THS. NGUYỄN THỊ HẠNH – Vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế, Bộ Tư pháp
Bộ luật Dân sự Đức được ban hành năm 1896 gồm có 2385 Điều và đã trải qua 2 lần sửa đổi quan trọng (năm 1977 và năm 2002) trong vòng 116 năm (do yêu cầu sửa đổi liên quan đến quyền bình đẳng nam nữ và yêu cầu sửa đổi khi gia nhập liên minh Châu Âu). Bộ luật Dân sự Đức được đánh giá là một Bộ luật có sự ảnh hưởng lớn và đã được nhiều nước tham khảo trong quá trình soạn thảo và sửa đổi Bộ luật Dân sự của mình. Sau đây là một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân sự Đức mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005.
I. Cấu trúc của Bộ luật dân sự Đức (BLDS Đức)
BLDS Đức gồm 5 quyển, bao gồm: Quyển 1 là những quy định chung; Quyển 2 là những quy định về trái quyền; Quyển 3 là những quy định về vật quyền; Quyển 4 là những quy định về hôn nhân và gia đình; Quyển 5 là những quy định về thừa kế. Trong đó, mỗi quyển chia thành phần, chương, mục.
Về cấu trúc của Bộ luật, thông thường thế giới có hai trường phái pháp điển hóa Bộ luật dân sự, đó là trường phái cấu trúc theo kiểu Institutiones – tập trung vào chức năng của chế định và trường phái cấu trúc theo kiểu Pandekten – cấu trúc các quy định mang tính lý luận. BLDS Pháp (Institutiones) và Đức (Pandekten) là tiêu biểu cho việc áp dụng hai phương thức này. Việc một BLDS nào đó như BLDS Việt Nam lựa chọn phương thức nào là tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh xã hội, không một phương thức nào có thể giải quyết được tất cả những gì được mong đợi. Không như Bộ luật dân sự một số nước (Pháp, Nhật Bản…) đưa những quy định về vật quyền lên trước những quy định về trái quyền, Bộ luật dân sự Đức sắp xếp hai phần này theo thứ tự ngược lại, nghĩa là những quy định về trái quyền được quy định trước những quy định về vật quyền. Tuy nhiên, thứ tự sắp xếp không dẫn đến sự bất cập về mặt nội dung. Cơ cấu của BLDS Việt Nam giống với BLDS Pháp và BLDS Nhật Bản, đó là các quy định về các vấn đề mang tính vật quyền được đặt trước phần quy định về các vấn đề mang tính trái quyền. Theo quan điểm của Đức, bản thân vật quyền, trái quyền có sự đan xen lẫn nhau. Vật quyền, chuyển dịch quyền, thụ đắc quyền, mất quyền còn liên quan đến cả quá trình thực hiện quyền đó, liên quan đến quy định về sử dụng, chiếm giữ tức là vận dụng quy định trái quyền để bảo vệ vật quyền. Do đó, trái quyền có ưu thế tổng quan hơn nên đưa lên trước.
Một số vấn đề sau đây có thể được xem là những vấn đề mà Việt Nam đang còn có nhiều quan điểm khác nhau và còn có sự lúng túng trong quá trình sửa đổi Bộ luật của mình.
* Quyền nhân thân
BLDS nằm trong hệ thống luật tư và đối diện với nó là luật công mà vẫn thường hay được gọi là tư pháp và công pháp (điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân hoặc giữa các tổ chức Nhà nước với nhau). Quyền nhân thân có tính chất là quyền cơ bản của con người và thường được quy định trong Hiến pháp như các quyền được quy định từ Điều 24 đến Điều 51 BLDS Việt Nam (quyền đối với họ, tên; quyền xác định dân tộc; quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể…). Do vậy, cần nghiên cứu xem có cần thiết quy định trong BLDS hay không. Thực chất đây là những quy định liên quan đến pháp luật công, không nên đưa vào BLDS vì ít có yếu tố dân sự. Nếu điều chỉnh những vấn đề liên quan đến pháp luật công như vậy sẽ bị chi phối thường xuyên bởi các quyết định chính trị.
Continue reading →
Filed under: LDS- Luật dân sự nước ngoài, SỬA ĐỔI BLDS 2005 | Leave a comment »