BẢO ĐẢM TÍNH AN TOÀN CHO HỢP ĐỒNG, CHO BẤT ĐỘNG SẢN VÀ CHO GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 1995 CỦA VIỆT NAM

 MICHEL CORDIER – Chủ tịch danh dự Hội đồng Công chứng tối cao, Cộng hòa Pháp

1. S an toàn trong hp đồng

Cũng giống như Bộ luật Dân sự Pháp[1], Bộ luật Dân sự Việt Nam (1995) có định nghĩa về hợp đồng dân sự[2], nhưng lại không quy định về các loại chứng cứ chứng minh nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Trong khi đó, để chứng minh cho các bên có liên quan và cho tòa án về sự tồn tại, về nội dung và phạm vi của một cam kết, thì nhất thiết phải có một cơ sở pháp lý. Bộ luật Dân sự Pháp[3] quy định các loại chứng cứ, bao gồm: “chng c viết, nhân chng, suy đoán, li thú nhn ca đương s và li th”. Và cũng như các nước theo “lut thành văn[4], Bộ luật Dân sự Pháp cũng xác định trật tự các loại chứng cứ, theo đó chứng cứ viết là có giá trị cao nhất, và công chứng thư có giá trị cao hơn tư chứng thư do các bên ký. Công chứng thư do một “nhân viên công quyn” (công chứng viên là người được uỷ quyền thực hiện quyền lực nhà nước) lập, nên bảo đảm hoàn toàn giá trị của hợp đồng được chứng nhận[5].

Nhất thiết Bộ luật Dân sự phải khẳng định những nguyên tắc nêu trên, vì Bộ luật Dân sự là nền tảng của hệ thống luật dân sự của mỗi quốc gia. Những nguyên tắc này có thể được đưa vào Phần III của Bộ luật Dân sự Việt Nam, phần về “Nghĩa v dân s và hp đồng dân s”.

Continue reading

SỬA ĐỔI HAY ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN

LS. NGUYỄN THỊ TƯƠI – Công ty Luật TNHH Vietthink

Sửa đổi hay đơn phương chấm dứt Hợp đồng khi hoàn cảnh có sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản

Hợp đồng được thiết lập hợp pháp thì có hiệu lực pháp lý ràng buộc các bên kể từ thời điểm giao kết và các bên không được tự ý sửa đổi hoặc hủy bỏ, chấm dứt. Những điều khoản được ghi nhận trong hợp đồng được xem như “luật giữa các bên”. Đây chính là yêu cầu mang tính bản chất của hiệu lực hợp đồng và là nội dung cơ bản của nguyên tắc hiệu lực bất biến (pacta sunt servenda) trong lĩnh vực hợp đồng. Nhưng quan hệ hợp đồng không phải là bất biến mà mang tính chất của một quá trình và hàm chứa nhiều loại nguy cơ, rủi ro. Thực tế, quá trình thực hiện hợp đồng, nhất là các hợp đồng dài hạn, những người làm kinh doanh thường phải đối mặt với những rủi ro, làm đảo lộn sự cân bằng vốn có của hợp đồng, làm cho một bên gặp khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, thậm chí không thể thực hiện được nghĩa vụ trong hợp đồng. Những trường hợp này có thể được giải quyết bằng cơ chế giải phóng nghĩa vụ của hợp đồng, như cho phép một trong các bên được chấm dứt hợp đồng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hoặc cho phép các bên thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) đã dành một điều luật để quy định về việc “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”. Đây là một quy định mới được bổ sung ở BLDS 2015. Việc bổ sung quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi là để bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên trong hợp đồng và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT KINH TẾ

Nghiên cứu vai trò của công chứng viên trong lĩnh vực pháp luật kinh tế thông qua một trường hợp thực tế, liên quan đến cả hai khía cạnh: tư vấn và soạn thảo văn bản.

Trường hợp cụ thể:

Ông Albert Lingot có một một doanh nghiệp tư nhân cung cấp dịch vụ cho thuê xe ô tô được thành lập năm 1970. Hiện nay, doanh nghiệp này có tài sản trị giá 76.000 Euro và không có bất kỳ khoản nợ nào.

Ông Albert Lingot kết hôn với bà Elvire Aurouge, không nghề nghiệp, vào tháng 5 năm 1968 tại Corbeilles-Essonne, mà không lập khế ước hôn nhân. Hai ông bà sinh được hai người con hiện đã đến tuổi thành niên :

Marc là luật sư;

Philibert là nhân viên làm việc trong công ty của bố từ hơn 3 năm nay.

Thời gian gần đây, công ty của ông Albert Lingot gặp phải một số khó khăn thực sự. Cạnh tranh gay gắt, toàn bộ hệ thống ô tô phải được nâng cấp với chi phí đầu tư là 150.000 Euro.

Ông Albert Lingot không có bất kỳ nguồn tài chính cá nhân nào. Con trai của ông là Philibert cũng trong tình trạng tài chính tương tự. Tuy nhiên, Marc Lingot có một văn phòng luật sư đang hoạt động tốt và muốn đầu tư một khoản tiền là 45.000 Euro vào doanh nghiệp của bố dưới một hình thức nhất định.

Continue reading

HỢP ĐỒNG MUA BÁN SẢN NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Khi bên bán và bên mua đã đạt được thỏa thuận về giao dịch đối với một tài sản, họ vẫn cần phải thực hiện nhiều thủ tục nữa trước khi quyền sở hữu đối với tài sản đó chính thức được chuyển giao cho bên mua và được ghi nhận trên thực tế.

Sau đây là một vài thủ tục trong quá trình đó, được xem xét chủ yếu dưới góc độ thực tiễn:

– Ký kết “hợp đồng sơ bộ” (I)

– Lập hồ sơ mua bán (II)

– Ký kết hợp đồng mua bán và hoàn tất các thủ tục (III)

– Thanh toán các chi phí của giao dịch (IV)

I. Ký kết hợp đồng sơ bộ

Trước khi đề nghị công chứng viên hợp pháp hóa giao dịch mua bán, các bên thường thỏa thuận ký kết hợp đồng sơ bộ.

Continue reading

Rút kinh nghiệm các sai sót TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU

TS. NGUYỄN THÚY HIỀN – Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao

I. Những điểm mới về tài sản, quyền sở hữu và các biện pháp bảo đảm theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Bộ luật dân sự là một trong những đạo luật quan trọng, là luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phục vụ hội nhập quốc tế, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

1. Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo xây dựng Bộ luật dân sự năm 2015

Việc ban hành Bộ luật lần này là nhằm xây dựng Bộ luật dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

Bộ luật dân sự là một đạo luật có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát triển kinh tế – xã hội mà còn cả về mặt xây dựng pháp luật. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật này đã được thực hiện trên cơ sở quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau đây:

Continue reading

KỸ NĂNG CHUẨN BỊ HỒ SƠ BÁN BẤT ĐỘNG SẢN

clip_image002Sau khi ký hợp đồng sơ bộ, công chứng viên phải chuẩn bị hồ sơ bán bất động sản.

Công chứng viên phải tiến hành xác minh những vấn đề cơ bản sau đây trước khi hợp thức hoá một hợp đồng mua bán bất động sản theo thoả thuận.

Các vấn đề cần xác minh được trình bày theo nhóm như sau:

– Năng lực và quyền hạn của các bên (I)

– Bất động sản là đối tượng của hợp đồng (II)

– Giá trị hợp đồng (III)

– Thuế (IV).

I. Năng lực của các bên

Công chứng viên phải xác minh năng lực của các bên.

Các quy định của Bộ luật Dân sự về năng lực của các bên trong hợp đồng được áp dụng đối với trường hợp mua bán bất động sản.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA TỪ GÓC NHÌN PHÁP LUẬT SO SÁNH

TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM – Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Chủ thể bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra trong pháp luật Nhật Bản và pháp luật Đức

1.1. Khái niệm năng lực chịu trách nhiệm

Trong pháp luật dân sự, về nguyên tắc, một chủ thể pháp luật khi thực hiện hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) đối với những tổn thất do mình gây ra cho người bị hại. Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi xâm hại không có khả năng nhận thức nhất định về hành vi do mình thực hiện thì không phải chịu trách nhiệm BTTH. Khả năng nhận thức về hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người khác được khoa học pháp lý luật dân sự gọi là: “Năng lực chịu trách nhiệm BTTH”. Như vậy, “năng lực chịu trách nhiệm” như một điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, và thông thường, nghĩa vụ lập chứng sẽ thuộc về bị đơn. Điều này có nghĩa rằng, khi bị đơn chứng minh mình không có năng lực chịu trách nhiệm thì không thể cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với bị đơn, cho dù tồn tại đầy đủ điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH như hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, thiệt hại, lỗi và quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại.

1.2. Mối quan hệ giữa năng lực chịu trách nhiệm và chủ thể BTTH là người chưa thành niên trong pháp luật Nhật Bản và pháp luật Đức

Điều 712 của Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định: Người chưa thành niên trong trường hợp gây thiệt hại cho người khác, không phải chịu trách nhiệm bồi thường về hành vi đó khi không được trang bị đầy đủ năng lực trí tuệ để lý giải được trách nhiệm hành vi của bản thân. Điều đó có nghĩa rằng, khi người chưa thành niên có năng lực trí tuệ lý giải được trách nhiệm phát sinh từ hành vi do mình thực hiện thì người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Dưới góc độ khoa học pháp lý, cũng như luật thực định thì đối với trường hợp này không cấu thành trách nhiệm BTTH thay thế của cha mẹ/người giám hộ.

Continue reading

KỸ NĂNG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Bài giảng của Chuyên gia Cộng hòa Pháp tại Lớp Đào tạo luật sư tư vấn. TP.HCM – năm 2003

Luật sư đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Luật sư không những đại diện và bảo vệ quyền lợi cho người dân trước các cơ quan Nhà nước và Tòa án mà còn là một chuyên gia tư vấn pháp luật trong các giao dịch dân sự, trong việc thương lượng và giao kết hợp đồng kinh tế.

Để đảm bảo thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình, luật sư phải tôn trọng những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp do ngành luật sư của mỗi nước đặt ra. Những nguyên tắc đó ở mỗi quốc gia có thể khác nhau, song về cơ bản đều dựa trên những nền tảng chung.

I. Khuôn khổ pháp lý của hợp đồng

1. Phân biệt sự kiện pháp lý với hành vi pháp lý

Sự kiện pháp lý là một sự kiện kéo theo những hệ quả pháp lý theo quy định của pháp luật, trong khi hành vi pháp lý là sự thể hiện ý chí chủ quan của con người.

Ví dụ về sự kiện pháp lý: ông A chết, làm nảy sinh quan hệ thừa kế. Luật sư đến để tìm hiểu và xác định những người có quyền thừa kế di sản của ông A. Đó không phải là một hợp đồng mà là một sự kiện pháp lý. Sự kiện pháp lý này kéo theo một số hệ quả pháp lý.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LỖI CỦA CƠ QUAN TƯ PHÁP GÂY RA

 CHANTAL ARENS – Chánh án Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng EVREUX, Toà Phúc thẩm ROUEN

I. Các vấn đề đặt ra trong việc bồi thường các thiệt hại do lỗi của cơ quan tư pháp gây ra

Do tính chất đặc thù của hoạt động xét xử, trách nhiệm bồi thường của những người tiến hành công tác xét xử cũng như của bản thân Nhà nước cũng phải được thực hiện theo một cơ chế đặc biệt, vì hoạt động tư pháp về cơ bản vốn thuộc đặc quyền của Nhà nước.

Từ khoảng 30 năm trở lại đây, trong một số điều kiện nhất định, Nhà nước có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra bởi những sai sót trong vận hành của các cơ quan tư pháp. Trong lĩnh vực hình sự, cơ quan lập pháp cũng đã có những giải pháp cụ thể và quyền đòi bồi thường được xây dựng theo nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại không căn cứ vào yếu tố lỗi hay theo bản chất khách quan.

Pháp luật Pháp hoàn toàn phù hợp với quy định tại điều 3 của Nghị định thư số 7 của Công ước về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản, trong đó quy định về quyền đòi bồi thường thiệt hại do sai sót của cơ quan tư pháp gây ra.

1. Hoạt động của các cơ quan tư pháp và trách nhiệm của Nhà nước

Continue reading

TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI CỘNG HÒA PHÁP

Trách nhiệm của công chứng viên xuất phát từ những nghĩa vụ của công chứng viên đối với khách hàng. Công chứng viên có ba nghĩa vụ cơ bản sau đây : Thứ nhất, công chứng viên phải thiết lập một văn bản đúng với quy định của pháp luật cả về hình thức cũng như về nội dung. Văn bản này là chứng cứ thuyết phục nhất về các thỏa thuận mà công chứng viên là người ghi nhận. Như vậy, công chứng viên phải giúp các bên đạt đến kết quả pháp lý mà họ mong đợi từ văn bản với chi phí thấp nhất và trong những điều kiện tốt nhất. Thứ hai, công chứng viên phải tư vấn cho các bên về cách thức thực hiện thỏa thuận, tạo điều kiện để bảo vệ lợi ích chính đáng của họ. Thứ ba, công chứng viên phải đảm bảo hiệu lực hoàn toàn của thỏa thuận giữa các bên. Nghĩa vụ này bao gồm 2 nội dung : thực hiện các thủ tục mà pháp luật quy định đối với văn bản, đảm bảo việc bảo vệ lợi ích của các bên cho đến khi văn bản thực sự có hiệu lực.

Nếu công chứng viên không thực hiện tốt ba nghĩa vụ nêu trên thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Công chứng viên có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, bị kỷ luật hoặc chịu trách nhiệm dân sự.

I. Trách nhiệm hình sự của công chứng viên

Công chứng viên trước hết có thể phải chịu trách nhiệm hình sự với tư cách là một công dân Pháp. Cũng như mọi công dân khác, công chứng viên phải chịu trách nhiệm trước xã hội về những hành vi của mình. Nếu phạm tội, công chứng viên bị truy tố trách nhiệm hình sự như mọi người khác.

Continue reading

BẤT KHẢ KHÁNG VÀ NGHĨA VỤ HOÀN TRẢ TÀI SẢN

PGS.TS. NGÔ QUỐC CHIẾN – Trường Đại học Ngoại thương

Nghĩa vụ trả lại tài sản, có thể có các tên gọi khác nhau trong các hợp đồng khác nhau, nhưng có chung một bản chất là khi hết hạn hợp đồng thì một bên đã nhận tài sản từ bên kia có nghĩa vụ trả lại tài sản cho bên kia. Đó có thể là nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ trả lại tài sản thuê trong hợp đồng thuê tài sản, nghĩa vụ trả lại tài sản thuê khoán trong hợp đồng thuê khoán tài sản hay nghĩa vụ trả lại tài sản mượn trong hợp đồng mượn tài sản[1]. Trong thực tế, có thể xảy ra trường hợp bên có nghĩa vụ trả lại tài sản rơi vào hoàn cảnh bất khả kháng và câu hỏi đặt ra là bất khả kháng có thể được sử dụng làm căn cứ miễn trách nhiệm hay không ? Do các hợp đồng nêu trên đều là các hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự nên cần nghiên cứu bất khả kháng với ý nghĩa là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự nói chung (1). Trên cơ sở nguyên tắc chung đó, chúng tôi sẽ nghiên cứu bất khả kháng và nghĩa vụ hoàn trả (2).

1. Bất khả kháng – căn cứ miễn trách nhiệm dân sự

Khi một nghĩa vụ được phát sinh trên cơ sở hợp đồng hoặc trên cơ sở luật định thì chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, thực tế có thể xảy ra trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ đó dù đã áp dụng mọi biện pháp hợp lý. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều nước đều có quy định về các căn cứ miễn trách nhiệm, và một trong số đó là bất khả kháng. Quy định về bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự, hoãn thực hiện nghĩa vụ, điều chỉnh nghĩa vụ… được quy định cả trong Bộ luật dân sự (BLDS) với ý nghĩa là một đạo luật nền tảng điều chỉnh các quan hệ tư, và trong nhiều đạo luật chuyên ngành, như Luật Thương mại năm 2005, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Hàng không dân dụng năm 2014…

Continue reading

TIÊU CHÍ NHẬN DIỆN VÀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG TÀI SẢN HOẶC ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN MÀ KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường Đại học Kinh tế Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh; Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Hải ngoại Pháp

1. Giới hạn vấn đề

Tình huống dự kiến trong thực tiễn là một người tiếp nhận một tài sản, nói chung, một lợi ích trong khi căn cứ pháp lý của việc tiếp nhận lại không tồn tại. Các nguyên nhân của tình huống rất đa dạng: có một vụ trộm hoặc cướp và tài sản nằm trong tay kẻ trộm, cướp; một người nhặt được tài sản rơi vãi mà không tiến hành thủ tục khai trình tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thông báo công khai theo quy định của pháp luật[1]; một người nhận hàng được giao theo một hợp đồng mua bán do người bán ghi nhầm địa chỉ nhận hàng, nhưng giữ luôn không giao trả;…

BLDS phân biệt nghĩa vụ hoàn trả tuỳ theo nghĩa vụ được xác lập trong trường hợp chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật gây thiệt hại cho người khác. 

“Điều 579. Nghĩa vụ hoàn trả

1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này”.

Continue reading

SỬA ĐỔI LUẬT ĐẤT ĐAI để bảo vệ tốt hơn quyền tài sản của các chủ sử dụng đất

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA– Đại học Fulbright Việt Nam, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

1. Sở hữu toàn dân về đất đai: Tiếp nhận quan niệm và quá trình cụ thể hóa

Chế độ sở hữu đất đai trong cổ luật: Tổ tiên chúng ta chắc rằng chưa biết đến khái niệm sở hữu toàn dân. Sở hữu đất đai, theo cổ luật Việt Nam, thường phân thành ba loại: ruộng đất công (quân điền), ruộng đất của làng (sở hữu cộng đồng) và ruộng đất tư (sở hữu tư của cá nhân). Dù nặng về hình luật, song cổ luật Việt Nam không thiếu những hạt nhân được xem là nền móng cho pháp luật sở hữu[1]. Truyền thống đa sở hữu đất đai ấy tiếp diễn thời thuộc Pháp. Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 ghi nhận thực trạng sở hữu đất đai thuộc cá nhân hoặc pháp nhân, trong đó Nhà nước, làng xã là những pháp nhân công. Về đại thể, sở hữu đất đai hình thành một cách tự nhiên, đất đai có thể thuộc sở hữu tư hoặc của nhà nước. Trong đó, theo định nghĩa của Dân luật năm 1931, Nhà nước là một khái niệm cụ thể, bao gồm những pháp nhân công có tư cách độc lập, chí ít gồm chính quyền trung ương, các chính quyền địa phương và làng xã tự trị, tự quản[2]. Mỗi một cấp chính quyền được xem là một pháp nhân công. Cũng như vậy, hệ thống đăng ký điền địa đã có mầm mống từ cổ xưa. Từ năm 1925, chúng được chế độ thực dân quy chuẩn thành một hệ thống bằng khoán điền thổ hiện đại, thống nhất[3]. Tóm lại, từ Quốc triều hình luật tới Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, pháp luật Việt Nam đã để lại một di sản pháp luật sở hữu về đất đai, tuy không tinh xảo, khái quát, và cao siêu như Vật quyền của người La-Mã, song cũng đủ minh định rõ ràng ai là chủ nhân của hàng trăm triệu ô thửa đất kiến tạo nên lãnh thổ quốc gia. Tiếc rằng, nửa thế kỷ qua không mấy ai vun vén thêm cho những di sản quý báu đó. Để xây lại nền móng vững chắc cho chế độ sở hữu đất đai trong tương lai, ngoài thảo luận thẳng thắn và tiếp thu kinh nghiệm lập pháp tiên tiến nước ngoài, chúng ta cũng nên học lại từ những mảnh vỡ của quá khứ.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA CỘNG HÒA PHÁP VỀ BẢO LÃNH THẾ CHẤP

clip_image002Khi ký một hợp đồng cho vay, tổ chức tín dụng thường đòi hỏi sự bảo đảm đối với người đi vay. Trong số những hình thức bảo đảm, chúng ta thấy hình thức bảo lãnh thế chấp.

Khái niệm: Khi cá nhân hay pháp nhân đem một (hay nhiều) tài sản bất động sản làm vật bảo đảm cho một khoản vay, tài sản đó trở thành tài sản bị thế chấp. Đó chính là việc sử dụng một tài sản làm vật bảo lãnh cho một khoản nợ của người khác.

Khi nào cần tới bảo lãnh thế chấp?

– Khi khoản vay có mức độ rủi ro lớn.

– Khi người vay không có bất kỳ bất động sản nào và hoàn cảnh lúc đi vay của người này đòi hỏi phải có bảo lãnh thế chấp.

– Khi người vay là chủ sở hữu một tài sản bất động sản không thể phân chia và những chủ sở hữu khác không chấp thuận việc đem thế chấp tài sản đó.

1. Vic t chc bo lãnh thế chp

1.1. Nhng điu kin v mt hình thc

Ngoài những điều kiện liên quan đến hợp đồng, còn có những điều kiện đặc biệt khác liên quan đến việc tổ chức bảo lãnh thế chấp:

Continue reading

CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ TRONG XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (Thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm)

A. Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ

Chính phủ tại Phiên họp thường kỳ tháng 4 năm 2020 quyết nghị: Thống nhất thông qua Đề nghị xây dựng Nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhằm kịp thời hướng dẫn áp dụng cơ chế pháp lý thi hành quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật khác liên quan về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; khắc phục kịp thời những vướng mắc, bất cập phát sinh trong quy định của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội; tạo điều kiện thuận lợi, giảm thiểu rủi ro pháp lý, chi phí cho các bên tham gia quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và các chủ thể khác có liên quan.

Giao cho Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trình Chính phủ tháng 12 năm 2020.

B. Các chính sách xây dựng Nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tại Tờ trình Chính phủ số 20/TTr-BTP ngày 09/4/2020 của Bộ Tư pháp đã được Chính phủ Quyết nghị thông qua

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH

Trải qua hơn 13 năm thi hành, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012) quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) đã góp phần tích cực trong tạo lập, hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, làm tăng cơ hội tiếp cận cho người dân trong tham gia quan hệ nghĩa vụ, trong tìm kiếm các nguồn vốn và thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ kinh tế – xã hội liên quan.

Continue reading

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CỦA HIỆP HỘI HENRI CAPITANT VỀ SỬA ĐỔI PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN CỦA CỘNG HÒA PHÁP

clip_image002VỀ KHỐI TÀI SẢN VÀ CÁC TÀI SẢN CẤU THÀNH

FRÉDÉRIC POLLAND-DULIAN

Lời mở đầu

Quyển II của Bộ luật Dân sự hiện hành được mở đầu một cách khá đột ngột bằng việc phân biệt các loại tài sản, động sản hoặc bất động sản, mà không có trước những định nghĩa chung, những quy định mở đầu hoặc giới thiệu, chằng hạn như những quy định có thể được tìm thấy tại các Điều từ 1101 đến 1104 về lĩnh vực hợp đồng hoặc tại phần mở đầu của Quyển III (“Những phương thức xác lập quyền sở hữu: những quy định chung”) hoặc trong các chỉ thị và nghị định của Liên minh châu Âu. Người ta có thể phê phán cách trình bày này bởi nó nhấn mạnh tầm quan trọng của các bất động sản, trong khi trong phần trình bày các căn cứ, lí do của Bộ luật ngày 25 tháng 01 năm 1804, Thẩm phán Treilhard đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các động sản so với các bất động sản. Ủy ban sửa đổi đã muốn bỏ cách trình bày này bằng cách đặt ra một số định nghĩa trước khi phân biệt các loại tài sản ở Thiên II (Điều 526 và các điều tiếp theo). Ủy ban muốn đưa vào Quyển II này ba điều khoản mở đầu có tính chất quy định chung và Thiên I với một số định nghĩa và nguyên tắc chung chủ yếu chưa được quy định rõ ràng trong Bộ luật Dân sự. Thiên đầu tiên này được đặt tên là “Những quy định về khối tài sản và các tài sản cấu thành”. Hai thuật ngữ khối tài sản tài sản, mặc dù được sử dụng thường xuyên trong các văn bản quy phạm pháp luật, án lệ và học thuyết, nhưng không được định nghĩa trong Bộ luật Dân sự hiện hành. Phương pháp tiếp cận đồng tâm có thể là phương pháp tốt nhất để tiếp cận với khái niệm khối tài sản, ít nhất là từ quan điểm chuyên môn, xuất phát từ tập hợp các định nghĩa, các nội dung rộng để dẫn đến chế độ áp dụng, sau khi đã định nghĩa về các loại tài sản và các khái niệm có liên quan. Các định nghĩa do Ủy ban sửa đổi đưa ra không mang nhiều thay đổi tiến bộ, và cần nhấn mạnh rằng Ủy ban cũng xem xét nhiều định nghĩa khác: ít nhất là 9 định nghĩa khác nhau về khối tài sản, 14 định nghĩa về tài sản, 6 định nghĩa về quyền đối vật và tương tự, 6 định nghĩa về quyền đối nhân. Như Portalis đã viết “Người ta có thể dùng liềm trong một cánh đồng bỏ hoang; nhưng trên một mảnh đất trồng trọt, chỉ cần nhổ bỏ những cây ký sinh gây hại cho các sản phẩm nông nghiệp (…) những lí thuyết mới chỉ là các hệ thống của một số cá nhân; những học thuyết cổ điển là tinh thần của nhiều thế kỷ”[2].

Continue reading

NGHĨA VỤ BẢO MẬT THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

 ĐINH THỊ TÂM – Đại học Ngoại thương Hà Nội[1]

Đặt vấn đề [2]

Giai đoạn tiền hợp đồng là giai đoạn đầu tiên liên quan đến hợp đồng. Trong giai đoạn này các bên tiến hành đàm phán với nhau để đi đến sự ưng thuận giao kết hợp đồng. Để đạt được sự ưng thuận thì trong giai đoạn này các bên phải cung cấp cho nhau các thông tin cần thiết liên quan đến nội dung, đối tượng của hợp đồng. Do tính chất quan trọng của các thông tin mà các bên cung cấp cho nhau trong giai đoạn này nên xu hướng trong các hệ thống pháp luật hiện nay đều thừa nhận nghĩa vụ bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng là một loại nghĩa vụ pháp lý. Không nằm ngoài xu hướng chung đó, pháp luật của Việt Nam cũng đã có các quy định chung và các quy định chuyên biệt về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng. Tuy nhiên, các quy định này hiện nay vẫn còn một số tồn tại nhất định dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Trong bài viết này, tác giả trung phân tích các quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng theo Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 và một số quy định chuyên biệt, từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

1. Giai đoạn tiền hợp đồng

Thuật ngữ ‘tiền hợp đồng” đã được đề cập trong rất nhiều các công trình khoa học cũng như trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có “một định nghĩa chính thức cụ thể, rõ ràng về giai đoạn tiền hợp đồng trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật của các quốc gia” (Lê Trường Sơn, 2015, tr.26).

Continue reading

Giao dịch bảo đảm bằng quyền tài sản THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

 TS. BÙI ĐỨC GIANG & THS. NGUYỄN HOÀNG LONG

Ngày nay, các tài sản vô hình (quyền tài sản) có xu hướng chiếm một tỷ trọng ngày càng quan trọng trong tổng tài sản của một doanh nghiệp. Việc sử dụng tài sản vô hình để bảo đảm nghĩa vụ có rất nhiều ưu điểm so với tài sản hữu hình bởi vì giúp tránh được nguy cơ tài sản bị mất, bị phá hủy hay giảm giá trị.

Hơn nữa, tài sản vô hình có thể được lưu trữ và chuyển giao bằng các phương tiện điện tử mà không chịu hạn chế về mặt kích thước hay không cần phải chuyển giao về mặt vật chất. Chỉ bằng một cái nhấn chuột máy tính, tài sản vô hình có thể vượt qua biên giới một nước. Chính vì thế, đây là một loại tài sản khá lý tưởng để bảo đảm khoản vay[1]. Tuy vậy, ở Việt Nam, việc cho vay theo tài sản vô hình chưa thực sự phổ biến. Ngoài tâm lý “chuộng” tài sản hữu hình quy định pháp luật hiện hành vừa thiếu vừa ít tính khả thi đang là rào cản lớn cho việc xác lập và xử lý các giao dịch bảo đảm bằng tài sản vô hình.

1. Khái niệm quyền tài sản và giao dịch bảo đảm với quyền tài sản

Khác với pháp luật của nhiều nước, tài sản vô hình ở Việt Nam được pháp luật ghi nhận thông qua khái niệm “quyền tài sản”. Quyền tài sản là một loại tài sản đã được quy định trong các bộ luật dân sự của Việt Nam [2].

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LUẬT HÓA ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

 OLIVIER GOUSARD – Công chứng viên, Cộng hòa Pháp

1. Những vấn đề chung

 Nước Pháp của chúng tôi có một hệ thống pháp luật về đăng ký đất đai rất rõ ràng và cụ thể vì thủ tục đăng ký đất đai đã được quy định hết sức chi tiết trong các văn bản quy phạm pháp luật. Việt Nam cũng cần đi theo hướng này. Ở Pháp, các thủ tục đăng ký bất động sản (đăng ký quyền, đăng ký các văn bản, hợp đồng) rất rõ ràng và chi tiết. Thực vậy, các thủ tục về đăng ký đất đai cụ thể tới cấp độ tên, mô tả địa chính… Chính vì thế tôi rất ủng hộ quan điểm xây dựng một văn bản pháp luật về các thủ tục đăng ký bất động sản. Chúng ta chỉ có thể có các thông tin về bất động sản được bảo mật khi chúng ta có các thông tin chi tiết nhất có thể.

Từ bài phát biểu của bà Hiền[1] tôi nhận thấy yêu cầu đặt ra là hệ thống đăng ký bất động sản phải phù hợp với Hiến pháp. Về điểm này, theo pháp luật của Pháp, hệ thống đăng ký bất động sản mà công chúng có thể yêu cầu cung cấp thông tin phải tôn trọng các quy định pháp luật của Nhà nước và tôn trọng các quyền tự do cá nhân. Hệ thống đăng ký đất đai phải cho phép cung cấp các thông tin có thật và giúp Nhà nước thu thuế hiệu quả. Nhiệm vụ đặt ra cho mỗi Nhà nước là phải đảm bảo nguồn thu ngân sách mà chìa khóa của công tác này chính là việc phải đảm bảo được việc thu thuế.

Continue reading