TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ Y TẾ: BỊ “MẤT SÚNG”, BỆNH NHÂN KIỆN BÁC SĨ

THÁI BÌNH

Một bác sĩ có tên tuổi ở huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa) đã cắt trọn “của quý” của bệnh nhân nam tại phòng mạch tư khiến ông này vác đơn đi kiện.

Ông N.T.P. (44 tuổi, ở xã Ninh An, Ninh Hòa, Khánh Hòa) đang rất đau khổ vì bị cắt dương vật tại một phòng mạch tư mà bệnh tình vẫn không thuyên giảm.

Mất “vũ khí” ở phòng mạch tư

Ông P. kể: khoảng năm tháng trước ông tìm đến phòng mạch tư của BS A. (thị trấn Ninh Hòa) để khám do đau nhức dương vật và chảy mủ ở phần đầu dương vật. BS nói do bệnh nặng, cách tốt nhất là cắt bỏ “súng”, cắt tại phòng mạch hay vào bệnh viện là tùy bệnh nhân. Sáng hôm sau, ông P. trở lại phòng mạch và cho BS cắt đứt khoảng một nửa “nòng súng”, chi phí phẫu thuật và thuốc men 2 triệu đồng.

Hơn tháng sau, do vết mổ sưng, đau nhức và chảy mủ nên ông P. quay trở lại phòng mạch và được BS cắt trọn dương vật với chi phí 200.000 đồng.

Mất “của quý” nhưng bệnh không thuyên giảm, ông P. lại tìm đến phòng mạch, BS A. yêu cầu ông nhập viện. Tại bệnh viện, BS A. mổ sâu vô phần chân dương vật và nạo các hạch bẹn. Nằm viện cả tháng không khỏi, người nhà đưa ông P. đến Bệnh viện Quân y 87 (TP Nha Trang) rồi vào Bệnh viện Bình Dân (TP.HCM).

Tại hai bệnh viện này, ông P. được khuyên về “bắt đền” BS bởi lẽ bệnh tình của ông lẽ ra chưa cần phải “trảm” như thế. Uất ức vì bị “tước vũ khí” và đau nhức triền miên, ông P. đã viết đơn gửi Phòng tiếp công dân tỉnh để kiện BS A.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN: GHEN ẨU PHẢI ĐỀN TIỀN

NGUYÊN TRƯỜNG

Không chứng cứ, một phụ nữ vẫn đi rêu rao rằng bà hàng xóm ngoại tình với chồng mình. TAND tỉnh Bến Tre vừa xử phúc thẩm một vụ đòi bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

Tòa tuyên bác kháng cáo, y án sơ thẩm, buộc vợ chồng bà C. phải bồi thường 5,4 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần cho người hàng xóm là bà N. Ngoài ra, tòa cũng buộc vợ chồng bà C. phải công khai xin lỗi bà N. tại tổ nhân dân tự quản nơi hai bên sinh sống.

Tình ngay lý gian?

Theo hồ sơ, bà C. trình bày rằng một ngày cuối tháng 12-2008, thấy chồng đi khỏi nhà, bà liền theo dõi và thủ sẵn cái máy ảnh. Đến nhà bà N., bà đứng ngoài rình một lát thì xông vào, thấy chồng mình và bà N. đang ôm nhau trên bộ ván nên lấy máy ảnh ra chụp nhiều kiểu.

Ngược lại, bà N. kể lúc đó bà đã phân bua ngay là chồng bà C. đến mua rượu, thấy nhà có mỗi mình bà nên giở chứng làm càn nhưng bà C. nhất quyết không nghe, còn kêu người đến làm chứng. Người làm chứng đến không chứng kiến được gì cả nhưng cũng lớn tiếng bảo bà N. quá đáng dù bà đã cố gắng giải thích là “ông ấy cưỡng bức tôi”. Sau đó thì mạnh ai về nhà nấy.

Một tuần sau, cả cái xóm chợ nơi hai bên sinh sống ai ai cũng truyền miệng nhau rằng “Bà N. giựt chồng bà C.”. Vì lẽ đó, bà N. chẳng dám ra đường, con cái bị mọi người dè bỉu, gia đình hục hặc. Qua tìm hiểu, gia đình bà N. biết được vợ chồng bà C. đem sự việc trên kể cho nhiều người nghe. Người chồng thì bảo trước giờ có quan hệ lén lút với bà N., còn người vợ thì luôn miệng khẳng định bà N. giựt chồng mình. Đến một ngày, con gái bà N. không chịu được lời bàn ra tán vào đã đến gặp bà C. yêu cầu chấm dứt việc tuyên truyền này. Hai bên lại cự cãi um xùm và bà C. chửi thẳng là “Má mày giựt chồng tao”…

Continue reading

TỪ CÂU CHUYỆN VFF: CÔNG DÂN VIỆT NAM BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT

KHANG MINH

Dư luận nhiều ngày qua nóng bỏng với chuyện LĐBĐ Việt Nam (VFF) muốn lập lại trật tự cho bóng đá nước nhà bằng cách giảm thiểu sự có mặt của cầu thủ nước ngoài được nhập quốc tịch trên sân bóng. Theo đó, từ mùa bóng 2010, mỗi CLB chỉ được phép sử dụng 1 cầu thủ được nhập quốc tịch thi đấu trên sân. Điều này đã được hầu hết các thành viên trong Ban chấp hành nhiệm kỳ VI ủng hộ.

Thế nhưng, những luận điểm mà VFF vin vào để đi đến quyết định kể trên không được lòng dư luận. Và thể theo diễn biến phức tạp của sự việc hiện nay, phải còn khá lâu nữa tranh cãi mới được vãn hồi. Giới quan sát nhìn nhận từ rắc rối này, rất có thể nảy sinh thêm nhiều rắc rối khác và đến khi mùa bóng mới khởi tranh, nó sẽ càng nóng bỏng.

Trên thực tế, VFF dựa phần lớn vào tinh thần biểu quyết của các thành viên Ban chấp hành mới, nhưng hình như, giới chức lại bỏ qua “kênh” dư luận, nơi thường phát sinh những phản ứng ngược lại. Thêm vào đó, VFF hình như cũng quên luôn đối tượng chính trong vụ việc là những cầu thủ ngoại đã nhập quốc tịch Việt Nam. Thành thử khi đưa ra quyết định như vậy, VFF vấp ngay phải làn sóng chỉ trích mạnh mẽ. Đấy là chưa kể quyết định này đi ngược lại xu thế Nhà nước ta cho người nước ngoài nhập quốc tịch. Nói như HLV Mai Đức Chung (Bình Dương), tuy bóng đá là một cuộc chơi mang những đặc thù riêng nhưng cũng phải tôn trọng và thực hiện đúng luật pháp cũng như quy định của Nhà nước. Việc hạn chế như vậy đồng nghĩa với việc vi phạm quyền công dân. Bởi cầu thủ nhập quốc tịch VN, trở thành công dân VN phải được hưởng mọi quyền lợi chính đáng một cách bình đẳng như bất kỳ người VN nào khác.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Trước khi làn sóng nhập quốc tịch diễn ra tràn lan trong bóng đá, dư luận một luồng coi đây là xu hướng tốt, có thể giúp kích thích sự phát triển của cả nền bóng đá Việt Nam trong tương lai. Chính vì vậy, các đội bóng đua nhau tìm cách xin nhập quốc tịch cho các ngoại binh của mình, đến độ không thể kiểm soát kỹ lưỡng được nữa. Phần dư luận khác lại cảnh báo làm như vậy là hại cả một nền bóng đá, không còn nhiều cơ hội cho cái nền là bóng đá trẻ phát triển. Hơn nữa, khi một số cầu thủ nhập quốc tịch được triệu tập làm nhiệm vụ quốc gia như Huỳnh Kesley, Phan Văn Santos, Đinh Hoàng Max, Đinh Hoàng La… đều vấp phải sự kháng cự, khiến giới chức bóng đá trong nước rốt cuộc phải đi đến thống nhất là loại họ khỏi những lần triệu tập gần đây.

Continue reading

THỰC TIỄN TUYÊN BỐ MỘT CÁ NHÂN MẤT TÍCH: BỊ TRUY NÃ NÊN KHÔNG THỂ XÁC ĐỊNH MẤT TÍCH?

HOÀNG YẾN

Nhiều trường hợp chồng (vợ) đang bị truy nã, phía liên quan xin tòa tuyên bố mất tích để ly hôn, tòa từ chối, đương sự không biết làm sao để xây dựng hạnh phúc mới.

Mới đây, bà M. đã gửi đơn ra TAND quận X (TP.HCM) yêu cầu tuyên bố người chồng của bà mất tích. Theo bà, trước đây chồng bà cùng một số người khác thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản, bị công an truy bắt. Sợ phải vào tù, chồng bà đã gom sạch tài sản quý giá trong nhà rồi bỏ đi biệt tăm. Gần năm năm nay, chồng bà không hề liên lạc gì với gia đình. Hiện chồng bà vẫn đang bị truy nã.

Mòn mỏi chờ “một nửa”

Nhận được đơn của bà M., sau khi nghiên cứu, TAND quận X đã trả lại đơn, từ chối thụ lý. Theo tòa, chồng bà M. thuộc trường hợp trốn lệnh truy nã của công an chứ không phải là mất tích thông thường nên không thể giải quyết yêu cầu của bà M. được.

Bà M. đã rất bức xúc vì nếu tòa không tuyên bố chồng bà mất tích, bà sẽ không thể ly hôn vắng mặt người chồng được. Trong khi đó, người chồng cứ biền biệt không tung tích, bà muốn làm lại cuộc đời, muốn xây dựng hạnh phúc mới cho mình mà không biết phải làm sao.

Trường hợp như của bà M. không phải là hiếm. Năm 2008, TAND một huyện ở tỉnh Thái Nguyên cũng thụ lý, giải quyết vụ anh Đ. yêu cầu tuyên bố người vợ mất tích. TAND huyện này đã tiến hành đầy đủ các thủ tục nhắn tin tìm kiếm vợ anh Đ. trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hết thời hạn bốn tháng, tòa dự kiến mở phiên xử để xét yêu cầu của anh Đ.

Tuy nhiên, ngay trước ngày xử, tòa đã nhận được quyết định truy nã vợ anh Đ. (có từ hai năm trước) của công an tỉnh. Lúc đó tòa mới biết rằng vợ anh Đ. đã bỏ đi khỏi địa phương để trốn thi hành một bản án hình sự tám năm tù. Lúng túng, tòa không biết xử sao nên đành đình chỉ vụ kiện.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU: CON LY HÔN, CHA MẸ ĐÒI NHÀ

HOÀNG LAM

Đứng tên chủ quyền nhưng con rể vẫn thua kiện. Mới đây, anh T. nộp đơn xin ly hôn vợ. Tài sản duy nhất họ tranh chấp là căn nhà ở phường Tân Phong, quận 7, TP.HCM. Giấy hồng cấp năm 2007 ghi tên vợ chồng anh T. là đồng sở hữu.

Anh T. kể cha mẹ vợ mua lô đất tái định cư của bà N. vào năm 1997, sau đó xây lên một căn nhà cấp bốn. Năm 1998, vợ chồng anh mua lại căn nhà này với giá 100 triệu đồng. Vì bên bán là cha mẹ vợ nên anh không yêu cầu lập bất cứ giấy tờ gì liên quan đến việc mua bán.

Anh T. muốn chia đôi căn nhà vì là tài sản chung của vợ chồng nhưng vợ anh không đồng ý. Theo người vợ, thu nhập của chồng không ổn định, bản thân chị chỉ là công nhân nên lấy đâu ra 100 triệu đồng để mua nhà. Chị xác định vợ chồng mình chỉ ở nhờ nhà của cha mẹ, giờ cha mẹ đòi thì phải trả lại.

Lý giải việc giấy hồng ghi tên con gái và con rể là đồng sở hữu, mẹ vợ anh T. cho biết vợ chồng bà sức khỏe yếu, không đủ điều kiện đi lại. Tin tưởng con gái và con rể, bà giao cho họ làm thủ tục xin cấp giấy hồng. Đối với tờ giấy tái xác nhận việc mua bán nền tái định cư lập năm 2006 (ghi bên mua là vợ chồng anh T.), người mẹ vợ cho biết giấy này được lập chỉ để tiện việc hợp thức hóa nhà.

Tháng 8-2009, TAND quận 10 xử sơ thẩm vụ án và chấp nhận ý kiến trên của người mẹ vợ. Anh T. không có chứng cứ chứng minh mình đã mua nhà của cha mẹ vợ. Dựa trên nhiều lời khai chống lại anh T., cấp sơ thẩm xác định vợ chồng anh T. chỉ đứng tên giùm nên bác yêu cầu chia nửa căn nhà của anh. Cuối tháng 10-2009, phiên xử phúc thẩm của TAND TP.HCM cũng y án sơ thẩm.

Continue reading

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: MẤT CHÓ CƯNG ĐÒI ĐỀN 100 TRIỆU ĐỒNG

HỒNG TÚ

Bị mất chó gửi trung tâm huấn luyện nuôi dạy, người chủ khăng khăng bắt phía trung tâm trả lại đúng con chó đó hoặc đền 100 triệu đồng.

Mới đây, TAND quận Thủ Đức (TP.HCM) đã tạm đình chỉ giải quyết vụ kiện đòi tài sản của bà D. đối với DNTN Thương mại Dịch vụ TP vì phải chờ kết quả ủy thác thu thập chứng cứ từ một tòa án khác. Đây là một vụ kiện khá ngộ nghĩnh: Bà D. yêu cầu DNTN TP phải trả lại một con chó giống Phú Quốc cho bà, nếu không thì doanh nghiệp phải bồi thường 100 triệu đồng.

Gửi huấn luyện, mất luôn con chó cưng

Theo đơn khởi kiện, năm 2006 trong một chuyến tham quan du lịch tại huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang), bà D. đã mua được “một con chó cái màu vàng xám, thuần chủng Phú Quốc, rất xinh đẹp và quý hiếm”.

Về nhà, bà D. đặt tên cho nó là Mina. Nuôi được gần hai năm, tháng 3-2008, bà D. đem con Mina đến một trung tâm huấn luyện chó nghiệp vụ thuộc DNTN TP và ký hợp đồng huấn luyện chó với thời gian bốn tháng, tiền công huấn luyện mỗi tháng một triệu đồng. Nội dung huấn luyện theo hợp đồng là trung tâm dạy cho chó biết ngồi chào, bắt tay, bảo vệ chủ khi có lệnh, phân biệt người lạ và tấn công khi có lệnh, ngăn chặn hành động không muốn xảy ra, chống ăn bả…

Sau gần ba tháng gửi trung tâm huấn luyện, tháng 7-2008, bà D. đến thăm con Mina thì bất ngờ được phía trung tâm huấn luyện thông báo rằng con Mina đã tự cắn chuồng bỏ đi đâu biệt tích. Đau buồn vì mất con chó cưng, thời gian sau đó, bà D. lại càng thêm bức xúc, cho rằng trung tâm huấn luyện “không có thiện chí” giúp bà tìm lại con Mina. Bà còn ngờ rằng vì con chó “đặc biệt quý hiếm” nên trung tâm huấn luyện “đã giữ lại để làm giống”…

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN VÀ SỞ HỮU: CON DÂU ĐÃ LY HÔN CHIẾM ĐOẠT NHÀ HƯƠNG HỎA BÊN NHÀ CHỒNG

NGUYỄN HIẾU

Mặc dù không có di chúc thừa kế tài sản của cha mẹ để lại và không được sự đồng ý của năm anh chị em trong gia đình, thế nhưng từ năm 2001 ông Lâm Ngọc Khanh và bà Lưu Thị Ái Liên vẫn có thể “hoàn tất thủ tục” xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở (CNQSHN & QSDĐƠ) để chiếm đoạt căn nhà hương hoả số 67/3 đường Hà Nội, ấp Trung Chánh 1, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn.

Bà Liên và ông Khanh đã chấm dứt quan hệ vợ chồng (có quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của TAND huyện Hóc Môn ngày 22-6-2000) nhưng hai người vẫn được đứng tên chủ sở hữu nhà và đất ở do UBND huyện Hóc Môn cấp ngày 6-9-2001). Sau ngày ông Khanh mất, bà Lưu Thị Ái Liên treo bảng bán căn nhà, từ đó đã phát sinh tranh chấp…

Bà Lâm Thị Bích Liên cho biết, căn nhà này là tài sản của cha mẹ bà là ông Lâm Văn Khoa và bà Phạm Thị Chai lúc sinh thời đã tạo lập. Năm 1988, cả cha và mẹ bà lần lượt qua đời, không để lại di chúc. Sau đó, do điều kiện mưu sinh lập nghiệp ở xa, năm anh chị em trong gia đình nhất trí giao căn nhà trên cho vợ chồng ông Khanh ở và lo việc thờ cúng cha mẹ. Đến ngày 22-6-2007, mọi người giật mình khi hay tin bà Lưu Thị Ái Liên đang rao bán nhà. Tiếp theo đó, mọi người phát hiện việc ly hôn giữa ông Khanh và bà Liên đã xảy ra từ năm 2000, cũng như việc họ giả mạo chữ ký của mẹ và năm anh chị em trong gia đình để chiếm đoạt căn nhà… Vụ kiện đã được toà án hai cấp sơ và phúc thẩm thụ lý xét xử.

Continue reading

CHUYỆN THẬT NHƯ ĐÙA: ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI VẪN MUA ĐƯỢC NHÀ THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 61/NĐ-CP

HỒNG HIỆP

Đã hoàn thành thủ tục xuất cảnh và sang định cư ở Mỹ, nhưng bằng mọi cách, Nguyễn Ngọc Anh vẫn hóa giá thành công căn nhà số 337/2/6 (phần phụ nhà biệt thự) đường Lê Văn Sỹ, phường 1 quận Tân Bình – TPHCM rồi sau đó nhanh chóng chuyển nhượng thành công cho người khác.

“Phù phép”

Theo tài liệu mà bà L.- vợ đầu của người bị tố cáo (ông Nguyễn Ngọc Anh) cung cấp cho các cơ quan chức năng thì căn nhà số 337/2/6 Lê Văn Sỹ, phường 1 quận Tân Bình – TPHCM có nguồn gốc là nhà Nhà nước, do Công ty Quản lý kinh doanh nhà TP quản lý. Một phần phụ nhà biệt thự (có vị trí thuộc thửa số 9 tờ 33) do Công ty Quản lý Kinh doanh nhà TP bán hóa giá cho ông Nguyễn Ngọc Anh ngày 18-4-2007 với diện tích 88m². Theo tinh thần của Nghị định 61/CP quy định thì Chính phủ cho phép hóa giá những căn nhà này với điều kiện không xuất cảnh định cư ở nước ngoài. Thế nhưng, Nguyễn Ngọc Anh đã định cư nước ngoài theo diện H.O nhiều năm nay và hồ sơ thể hiện rõ tại Cục Xuất Nhập cảnh – Bộ Công an.

Theo quy định, căn nhà trên phải trả về cho Nhà nước vì tất cả những người trong nhà đều đã xuất cảnh sang Mỹ định cư. Để “phù phép” có được căn nhà này, trong suốt 2 năm 2006 – 2007 ông Nguyễn Ngọc Anh từ Mỹ đã trở về Việt Nam liên tục khi được thông báo thông tin cơ quan chức năng đang làm thủ tục đo đạc nhà.

Không chỉ lừa được cán bộ đo đạc, ông Ngọc Anh còn mạo danh cả chữ ký của một chiến sĩ Công an phường 1 quận Tân Bình khi xác nhận tại phường về việc không đi xuất cảnh, đang ở Việt Nam để được hóa giá nhà. Ngay sau khi được hóa giá nhà, ông Ngọc Anh đã lập tức sang tên lại cho bà N.T.Q, và rút sang Mỹ!

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: CHIẾC MERCEDES BỊ LẤY CẮP

HOÀNG YẾN

Xe bị trộm để “luộc” đồ, đơn vị bảo hiểm từ chối chi trả vì cho rằng không phải trường hợp bị mất toàn bộ do cướp có vũ trang…

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM sắp xử vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa Công ty TNHH Thương mại dịch vụ Thi Quan và Tổng Công ty cổ phần Bảo Minh.

Xe bị “luộc” đồ

Theo đơn khởi kiện của Thi Quan gửi TAND TP.HCM hồi tháng 3, đầu năm 2008, Thi Quan có mua bảo hiểm của Bảo Minh cho chiếc ôtô Mercedes năm chỗ của công ty trong thời gian một năm và đã đóng đủ tiền bảo hiểm gần 15 triệu đồng.

Tối 11-7-2008, giám đốc Thi Quan đến một nhà hàng trên đường Tân Phước, phường 6 (quận 10) ăn uống cùng bạn bè. Một lúc sau ông này được tài xế báo cho biết là chiếc xe đã bị mất cắp. Theo lời tài xế, sau khi giám đốc Thi Quan vào nhà hàng, tài xế cho xe cặp sát lề đường trước nhà hàng, xuống xe khóa cửa rồi đi bộ ra nơi khác ăn hủ tiếu, lúc về thì thấy xe đã biến mất.

Công an phường 6 đến lập biên bản việc mất cắp xe, có nhân viên bảo vệ nhà hàng xác nhận trước đó có nhìn thấy chiếc xe trên. Hôm sau, Công an huyện Đức Hòa (Long An) phát hiện ra chiếc Mercedes này nằm trơ trọi giữa một cánh đồng mía nhưng đã bị cậy phá lấy cắp hàng loạt phụ tùng như đèn pha, đèn xi nhan, huy hiệu, kính chiếu hậu, đèn sau, vỏ lốp, đồ nghề mở vỏ, nắp nhớt xăng…

Một tuần sau, Công an quận 10 đã lập biên bản trao trả xe cho Thi Quan. Sau đó, Thi Quan yêu cầu Bảo Minh chi trả bảo hiểm nhưng đơn vị bảo hiểm cho rằng trường hợp này không thuộc phạm vi bảo hiểm nên từ chối. Không đồng ý, Thi Quan đã khởi kiện yêu cầu Bảo Minh phải thanh toán khoảng 174 triệu đồng, bao gồm chi phí giám định thiệt hại, chi phí thay phụ tùng bị mất, phí lưu bãi, chi phí kéo xe từ Long An về Công an quận 10…

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: VÌ ĐÂU VỤ ÁN HƠN 10 NĂM CHƯA KẾT THÚC?

LA MINH

Vụ án dân sự đã đến cấp xét xử cao nhất nhưng người trong cuộc vẫn chưa "tâm phục, khẩu phục", khiến dư luận hết sức băn khoăn?

Năm 1995, ông Võ Anh Tuấn và bà Nguyễn Thị Thêm – trú tại khối 8 P. Lê Lợi, TP.Vinh cho vợ chồng ông Lê Quang Toản và Trần Thị Nam – trú khối 13 P.Lê Lợi, TP.Vinh vay tiền. Đến hạn, phía ông Toản không trả nợ, ông Tuấn và bà Thêm khởi kiện vụ án dân sự lên TAND TP.Vinh, Nghệ An.

Ngày 11.1.1997, TAND TP.Vinh ra bản án số 01, 02 buộc ông Toản phải hoàn nợ cho ông Tuấn và bà Thêm cả số vay gốc và lãi đến thời điểm phải trả là 345 triệu đồng. Khi án có hiệu lực, vợ chồng ông Toản vẫn không trả, ngày 29.3.2007, Đội thi hành án (THA) TP.Vinh ra quyết định cưỡng chế kê biên ngôi nhà hai tầng tại khối 13, P. Lê Lợi của ông Toản và thông báo bán đấu giá trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng không có người mua.

Ngày 6.5.2007, Đội THA kê biên ngôi nhà trên trị giá 278 triệu đồng, giao cho ông bà Tuấn và Thêm để trừ vào tiền thi hành án. Nhưng đến ngày 20.12.1997, Đội THA TP.Vinh lại huỷ biên bản đã kê biên và bàn giao nhà. Ông Tuấn và bà Thêm gửi đơn khiếu nại; ngày 16.11.2001 TAND Nghệ An xét xử, ra bản án số 7, buộc Đội THA TP.Vinh thu hồi ngôi nhà ông Toản từ việc đã giao nhà bất hợp pháp cho ông Tuấn và bà Thêm, để trả cho ngân hàng xử lý theo quy định về tài sản thế chấp của ngân hàng. Toà phúc thẩm – TAND Tối cao tại Hà Nội ngày 6.4.2005 ra bản án số 75 cũng quyết định như trên.

Ông Tuấn và bà Thêm không nhất trí với quyết định của tòa án, vì từ một vụ kiện khác không hề liên quan đến quyền sở hữu hợp pháp ngôi nhà đã được bàn giao. Đó là ông Phạm Quốc Kỳ – trú khối 6, P. Đội Cung, TP.Vinh – khởi kiện NHNT Vinh mà Tòa phúc thẩm đang thụ lý vụ kiện tranh chấp hợp đồng mua bán nhà. Ông Tuấn và bà Thêm đã gửi đơn tố cáo đến cơ quan điều tra việc NHNT Vinh dựng chứng từ giả, tài liệu giả; tố cáo TAND từ cấp sơ thẩm đến phúc thẩm xét xử mối quan hệ không có thật ra bản án trái pháp luật, gây thiệt hại tiền nhà nước tại NHNT Vinh, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp ngôi nhà của ông, bà đã được Cơ quan THA giao để THA.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: KHÔNG LẬP HỢP ĐỒNG, MẤT CẢ TỶ ĐỒNG

HOÀNG LAM

Dù con nợ đã ký nhận số tiền vay nhưng chủ nợ vẫn thua kiện ở hai cấp tòa.

Chị Trương Thị X. (đường Cách Mạng Tháng Tám, quận 10, TP.HCM) có quan hệ họ hàng với vợ chồng bà O. Đầu năm 2008, chị X. nộp đơn kiện đòi vợ chồng bà O. trả cho mình hơn 1,4 tỷ đồng.

Bên buộc

Chị X. liệt kê cả thảy 13 lần giao tiền vay cho vợ chồng bà O. với tổng số tiền lên đến hơn 1,6 tỷ đồng. Các lần giao tiền này kéo dài từ giữa năm 2006 đến tháng 10-2007. Chị X. nói mình rất tin tưởng họ hàng nên không lập giấy nợ. Chị chỉ ghi số tiền cho vay vào sổ để tiện theo dõi. Có lần chồng bà O. còn đưa hai bản phôtô giấy đỏ để cấn trừ nợ nhưng chị từ chối.

Khi bên vay ngưng trả lãi, chị sốt ruột lui tới hỏi thăm thì được tin chồng bà O. đã bỏ trốn vì chuyện riêng. Để trấn an chị, bà O. cung cấp các địa chỉ nhà mà chồng mình thường lui tới. Cuối tháng 11-2007, bà O. trả cho chị X. 200 triệu đồng. Sang đầu tháng 12-2007, bà O. yêu cầu chị X. lập giấy biên nhận ghi rõ đã nhận 200 triệu đồng, được cấn trừ vào hơn 1,6 tỷ đồng tiền vay. Giấy biên nhận này có chữ ký của bà O. Như vậy, số tiền vay còn lại chưa trả là hơn 1,4 tỷ đồng.

Chị X. còn xuất trình được băng ghi âm thể hiện anh ruột của chồng bà O. hứa trả thay cho em mình 700 triệu đồng. Theo chị X., phải biết rõ số tiền vay thì người này mới chấp nhận gánh thay một số tiền lớn như thế.

Bên chối

Ngược lại, vợ chồng bị đơn hoàn toàn phủ nhận chuyện vay tiền. Chồng bà O. nói vì mâu thuẫn vợ chồng nên ông bỏ nhà đi nơi khác, không biết vợ mình cầm 200 triệu đồng trả cho chị X. Ông còn bảo hai bản phôtô giấy đỏ ông đưa chị X. là để nhờ chị rao bán đất giùm, không phải để cấn trừ nợ.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN MUA NHÀ: XUNG QUANH VỤ BÁN “LÚA NON” Ở QUẬN CẦU GIẤY (HÀ NỘI), “BÙNG NHÙNG” CHƯA LỐI THUÁT . . .

THIÊN LONG – ĐÔNG HƯNG

Thuận mua vừa bán, nhiều người dân quận Cầu Giấy đã nhận tiền đặt cọc, làm hợp đồng chuyển nhượng quyền mua nhà tái định cư và chấp thuận công chứng ký tên, điểm chỉ vào Hợp đồng ủy quyền bất động sản cho người khác có nhu cầu mua lại. Sau đó, những người bán lúa non (nhà tái định cư trước khi bốc thăm) này lại làm đơn tố cáo người mua lừa đảo để mua lại các căn hộ tái định cư của họ. Sự vụ này đang gây xôn xao dư luận trong mấy ngày qua.

Tiên trách kỷ

Câu chuyện tranh chấp này bắt nguồn từ Dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn I (nay là Dự án Thoát nước cải thiện môi trường Hà Nội – Dự án II) đoạn qua địa bàn phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Được biết, Dự án này đã hoàn tất việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người dân có đất phải thu hồi để phục vụ cho Dự án từ năm 2007. Hài hoà lợi ích của Nhà nước và người dân, ngày 25.6.2009, UBND TP. Hà Nội có văn bản số 5911/UBND-TNMT về việc "Bổ sung chính sách bán nhà tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn II trên địa bàn quận Cầu Giấy". Theo đó, hộ gia đình bị thu hồi đất ở với diện tích nhỏ hơn 20m2, nhưng lớn hơn 10m2, diện tích còn lại nhỏ hơn 40m2; hộ gia đình bị thu hồi đất ở diện tích lớn hơn 20m2, diện tích còn lại nhỏ hơn 80m2 được mua một căn hộ chung cư cao tầng tại khu 5,3ha Dịch Vọng, Cầu Giấy.

Đối chiếu với chính sách trên, nhiều hộ dân ở phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy có đất nằm trong Dự án được mua nhà tái định cư. Quá trình mua nhà tái định cư, nhiều hộ dân đã bán "lúa non" (bán trên giấy tờ trước khi trả đủ tiền nhà).

Continue reading

TRANH CHẤP GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: NGÂN HÀNG GIỮ RỊT GIẤY ĐỎ CỦA KHÁCH HÀNG

HOÀNG YẾN

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa sửa toàn bộ bản án sơ thẩm vụ tranh chấp hợp đồng thế chấp bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất giữa bà TTH với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Vĩnh Long.

Thế chấp ngắn hạn

Theo đơn kiện của bà H., tháng 8-2004, vì muốn con mình có vốn làm ăn, bà đã nhờ Công ty TNHH Miền Tây đứng ra vay giùm chi nhánh ngân hàng trên. Đổi lại, bà phải dùng quyền sử dụng đất để bảo lãnh hợp đồng vay 300 triệu đồng, thời hạn sáu tháng giữa Công ty Miền Tây với phía ngân hàng.

Bà H. đã giao bản chính giấy đỏ cho chi nhánh ngân hàng. Hết thời hạn bảo lãnh chính, bà gia hạn bảo lãnh thêm ba tháng. Sau chín tháng, ngân hàng đã thanh lý hợp đồng cho vay với Công ty Miền Tây nhưng vẫn không chịu trả giấy đỏ cho bà. Vì thế bà khởi kiện ra TAND tỉnh Vĩnh Long, yêu cầu phía ngân hàng phải trả lại giấy đỏ.

Ra tòa, phía ngân hàng cho biết Công ty Miền Tây vẫn trả lãi đủ nhưng chưa thanh toán vốn nên trong trường hợp này hợp đồng vay có thời hạn đã trở thành không thời hạn, tức là hợp đồng bảo lãnh của bà H. vẫn còn có hiệu lực. Tại phiên sơ thẩm, TAND tỉnh Vĩnh Long cũng đồng tình với quan điểm này và bác yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp bảo lãnh của bà H.

Thành thế chấp vĩnh viễn?

Bà H. kháng cáo, cho rằng Công ty Miền Tây đã thanh toán hết vốn vay cho phía ngân hàng. Chồng bà (người có quyền lợi liên quan) cũng kháng cáo, cho rằng hợp đồng bảo lãnh trên vô hiệu vì quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng nhưng bà H. lại đem đi bảo lãnh mà không được ông đồng ý.

Tại phiên phúc thẩm, phía ngân hàng và Công ty Miền Tây đều xác nhận công ty đã trả xong tiền vay. Dù vậy, phía ngân hàng vẫn từ chối trả giấy đỏ cho bà H., lập luận: Việc vay, cho vay giữa ngân hàng với Công ty Miền Tây là luân chuyển, hết hợp đồng này thì tiếp hợp đồng khác (từ năm 2004, phía ngân hàng đã cho công ty vay thêm 10 hợp đồng ngắn hạn). Vì thế, giấy tờ thế chấp bảo lãnh của bà H. phải được tiếp tục giữ lại (?!).

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: RỐI HỢP ĐỒNG CHO THUÊ HỆ THỐNG CHƠI BOWLING

HOÀNG YẾN

Khi có tranh chấp, tòa này bảo hợp đồng cho thuê vô hiệu, tòa kia lại nói hợp pháp.

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa hoãn xử vụ tranh chấp giữa Công ty cho thuê tài chính Kexim Việt Nam và Công ty TNHH thương mại Chí Đạt để nghiên cứu thêm. Đây là một vụ tranh chấp hợp đồng cho thuê hệ thống thiết bị chơi bowling (được lắp đặt, khai thác tại Trung tâm Bowling Đầm Sen) kéo dài hơn 10 năm qua với năm lần xét xử mà vẫn chưa xong. Ngoài lấn cấn xung quanh chuyện hợp đồng cho thuê có vô hiệu hay không, cơ quan tố tụng còn “đau đầu” khi xử lý hậu quả phát sinh.

Đầu xuôi, đuôi tranh chấp

Tháng 8-1999, Kexim khởi kiện Chí Đạt ra TAND TP.HCM. Theo đơn kiện, tháng 2-1998, Kexim ký hợp đồng cho Chí Đạt thuê hệ thống thiết bị chơi bowling cùng hệ thống máy phát điện (tổng giá trị gần 1,6 triệu USD và hai tỷ đồng). Thời hạn cho thuê là 36 tháng với giá thuê khoảng 51,5 ngàn USD và 71 triệu đồng/tháng. Cạnh đó, Kexim còn cho Chí Đạt thuê hệ thống máy điều hòa nhiệt độ (trị giá 405 ngàn USD) với giá thuê 13,2 ngàn USD/tháng…

Cuối tháng 2-1999, Kexim đã giao toàn bộ hệ thống thiết bị cho Chí Đạt lắp đặt và kinh doanh tại Trung tâm Bowling Đầm Sen. Tuy nhiên từ tháng 11-1999, Kexim không nhận được bất kỳ khoản tiền thanh toán nào từ Chí Đạt nên nảy sinh tranh chấp.

Không thống nhất được, Kexim khởi kiện, yêu cầu Chí Đạt phải thanh toán, bồi thường tổng chi phí mua các hệ thống thiết bị, lãi tích lũy, lãi quá hạn, giá trị còn lại của tài sản và phạt vi phạm hợp đồng tổng cộng hơn 2,7 triệu USD. Ngoài ra, Chí Đạt còn phải thanh toán chi phí liên quan đến việc thu hồi nợ của Kexim như phí luật sư, chi phí phát mại tài sản…

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: RẮC RỐI TỪ MỘT BẢN HỢP ĐỒNG

THANH QUANG

Mới đây, TAND thị xã Sơn Tây đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua nhà giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thanh Huyền (SN 1971, trú tại số 1 Quang Trung) và bị đơn là ông Hoàng Văn Quang, bà Lê Thị Thạch (trú tại số 8 Quang Trung) đều thuộc phường Quang Trung, thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội.

Đưa vụ việc ra tòa

Theo nội dung của Bản án số 15/2009/DSST của TAND thị xã Sơn Tây: Ngày 13-6-2009 chị Nguyễn Thanh Huyền và vợ chồng ông Quang, bà Thạch ký hợp đồng đặt cọc cho việc mua nhà với nội dung: ông Quang và bà Thạch thống nhất chuyển nhượng thửa đất số 40B, diện tích 41,3m2 tại số 8 phố Quang Trung, phường Quang Trung, thị xã Sơn Tây (đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng) cho chị Huyền với giá 790 triệu đồng. Chị Huyền đã đặt cọc 30 triệu đồng và thống nhất, ngày 20-6-2009 sẽ trả nốt số tiền còn lại, nếu bên nào phá hợp đồng sẽ bị phạt gấp 10 lần là 300 triệu đồng.

Tại phiên tòa cũng như đơn khởi kiện ngày 17-6-2009, chị Huyền cho rằng, sau khi làm hợp đồng đặt cọc, để chuẩn bị cho việc xây nhà chị đã phải vay tiền của ngân hàng… thì ngày 16-6-2009, ông Quang đến mời chị sang nhà ông trao đổi việc các con ông không đồng ý về việc bố mẹ bán nhà. Do vậy họ bảo chị sang thương lượng với các con ông Quang.

Khi chị đến thì 3 con của ông Quang là Huyền, Tuấn và Vũ nói: bố mẹ họ bán nhà nhưng chưa trao đổi gì với các con nên họ không nhất trí với quyết định bán nhà, đề nghị chị nhận lại tiền đặt cọc nhưng chị không đồng ý. Ngày 17 và 18-6, chị Huyền sang nhà ông Quang để trả số tiền còn lại trước ngày hẹn nhưng ông Quang, bà Thạch đều từ chối. Chị Huyền đã gửi đơn kiện đến Tòa dân sự TAND thị xã Sơn Tây. Sau đó, ngày 19-6 chị đã làm đơn gửi đến cơ quan Công an TX Sơn Tây.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU CHUNG: BỊ THIỆT VÌ KHÔNG CHIA TÀI SẢN CHUNG

HOÀNG LAM

Không được phân định rạch ròi nên người thắng kiện khó có giấy chủ quyền.

Chị em bà T. gồm bốn người: ba gái, một trai. Sinh thời, cha mẹ họ tạo lập được một căn nhà tại TP Biên Hòa, Đồng Nai. Mẹ họ mất năm 1987, cha họ mất năm 1992 và đều không để lại di chúc. Sau khi người em trai qua đời năm 1995, vợ em trai (tức em dâu bà T.) tiếp tục quản lý tài sản.

Từ chối chia tài sản chung

Tháng 4-2008, chị em bà T. nộp đơn kiện em dâu ra tòa để đòi chia căn nhà vì cho rằng đây là di sản do cha mẹ để lại. Theo họ, do thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết nên di sản của cha mẹ trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế.

Dù thừa nhận căn nhà do cha mẹ chồng tạo dựng nhưng, người em dâu không đồng ý chia tài sản. Bà cho biết sau khi chồng mất, mẹ con bà vẫn tiếp tục quản lý, căn nhà. Trong quá trình sử dụng, mẹ con bà đã sửa chữa gần như toàn bộ căn nhà. Năm 2000, ba người chị chồng đã ký cam kết giao nhà cho bà quản lý sử dụng và đăng ký kê khai quyền sử dụng đất.

Ba người chị chồng phản đối lập luận của em dâu. Theo họ, bản cam kết ký năm 2000 chỉ thể hiện người em dâu được đứng tên đăng ký kê khai quyền sử dụng nhà chứ không giao em dâu quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt căn nhà.

Năm 2007, họ từng ngăn cản gia đình em dâu sa chữa nhà. Dưới sự điều hành của cán bộ xây dựng phường, gia đình em dâu chấp nhận giải pháp được tiếp tục xây nhà nhưng không thay đổi hiện trạng nhà. Nếu sau này có phân chia tài sản gia tộc, gia đình em dâu phải tự chịu chi phí sửa chữa.

Continue reading

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN: KHIẾU NẠI TRƯỚC MỚI ĐƯỢC KIỆN BÁO?

PHAN GIA HI

Cuối tháng 8 năm 2009, TAND thị xã Buôn Hồ (Dăk Lăk) đã xử sơ thẩm vụ bốn hộ dân kiện đòi Báo Dăk Lăk cải chính, xin lỗi và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vụ án đặt ra một tình tiết pháp lý gây tranh cãi xung quanh việc tòa thụ lý những vụ kiện liên quan đến báo chí: Người cho rằng đương sự phải khiếu nại báo trước, người lại nói cứ kiện thẳng ra tòa.

Bị đơn không tham gia tố tụng

Giữa tháng 3, Báo Dăk Lăk đăng bài viết phản ánh rằng có bốn hộ dân được Binh đoàn 15 Quân khu 5 (nay là Công ty Cà phê 15) giao khoán vườn cà phê nhưng không giao nộp sản phẩm và “làm thủ tục” để được cấp giấy đỏ trái quy định, xây công trình trái phép trên đất quốc phòng…

Bốn hộ dân cho rằng sau đó dư luận xầm xì, bàn tán là họ đã có hành vi gian dối, không trung thực, làm thiệt hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của họ. Do vậy, họ yêu cầu TAND huyện Krông Búk (cũ) buộc Báo Dăk Lăk bồi thường tổng cộng 20 triệu đồng thiệt hại về sức khỏe và tổn thất tinh thần, đồng thời đăng cải chính những nội dung sai sự thật, công khai xin lỗi theo Luật Báo chí.

Suốt quá trình tòa giải quyết, Báo Dăk Lăk đều vắng mặt. Cách hành xử này của báo cũng có nguyên do. Đầu tiên, ngay từ khi TAND huyện Krông Búk thụ lý, Báo Dăk Lăk đã cho rằng các đương sự chưa khiếu nại đến báo theo quy định tại Điều 9 Luật Báo chí và Nghị định số 51 năm 2002 của Chính phủ (quy định về cải chính trên báo chí). Thứ nữa, báo có trụ sở tại TP Buôn Ma Thuột nhưng TAND huyện Krông Búk thụ lý là sai thẩm quyền…

Dù vậy, TAND thị xã Buôn Hồ sau này vẫn đưa vụ án ra xử, tuyên buộc Báo Dăk Lăk phải đăng bài cải chính những nội dung sai sự thật và công khai xin lỗi theo đúng Luật Báo chí. Tòa không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc buộc Báo Dăk Lăk bồi thường thiệt hại.

Continue reading

QUI CHẾ BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: ĐAU ĐẦU CHUYỆN HÀNG XÓM TRỔ CỬA

CẨM TÚ

“Nhà tôi và nhà kế cận cách nhau một con hẻm chung rộng chưa đầy một thước. Từ lúc họ trổ cửa sổ, tôi có cảm giác lúc nào nhà mình cũng bị người khác nhìn chòng chọc vào, không còn giữ được sự riêng tư”.

Ông N.M.L (phường Bình An, quận 2) bày tỏ nỗi khổ mà gia đình ông đang phải gánh chịu như trên.  Tại TP.HCM, nhà xin giấy phép trước tháng 7-2009 được trổ cửa thoải mái, còn nhà xin phép sau lại không được giải quyết.

Trổ cửa chỗ nào cũng được?

Căn nhà của ông L. được thiết kế cửa sổ rộng, tường rào xây thấp nhằm tạo thông thoáng. Tuy nhiên, từ khi nhà hàng xóm trổ cửa, gia đình ông đành phải đóng kín các cửa sổ để bảo vệ sự riêng tư. Ông L. muốn chữa cháy bằng cách xây thêm bức tường có bố trí cửa sổ so le với nhà hàng xóm nhưng quận lại không đồng ý.

“Phòng Quản lý đô thị quận 2 nói rằng khoảng cách hai nhà không đủ 2 m nên không cho trổ cửa sổ nhưng tại sao họ lại cấp phép cho nhà kia?” – ông L. thắc mắc.

Chủ một căn nhà rất đẹp ở khu Miếu Nổi (quận Phú Nhuận) cũng hết sức đau khổ bởi căn nhà đã bị mất giá trầm trọng từ lúc nhà đối diện đưa lưng vào nhà mình, kèm theo gần chục cục nóng của máy lạnh. “Không thể khiếu nại được bởi họ xây dựng trong đất có chủ quyền mà quận cho biết không có quy định nào bắt buộc chủ nhà khi xây mới phải xoay cửa về hướng nào” – kiến trúc sư thiết kế căn nhà này ấm ức.

Trong cuộc họp giao ban giữa Sở Xây dựng TP.HCM với phòng QLĐT 24 quận, huyện hồi tháng 9, nhiều quận nội thành cho biết đã tiếp nhận rất nhiều đơn khiếu nại về vấn đề này. “Nhà có hai mặt tiền, chủ nhà xin mở cửa hết hai bên, quận cấp phép, thế là bị các hộ trong hẻm khiếu nại” – đại diện Phòng QLĐT quận 10 báo cáo.

Còn Trưởng phòng QLĐT quận 11 Võ Xuân Quang ngán ngẩm: “Cho một căn nhà mở cửa ra hẻm là kéo theo nhiều chuyện, vì điều này có thể ảnh hưởng đến lối đi, chỗ để xe của các hộ dân đang sử dụng hẻm nên họ sẽ khiếu nại”.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG: BIA, NƯỚC NGỌT MỞ NẮP RỒI, BIẾT KÊU AI?

VĂN NAM – HOÀNG DŨNG

Bốn chai bia mở ra hoảng hồn vì thấy màu trắng đục, chua như giấm, một chai nước cam mở ra uống gần hết giật mình thấy thuỷ tinh dưới đáy chai, nhưng sản phẩm đã mở rồi chẳng biết kêu ai?

Anh Ngô Văn Định ở Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội ngày13/9/2009 có mua một chai nước cam ép nhãn hiệu Splash của Công ty TNHH Nước giải khát Coca-cola Việt Nam tại cửa hàng bán lẻ gần nhà về cho trẻ nhỏ uống, khi uống gần hết thì phát hiện đáy có một mảnh thuỷ tinh. Anh Định đã liên hệ với VietNamNet để phản ánh đến nhà sản xuất.

Ngày 16/9/2009 đã có buổi làm việc 3 bên gồm khách hàng, đại diện Coca-cola Việt Nam và phóng viên VietNamNet. Biên bản làm việc ghi nhận sản phẩm là một chai nhãn hiệu Splash loại 240ml đã được mở nắp có mảnh thuỷ tinh bên trong (có 1 mảnh to kích thước lọt qua miệng chai và một số mảnh nhỏ). Trong chai còn có ít nước và tép cam. Sau khi ghi nhận, đại diện nhà sản xuất hứa sẽ có câu trả lời sau 4 ngày.

Ngày 24/9/2009, anh Khúc Đình Dũng (Hà Nội) mời đồng nghiệp đến một nhà hàng trên đường Trần Duy Hưng dự tiệc sinh nhật. Khi mở sang két bia thứ hai, các thực khách phát hiện 2 chai bia rót ra có "màu trắng đục, mùi chua như giấm".

Anh Dũng mở thêm 2 chai; cả 2 chai này đều có hiện tượng tương tự. Nhà hàng khi biết sự việc đã đề nghị anh Dũng đổi một két mới nhưng anh từ chối, yêu cầu làm rõ sự việc này với nhà sản xuất.

Anh Dũng đã liên hệ với một số cơ quan báo chí và Tổng công ty Bia-Rượu-Nứơc giải khát Hà Nội (Habeco) đề nghị đến xem xét và giải quyết sự việc. Sau đó Habeco đã cử hai nhân viên  xuống nhà hàng gặp trực tiếp khách hàng và xem sản phẩm. Hai nhân viên này ghi nhận sản phẩm bằng văn bản, hẹn với anh Dũng sẽ có câu trả lời,  4 chai bia lỗi được để lại trên bàn nhà hàng.

Continue reading