BỘ LUẬT DÂN SỰ VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA

BẢN DỊCH CỦA DỰ ÁN JICA VIỆT NAM

Điều 1 (Những quy định chung của Bộ luật dân sự)

Luật này đưa ra những quy định cơ bản liên quan đến mối quan hệ pháp luật dân sự. Trong trường hợp không có quy định khác trong các bộ luật chuyên ngành về quan hệ tài sản và quan hệ gia đình thì những quy định của bộ luật này hoàn toàn có thể áp dụng được.

Điều 2 (Mục tiêu căn bản)

Luật này nhằm mục đích cụ thể hoá việc tôn trọng quyền con người, bình đẳng nam nữ và bảo đảm những quyền về tài sản do hiến pháp quy định.

Điều 3 (Nguyên tắc về quyền tự chủ của cá nhân)

Luật này đưa ra những quy định về quan hệ pháp luật bình đẳng giữa các cá nhân với nhau bao gồm cả pháp nhân trên cơ sở tôn trọng những suy nghĩ tự do của cá nhân. Pháp nhân công vụ trong quan hệ giao dịch cũng được coi là cá nhân.

Điều 4 (Nghiêm cấm lạm dụng quyền)

Dù là quyền nhưng không được phép lạm dụng. Trong trường hợp lạm dụng quyền vượt quá phạm vi bảo hộ đã được quy định từ trước thì hiệu lực thi hành quyền đó không được công nhận.

Điều 5 (Nguyên tắc của niềm tin và sự thành thật)

Việc thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ cần được tiến hành trên nguyên tắc thành thật và sự tin tưởng lẫn nhau.

TRA CỨU TOÀN VĂN BỘ LUẬT TẠI ĐÂY

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐƯA VÀO DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

A. Kinh nghiệm quốc tế về một số vấn đề mới còn có ý kiến khác nhau trong dự thảo Luật hôn nhân và gia đình (sửa đổi)

1. Về áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình

Tập quán nói chung và tập quán về hôn nhân và gia đình nói riêng đã được nhiều quốc gia công nhận với tư cách là một nguồn của luật pháp trong nước. Một khi được công nhận, tập quán sẽ trở thành luật mang tính ràng buộc và có giá trị pháp lý tương đương với các quy phạm pháp luật khác. Tuy nhiên, trong áp dụng tập quán, giữa các nước cũng đã áp dụng những giải pháp pháp lý khác nhau:

­- Thứ nhất, pháp điển hóa tập quán thành quy phạm trong các văn bản Luật. Giải pháp này được áp dụng tương đối phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, ví dụ: Bộ luật dân sự Pháp đã pháp điển hóa vai trò của Hội đồng gia tộc trong xác định tư cách và điều kiện cần thiết để kết hôn (Điều 159, được sửa đổi theo Luật số 64-1230 ngày 14/12/1964);

Thứ hai, áp dụng tập quán khi không có thỏa thuận và không có quy định của pháp luật. Giải pháp này được áp dụng phổ biến ở nhiều nước[1], đặc biệt ở các nước thẩm phán có quyền giải thích pháp luật, ví dụ: Luật Gia đình của Philipines quy định quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được xác định theo thỏa thuận của các bên, không có thỏa thuận thì áp dụng theo quy định của Luật, nếu không có thỏa thuận và Luật không có quy định thì áp dụng tập quán (Điều 74);

Thứ ba, bên cạnh hai giải pháp trên, một số nước quy định chủ thể có quyền lựa chọn áp dụng tập quán hoặc quy định của pháp luật trong quan hệ hôn nhân và gia đình của mình nếu tập quán đó không vi phạm các điều kiện áp dụng được quy định trong Luật, ví dụ: Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định “trong trường hợp tập quán khác với các quy định của Luật hay pháp luật về trật tự công cộng, mà các bên trong hành vi pháp lý đã thể hiện nguyện vọng tuân thủ tập quán này thì tập quán này có ưu thế” (Điều 92); Luật kết hôn đặc biệt năm 1954 của Ấn Độ quy định trong trường hợp một tập quán về kết hôn đã được công bố công khai trên công báo của Chính phủ có nội dung khác với điều kiện kết hôn được quy định trong Luật, thì việc kết hôn theo tập quán có thể được công nhận… Continue reading

CHẾ ĐỘ TÀI SẢN THEO THỎA THUẬN TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

TS. ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP – Khoa Luật, Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

Chế độ tài sản thỏa thuận (hay còn gọi là chế độ tài sản ước định), là tập hợp các quy tắc do chính vợ, chồng xây dựng nên một cách hệ thống trên cơ sở sự cho phép của pháp luật để thay thế cho chế độ tài sản luật định nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản này được quy định như một điểm mới rất tiến bộ trong Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) Việt Nam năm 2014, tồn tại song song cùng với chế độ tài sản theo luật định (được áp dụng khi vợ chồng không xác lập chế độ tài sản theo thoả thuận).

Để có cái nhìn đa chiều trong việc phân tích và kiến giải các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ tài sản thỏa thuận, việc nghiên cứu và so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật ở một số quốc gia là rất cần thiết. Bài viết phân tích các quy định trong pháp luật các nước Pháp, Bỉ (với sự tương đồng trong quá khứ về hệ thống pháp luật nói chung do ảnh hưởng của chế độ phong kiến nửa thuộc địa) và Thái Lan với tư cách là quốc gia có vị trí địa lý cận kề với Việt Nam trong bối cảnh văn hóa, xã hội.

1. Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan

Ở Thái Lan không có Luật HN&GĐ riêng biệt mà hôn nhân và gia đình được quy định chung trong Bộ luật Dân sự và Thương mại (DS&TM) Thái Lan [1]. Phần về hôn nhân và gia đình cũng như về các quan hệ tài sản giữa vợ chồng được quy định tại Phần III Quyển 5 của Bộ luật này.

Nhìn chung, các quy định về hôn nhân và gia đình ở Thái Lan được quy định trên nền tảng pháp luật châu Âu lục địa, mà cụ thể là chịu sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Pháp [2]. Tuy nhiên, cũng giống như hệ thống pháp luật Việt Nam, trong một thời gian dài, Thái Lan không công nhận án lệ hay vai trò “làm luật” của thẩm phán.

Continue reading

HỆ THỐNG ÁN LỆ CỦA CỘNG HÒA PHÁP

 TRẦN ĐỨC SƠN – Nhà Pháp luật Việt – Pháp

Án lệ thường được tiếp cận dưới góc độ xác định nguồn luật trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế. Xét dưới góc độ này, hệ thống án lệ của Cộng hoà Pháp có những đặc điểm đáng chú ý cho thấy có sự kết hợp giữa hai thái cực xuất phát từ hai trường phái pháp luật cổ điển: Trường phái luật Anh – Mỹ (Case Law) coi án lệ là nguồn chủ yếu của pháp luật và trường phái luật thành văn (Civil Law) không công nhận hoặc công nhận hạn chế án lệ là nguồn luật. Pháp luật Pháp không tuyệt đối hoá vai trò là nguồn luật của án lệ nhưng cũng không phủ nhận hoàn toàn vai trò này. Án lệ của Cộng hoà Pháp không đương nhiên được thừa nhận là nguồn của pháp luật, muốn trở thành nguồn luật, nó phải đáp ứng một số điều kiện về hình thức và nội dung.

Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này, án lệ cũng không phải là một nguồn luật đầy đủ như các nguồn luật chính thống. Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, án lệ của Cộng hoà Pháp không phải là một nguồn luật chính thức nhưng tồn tại như một thực tế khách quan. Nó không có hiệu lực cưỡng chế mang tính pháp lý như các nguồn luật chính thống, nhưng lại có hiệu lực ràng buộc mang tính tâm lý đối với các cơ quan áp dụng pháp luật đặc biệt là Thẩm phán (khi xét xử một vụ việc, Thẩm phán thường có xu hướng lựa chọn cách giải quyết đã từng áp dụng cho các vụ việc tương tự trước đây) và cũng là nguồn hình thành các quy tắc ứng xử trong xã hội. Nhìn chung, hiện nay giới luật gia của Pháp vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về quy chế nguồn luật của án lệ. Điều này xuất phát từ hai lý do. Thứ nhất, khái niệm án lệ (Jurisprudence) được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Mỗi người đều xuất phát từ cách hiểu riêng của mình về khái niệm này khi tiếp cận vấn đề quy chế nguồn luật của án lệ. Thứ hai, các văn bản pháp luật chính thức của Cộng hoà Pháp không xác định một cách rõ ràng việc án lệ có phải là một nguồn luật hay không. Hiến pháp năm 1958 không có một quy định nào về vấn đề này. Bộ luật Dân sự 1804 có những điều khoản có vẻ như công nhận quy chế nguồn luật của án lệ (Điều 4), nhưng lại có những điều khoản quy định theo hướng phủ nhận quy chế này (Điều 5 và Điều 1351).

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA – DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH

THS. VŨ THỊ LAN HƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Lao động – Xã hội

Ngay từ thời La Mã cổ đại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra đã được các học giả La Mã đề cập đến thông qua quy định về tố quyền cautio damni infecti (tố quyền để bảo vệ sự thiệt hại viễn ảnh[1]). Theo đó, trong trường hợp một tòa nhà có nguy cơ bị sụp đổ, tạo ra một mối đe dọa cho những người láng giềng thì những người này có quyền yêu cầu các Pháp quan buộc chủ sở hữu của tòa nhà phải nộp một số tài sản bảo đảm với mục đích nếu thiệt hại thực sự xảy ra thì người bị thiệt hại sẽ luôn được bồi thường. Cùng với tố quyền cautio damni infecti, Luật La Mã cũng quy định trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây ra bởi các vật bị ném ra hoặc rơi ra khỏi tòa nhà (actio effusis et dejectis).

Kế thừa các quy định trong Luật La Mã, sau này, pháp luật dân sự của các quốc gia đều có quy định về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Tuy nhiên, do được xây dựng dựa trên nền tảng những học thuyết khác nhau nên bản chất và nội dung của trách nhiệm này ở các quốc gia cũng được quy định khác nhau.

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra trong pháp luật của Anh

Ở Anh không có quy định riêng về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Trách nhiệm này nằm trong trách nhiệm BTTH trên tài sản (Liability for harm occurring on premises) được quy định trong Luật về Trách nhiệm của người chiếm hữu năm 1957 và 1984 (Occupiers’ Liability Act 1957, 1984)[2]. Khái niệm “premises” (tài sản) trong trường hợp này được hiểu là “bất kỳ một cấu trúc cố định hoặc di động nào bao gồm cả tàu, xe hoặc máy bay”[3]. Trách nhiệm BTTH trên tài sản của Anh được xây dựng dựa trên học thuyết về sự cẩu thả (the tort of negligence[4]). Theo Baron Alderson trong Blyth v Birmingham Waterworks Company (1856) 11 Ex Ch 781, “sự cẩu thả” (negligence) là “việc bỏ qua không thực hiện những điều mà một người bình thường… sẽ làm hoặc làm những việc mà những người thận trọng bình thường sẽ không làm”[5].

Continue reading

NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CÁC BỘ LUẬT DÂN SỰ TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

 THS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

CN. LÊ NGUYỄN GIA PHÚC

Trong hệ thống các luật thành văn, bộ luật dân sự – BLDS (gọi tắt là Bộ dân luật – BDL) đóng vai trò nền tảng, định hướng và xác lập một khung pháp lý điều chỉnh toàn bộ đời sống dân sự. Khi soạn thảo một BDL, các nhà lập pháp luôn chú trọng đến việc chế định các nguyên tắc[1] của BDL đó, bởi lẽ các nguyên tắc này là những tư tưởng, quan điểm pháp lý cơ bản mang tính chỉ đạo mà một BDL cần phải có để bao quát, định hướng tất cả các điều khoản, các chế định nằm trong chính BDL.

Ngoài ra, khi cơ quan tài phán giải thích một điều luật không rõ nghĩa hoặc có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau mà không thể tìm thấy đáp án thích hợp ở chính điều luật đó hoặc ở chế định bao hàm điều luật đó thì cơ quan tài phán có thể viện dẫn các tục lệ và các nguyên tắc căn bản của BDL để giải thích điều luật.

1. Sự tồn tại các nguyên tắc của Bộ dân luật

Cần phải khẳng định rằng, không phải mọi BDL đều quy định một cách rõ ràng, tách bạch về các nguyên tắc chung; hay nói khác đi là trong tiến trình lập pháp, có hai quan điểm đối lập nhau về sự xuất hiện của các nguyên tắc chung, có BDL không chế định hẳn một phần dành cho các nguyên tắc chung, cũng có BDL quy định theo hướng ngược lại.

Continue reading

NHỮNG NGUYÊN TẮC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁP

GS. YVES MARIE LATHIER – Đại học Cergy – Pontoise, Cộng hòa Pháp

1. Pháp luật thực định của Pháp

Cầu trúc của pháp luật hợp đồng được quy định trong BLDS Pháp năm 1804 tại Điều 1107: “Mọi hợp đồng dù có hay không có tên gọi riêng đều phải tuân thủ các quy định chung tại Thiên này”. Đoạn 2 Điều này quy định: “Một số hợp đồng được quy định tại các Thiên dành cho từng loại hợp đồng đó”. Như vậy, ở đây có thể rút ra hai nhận xét:

Thứ nhất, là có sự phân biệt không chỉ riêng của Pháp mà bắt nguồn từ luật La Mã. Đó là sự phân biệt giữa hợp đồng có tên và hợp đồng không có tên, nghĩa là hợp đồng không được đặt tên cụ thể, ví dụ như hợp đồng theo một yêu cầu cụ thể của một bên hay của hai bên. Sự phân biệt này được thừa nhận trong BLDS nhưng đồng thời cũng mang tính tương đối do mọi loại hợp đồng đều được điều chỉnh bởi các quy định của luật chung.

Thứ hai, là có sự phân biệt giữa các quy định chung và quy định đặc thù (chuyên ngành). Các hợp đồng có tên gọi vừa phải tuân thủ các quy định chung vừa phải tuân thủ các quy định riêng. Tất nhiên, các quy định chuyên ngành sẽ được ưu tiên áp dụng khi có sự xung đột giữa quy định chung và quy định chuyên ngành. Đôi khi, quy định chuyên ngành chỉ nhắc lại quy định chung, nhưng nếu hai quy định trái nhau thì sẽ áp dụng quy định chuyên ngành. Cần bổ sung thêm rằng các quy định chuyên ngành rất phát triển. Ví dụ về mua bán, ngoài các quy định chung còn có các quy định đặc thù tùy thuộc vào loại hợp đồng, chẳng hạn như hợp đồng mua bán trên mạng, mua bán quốc tế, mua bán mất động sản… Các loại hợp đồng đó phải tuân thủ các quy định đặc thù riêng. Các vị có thể thấy điều này không làm thay đổi cấu trúc cơ bản của pháp luật hợp đồng.

Continue reading

YÊU CẦU VỀ “MỐI LIÊN HỆ GẮN BÓ” TRONG THỎA THUẬN CHỌN LUẬT theo pháp luật một số nước và những nội dung có thể tham khảo

photo_contract-pen-gavel THS. PHAN HOÀI NAM – Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Yêu cầu về “mối liên hệ gắn bó” trong thoả thuận chọn luật theo pháp luật EU và một số quốc gia thành viên

Nguyên tắc đồng thuận giữa các bên trong hợp đồng đã thu hút được sự chú ý của giới nghiên cứu và những nhà làm luật EU trong thời gian gần đây, đặc biệt là trong quá trình thống nhất tư pháp quốc tế (TPQT) EU[1]. Trong đó, việc thống nhất các nội dung được thể chế hoá từ nguyên tắc tự định đoạt của các bên trong TPQT tại EU được xác định là tương đối khó. Bởi vì quyền tự định đoạt sẽ bị những giới hạn mang tính ràng buộc với các vấn đề liên quan đến quyền tài phán, lợi ích công cộng gắn với yếu tố chủ quyền quốc gia hoặc những giá trị khác mà nhà nước của các quốc gia thành viên mong muốn bảo vệ… Điều đó có nghĩa là những thoả thuận đó không thể ngăn được toà án của các quốc gia có thể từ chối sự thoả thuận trên cơ sở quyền tự định đoạt với những lý do liên quan đến chính sách công, những nguyên tắc cơ bản trong hệ thống pháp luật của từng quốc gia thành viên[2]. Bên cạnh đó, những sự khác biệt về các lĩnh vực, phạm vi của sự đồng thuận được cho phép… cũng trở thành rào cản lớn cho quá trình này.

Tuy nhiên, trong những chừng mực nhất định, các quyền này đã được thừa nhận dựa trên việc đảm bảo tính dung hoà với lợi ích của các quốc gia thành viên, và đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp quy mà EU đã ban hành. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 3 Nghị định Rome I[3], quy định về sự ưu tiên áp dụng nguồn luật theo sự thoả thuận giữa các bên trong tranh chấp hợp đồng mà không đặt ra yêu cầu về sự kết nối giữa nguồn luật được lựa chọn với tranh chấp hoặc các bên trong tranh chấp. Thực tiễn của EU cũng cho thấy, điều kiện về mối liên hệ gắn bó không được đề cập mà chỉ đặt ra yêu cầu về tính hiệu lực hiện hành của nguồn luật được lựa chọn[4]. Tuy nhiên, một cách gián tiếp, thông qua các quy định khác điều chỉnh về các điều kiện có hiệu lực của thoả thuận chọn luật tại Nghị định Rome I cũng như giải thích của Toà án Công lý Châu Âu (ECJ), yêu cầu về mối liên hệ gắn bó có thể xảy ra trong các trường hợp sau:

Continue reading

THANH LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG LUẬT DÂN SỰ PHÁP THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐẠO LUẬT NGÀY 23 THÁNG 3 NĂM 2006

Hình ảnh có liên quanPGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆNTrường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không phải là vấn đề mới trong luật dân sự Pháp cũng như luật dân sự Việt Nam hay hầu hết các luật dân sự của các quốc gia khác trên thế giới. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ xuất hiện tương đối sớm trong hệ thống pháp luật La Mã cổ đại. Khái niệm này xuất hiện cũng lâu đời như khái niệm về nghĩa vụ dân sự[1]. Nhưng đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp[2] đã có rất nhiều thay đổi về hình thức lẫn nội dung các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung, mà rõ ràng nhất là về mặt hình thức. Sự thay đổi này có rất nhiều điểm mới, tiến bộ. Tìm hiểu và so sánh để tìm ra những điểm tương đồng để có thể giải thích và vận dụng cho các vấn đề tương tự của luật Việt Nam, bài viết đề cập đến vấn đề về thanh lý thế chấp theo đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp.

1. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm đối với các biện pháp bảo đảm đối vật nói chung theo quy định của pháp luật dân sự Pháp

Trước khi đề cập trực tiếp đến các quy định của luật dân sự Pháp về các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm, thiết nghĩ nên đề cập qua về tập hợp các phương thức xử lý tài sản bản đảm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của pháp luật Việt Nam được xây dựng như là một phần nhỏ trong cơ cấu chung về nghĩa vụ dân sự của BLDS. Theo quy định hiện nay chúng ta có tổng cộng 7 biện pháp bảo đảm là bảo lãnh; thế chấp; cầm cố; ký cược; ký quỹ; đặt cọc; tín chấp.

Nhà làm luật Việt Nam không có ý định phân chia một cách chi tiết các biện pháp bảo đảm nói trên theo từng nhóm riêng biệt. Tuy vậy, thực tiễn công tác nghiên cứu vẫn có xu hướng sắp xếp các biện pháp bảo đảm nói trên thành hai phân nhóm trên cơ sở sự khác biệt về các quyền của bên nhận bảo đảm nói chung. Hai phân nhóm được chấp nhận trong phân chia đó là các biện pháp bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật. Sự phân chia này hoàn toàn giống với cách phân chia trong luật của Pháp. Trong đó, các biện pháp bảo đảm đối vật tạo ra cho chủ nợ nhận bảo đảm quyền đối vật trên tài sản bảo đảm, bao gồm quyền được nắm giữ (nắm giữ vật chất hoặc nắm giữ tượng trưng) đối với tài sản bảo đảm và quyền được ưu tiên thanh toán theo thứ tự được xác định khi tài sản bảo đảm được bán. Trong khi đó, biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh) chỉ tạo ra cho chủ nợ quyền đối nhân, quyền được yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đối với một người khác, không phải là người mắc nợ.

Continue reading

THU HỒI TÀI SẢN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC VÀ YÊU CẦU CỦA THỰC TIỄN NƯỚC TA

Kết quả hình ảnh cho Stolen Asset Recovery ĐINH TRƯƠNG ANH PHƯƠNG – Đại học Luật TP.HCM

Để phòng, chống tội phạm, ngoài việc ban hành các hình phạt có tính răn đe đối tượng có ý định phạm tội, pháp luật các quốc gia còn quy định một biện pháp khác nữa là thu hồi tài sản do hành vi phạm tội mà có. Hiện nay, pháp luật quốc tế tồn tại hai biện pháp chủ yếu về việc thu hồi tài sản, đó là thu hồi tài sản hình sự và thu hồi tài sản dân sự [1] (hay còn gọi là thu hồi tài sản không dựa vào bản án hình sự). Bài viết đề cập đến việc thu hồi tài sản dân sự trong pháp luật quốc tế và pháp luật nước ta.

1. Khái niệm và đặc điểm về thu hồi tài sản dân sự

Theo chúng tôi, thu hồi tài sản dân sự (THTSDS) có cách hiểu phổ biến là một quá trình tố tụng dân sự (TTDS) đặc biệt của cơ quan nhà nước nhằm thu hồi những tài sản được tạo nên hoặc có liên quan đến hành vi của tội phạm, ví dụ như trong bản án United States v. James Daniel Good Real Property (1993)[2].

Là quá trình TTDS đặc biệt của cơ quan nhà nước, nên các vấn đề như chứng cứ, trình tự tố tụng, các biện pháp bảo đảm, nghĩa vụ chứng minh… đều phải tuân theo trình tự pháp luật nhất định. Ví dụ về nghĩa vụ chứng minh trong THTSDS thì nghiêng về phía bị đơn hay nói cách khác, bị đơn có nghĩa vụ chứng minh tài sản của mình là không có nguồn gốc hoặc có liên quan đối với hành vi phạm tội (HVPT)[3], hay như các quyết định về thu hồi tài sản (THTS), đóng băng tài sản, giải thích nguồn gốc tài sản đều phải tuân theo trình tự. Và vì là TTDS nên Nhà nước có thể sẽ đóng vai trò là nguyên đơn trong vụ kiện dân sự (như trong bản án United States V. Ursery, 518 U.S. 267 (1996)[4]hay đóng vai trò là bị đơn (như trong bản án Degen V. United States, 517 U.S. 820 (1996)[5].

Continue reading

KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Kết quả hình ảnh cho compensation liability of the stateBỘ TƯ PHÁP

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan nghiên cứu tiến hành nhiều hoạt động để tiếp cận với pháp luật nước ngoài về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN), trong đó, đã sưu tầm và dịch ra tiếng Việt Luật của khoảng 30 quốc gia, vùng lãnh thổ về TNBTCNN, tổ chức các hội thảo, hội nghị khoa học về kinh nghiệm pháp luật của nước ngoài có sự tham gia của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước.

Trên cơ sở kết quả các công việc đã được tiến hành như nêu trên, Ban soạn thảo Dự án Luật TNBTCNN (sửa đổi) xin báo cáo về một số nội dung cơ bản của pháp luật một số quốc gia, vùng lãnh thổ về TNBTCNN để phục vụ cho việc soạn thảo Dự án Luật này.

1. Về nguồn của pháp luật về TNBTCNN

Về vấn đề này, giữa các nước có sự khác biệt rõ ràng, trong đó, đa số các nước có đạo luật riêng điều chỉnh TNBTCNN và ngược lại, ở một số ít các nước, pháp luật về TNBTCNN lại tản mát, không có tính hệ thống, không được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng biệt.

1.1. Một số nước có Luật điều chỉnh riêng TNBTCNN

Ở Châu Mĩ và Caribe, Canada và Hoa Kỳ là những quốc gia ở Bắc Mĩ có luật điều chỉnh riêng về TNBTCNN. Canada có luật về TNBTCNN từ rất sớm – Luật về Trách nhiệm Hoàng gia năm 1953 (Crow Liability Act). Đến năm 1985, Luật về Trách nhiệm Hoàng gia được sửa đổi thành Luật Thủ tục và trách nhiệm của Hoàng gia (Crow Liability and Proceedings Act 1985). Trên cơ sở các quy định chung của liên bang, nhiều bang cũng ban hành Luật riêng để áp dụng trong phạm vi bang, như Bang Manibota (Crown proceedings Act 1990), Bang Ontario (Crown proceedings Act 1990 – được sửa đổi các năm 1994, 1997, 2004), Bang Nova Scotia (Crown proceedings Act 1989)… Đối với Hoa Kỳ, TNBTCNN tại Hoa Kỳ được điều chỉnh bằng Luật Khiếu kiện bồi thường liên bang ban hành năm 1946 (Federal Tort Claims Act 1946). Ở khu vực Nam Mĩ thì một số quốc gia cũng có ban hành Luật riêng về TNBTCNN, điển hình là Guyana (State liability and proceedings Act 1998). Một số quốc gia ở khu vực Caribe cũng ban hành một luật riêng về TNBTCNN như Jamaica (Crown proceedings Act 1962).

Continue reading

“CONSIDERATION” theo pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ

THS.LS. PHẠM QUANG HUY– Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

1. Bản chất pháp lí của “consideration”

1.1. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ

Trước khi tìm hiểu “consideration” như là một thành tố của hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ, cần tìm hiểu khái niệm hợp đồng theo quan điểm của các luật gia Hoa Kỳ. Theo đó, nếu “tại Hoa Kỳ, luật hợp đồng là thuật ngữ thường được sử dụng để miêu tả tập hợp các quy định áp dụng việc hình thành, thực thi và kết thúc các thoả thuận được sự nhất trí của các bên tư nhân([1]) thì luật sư Hoa Kỳ Steven.H. Gifis định nghĩa ngắn gọn hợp đồng (contract) là “một lời hứa có quy định biện pháp khắc phục (remedy); hoặc thực hiện các nghĩa vụ được pháp luật công nhận; một giao dịch bao gồm 2 hay nhiều cá nhân có quyền đối ứng yêu cầu bên còn lại thực hiện lời hứa”.([2])

Mục §1-201(12) Bộ luật thương mại mẫu hay còn gọi là Bộ luật thương mại thống nhất của Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code – UCC) định nghĩa: “Hợp đồng, để phân biệt với “thoả thuận”, có nghĩa là tổng nghĩa vụ pháp lí mà kết quả từ thoả thuận của các bên được quy định bởi [UCC] cũng như bổ sung bởi bất kì luật áp dụng khác”.([3]) Nói chung, pháp luật Hoa Kỳ nhìn nhận hợp đồng là một thoả thuận giữa hai bên hoặc nhiều bên có thẩm quyền, dựa trên những lời hứa lẫn nhau, để làm hoặc không làm một việc cụ thể hợp pháp và có thể thực hiện.([4]) Kết quả thoả thuận là nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ có thể được thi hành tại toà án.

Gordon W. Brown và Paul A. Sukys chỉ ra sáu (06) thành tố của hợp đồng gồm có: 1) Đề nghị (giao kết hợp đồng); 2) Chấp thuận (đề nghị giao kết hợp đồng); 3) Đồng thuận; 4) Năng lực; 5) Consideration và 6) Tính hợp pháp.([5])

Về quyền tự do hợp đồng, J. Peter Byrne nhìn nhận là “quyền tự do của các bên trong việc quyết định có tham gia vào một giao dịch cụ thể và đồng ý các điều khoản của giao dịch đó hay không là nền tảng pháp lí của nền kinh tế thị trường”([6]) và “luật thương mại chỉ có hiệu lực ràng buộc các nghĩa vụ pháp lí khi các bên tham gia được cho là đã tự nguyện gánh vác các nghĩa vụ đó”.([7]) Dễ hiểu hơn nữa, luật gia Hoa Kỳ J. Peter Byrne nhận định “Luật hợp đồng đề cập tất cả các khía cạnh của việc hứa hẹn, giữ lời và không giữ lời”.([8]) Theo các luật gia Hoa Kỳ, hợp đồng và việc giữ lời hứa không có nhiều sự phân biệt.

Continue reading

“CONSIDERATION” THEO PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG HOA KỲ

Kết quả hình ảnh cho contract consideration definitionTHS.LS. PHẠM QUANG HUY  – Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

1. Bản chất pháp lí của “consideration”

1.1. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ

Trước khi tìm hiểu “consideration” như là một thành tố của hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ, cần tìm hiểu khái niệm hợp đồng theo quan điểm của các luật gia Hoa Kỳ. Theo đó, nếu “tại Hoa Kỳ, luật hợp đồng là thuật ngữ thường được sử dụng để miêu tả tập hợp các quy định áp dụng việc hình thành, thực thi và kết thúc các thoả thuận được sự nhất trí của các bên tư nhân([1]) thì luật sư Hoa Kỳ Steven.H. Gifis định nghĩa ngắn gọn hợp đồng (contract) là “một lời hứa có quy định biện pháp khắc phục (remedy); hoặc thực hiện các nghĩa vụ được pháp luật công nhận; một giao dịch bao gồm 2 hay nhiều cá nhân có quyền đối ứng yêu cầu bên còn lại thực hiện lời hứa”.([2])

Mục §1-201(12) Bộ luật thương mại mẫu hay còn gọi là Bộ luật thương mại thống nhất của Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code – UCC) định nghĩa: “Hợp đồng, để phân biệt với “thoả thuận”, có nghĩa là tổng nghĩa vụ pháp lí mà kết quả từ thoả thuận của các bên được quy định bởi [UCC] cũng như bổ sung bởi bất kì luật áp dụng khác”.([3]) Nói chung, pháp luật Hoa Kỳ nhìn nhận hợp đồng là một thoả thuận giữa hai bên hoặc nhiều bên có thẩm quyền, dựa trên những lời hứa lẫn nhau, để làm hoặc không làm một việc cụ thể hợp pháp và có thể thực hiện.([4]) Kết quả thoả thuận là nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ có thể được thi hành tại toà án.

Gordon W. Brown và Paul A. Sukys chỉ ra sáu (06) thành tố của hợp đồng gồm có: 1) Đề nghị (giao kết hợp đồng); 2) Chấp thuận (đề nghị giao kết hợp đồng); 3) Đồng thuận; 4) Năng lực; 5) Consideration và 6) Tính hợp pháp.([5])

Về quyền tự do hợp đồng, J. Peter Byrne nhìn nhận là “quyền tự do của các bên trong việc quyết định có tham gia vào một giao dịch cụ thể và đồng ý các điều khoản của giao dịch đó hay không là nền tảng pháp lí của nền kinh tế thị trường”([6]) và “luật thương mại chỉ có hiệu lực ràng buộc các nghĩa vụ pháp lí khi các bên tham gia được cho là đã tự nguyện gánh vác các nghĩa vụ đó”.([7]) Dễ hiểu hơn nữa, luật gia Hoa Kỳ J. Peter Byrne nhận định “Luật hợp đồng đề cập tất cả các khía cạnh của việc hứa hẹn, giữ lời và không giữ lời”.([8]) Theo các luật gia Hoa Kỳ, hợp đồng và việc giữ lời hứa không có nhiều sự phân biệt.

Continue reading

KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM

Kết quả hình ảnh cho integrationTHS. PHẠM THANH NGỌC – Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước

1. Anh

Luật Ngân hàng Anh (Banking Act 2009, s255.4.f. iv) cho phép một bên thực hiện quyền được quy định trong văn bản thỏa thuận về biện pháp bảo đảm mà đã thống nhất việc cần hoặc không cần tới phán quyết của tòa án. Như vậy, ngoài việc xử lý tài sản bảo đảm theo phán quyết của tòa án, các bên có thể được trao quyền tự xử lý tài sản bảo đảm mà không cần thực hiện thủ tục khởi kiện ra tòa.

2. Thái Lan

Thái Lan không có quy định đặc thù áp dụng cho xử lý tài sản đảm bảo trong lĩnh vực ngân hàng. Việc xử lý tài sản bảo đảm được áp dụng chung cho mọi chủ thể dân sự.

Trước đây, pháp luật Thái Lan yêu cầu việc xử lý tài sản bảo đảm phải thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án.

Tuy nhiên, kể từ ngày 01/07/2016, sau khi Luật Biện pháp bảo đảm trong Kinh doanh (Business Collateral Act 2015) có hiệu lực thi hành, trong một số trường hợp quy định tại Luật thì chủ nợ có quyền tự xử lý tài sản bảo đảm. Một số điểm chính trong Luật mới Biện pháp bảo đảm trong Kinh doanh như sau:

– Tài sản bảo đảm bao gồm: dự án, khoản phải thu, bất động sản trực tiếp phục vụ phát triển dự án, sáng chế, quyền sở hữu trí tuệ, và các loại tài sản khác theo quy định tại văn bản cấp Bộ.

– Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên vay vẫn có quyền sở hữu tài sản bảo đảm và khai thác tài sản trong suốt quá trình bảo đảm cho khoản vay. (Trước đây, pháp luật không cho phép bên vay được giữ quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm là động sản trong suốt thời gian vay).

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BẰNG TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NHẬT BẢN

Kết quả hình ảnh cho JAPAN CIVIL CODETS. NGUYỄN LAN HƯƠNG, KHOA LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Bảo lãnh bằng tài sản là hình thức áp dụng phổ biến ở Nhật Bản trong quan hệ tín dụng bên cạnh bảo lãnh bằng uy tín dễ dàng thực hiện. Trong bảo lãnh bằng tài sản, người bảo lãnh có nghĩa vụ thực hiện cam kết bảo lãnh khi người được bảo lãnh là con nợ không hoàn trả được khoản vay.

Bộ Luật dân sự Nhật Bản quy định nghĩa vụ duy trì bảo đảm tại Điều 504. Theo đó, để bảo đảm thu hồi khoản nợ, các ngân hàng phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Các biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp, bảo lãnh được thực hiện trong hoạt động cho vay của các ngân hàng cũng như các giao dịch dân sự, thương mại khác.

Với lịch sử lâu đời của ngành kinh doanh ngân hàng và bề dày lịch sử tồn tại của Bộ Luật dân sự, các quy định về biện pháp bảo đảm có những đặc thù riêng và đặc biệt được áp dụng linh hoạt trong hoạt động cho vay của các ngân hàng và nhiều thỏa thuận đã được án lệ công nhận. 

Bài viết đề cập đến một số điểm đặc thù trong quy định và áp dụng biện pháp bảo đảm theo Bộ Luật dân sự Nhật Bản.

1. Quyền bảo đảm

Bộ Luật dân sự Nhật Bản quy định về quyền bảo đảm: quyền cầm cố, quyền thế chấp và bảo lãnh. Về cơ bản, quyền cầm cố được sử dụng bảo đảm trái quyền, con nợ hoặc người thứ 3 thiết lập quyền cầm cố giao tài sản có thể là động sản hoặc bất động sản cho người nhận cầm cố chiếm hữu, khi con nợ không trả được nợ, người nhận cầm cố có quyền phát mại tài sản cầm cố. Còn quyền thế chấp được gọi là quyền được thanh toán trái quyền ưu tiên so với các chủ nợ khác khi con nợ thiết lập quyền thế chấp để bảo đảm cho khoản nợ đi vay. Đây là các vật quyền bảo đảm thực hiện hợp đồng, cầm cố có điều kiện chuyển giao quyền chiếm hữu.

Continue reading

SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁP LUẬT PHÁP TỚI LUẬT TƯ Ở VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho FRANCE DROIT CODE CIVIL PGS.TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Mặc dù pháp luật Việt Nam hiện nay có thể bị pha trộn giữa nhiều truyền thống pháp luật khác nhau do lịch sử của các cuộc xâm lược và các cuộc cách mạng xã hội mang lại, song riêng trong lĩnh vực luật tư, dấu ấn của pháp luật Pháp vẫn còn hiển hiện không chỉ ở cấu trúc bên trong của hệ thống pháp luật, mà còn ở cả quan niệm về nguồn của pháp luật cho tới kiểu tư duy pháp lý, ý thức hệ và tổ chức tư pháp… Nhận định này có được thông qua việc phân tích các công trình nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt Nam đã được công bố rộng rãi và việc phân tích, đối chiếu một số nguyên tắc, quy tắc pháp luật của Pháp và của Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu đề tài này luôn gặp phải những khó khăn liên quan tới việc thiếu các tư liệu lịch sử về việc tiếp nhận pháp luật của Pháp trong từng giai đoạn lịch sử, từng đạo luật, từng chế định pháp luật hay từng giải pháp pháp lý cho các trường hợp cụ thể… Vì vậy, lối suy luận theo cách loại trừ hay phân tích hoàn cảnh xuất hiện cũng được sử dụng.

1. Pháp luật Việt Nam trước khi có sự bành trướng của pháp luật Pháp

René David khẳng định, họ pháp luật La Mã – Đức bành trướng ra thế giới theo hai con đường: thứ nhất, đi theo các cuộc xâm chiếm thuộc địa của các nước châu Âu lục địa; và thứ hai, tự nguyện gia nhập bởi sự cần thiết hiện đại hóa hoặc mong muốn phương Tây hóa pháp luật ở những nước không phải là thuộc địa của các nước châu Âu lục địa[1]. Như vậy, pháp luật Pháp thuộc họ pháp luật La Mã – Đức bành trướng vào Việt Nam theo con đường thứ nhất mà có các dấu mốc lịch sử vào năm 1858 (quân Pháp và quân Tây Ban Nha bắt đầu sử dụng vũ lực xâm chiếm Việt Nam[2]), năm 1867 (quân Pháp xâm chiếm xong toàn bộ sáu tỉnh phía Nam, biến nơi đây thành xứ thuộc địa của Pháp), và năm 1884 (Hòa ước ký kết giữa Việt Nam và Pháp đã làm Việt Nam đánh mất hẳn tư cách một quốc gia độc lập về mặt pháp lý, trở thành một nước bị bảo hộ của Pháp[3]).

Trước đó, Việt Nam có một hệ thống pháp luật khác biệt mà kỹ thuật pháp lý khác hẳn kỹ thuật pháp lý của họ pháp luật La Mã – Đức[4]. Có thể nói, trước khi bị cưỡng bức theo pháp luật của Pháp, Việt Nam theo truyền thống pháp luật Viễn Đông[5]. Vũ Văn Mẫu không phủ nhận điều đó, nhưng cho rằng, pháp luật cổ của Việt Nam dù theo truyền thống pháp luật này do một nghìn năm Bắc thuộc, nhưng vẫn giữ được những đặc sắc tự ngàn xưa và có những đặc điểm chủ yếu sau:

Continue reading

BÁN TÀI SẢN LÀ KHOẢN VAY THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ANH

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam, LLC & NCS Khoa Luật, Đại học Paris 2 Panthéon Assas, Cộng hòa Pháp

Trong các hợp đồng tín dụng (credit facility) giữa một bên là một doanh nghiệp hay ngân hàng nước ngoài (offshore company/bank) và một bên là doanh nghiệp hay ngân hàng Việt Nam được điều chỉnh bởi pháp luật Anh thường có một điều khoản về các thay đổi đối với bên cho vay (changes to lenders).

Trong thực tế, sau khi ký kết hợp đồng vay và thực hiện giải ngân một phần hay toàn bộ khoản vay, có rất nhiều lý do khiến bên cho vay thực hiện việc định đoạt khoản vay (tăng tính thanh khoản nguồn vốn, hạn chế rủi ro tín dụng, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về an toàn vốn, đầu tư vào các khoản vay mới hứa hẹn khả năng sinh lời cao hơn, tìm thêm các thành viên cho vay hợp vốn mới, v.v…). Pháp luật Anh đưa lại cho các bên khá nhiều lựa chọn để đạt được mục đích này. Đây là một trong số các yếu tố làm tăng tính hấp dẫn của pháp luật Anh vốn thường được các bên lựa chọn là luật áp dụng cho các hợp đồng tài chính của mình. Việc nắm bắt được các phương thức bán tài sản là khoản vay rất hữu ích đối với doanh nghiệp hay ngân hàng Việt Nam là bên đi vay, bên chuyển giao hay bên nhận chuyển giao khoản vay. Bài viết tập trung giới thiệu bốn hình thức định đoạt khoản vay phổ biến nhất theo quy định hiện hành của nền pháp luật này.

1. Chuyển giao quyền và nghĩa vụ của một bên trong hợp đồng (novation)

Cơ chếNovation cho phép một bên trong hợp đồng có thể chuyển giao toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng. Giao dịch này phải được sự chấp thuận của tất cả các bên trong hợp đồng. Thông qua novation một ngân hàng mới sẽ thay thế cho ngân hàng là bên cho vay ban đầu bằng việc đảm nhiệm toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của ngân hàng này quy định trong hợp đồng tín dụng. Nói cách khác, với sự đồng ý của tất cả các bên trong hợp đồng tín dụng ban đầu, quan hệ hợp đồng giữa bên chuyển giao và bên đi vay hết hiệu lực, chấm dứt và được thay thế bằng một quan hệ hợp đồng mới giữa bên nhận chuyển giao và bên đi vay. Ngay khi ký kết hợp đồng tín dụng ban đầu các bên có thể quy định trước việc thay đổi bên cho vay thông qua novation và xác định một cơ chế hợp đồng cho phép thực hiện novation một cách tự động khi xảy ra một sự kiện cụ thể. Tuy vậy, trong thực tế hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn thường được soạn thảo theo hướng quy định việc chuyển giao khoản vay chỉ có hiệu lực khi nhận được sự chấp thuận bằng văn bản của bên nhận chuyển giao (bên cho vay mới) theo đó bên này sẽ đảm nhận các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đối với các bên khác như thể bên này là một bên của hợp đồng ban đầu.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẤU TRÚC, VẬT QUYỀN VÀ TRÁI QUYỀN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ ĐỨC MÀ VIỆT NAM CÓ THỂ THAM KHẢO TRONG QUÁ TRÌNH SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

THS. NGUYỄN THỊ HẠNH – Vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế, Bộ Tư pháp

Bộ luật Dân sự Đức được ban hành năm 1896 gồm có 2385 Điều và đã trải qua 2 lần sửa đổi quan trọng (năm 1977 và năm 2002) trong vòng 116 năm (do yêu cầu sửa đổi liên quan đến quyền bình đẳng nam nữ và yêu cầu sửa đổi khi gia nhập liên minh Châu Âu). Bộ luật Dân sự Đức được đánh giá là một Bộ luật có sự ảnh hưởng lớn và đã được nhiều nước tham khảo trong quá trình soạn thảo và sửa đổi Bộ luật Dân sự của mình. Sau đây là một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân sự  Đức mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005.

I. Cấu trúc của Bộ luật dân sự Đức (BLDS Đức)

BLDS Đức gồm 5 quyển, bao gồm: Quyển 1 là những quy định chung; Quyển 2 là những quy định về trái quyền; Quyển 3 là những quy định về vật quyền; Quyển 4 là những quy định về hôn nhân và gia đình; Quyển 5 là những quy định về thừa kế. Trong đó, mỗi quyển chia thành phần, chương, mục.

Về cấu trúc của Bộ luật, thông thường thế giới có hai trường phái pháp điển hóa Bộ luật dân sự, đó là trường phái cấu trúc theo kiểu Institutiones – tập trung vào chức năng của chế định và trường phái cấu trúc theo kiểu Pandekten – cấu trúc các quy định mang tính lý luận. BLDS Pháp (Institutiones) và Đức (Pandekten) là tiêu biểu cho việc áp dụng hai phương thức này. Việc một BLDS nào đó như BLDS Việt Nam lựa chọn phương thức nào là tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh xã hội, không một phương thức nào có thể giải quyết được tất cả những gì được mong đợi. Không như Bộ luật dân sự một số nước (Pháp, Nhật Bản…) đưa những quy định về vật quyền lên trước những quy định về trái quyền, Bộ luật dân sự Đức sắp xếp hai phần này theo thứ tự ngược lại, nghĩa là những quy định về trái quyền được quy định trước những quy định về vật quyền. Tuy nhiên, thứ tự sắp xếp không dẫn đến sự bất cập về mặt nội dung. Cơ cấu của BLDS Việt Nam giống với BLDS Pháp và BLDS Nhật Bản, đó là các quy định về các vấn đề mang tính vật quyền được đặt trước phần quy định về các vấn đề mang tính trái quyền. Theo quan điểm của Đức, bản thân vật quyền, trái quyền có sự đan xen lẫn nhau. Vật quyền, chuyển dịch quyền, thụ đắc quyền, mất quyền còn liên quan đến cả quá trình thực hiện quyền đó, liên quan đến quy định về sử dụng, chiếm giữ tức là vận dụng quy định trái quyền để bảo vệ vật quyền. Do đó, trái quyền có ưu thế tổng quan hơn nên đưa lên trước.

Một số vấn đề sau đây có thể được xem là những vấn đề mà Việt Nam đang còn có nhiều quan điểm khác nhau và còn có sự lúng túng trong quá trình sửa đổi Bộ luật của mình.

* Quyền nhân thân

BLDS nằm trong hệ thống luật tư và đối diện với nó là luật công mà vẫn thường hay được gọi là tư pháp và công pháp (điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân hoặc giữa các tổ chức Nhà nước với nhau). Quyền nhân thân có tính chất là quyền cơ bản của con người và thường được quy định trong Hiến pháp như các quyền được quy định từ Điều 24 đến Điều 51 BLDS Việt Nam (quyền đối với họ, tên; quyền xác định dân tộc; quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể…). Do vậy, cần nghiên cứu xem có cần thiết quy định trong BLDS hay không. Thực chất đây là những quy định liên quan đến pháp luật công, không nên đưa vào BLDS vì ít có yếu tố dân sự. Nếu điều chỉnh những vấn đề liên quan đến pháp luật công như vậy sẽ bị chi phối thường xuyên bởi các quyết định chính trị.

Continue reading

CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIÁM HỘ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Tác giả viết bài này vào thời điểm năm 2004

THÁI CÔNG KHANH

Trong pháp luật thực định Việt Nam có những qui định về vấn đề giám hộ trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là: Theo khoản 1, 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài giải quyết việc giám hộ có yếu tố nước ngoài; Theo khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp việc giám hộ có yếu tố nước ngoài; theo khoản 1 Điều 106 Luật Hôn nhân và gia đình, việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam, tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài phải tuân theo pháp luật Việt Nam; theo Điều 5 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch, việc đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo qui định của Nghị định này. Theo Điều 75 Nghị định này, việc đăng ký nhận giám hộ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài được thực hiện theo pháp luật Việt Nam.

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy những qui định trên đây bộc lộ một số nhược điểm về nguyên tắc, về nội dung, về sử dụng từ ngữ, về kỹ thuật xây dựng văn bản… Mặt khác, trong thực tế, từ trước tới nay Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cũng như cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài (dưới đây gọi tắt là Đại sứ quán) chưa hề giải quyết một việc giám hộ, mà người giám hộ hoặc người được giám hộ là công dân Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các qui định về giám hộ trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết, đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

1. Các điều kiện của người giám hộ và người được giám hộ:

a. Căn cứ vào những qui định của Bộ luật Dân sự.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, người giám hộ và người được giám hộ phải cùng cư trú trong một phường, xã, thị trấn với mục đích là để có điều kiện thực hiện nghĩa vụ giám hộ, và để chính quyền phường, xã, thị trấn giám sát việc thực hiện giám hộ theo pháp luật đã qui định. Như vậy, rõ ràng là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài không thể làm người giám hộ cho công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam.

Continue reading