳ, khó hiểu. Đi làm thì không sao, về đến nhà là anh không nói gì hết. Vui, buồn, tức giận… anh đều không thể hiện cảm xúc. Cháu sợ lắm. Cha đã vậy, không thể nhờ vả được, giờ anh trai lớn bị làm sao nữa thì chắc chắn mẹ và 3 chị em cháu không sống nổi…". Rồi thì "cô ơi, sao bố cháu hà tiện đến thế. Cháu sợ đến phát hoảng vì cái sự hà tiện của bố. Tối mẹ phải làm thêm, chúng cháu học, cần đèn sáng. Vậy mà bố chỉ cho bật mỗi một cái bóng đèn tuýp 40 oát. Mắt mẹ mờ gần, 3 anh em cháu thì cận. Mẹ bật thêm đèn là bị bố đánh cho thừa sống thiếu chết, đến mức sáng ra không lết được chân trên sàn nhà. Chúng cháu được mẹ mua cho cái áo mới hay quần mới, bố đánh mẹ vì dám mua sắm đồ diện cho con cái đua đòi, hỏng người. ông bà nội cháu mắt kém, cứ chập tối phải bật đèn sáng ở trong nhà, ngoài hiên, ngoài nhà vệ sinh. Bố mắng ông là sống không biết tiết kiệm, đánh mẹ vì tội, thấy bật nhiều đèn điện thế, sao không đi tắt bớt nó đi cho đỡ tốn"… Tâm sự của một em trai 14 tuổi: "Những lúc bố cháu say rượu đánh đập, hành hạ mẹ con cháu thì nom ông chẳng khác gì một tên cồn đồ hung hãn. Cứ thấy bố bắt đầu nổi "cơn điên" là mẹ con cháu phải bảo nhau chạy thật nhanh, thật xa cái ngôi nhà mà người ta vẫn cho là tổ ấm ấy. Đứa em gái của cháu sợ đến mức, cứ thấy đàn ông, bất kỳ người thân, hộ hàng hay người lạ đến nhà là nó giật mình và chạy ra ngoài. Cháu sợ, nay mai, em cháu sẽ không dám lấy chồng hoặc không thể lấy được một tấm chồng tử tế, đoàng hoàng ở cái vùng quê đầy khắc nghiệt trong quan niệm này".

Continue reading

VI PHẠM CHÍNH SÁCH DÂN SỐ: CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÓ THỂ BỊ THUỘC THÔI VIỆC

QUẾ NGÂN

Sau một thời gian ngắn chúng ta lơi là với các biện pháp xử lý vi phạm Pháp lệnh Dân số, năm 2008 đã có gần 140.000 trường hợp sinh con thứ ba. Đó là số liệu thống kê chưa đầy đủ. Số tỉnh có số sinh con thứ ba tăng nhiều hơn so với những năm trước, điển hình là Sơn La tăng 57,7%, Bắc Ninh tăng 14,1%…

Hiện nay đối tượng sinh con thứ 3 không chỉ tập trung ở những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vùng sâu, vùng xa, gia đình có con một bề mà đã xuất hiện ở một bộ phận của những gia đình khá giả làm nghề tự do và cả cán bộ công chức, viên chức, đảng viên. Để giảm thiểu gia tăng dân số, Pháp lệnh Dân số sửa đổi vừa được ban hành, hy vọng sẽ kiên quyết xử lý được các vi phạm. Cùng với Pháp lệnh, hiện nay, Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình, Bộ Y tế đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định Quy định việc xử lý cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chính sách dân số.

Số đảng viên, cán bộ công chức sinh con thứ ba trở lên tăng nhiều nhưng không được xem xét xử lý nghiêm nên đang ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Sự tăng dân số nhanh đã ảnh hưởng rất lớn tới mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Việc bùng nổ sinh con thứ 3, nhìn nhận ở nhiều góc độ, chúng ta phải thừa nhận rằng Pháp lệnh Dân số vẫn còn những kẽ hở để nhiều cặp vợ chồng, thậm chí là công chức lợi dụng lách luật. Từ đầu năm 2009 đến nay, dù Pháp lệnh Dân số sửa đổi có hiệu lực nhưng tại một số tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng sinh con thứ 3 vẫn diễn ra khá phổ biến. ở Hậu Giang mới chỉ 3 tháng đầu năm đã có hơn 360 trường hợp cán bộ, công chức, viên chức sinh con thứ 3. Tại Tiền Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Cà Mau cũng xảy ra tình trạng này nhưng với số lượng ít hơn.

Tiến sỹ Dương Quốc Trọng – Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình – Bộ Y tế cho biết: Việc sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số đã thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong cuộc vận động dân số, kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản. Bởi một em bé được sinh ra sẽ kéo theo một loạt vấn đề về an sinh xã hội, đất đai, dịch vụ y tế, giáo dục, cơ hội việc làm… Có thể đối với một gia đình cụ thể, khá giả điều đó là bình thường nhưng sự bình thường đó không thể nhìn nhận ở góc độ nhà quản lý xã hội được.

Continue reading

CÔNG NHẬN NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ, SAO KHÔNG?

THỤY CHẤU

Gần đây, các cơ quan công chứng tại TP.HCM rất “khó xử” khi tiếp nhận các yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế do cha mẹ nuôi chết để lại. Đó là những trường hợp đã được nhận làm con nuôi từ trước giải phóng nhưng không lập thủ tục nhận con nuôi.

Công chứng viên bối rối

Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Thanh Sang thuộc một trong số các trường hợp éo le trên. Trước đây, ông được bà X. nhận làm con nuôi. Năm 2002, bà X. mua một căn nhà tại khu Văn Thánh Bắc (phường 25, quận Bình Thạnh) và đến năm 2007 thì bà qua đời.

Sinh thời, bà X. sống độc thân, không chồng con, không anh chị em và chỉ có nghệ sĩ Thanh Sang là người thân duy nhất. Khi nghệ sĩ nộp hồ sơ khai nhận di sản thừa kế, phòng công chứng nọ đã không biết giải quyết sao vì trước đây bà X. không làm thủ tục nhận ông làm con nuôi.

Nghệ sĩ Thanh Sang đã phải xuất trình các bản hộ khẩu có được từ năm 1989 đến thời điểm mẹ nuôi mất, trong đó ghi rõ hai bên là mẹ – con nuôi. Tháng 4-2008, nhiều nghệ sĩ cải lương tài danh (như NSND Thanh Tòng, các NSƯT Thanh Điền, Minh Vương, Lệ Thủy, Thanh Kim Huệ…) cùng ký giấy xác nhận bà X. là mẹ nuôi của nghệ sĩ Thanh Sang từ trước giải phóng. Tiếp đó, Sở Văn hóa và Thông tin TP.HCM, UBND phường 25 (quận Bình Thạnh) cũng đóng dấu xác nhận quan hệ mẹ – con nuôi giữa bà X. và nghệ sĩ Thanh Sang.

Ấy vậy, hồ sơ khai nhận nêu trên cũng phải mất hơn một năm trời “loanh quanh” mới được công chứng. Cách đây chừng một tháng, nghệ sĩ Thanh Sang mới có thể thở phào nhẹ nhõm khi được UBND quận Bình Thạnh cấp “giấy hồng” cho căn nhà được thừa kế nêu trên.

Cơ quan cấp giấy băn khoăn

Tương tự, ông Phan M. (phường 17, quận Phú Nhuận) cũng được mẹ nuôi để lại một căn nhà thừa kế. Người mẹ nuôi ấy đã nhận ông làm con nuôi từ năm 1962 nhưng không làm giấy tờ gì. Quan hệ mẹ nuôi – con nuôi của họ chỉ được thể hiện trong sổ hộ khẩu và được bà con chòm xóm ký xác nhận. Nếu việc thừa kế nhà của nghệ sĩ Thanh Sang gặp khó ở giai đoạn đầu (công chứng) thì ông M. lại bị “mắc kẹt” ở giai đoạn sau (cấp “giấy hồng”).

Continue reading

GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LAHAYE 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ

THS. NGUYỄN BÁ BÌNH – Đại học Luật Hà Nội

Xen lẫn trong những câu chuyện kinh doanh của thời hội nhập, nuôi con nuôi quốc tế (International Adoption) – một nội dung trọng yếu của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài – đang ngày càng trở nên gần gũi với người Việt Nam. Tuy thế, một khuôn khổ pháp lý để bảo đảm các quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ được nhận nuôi dường như vẫn còn chưa đủ. Với tính chất quốc tế của loại hình cho và nhận con nuôi này, pháp luật quốc gia Việt Nam – dù đã có một loạt quy định điều chỉnh – cũng khó lòng vươn tới nơi xứ người để chở che cho con trẻ nước mình.

Sự lựa chọn tích cực và đầy hiệu lực cho những vấn đề toàn cầu, trong đó có con nuôi quốc tế chính là ký kết, tham gia những thỏa thuận song và đa phương. Gia nhập Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (Công ước Lahaye 1993), đang là một yêu cầu cấp bách đối với Việt Nam hiện nay.

1. Tính cấp bách của việc gia nhập Công ước Lahaye 1993

Thực trạng việc cho và nhận con nuôi quốc tế ở Việt Nam

Về mặt lý thuyết, việc nuôi con nuôi quốc tế có thể diễn ra theo hai chiều: thứ nhất, cho người nước ngoài (hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài) nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi; thứ hai, công dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi. Thực tiễn cho thấy, việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phổ biến hơn. Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Tư pháp, chỉ trong 5 năm (từ 1994 -1999) có tới 9.322 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi; trong đó số trẻ em làm con nuôi tại Pháp là 3.407, chiếm trên 1/3 trẻ được nhận làm con nuôi tại Pháp (1). Tính trung bình cho đến nay, mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi (2) và số trẻ em được nhận mỗi năm một tăng cao. Như vậy, rõ ràng nhu cầu về việc nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi của người nước ngoài là rất lớn và đang tiếp tục phát triển. Xét về nguồn trẻ em, Việt Nam là một đất nước đông dân – với trên 85 triệu người – hiện có tới trên dưới 27% dân số là trẻ em (chỉ mới tính từ 14 tuổi trở xuống)(3), trong đó, số lượng trẻ em ở vào hoàn cảnh khó khăn như tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không nơi nương tựa… chiếm một tỉ lệ khá lớn. Nhu cầu về một mái ấm gia đình, về những điều kiện tốt đẹp về vật chất lẫn tinh thần cho những đứa trẻ là rất đáng quan tâm. Vì vậy, việc xem xét để giải quyết cho và nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài không chỉ là đòi hỏi nhằm đáp ứng nhu cầu của người nước ngoài, mà hơn hết, chính là nhằm góp phần tạo dựng cuộc sống tốt đẹp cho trẻ em Việt Nam.

Continue reading

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG LẮT LÉO CỦA . . . THỤ TINH ỐNG NGHIỆM

LÝ MẠC

Với những cặp vợ chồng hiếm muộn, thụ tinh trong ống nghiệm (TTON) là cứu cánh cho họ, đem lại niềm vui làm mẹ, làm cha chính đáng trong cuộc đời con người. Tuy nhiên, khi công nghệ càng cao, có thể can thiệp vào cuộc sống của con người thì cùng với đó lại nảy ra những mặt trái ngoài ý muốn, ngoài pháp luật cũng như phi nhân đạo.

Tuổi cao thì… xuất ngoại

Theo luật pháp Việt Nam, các trường hợp làm TTON thì qui định của người phụ nữ phải dưới 45 tuổi. Thực tế cho thấy những vướng mắc mà các bệnh viện hay gặp nhiều nhất chính là tuổi tác của người phụ nữ: do lập gia đình trễ, do tái hôn, do không biết đến phương pháp TTON hoặc ngại ngần khi nhờ đến phương pháp này… Vì thế khi tìm đến với TTON, có rất nhiều phụ nữ đã qua ngưỡng 45 tuổi và bị từ chối cho dù ước nguyện và tình cảnh của họ là chính đáng.

Thế nên nhiều phụ nữ đã chọn giải pháp "xuất ngoại" để thực hiện TTON. Ở một số nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan hay xa hơn là Mỹ thì các qui định về tuổi tác "thoáng" hơn, thậm chí không cần giới hạn tuổi, miễn là cơ thể người phụ nữ còn cho phép việc tiến hành TTON (còn noãn và sức khỏe đủ để mang thai).

Theo thống kê, kể từ em bé TTON đầu tiên ra đời năm 1998 đến nay, thì cả nước đã có hơn 4.000 em bé sinh ra từ phương pháp này với nhu cầu tăng hàng năm từ 10/15%. Đó là chưa tính nhiều trường hợp sử dụng phương pháp này tại nước ngoài. Giờ đây, những người nghi ngờ về khả năng của công nghệ  TTON giờ gần như là thiểu số.

Tuy nhiên, qui định không phải là không có cơ sở. Theo các bác sĩ, thành công hay thất bại của một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm phụ thuộc nhiều yếu tố, chủ yếu là chất lượng của trứng, phôi và sự chấp nhận của nội mạc tử cung với phôi làm tổ.

Ngoài việc tỷ lệ thành công khi làm TTON với những người phụ nữ cao tuổi là rất thấp, thì việc đặt thành công một ca TTON chỉ mới là một chặng đường. Sản phụ còn phải đối mặt với các vấn đề về sức khỏe, những rủi ro trong quá trình mang thai kéo dài trên dưới 40 tuần. Chưa kể, người cao tuổi còn tiềm ẩn rất nhiều bệnh tật mà khi mang thai mới phát hiện ra: tiểu đường, tim, cao huyết áp, sản giật, nhiễm độc thai nghén, nhiễm độc ối v.v…

Continue reading

VƯỚNG MẮC VỀ THỦ TỤC NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC

NGUYỄN THANH XUÂN

Quy định về nuôi con nuôi là quy định không mới đối với hệ thống các quy định pháp luật ở nước ta. Việc cho và nhận nuôi con nuôi thể hiện tính nhân đạo sâu sắc đảm bảo cho người con nuôi được chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình. Với những ý nghĩa đó pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý về vấn đề nuôi con nuôi nhằm bảo đảm tốt nhất quyền lợi của người được nhận làm con nuôi. Văn bản pháp lý điều chỉnh về việc đăng ký nuôi con nuôi là Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các thủ tục nuôi con nuôi theo các quy định của Nghị định 158 đã phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập mà trong thời gian tới Nghị định 158 cần có sự bổ sung và sửa đổi.

Trước đây, Nghị định 83 về đăng ký hộ tịch quy định hồ sơ, thủ tục nuôi con nuôi bao gồm đơn xin nhận nuôi con nuôi, giấy thỏa thuận về việc cho và nhận con nuôi, giấy khai sinh của người nhận nuôi con nuôi, chứng minh nhân dân của người nhận nuôi con nuôi, sổ hộ khẩu gia đình… Nghị định 158 đã đơn giản hóa các thủ tục của Nghị định 83 hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi chỉ còn các giấy tờ như giấy thỏa thuận, bản sao khai sinh của người được nhận làm con nuôi, biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi (trường hợp người con nuôi là trẻ bỏ rơi). Liên quan đến thủ tục nhận nuôi con nuôi đối với trẻ bị bỏ rơi đã phát sinh nhiều vướng mắc khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết và người nhận nuôi con nuôi. Khi trẻ em bị bỏ rơi để được nhận làm con nuôi thì UBND cấp xã nơi trẻ em bị bỏ rơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó. Sau đó UBND cấp xã có trách nhiệm thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương ba lần trong ba ngày liên tiếp thông tin của đứa trẻ để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ. Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo cuối cùng nếu không tìm được cha, mẹ đẻ thì người, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh và làm thủ tục nuôi con nuôi nếu muốn nhận trẻ làm con nuôi. Trong quy định ta nhận thấy vướng mắc phát sinh từ thời gian thông báo tìm cha, mẹ đẻ của trẻ bị bỏ rơi từ Đài phát thanh hay Đài truyền hình địa phương. Thực tiễn cho thấy hầu hết các UBND cấp xã tiến hành thông báo trên trạm truyền thanh, đài truyền thanh địa phương (cấp xã, huyện) mà không tiến hành thông báo đúng quy định thông báo trên Đài phát thanh, Đài truyền hình (cấp tỉnh) dẫn đến thực hiện thủ tục thông báo tình trạng trẻ em bị bỏ rơi sai quy định. Một vấn đề phát sinh cho thấy nếu tiến hành thông báo trên Đài phát thanh hay Đài truyền hình cấp tỉnh thì cán bộ phụ trách cấp xã phải thực hiện theo quy trình nào, phải trực tiếp đến Đài phát thanh, Đài truyền hình yêu cầu thông báo hay chuyển thông báo đến Đài phát thanh, Đài truyền hình qua đường bưu điện và thời điểm phát tin thông báo là ngày nào để tính khoảng thời gian 30 ngày kể từ ngày thông báo cuối cùng như luật định. Điều này UBND cấp xã xử lý vẫn còn bỏ ngỏ dẫn đến không đảm bảo các thủ tục khai sinh cho trẻ em bỏ rơi và thủ tục nhận nuôi con nuôi sau này.

Continue reading

ĐĂNG KÝ CHO EM XÁC ĐỊNH ĐƯỢC CHA ĐẺ NHƯNG BỊ MẸ ĐẺ BỎ RƠI: THIẾU HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

PHẠM VĂN CHUNG

Theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định: “Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh”.

 

Tại điểm h khoản 1 Mục II Thông tư số 01/2008/TT-BTP, ngày 02.6.2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định về việc đăng ký khai sinh cho trẻ sơ sinh bị bỏ rơi thì: “Trường hợp trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, có giấy tờ kèm theo ghi về thông tin của cha, mẹ, nhưng sau khi đã thực hiện việc thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP mà không tìm được cha, mẹ đẻ, thì những thông tin này chỉ ghi chú trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh; phần ghi về người mẹ và người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con được để trống”.

Tuy nhiên, trong thực tế có trường hợp, mặc dù chưa có đăng ký kết hôn nhưng lại xác định được cha đẻ, mẹ đẻ (có giấy chứng sinh) của trẻ em nhưng người mẹ bỏ trốn không nhận con. Vậy cha của đứa trẻ có được đứng tên khai sinh cho trẻ và phần khai về người mẹ bỏ trống có được hay không?. Bởi vì, trong trường hợp này, mặc dù xác định được mẹ đẻ (có giấy chứng sinh xác định) nhưng người mẹ lại bỏ trốn và không nhận con. Vấn đề này giải quyết như thế nào?.

Ví dụ sau đây minh chứng cụ thể: Anh Nguyễn Văn A quan hệ với chị Nguyễn Thị B, giữa hai người chưa có Giấy đăng ký kết hôn. Ngay sau khi sinh con (lấy tạm tên là cháu H)- có giấy chứng sinh, chị B bỏ trốn, đến nay không tìm thấy. Cháu H được bố mẹ của anh A đưa về nuôi và thừa nhận là cháu ruột của mình, anh A cũng thừa nhận cháu H là con đẻ của mình. Nay cháu H đã tròn 01 tuổi nhưng chưa được đăng ký khai sinh. Lý do, là gia đình anh A, muốn anh A là cha đẻ, phần khai trong Giấy khai sinh của cháu H và phần khai của người mẹ là bỏ trống. Nhưng theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc này là không thể, vì đây không phải là trường hợp trẻ bị bỏ rơi và không thuộc trường hợp là không xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em. Continue reading

MỸ MUỐN HỢP TÁC MINH VỀ CON NUÔI VỚI VIỆT NAM

image XUÂN LINH

Trao đổi với VietNamNet ngày 12/2 tại Hà Nội, tân trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Janice L.Jacobs cho hay Mỹ trông đợi việc Việt Nam sớm tham gia Công ước La Haye, làm nền tảng nối lại hoạt động hợp tác cho và nhận con nuôi giữa hai nước, vốn bị dừng lại từ tháng 9/2008.

Được ký kết năm 2005, Hiệp định hợp tác về con nuôi giữa Việt Nam và Mỹ đã dừng lại theo nguyện vọng của hai bên sau khi hết hạn 3 năm theo giao kết.

Trong 3 năm đó, trong số 69 tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, có 42 tổ chức thuộc Mỹ. 1.700 trẻ em Việt Nam có hoàn cảnh éo le được các gia đình Mỹ nhận nuôi. Mỹ đã trở thành nước nhận nhiều con nuôi nhất từ Việt Nam.

Việt Nam đang tiến hành điều chỉnh cơ chế quản lý việc cho và nhận con nuôi quốc tế, trong đó có việc chuẩn bị tham gia Công ước La Haye, nhằm đảm bảo các chương trình hợp tác con nuôi giữa Việt Nam với quốc tế chất lượng hơn.

Bà Janice L.Jacobs khẳng định Mỹ trông đợi những bước hợp tác tích cực giữa hai nước trong vấn đề cho và nhận con nuôi khi Việt Nam chính thức tham gia Công ước La Haye, thậm chí để ngỏ khả năng ký kết một thỏa thuận hợp tác bước đệm.

Cơ chế minh bạch

Khi Hiệp định hợp tác về con nuôi giữa hai nước hết hiệu lực, các văn phòng của các tổ chức con nuôi Mỹ tại Việt Nam cũng đã dừng hoạt động. Nhu cầu thực tế nhận con nuôi từ Việt Nam của các gia đình Mỹ hiện như thế nào, thưa bà?

Việc cho và nhận con nuôi giữa các quốc gia với nhau là vấn đề được quan tâm ở Mỹ. Có nhiều tổ chức, nhóm ở Mỹ quan tâm lĩnh vực nhận con nuôi giữa các quốc gia vì đây là công việc đem lại cơ hội để trẻ em thiệt thòi được chăm sóc, yêu thương.

Chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ sớm tham gia Công ước La Haye về cho và nhận con nuôi quốc tế, nhằm hướng tới sự minh bạch, thúc đẩy quyền lợi của trẻ em được cho và nhận làm con nuôi, cũng như của bố mẹ nuôi và bố mẹ đẻ.

Continue reading

DỰ THẢO SỬA ĐỔI PHÁP LỆNH DÂN SỐ: MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC SINH CON THỨ BA

071017_birth_control_controversy PV

Chiều 18/11/2008,  trong buổi họp báo của Văn phòng Chính phủ, lãnh đạo Tổng cục Dân số cho biết dự thảo sửa đổi điều 10 Pháp lệnh Dân số sẽ được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 12. Trong đó có quy định cụ thể những trường hợp được sinh con thứ ba.

Các đối tượng thuộc diện này gồm: 

– Cặp vợ chồng sinh con thứ 3, nếu một trong hai người là người dân tộc thiểu số, dân tộc đó có số dân dưới 10.000 người theo số liệu công bố chính thức của Nhà nước;

– Đã có 2 con nhưng cả 2 con hoặc 1 trong 2 con bị dị tật do tai nạn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận;

– Cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên, nếu tại thời điểm sinh có một con sống;

– Cặp vợ chồng sinh lần thứ nhất mà sinh 3 hoặc hơn;

– Cặp vợ chồng có 1 con, lần thứ hai sinh đôi hoặc hơn;

– Cặp vợ chồng tái hôn sinh thêm một con chung, nếu cả hai hoặc một trong hai người đã có con riêng. Không áp dụng cho trường hợp tái hôn của 2 người đã từng sinh hai con chung và cả hai con đang sống;

– Phụ nữ không kết hôn sinh đôi hoặc nhiều hơn ngay từ lần thứ nhất.

Continue reading

TƯỚC QUYỀN CHA MẸ CỦA KẺ BẠO HÀNH: QUÁ KHÓ

Sự việc bé gái 3 tuổi Nguyễn Thị Hảo bị bà Nguyễn Thị Mỳ – người hiện thời được cho là mẹ bé Hảo – hành hạ dã man đã khiến dư luận đặc biệt quan tâm. Trước đó liên tục xảy ra các trường hợp cha mẹ bạo hành con cái. Sự phẫn nộ đã làm dấy lên câu hỏi có thể tước quyền làm cha mẹ của những kẻ đã bạo hành con cái mình không?

Câu trả lời là “có” mà “không”. “Có” là vì đã có nhiều điều luật quy định, còn “không” vì trên thực tế sau khi các bậc cha mẹ bạo hành bị xử lý, trẻ vẫn bị trả về gia đình, phải tiếp tục sống với người đã bạo hành mình.

Đánh con tàn nhẫn

Những vụ bạo hành của cha mẹ đối với con cái bị dư luận lên án trong thời gian qua

* Tháng 11-2007, bé Hồ Thị Bông (11 tuổi) bị mẹ là Hồ Thị Ba trói, đánh đập dã man, tạt nước sôi vào người vì cho rằng bé Bông ham chơi, không chịu đi ăn xin, mang về đủ 200.000 đồng/ngày. Hồ Thị Ba bị phạt 3 năm tù về tội “cố ý gây thương tích”.

* Cuối năm 2007, bé Phạm Huy Hoàng, 5 tuổi, ngụ tại xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh bị mẹ dùng bình thuốc xịt muỗi và nồi inox đánh vào đầu đến chấn thương sọ não do “tội” đánh nhau với mấy đứa trẻ hàng xóm. Bé Hoàng sau đó đã tử vong.

* Tháng 5-2008, bé Nguyễn Ngọc T., học sinh lớp 6 (Quảng Nam) bị cha bắt cởi truồng, bò vòng quanh sân nhà văn hóa thôn giữa trời nắng, chỉ được đội một cái nón trên đầu vì người cha cho rằng bé T. học dốt, lại hay bỏ học.

Continue reading

QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG SỞ HỮU: PHẦN LỚN VỢ KHÔNG CÓ TÊN TRONG "SỔ ĐỎ"

HẠNH QUỲNH

Tổ chức Nghiên cứu phát triển Action Aid Việt Nam vừa công bố kết quả khảo sát “Quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ nhìn từ thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Kết quả cho thấy chỉ có khoảng 3-5% số hộ gia đình được cấp “sổ đỏ” có tên cả hai vợ chồng.

Cuộc khảo sát được tiến hành tại huyện Đà Bắc (Hòa Bình), Tam Đường (Lai Châu), Ninh Phước (Ninh Thuận), Mang Yang (Gia Lai), Cầu Ngang (Trà Vinh), Vũng Liêm (Vĩnh Long).

Mất nhà vì thiếu hiểu biết

Chị Nguyễn Thị Hằng, SN 1982, thường trú tại xã Bình Lư, huyện Tam Đường (Lai Châu). Năm 2000, chị kết hôn và có một con gái 7 tuổi. Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị được mẹ vợ cho một mảnh đất. Sau đó, nghe theo lời khuyên của chồng, chị Hằng bán mảnh đất trên lấy tiền mua mảnh đất của bố mẹ chồng để ở.

Điều 43 Nghị định 181 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 quy định phải ghi tên cả vợ và chồng khi bất động sản là tài sản chung của hai vợ chồng, hoặc trường hợp nhà nước giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất. Trừ trường hợp một trong hai người là người nước ngoài, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Khi bất động sản là tài sản chung của cả con cái thì chủ hộ đại diện viết tên.

Continue reading

NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN TÀI SẢN CHUNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ LUẬT DÂN SỰ PHÁP

THS. ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP

Vấn đề tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng là lĩnh vực luôn xảy ra nhiều tranh chấp trong thực tiễn, đặc biệt là khi vợ chồng phát sinh các mâu thuẫn. Một nguyên tắc góp phần giải quyết tốt các tranh chấp này được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (nguyên tắc này chưa có trong các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986), đó là nguyên tắc suy đoán tài sản chung

Quan hệ tài sản giữa vợ chồng, hay chính xác hơn là chế độ pháp lý về tài sản giữa vợ chồng là lĩnh vực thường xảy ra nhiều tranh chấp trong thực tiễn, nên cần phải có một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh và phù hợp để giải quyết tốt những tranh chấp.

Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HNGĐ) năm 2000 cũng như Luật HNGĐ năm 1986 của Việt Nam thừa nhận sự cùng tồn tại của ba khối tài sản trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng: tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ và tài sản riêng của chồng. Trong đó, khối tài sản chung của vợ chồng được người làm luật dành nhiều sự quan tâm, bảo vệ; một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ khối tài sản chung (người viết tạm đặt tên) lànguyên tắc suy đoán tài sản chung[1].

1. Luật HNGĐ năm 2000 quy định tại khoản 3 Điều 27: Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng thì nó sẽ được suy đoán là tài sản chung.

Continue reading

TỶ LỆ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT MANG TÊN CẢ VỢ VÀ CHỒNG CÒN RẤT THẤP

V.A

Báo cáo khảo sát của ActionAid Việt Nam” được công bố ngày 12/10 tại Hà Nội cho thấy, đa số người dân ở các vùng khảo sát chưa biết đến quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang hai tên vợ và chồng của Nhà nước.

Với mục tiêu tìm hiểu quyền tiếp cận và sử dụng đất của phụ nữ thông qua thực trạng cấp giấy chứng nhận sử dụng đất mang cả hai tên vợ và chồng, cuộc khảo sát Quyền tiếp cận đất của phụ nữ nhìn từ thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất tại sáu vùng phát triển do ActionAid Việt Nam phối hợp cùng Mạng lưới Các tổ chức dân sự xã hội vì an ninh lương thực và giảm nghèo CIFPEN thực hiện tại các huyện hiện là địa bàn triển khai các chương trình phát triển dài hạn của ActionAid Việt Nam gồm huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình), Tam Đường (Lai Châu), Ninh Phước (Ninh Thuận), Mang Yang (Gia Lai), Cầu Ngang (Trà Vinh) và Vũng Liêm (Vĩnh Long).

Theo thống kê, phụ nữ là lực lượng sản xuất nông nghiệp chính của thế giới, song vì những tập quán và nguyên nhân văn hóa xã hội khác nhau nên phụ nữ lại là nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi tình trạng đói nghèo hơn nam giới. Trong những năm qua, Việt Nam luôn được coi là một tấm gương về phát triển và xóa đói giảm nghèo, đưa hàng triệu người thoát nghèo. Tuy nhiên, mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo trong những năm tới vẫn là một thách thức lớn do khoảng cách giàu nghèo ngày một tăng và những bất cập trong phân phối và tiếp cận đất sản xuất và tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đối với phụ nữ.

Continue reading