NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CHƯƠNG THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BỘ LUẬT DÂN SỰ

TƯỞNG BẰNG LƯỢNG –  Tòa dân sự TANDTC

I. Những vướng mắc:

Điều 637 Bộ luật Dân sự đã quy định:

“1. Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

2. Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại phần thứ 5 của Bộ luật này”.

Do đó quyền sử dụng đất đã trở thành một “loại tài sản” của công dân, công dân có quyền để lại thừa kế.

Như vậy thừa kế là một hình thức để công dân chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp từ người này sang người khác. Việc chuyển quyền sử dụng đất dưới hình thức thừa kế được coi là hoàn thành khi đã làm xong thủ tục và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng khi chuyển quyền sử dụng đất dưới hình thức thừa kế, thì còn đòi hỏi điều kiện nào nữa không? Vấn đề này hiện nay đang có những ý kiến khác nhau.

Có ý kiến cho rằng Điều 693 đã quy định hộ gia đình, cá nhân có quyền chuyển quyền sử dụng đất cho người khác khi có đủ điều kiện dưới đây:

1. Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về đất đai;

2. Trong thời hạn còn được sử dụng đất;

3. Được phép chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai;

4. Đất không có tranh chấp.

Việc thừa kế quyền sử dụng đất cũng là một hình thức chuyển quyền sử dụng đất, nên phải tuân theo quy định ở Điều 693. Vì vậy yếu tố đầu tiên một người muốn có quyền để ại thừa kế quyền sử dụng đất là người đó phải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, dù một người đang sử dụng đất hợp pháp, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo Luật đất đai năm 1993, thì diện tích đất đó không được coi là di sản, không được áp dụng pháp luật thừa kế để phân chia. Trong trường hợp này, quyền sử dụng đất mà người chết để lại sẽ được giải quyết theo chính sách đất đai. Ủy ban nhân dân sẽ cấp đất đó cho hộ chưa có đất… chứ không được căn cứ vào pháp luật thừa kế để chia.

Ý kiến thứ hai cho rằng thừa kế quyền sử dụng đất cũng là một hình thức chuyển quyền sử dụng đất; song theo lời văn và cách quy định ở đoạn 3 Điều 691 và các Điều 8 đến Điều 744 Bộ luật Dân sự thì việc để thừa kế quyền sử dụng đất không phải tuân theo Điều 693.

Điều 693 chỉ áp dụng cho các trường hợp chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất, còn nếu áp dụng điều kiện ở Điều 693 cho việc để thừa kế quyền ử dụng đất như ý kiến trên là không đúng, sẽ dẫn đến sự bất hợp lý sau:

– Các vụ thừa kế quyền sử dụng đất, có vụ mở thừa kế trước khi có Luật đất đai năm 1993 tức là người có quyền sử dụng đất hợp pháp chết trước khi Luật đất đai năm 1993 an hành thì làm sao họ có thể có giấy chứng nhận theo Luật đất đai 1993.

– Có trường hợp chết sau khi có Luật đất đai năm 1993, nhưng vì Nhà nước chưa cấp kịp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ, thì họ cũng không thể có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1993. Việc đòi hỏi công dân phải có giấy chứng nhận theo Luật đất đai năm 1993, thì mới được để quyền thừa kế quyền sử dụng đất là điều vô lý.

– Các vụ thừa kế có tranh chấp mới đưa đến Ủy ban nhân dân hoặc đến Tòa án giải quyết, mà điều kiện thứ 4 của Điều 693 lại đòi hỏi “đất không có tranh chấp” thì mới được chuyển quyền sử dụng thì sẽ dẫn đến dù đã đủ 3 điều kiện ở các khoản 1, 2, 3 Điều 693 cũng sẽ không có việc chia thừa kế quyền sử dụng đất ở bất kỳ lúc nào. Mặt khác, về bản chất “cái” được coi là di sản có giá trị tài sản là quyền sử dụng đất hợp pháp, chứ không phải là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực ra chỉ là một hình thức pháp lý, Nhà nước công nhận một ai đó có quyền sử dụng đất hợp pháp, chứ nó không phải là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất và theo quy định ở Điều 38 Luật đất đai thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ý nghĩa để phân biệt thẩm quyền giải quyết giữa Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân. Vì vậy, theo chúng tôi luật chỉ đòi hỏi một người muốn để thừa kế quyền sử dụng đất phải là người có quyền sử dụng đất hợp pháp. Tức là người đang sử dụng đất hoàn toàn có thể chứng minh được họ ã xác lập quyền sử dụng đất như quy định ở Điều 690, đồng thời thời hạn sử dụng đất của họ vẫn còn. Vì vậy chỉ cần thỏa mãn 1 trong 3 trường hợp quy định ở Điều 739 là họ được để thừa kế quyền sử dụng đất cho người khác.

Nếu cách hiểu này là đúng, thì các vụ tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất dù thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thì Ủy ban nhân dân cũng phải căn cứ vào Chương VI, phần thứ 5 Bộ luật Dân sự để giải quyết. Song thực tế, các Ủy ban nhân dân khi giải quyết các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, đã căn cứ vào chính sách đất đai để giải quyết, tức là xem bên nào có ít đất hoặc đã quản lý, sử dụng đất thổ cư, đất thổ canh đó từ lâu, thì giao đất cho họ, chứ không căn cứ vào pháp luật thừa kế để chia, đó là điều không hợp lý, dẫn đến có sự không công bằng, không thống nhất trong đường lối giải quyết các tranh chấp thừa kế liên quan đến quyền sử dụng đất.

Từ phân tích trên cho thấy để có nhận thức thống nhất khi áp dụng pháp luật cần có sự giải thích rõ Điều 691, Điều 693 với các quy định trong Chương thừa kế quyền sử dụng đất.

Điều 793 quy định 3 trường hợp được để thừa kế quyền sử dụng đất, nhưng ở khoản 1 Điều 739 thì có ghi “được Nhà nước giao đất”; song ở khoản 2 Điều 739 chỉ ghi “được giao đất”, vậy thì ai giao? Tại sao không ghi rõ như ở khoản 1 là “được Nhà nước giao đất”? phải chăng do sơ suất trong kỹ thuật lập pháp hay khoản 2 Điều 739 quy định như vậy là nhằm đề cập đến đối tượng giao đất là chủ thể bất kỳ? Như vậy thuật ngữ “được Nhà nước giao đất” ở khoản 1 Điều 739 hiểu theo nghĩa nào? Nghĩa hẹp là trường hợp Nhà nước Việt Nam giao đất, còn hiểu theo nghĩa rộng là các cơ quan có thẩm quyền của chế độ ta và cơ quan có thẩm quyền của chế độ cũ, các tổ chức tôn giáo… đã giao đất cho ọ sử dụng. Vậy đối với trường hợp đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản do cơ quan, cá nhân không có thẩm quyền giao đất nhưng trên thực tế họ đã giao “đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản” và hiện nay người được giao đất đã kê khai, đăng ký được đứng tên trong sổ địa chính hoặc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987 có được coi là “được Nhà nước giao đất” không? Có được để thừa kế không?

Thực tế có những trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước ta, hoặc Nhà nước cũ hoặc đạo thánh giao đất; có trường hợp khai khẩn, lấn chiếm “đất công” từ lâu; có trường hợp thuê đất của Nhà nước cũ; có trường hợp thuê đất của tư nhân dưới thời ngụy (mà hiện nay vẫn xảy ra những vụ tranh chấp đòi lại đất); có trường hợp cơ quan không có thẩm quyền giao đất, nhưng đã giao đất; có trường hợp công dân mượn đất của nhau sử dụng từ thời ngụy, hoặc sau ngày giải phóng miền Nam; có trường hợp đất nông nghiệp của cha ông truyền lại v.v… có khi người đang sử dụng đất đã kê khai trong sổ địa chính; có trường hợp chưa kê khai lần nào, hoặc người cho thuê đất thì kê khai, người đang sử ụng từ lâu không kê khai v.v… Vậy trường hợp nào được coi là Nhà nước giao đất, trường hợp nào không được coi là được Nhà nước giao đất, không được để thừa kế? Phần “đất công” thì giải quyết thế nào? Theo chúng tôi người sử dụng đất “công” được nói ở trên, đều là những trường hợp chưa được cơ quan có thẩm quyền chính thức công nhận cho họ được sử dụng với tư cách là người “chủ” hợp pháp của đất đó, họ thuộc trường hợp không có hoặc không có đủ giấy tờ hợp lệ về đất ở. Vì vậy, trước khi Nghị định 0/CP, Nghị định số 45/CP được ban hành thì, về pháp lý sẽ không phát sinh quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất như các trường hợp được Nhà nước cấp đất hợp pháp khác. Tuy nhiên sau khi Nghị định 60/CP ngày 5-7-1994 và Nghị định số 45/CP ngày 13-8-1996 của Chính phủ ra đời thì Nhà nước đã công nhận quyền sử dụng hợp pháp về đất ở cho các trường hợp không có hoặc không đủ giấy tờ hợp lệ về đất ở tại đô thị.

Từ quy định nói trên chúng tôi đề nghị đối với các loại đất ở thuộc các địa bàn khác như thị xã, thị trấn, vùng nông thôn) cũng sẽ phải được Nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho công dân, để tạo ra sự thống nhất về đường lối giải quyết loại đất này…

– Tại khoản 3 Điều 739 quy định “cá nhân có quyền sử dụng đất do người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”. Vậy hiểu thế nào cho đúng về cụm từ “chuyển quyền sử dụng đất phù hợp”?… Có những trường hợp mua bán đất (thổ cư, đất vườn, đất ruộng…) từ những năm 80, việc mua bán vào thời điểm đó là bất hợp pháp, đến nay họ cũng mới chỉ kê khai trong sổ địa chính. Có trường hợp đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận theo Luật đất đai năm 1987 hoặc theo Luật đất đai năm 1993, có trường hợp họ đã xây nhà trên đất đó nhưng vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vậy họ có được để thừa kế quyền sử dụng đất hay không?

Những vấn đề trên rất cần có sự giải thích, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, mới có thể đi đến nhận thức thống nhất và mới áp dụng đúng pháp luật.

II. Những kiến nghị cụ thể:

Thừa kế quyền sử dụng đất chỉ là một trong 6 chương của Phần thứ 5: “Những quy định về chuyển quyền sử dụng đất”. Có những quy định ở chương thừa kế quyền sử dụng đất liên quan rất chặt chẽ với các quy định khác trong Phần thứ 5 này. Để có sự thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéo thì phải sửa đổi, bổ sung các chương khác của Phần thứ 5 Bộ luật Dân sự. Song phạm vi nghiên cứu là những vấn đề thừa kế, vì vậy chúng tôi chỉ đề cập đến những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung trong Chương 6: thừa kế quyền sử dụng đất.

Qua nghiên cứu chương này chúng tôi thấy cần có sự sửa đổi căn bản. Một khi pháp luật đã thừa nhận quyền sử dụng đất là một quyền tài sản, được để lại thừa kế thì không nên quy định có loại đất không được thừa kế, ví dụ như đất chuyên dùng, đất nông nghiệp ể trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản cấp cho hộ gia đình không được thừa kế (Điều 744), hoặc có người được hưởng thừa kế, có người không thỏa mãn các điều kiện ử dụng đất lại không được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất (Điều 740) dẫn đến sự không công bằng, vì vậy chúng tôi đề nghị:

1. Về người được để thừa kế quyền sử dụng đất (Điều 739):

Theo quy định tại Điều 730 Bộ luật Dân sự, chỉ có các loại đất sau đây mới có thể là đối tượng của quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất:

“1. Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản;

2. Cá nhân, thành viên hộ gia đình được giao đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở;

3. Cá nhân có quyền sử dụng đất do được người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 22 Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29-3-1999 lại quy định:“những người sau đây được để thừa kế quyền sử dụng đất:

a. Cá nhân sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, đất chuyên dùng;

b. Thành viên của hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, đất chuyên dùng;

c. Cá nhân được Nhà nước cho thuê đất mà đã trả tiền thuế đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm”.

Như vậy, Nghị định 17 của Chính phủ đã bổ sung thêm “hai loại đất” có thể để thừa kế, đó là “đất chuyên dùng” và “đất được Nhà nước cho thuê…”. Thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy việc mở rộng phạm vi loại đất được để lại thừa kế như Nghị định 17/1999/NĐ-CP kể trên là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với yêu cầu của cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân. Chính vì vậy quy định về phạm vi loại đất được để lại thừa kế trong Điều 739 cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng giống như quy định trong Điều 22 ghị định 17/1999/NĐ-CP và Điều 739 có hai phương án sửa đổi:

– Phương án 1: Về Điều 739 được sửa lại như sau: “Điều 739. Người được để thừa kế quyền sử dụng đất.

Những người sau đây được để thừa kế quyền sử dụng đất:

1. Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, đất chuyên dùng;

2. Cá nhân, thành viên hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, đất chuyên dùng;

3. Cá nhân được Nhà nước cho thuê đất mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã tiền thuê đất cho nhiều năm;

4. Cá nhân có quyền sử dụng đất do được người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.

– Phương án 2: Nếu sửa đổi theo hướng tất cả các loại đất mà cá nhân, hộ gia đình có được một cách hợp pháp đều được để thừa kế thì Điều 739 Bộ luật Dân sự có thể sửa đổi như sau:

Điều 739. Người được để thừa kế quyền sử dụng đất.

Khi có quyền sử dụng đất hợp pháp, những người sau đây được để thừa kế quyền sử dụng đất:

1. Cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, đất chuyên dùng;

2. Cá nhân, hộ gia đình thuê đất mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm”.

Nếu chúng ta vẫn tiếp tục công nhận hộ gia đình là chủ thể trong một số quan hệ dân sự, thì chỉ quy định như điều luật trên là đủ. Chủ thể cá nhân có thể là người độc thân, nhưng cũng có thể là thành viên hộ gia đình, họ tham gia giao dịch, tham gia quan hệ pháp luật hành chính (được Nhà nước giao đất) với tư cách là chủ thể độc lập, một cá nhân trong quan hệ đó. Còn nếu thành viên trong hộ gia đình tham gia các quan hệ pháp luật dân sự, hành chính vì lợi ích của hộ gia đình, thì chủ thể của quan hệ đó phải là hộ gia đình, còn thành viên đó chỉ là người đại diện cho hộ gia đình khi tham gia quan hệ pháp luật. Với lý do đó, chúng tôi không đưa thành viên hộ gia đình vào điều luật. Chúng tôi cũng không đưa khoản 3 Điều 739 Bộ luật Dân sự vào phương án 2 nói trên, bởi vì nếu đã quy định “khi có quyền sử dụng đất hợp pháp…” thì câu này đã có ý nghĩa khái quát là dù họ có được quyền sử dụng các loại đất nói trên bằng cách tham gia các giao dịch như chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế… hay được Nhà nước giao đất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai thì các giao dịch đó mới có giá trị pháp lý, quyền sử dụng mà họ có được mới được công nhận là hợp pháp.

Nếu chúng ta sửa đổi Bộ luật Dân sự theo hướng không coi hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, thì Điều 739 Bộ luật Dân sự sẽ phải thiết kế theo hướng khác.

2. Về điều kiện hưởng thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản:

– Điều 740 về điều kiện hưởng thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản. Hiện nay có hai quan điểm khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng đối với những người thuộc diện được hưởng thừa kế, nhưng không đủ điều kiện để được giao đất sử dụng thì họ phải được hưởng giá trị tương ứng với phần thừa kế của họ. Vì vậy, khi chia thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, Tòa án phải định giá diện tích đất tranh chấp để buộc những người được sử dụng đất trả lại cho thừa kế bên kia một số tiền thì mới đảm bảo sự công bằng.

Loại ý kiến thứ 2: Theo lời văn của Điều 740, 741, 742 thì loại đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản bị hạn chế so với các loại đất khác. Nếu một người không đủ điều kiện quy định ở Điều 740 thì không “được thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc hoặc theo pháp luật” và ngược lại nếu đủ điều kiện thì “được thừa kế’…

Vì vậy nếu họ không đủ điều kiện theo quy định ở Điều 740, thì họ không những không được giao đất, mà pháp luật cũng không đặt ra việc chia giá trị cho họ. Ví dụ ông A chết ể lại 5.000m2 đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản. Ông A có 3 con là B, C, D. Hai anh B, C đều là sĩ quan quân đội đóng quân ở xa, anh D làm nông nghiệp ở quê đang sử dụng đất dưới hạn mức, nên anh D được thừa kế toàn bộ 5.000m2 đất, anh D cũng không phải trả giá trị cho B và C.

Chúng tôi cho rằng cách hiểu này là đúng với lời văn của các điều luật. Tuy nhiên, qua nghiên cứu chúng tôi thấy có những điểm chưa thật hợp lý. Quyền sử dụng đất là một quyền tài sản. Sau khi được giao quyền sử dụng đất, người này có quyền chuyển nhượng cho người khác để lấy tiền, vì pháp luật không cấm họ làm điều đó, mà chỉ quy định điều kiện được chuyển nhượng…, pháp luật đã tạo cho họ được hưởng lợi toàn vẹn, còn người thừa kế khác không được gì, trong khi chính vợ con của người không được hưởng thừa kế lại đang làm nông nghiệp ở tỉnh khác, nhưng không có đất hoặc có quá ít đất nông nghiệp nên phải đi làm thuê kiếm sống. Do tính chất kinh tế, xã hội của loại đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nên không được để đất hoang và bảo đảm cho người nông dân có đất để sản xuất, nên chỉ giao đất cho người có nhu cầu, có điều kiện trực tiếp sử dụng… Song vẫn nên tính đến sự công bằng, mà vẫn thực hiện được chính sách đất đai. Vì vậy, theo chúng tôi điều luật này cần sửa đổi theo hướng cho người không được sử dụng đất thừa kế, thì được hưởng giá trị quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 740 thì đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, thì chỉ những người có đủ các điều kiện theo quy định của điều luật mới ó quyền hưởng thừa kế quyền sử dụng đất.

Vậy cần hiểu thế nào về cụm từ “có điều kiện trực tiếp sử dụng đất…” được quy định ở Điều 740?

Có ý kiến cho rằng phải là người có điều kiện trực tiếp cày cuốc trên thửa đất đó mới được coi là “có điều kiện trực tiếp sử dụng”. Tuy nhiên có ý kiến lại cho rằng không bắt buộc họ phải là người trực tiếp cày, cuốc mà chỉ cần họ là người tổ chức, quản lý để thực hiện việc canh tác diện tích đó đúng mục đích, cũng được coi là “có điều kiện trực tiếp ử dụng đất…”, vì hiện nay Nhà nước khuyến khích phát triển trang trại, nên vai trò người tổ chức, quản lý sản xuất là rất quan trọng. Họ là người thuê nhân công cày cuốc, chăm sóc, tưới bón, nhưng đồng thời họ là người quyết định trồng cây gì, con gì, vào lúc nào, chăm bón ra sao. Vì vậy, loại người lao động bằng “đầu” là chủ yếu này cũng phải được coi là người “trực tiếp sử dụng đất”.

Tuy nhiên, nếu họ lại đi thuê toàn bộ, thuê cả người quản lý sản xuất hoặc khoán theo kiểu phát canh thu tô thì có coi họ là người trực tiếp sử dụng không?

Nếu người để lại di sản đã di chúc cho một người chưa có đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nhưng người được hưởng di sản theo di chúc lại không có nhu cầu sử dụng đất (họ đang là cán bộ Nhà nước), hoặc không có đủ điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích thì họ có được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất không?

– Khoảng cách về không gian giữa nơi có đất thừa kế và người hưởng thừa kế đang cư

trú có bị chi phối bởi điều kiện “có điều kiện trực tiếp sử dụng đất” không? Nếu bị chi phối bởi điều kiện đó, thì khoảng cách xa bao nhiêu sẽ bị coi là không “có điều kiện trực tiếp sử dụng đất”. Ví dụ: ông A di chúc cho con là B được hưởng thừa kế 1.000m2 đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản và anh B đang có nhu cầu sử dụng đất, nhưng hiện nay anh có rất ít đất để sản xuất. Song đất của ông A ở tỉnh H mà anh B lại đang sinh sống ở tỉnh Y, vậy anh B có được hưởng thừa kế đất theo di chúc của ng A không? Trường hợp di sản thừa kế phải chia theo pháp luật thì có chia đất nông nghiệp đó cho anh B không? Nếu quy định về người thừa kế ở quá xa, không chia đất thừa kế, nhưng anh B có đơn và có lời khai xin chia đất với lý do anh sẽ chuyển về nơi đang có đất thừa kế của bố anh, sau khi bản án có hiệu lực, anh B liền bán số đất được chia thì giải quyết thế nào?

– Nếu người được hưởng thừa kế đang sử dụng đất vừa đúng hạn mức quy định tại địa phương hoặc cao hơn hạn mức, có được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản không? Sử dụng vượt hạn mức bao nhiêu thì không được hưởng thừa kế? Cần hướng dẫn để có nhận thức thống nhất.

Đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản mà Nhà nước giao cho hộ gia đình để sản xuất khi một thành viên chết có coi phần đất của họ là di sản thừa kế để chia và họ có quyền viết di chúc định đoạt phần quyền sử dụng đất đó không? Hình thức giao đất như thế nào thì được coi là giao cho hộ gia đình, trường hợp nào ược coi là giao cho cá nhân, thành viên của hộ gia đình? Chúng tôi thấy trường hợp trong một gia đình có nhiều thế hệ, có gia đình cho một người con đứng tên, cũng có khi là chỉ ông bố hoặc cả bố và mẹ đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; có trường hợp để mỗi cặp vợ – chồng – con đứng tên một phần diện tích, còn ông bà đứng tên một phần diện tích, nhưng trên thực tế vẫn canh tác chung, ăn chung.

Có trường hợp đã tách hộ, nhưng các hộ đều đồng ý để cho một người đứng tên toàn bộ diện tích đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản (đứng tên trên diện tích của cả hộ bố, mẹ, hộ gia đình người anh, em…) thì giải quyết chia thừa kế như thế nào? Đối với những loại đất mà pháp luật cho phép được thừa kế thì những ai có quyền hưởng thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc hoặc theo pháp luật, những vấn đề nêu trên còn có ý kiến khác nhau.

Mặt khác, luật pháp có sự phân biệt: đất cấp cho hộ gia đình và đất cấp cho cá nhân với chế độ pháp lý khác nhau. Nhưng trên thực tế, Ủy ban nhân dân là cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại không chú ý ghi rõ trên giấy chứng nhận là cấp cho hộ gia đình hay cấp cho cá nhân, do đó Tòa án gặp rất nhiều khó khăn khi giải quyết.

Hiện nay việc giải quyết tranh chấp đất gặp nhiều vướng mắc, hoặc chưa thống nhất vì do mỗi người, mỗi ngành hiểu và vận dụng pháp luật khác nhau. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần sớm giải thích, hướng dẫn.

Tuy đất đai là một loại tài nguyên đặc biệt của quốc gia. Nó không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn có ý nghĩa chính trị, xã hội nên phải chú ý đến việc không được để đất hoang, và bảo đảm cho người nông dân có đất để sản xuất. Do đó chế độ pháp lý về đất đai nói chung và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng sẽ có những nét đặc thù so với các loại tài sản khác, nhằm giảm thiểu sự tích tụ đất nói chung đặc biệt là đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản vào tay một số người, dẫn đến người lao động không có đất để sản xuất. Song xử lý vấn đề này trong quan hệ thừa kề cần phải tính đến sự công bằng, bình đẳng (tương đối) giữa các thừa kế, mà vẫn thực hiện được chính sách đất đai. Vì vậy, theo chúng tôi Luật nên quy định theo hướng người không có nhu cầu, không có điều kiện… sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản thì không chia hiện vật cho họ, nhưng họ vẫn có quyền được hưởng giá trị. Vì vậy, Điều 740 cần thiết kế lại như sau:

Điều 740: Điều kiện để được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản.

Người có đủ các điều kiện sau đây thì được giao quyền sử dụng đất thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản:

1- Có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích;

2- Chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về đất đai”.

Với cách quy định như trên, khi có tranh chấp, Tòa án thấy người thừa kế nào không có đủ điều kiện để được chia hiện vật (tức giao quyền sử dụng đất thừa kế) thì sẽ chia cho họ phần giá trị tương ứng với quyền lợi của họ. Như vậy sẽ công bằng và không vướng mắc trong thực tiễn giải quyết như đã phân tích ở trên.

Nếu sửa Điều 740 theo hướng này, thì Điều 741, 742 cũng cần phải có sự sửa đổi tương ứng.

Đối với đất cấp cho hộ gia đình, tuy là cấp chung cho cả hộ song tùy theo từng địa phương mà diện tích được cấp khác nhau nhưng đều có một điểm chung là đất của các hộ được cấp theo đầu nhân khẩu trong hộ. Tức là mỗi khẩu sẽ được cấp một sào hay năm sào là phụ thuộc vào quỹ đất của địa phương. Như vậy dù đất cấp cho hộ gia đình nhưng mỗi thành viên trong hộ đều được biết là phần quyền lợi của mình có bao nhiêu trong số đất được cấp chung cho hộ đó. Vì vậy, khi một thành viên trong hộ chết, thì phần đất của họ được cấp chung trong hộ, nên coi là di sản thừa kế để chia. Muốn giữ ổn định diện tích canh tác cho hộ gia đình thì Luật chỉ cần quy định người thừa kế trong hộ được chia hiện vật, còn người thừa kế không nằm chung trong hộ sẽ được chia giá trị. Đó là sự ưu tiên đối với người trong hộ.

3. Những vấn đề cần sửa đổi về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Cùng với việc sửa đổi Bộ luật Dân sự, cần sớm sửa đổi Điều 38 Luật đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan theo hướng tất cả các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất do Tòa án giải quyết và nếu quyền sử dụng đất đó được coi là quyền tài sản hợp pháp của người chết để lại thì nên coi là di sản và được chia thừa kế (không phân biệt đất đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa…).

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 7/2002

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG VIỆC THỪA NHẬN QUYỀN LẬP DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ – CHỒNG

THS. LÊ MINH HÙNG –  ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Nhiều luật gia ủng hộ cho quyền lập di chúc chung của vợ, chồng để định đoạt tài sản chung, thay vì mỗi bên chỉ được lập di chúc cá nhân. Vấn đề tưởng chừng như đơn giản và không có gì phải bàn cãi, vì quan điểm ấy không chỉ được bênh vực bởi luân lý mà còn được thừa nhận cả về mặt pháp lý. Nhưng qua công tác nghiên cứu, giảng dạy cũng như qua tiếp cận với thực tiễn pháp lý về di chúc chung của vợ, chồng đã cho thấy, đây là một vấn đề khá phức tạp mà luật hiện hành chưa qui định đầy đủ, rõ ràng. Các thiếu sót, bất cập của luật, đã dẫn tới hậu quả là, làm cho vấn đề này càng trở nên rắc rối thêm, thậm chí còn tạo ra nhiều mâu thuẫn so với các qui định khác có liên quan. Từ đó, đòi hỏi cần phải lật lại vấn đề: liệu BLDS 2005 có nên tiếp tục thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ, chồng để định đoạt tài sản chung của họ hay không?

1. Lịch sử vấn đề và những thiếu sót, bất cập trong các qui định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của vợ – chồng

1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề

Xem xét trong Bộ luật Hồng Đức và Luật Gia Long thì không thấy có qui định về vấn đề này. Đối chiếu với Luật La Mã cũng như Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp thì thấy họ cũng không thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ – chồng 1.

Tuy vậy, việc lập di chúc chung của vợ – chồng lại được thừa nhận trong tục lệ của ta từ lâu. Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thực tiễn tục lệ của Việt Nam trong các xã hội trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ, chồng là hình thức di chúc thông dụng và việc vợ – chồng cùng nhau lập di chúc chung, là hiện tượng phổ biến thời bấy giờ 2. Quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ – chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nên cũng khuyến khích việc vợ, chồng cùng nhau lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung, và coi đó như là một biểu hiện cao đẹp của sự đoàn kết, yêu thương giữa vợ – chồng.

Luật thực định thời cận đại cũng đã bắt đầu ủng hộ giải pháp mang tính luân lý đó. Nghiên cứu các Bộ Dân luật của các chế độ trước, thì thấy các Bộ Dân luật Bắc và Dân luật Trung đều thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ – chồng 3. Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 cũng cho phép vợ – chồng cùng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung4.

Pháp luật hiện hành của Nhà nước ta cũng thừa nhận vợ, chồng có quyền lập di chúc chung. Thông tư 81-TANDTC ngày 24/71981 đã từng nhắc đến di chúc chung của vợ, chồng. Pháp lệnh Thừa kế 1990 tuy không trực tiếp qui định về di chúc chung của vợ, chồng, nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc chung5. Vấn đề di chúc chung của vợ, chồng được qui định khá rõ trong BLDS 1995 và BLDS 2005 6. Các qui định này trong BLDS 2005 đã có nhiều sửa đổi so với qui định của BLDS 1995 7. Mặc dù vậy, việc qui định về di chúc chung trong BLDS 2005 vẫn còn nhiều điểm thiếu sót, bất cập và chưa phù hợp với thực tế.

Có thể nói, pháp luật cận đại và luật hiện hành Việt Nam thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ – chồng là thể hiện nguyên tắc củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nhưng như vậy sẽ gây ra sự mâu thuẫn với các quy định khác về di chúc làm nảy sinh nhiều bất cập không thể giải quyết được, thậm chí, còn làm phá vỡ tính hệ thống của chế định quyền thừa kế.

1.2. Quyền lập di chúc chung của vợ – chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân trong việc lập di chúc

Điều 646 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 qui định rõ: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Theo đó, di chúc được xem là phương tiện pháp lý để cá nhân định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Di chúc không thể là giao dịch dành cho mọi chủ thể hay một cộng đồng chủ thể. Mặt khác, vấn đề thừa kế di sản là vấn đề pháp lý liên quan tới thân trạng và quyền lợi vật chất của một cá nhân, được tiến hành sau khi cá nhân chết. Như vậy, Điều 663 qui định di chúc chung của vợ, chồng đã tạo ra sự mâu thuẫn so với Điều 646 nói trên. Mặt khác, việc thừa nhận di chúc chung của vợ chồng sẽ dẫn đến các vấn đề pháp lý phức tạp khác rất khó xử lý về mặt kỹ thuật pháp lý. Ví dụ như xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung, chấm dứt di chúc chung…

Tuy vậy, nếu thiên về nguyên tắc củng cố tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình, thì việc qui định về di chúc chung của vợ, chồng là điều cần thiết. Cũng cần phải nói thêm là, trong quan điểm của tục lệ và pháp luật của các chế độ trước, việc thừa nhận quyền lập di chúc chung không chỉ để củng cố tình thương yêu đoàn kết trong gia đình, mà việc lập di chúc chung, trước hết, là nhằm tạo ra giải pháp phòng ngừa, tạo ra sự chế ước đối với người chủ gia đình, theo quan điểm phụ hệ, để bảo vệ quyền thừa kế của những người thân thích khác trong gia đình8.

1.3. Nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ – chồng

– Di chúc chung chỉ dùng để định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Điều 663 BLDS 2005 qui định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”. Theo đó, nội dung và mục đích của di chúc chung là để định đoạt tài sản chung của vợ, chồng. Sẽ đơn giản, nếu vợ, chồng chỉ có tài sản chung. Nhưng sẽ phức tạp, nếu vợ, chồng vừa có tài sản chung, vừa có tài sản riêng, mà họ lại muốn định đoạt cả hai loại tài sản này trong cùng một di chúc. Trong trường hợp đó, sẽ có nhiều vấn đề pháp lý đặt ra rất khó xử lý, như: vấn đề hiệu lực của di chúc chung sẽ được xác định như thế nào; phần di chúc định đoạt tài sản riêng có phải là một di chúc riêng; sau khi một bên vợ hoặc chồng chết, thì phần di chúc liên quan tới tài sản riêng của họ có hiệu lực hay chưa… Đây là những vấn đề pháp lý phức tạp mà BLDS 2005 chưa tiên liệu được.

Như vậy, nếu qui định trên được thực hiện đúng, thì vợ, chồng không thể dùng di chúc chung để định đoạt tài sản riêng của mình. Điều này sẽ dẫn tới hai hệ quả là:

(i) Khi vợ, chồng muốn lập di chúc chung thì di chúc đó chỉ được định đoạt tài sản chung. Nếu vợ, chồng muốn định đoạt phần tài sản riêng, thì họ phải lập một tờ di chúc khác. Sẽ phức tạp nếu một người có nhiều sản nghiệp khác nhau (tài sản riêng hoặc tài sản với vợ hay chồng hợp pháp khác). Điều này sẽ gây ra trở ngại tâm lý không nhỏ khi người ta muốn lập di chúc chung, vì như thế sẽ tạo ra thêm nhiều khó khăn cho các bên liên quan, như phải lập nhiều tờ di chúc khác nhau, thay vì chỉ cần duy nhất một tờ di chúc.

(ii) Nếu trong di chúc chung vợ – chồng định đoạt cả tài sản chung và tài sản riêng thì di chúc đó sẽ phát sinh hiệu lực vào hai thời điểm khác nhau. Điều này dẫn tới việc, chỉ dựa vào một tờ di chúc, 5 Điều 23 khoản 1 Pháp lệnh Thừa kế 1990: “Trong trường hợp di chúc lập chung, mà có người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần tài sản của người chết trước có hiệu lực”. người ta phải chia thừa kế nhiều lần trên cùng sản nghiệp của một người. Từ đó sẽ phát sinh nhiều vấn đề khác, như việc xác định người thừa kế bắt buộc, người thừa kế thế vị; sự ra đời của những người mới nằm trong hàng thừa kế, sau khi một bên vợ hoặc chồng chết mà di chúc chung vẫn chưa phát sinh hiệu lực; cơ sở để xác định giá trị một suất di sản bắt buộc… là những vấn đề pháp lý không dễ dàng giải quyết.

– Việc thừa kế lẫn nhau giữa vợ – chồng

BLDS 2005 không qui định rõ những trường hợp bị cấm đoán khi lập di chúc chung. Điều này sẽ tạo nên những tình huống pháp lý rất khó xử, như việc hai bên lập di chúc để thừa kế lẫn nhau, thì di chúc đó có hiệu lực hay không? Di chúc vốn là một loại giao dịch pháp lý đơn phương và không mang tính chất đền bù. Việc cho phép vợ, chồng khi lập di chúc chung để thừa kế lẫn nhau, đã biến loại giao dịch này thành giao dịch pháp lý song phương và mang tính chất có đền bù, làm thay đổi bản chất pháp lý của di chúc. Pháp luật của các chế độ trước tuy có thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng, nhưng luôn cấm vợ, chồng lập di chúc chung để thừa kế lẫn nhau. Điều 572 Bộ Dân luật Sài Gòn qui định: “… hai người không thể cùng làm chung một chúc thư… lưỡng tương đắc lợi” (tức thừa kế lẫn nhau – Tác giả chú thích). Việc pháp luật hiện hành không cấm đoán vợ, chồng lập di chúc chung thừa kế lẫn nhau, chẳng những sẽ không đạt được mục đích tăng cường tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, mà có thể còn gây nên nhiều hệ luỵ không thể lường trước được, như: sự thông đồng giữa vợ, chồng lập di chúc giả tạo để che đậy những hành vi trái pháp luật; hoặc làm gia tăng nguy cơ khiến các bên phản bội, lừa dối, giả mạo di chúc, hoặc thậm chí, tạo cơ hội cho các bên thực hiện âm mưu xấu nhằm trục lợi bất chính di sản của nhau.

Xâm phạm đến quyền lợi của những người thừa kế bắt buộc

Vấn đề thừa kế bắt buộc đối với di sản của cá nhân được qui định rõ tại Điều 699 BLDS 2005. Theo đó, những người thuộc diện thừa kế bắt buộc (cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con chưa thành niên và con đã thành niên mà không có khả năng lao động) có quyền được hưởng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật, nếu họ không được hưởng hoặc thực tế được hưởng ít hơn 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật. Tình huống đặt ra là, di chúc chung chỉ để lại thừa kế cho một số người mà không dành phần di sản cho những người thừa kế bắt buộc kể trên và cũng không dành phần di sản cho một bên vợ hoặc chồng, thì những người đó có được chia thừa kế bắt buộc không? Nếu họ vận dụng qui định tại Điều 699 để xin được hưởng thừa kế bắt buộc thì giải quyết thế nào. Ví dụ: ông A và bà B cùng lập di chúc chung để lại toàn bộ tài sản cho người con cả là C. Di chúc chung của ông A và bà B đã xâm phạm tới quyền được hưởng di sản bắt buộc của các con chưa thành niên khác của ông A và bà B, cũng như của cha, mẹ ông A và cha, mẹ bà B. Vậy, di chúc này có bị vô hiệu một phần không, những người thừa kế bắt buộc này có được khởi kiện đòi chia thừa kế của A, B hay không… là những vấn đề chưa được BLDS 2005 làm rõ, nên chắc chắn sẽ dẫn tới nhiều vướng mắc trong việc thực thi pháp luật. Không loại trừ trường hợp người vợ hay người chồng còn sống, vì lý do nào đó9, đã khởi kiện đòi hưởng thừa kế bắt buộc từ phần di sản của người kia trong di chúc chung thì cũng sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết.

1.4. Hình thức của di chúc chung của vợ – chồng

Di chúc cá nhân được lập theo 1 trong 2 hình thức là di miệng và di chúc viết, theo những thủ tục rất chặt chẽ. Dường như ý chí của nhà làm luật muốn di chúc chung sẽ được lập theo những hình thức tương tự như di chúc cá nhân. Nhưng thực tiễn cho thấy, các hình thức và thủ tục để lập di chúc cá nhân không phải lúc nào cũng có thể áp dụng phù hợp cho di chúc chung của vợ, chồng.

– Vợ, chồng có thể cùng nhau lập di chúc chung bằng miệng?

Theo Điều 651, việc lập di chúc miệng chỉ dành cho cá nhân: “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”. Do đó, vợ chồng không thể cùng nhau lập di chúc chung bằng miệng, vì các lý do:

 Một là, muốn lập di chúc chung, vợ – chồng phải có sự bàn bạc và thống nhất ý chí chung trước khi cùng nhau lập di chúc. Trong tình trạng bị cái chết đe dọa thì điều này là hạn hữu. Khi không có sự thống nhất quan điểm rõ ràng, thì việc lập di chúc chung sẽ không thể phản ánh đầy đủ và trung thực ý chí cá nhân của mỗi người. Tình trạng này dễ dẫn đến việc một bên quyết định nội dung di chúc chung theo ý chí chủ quan của mình mà không có sự thống nhất ý chí với người kia.

Hai là, thủ tục lập di chúc miệng trực tiếp trước mặt hai nhân chứng, không cho phép hai người phát biểu ý chí cùng một lúc, mà phải từng người phát biểu. Vậy, sự thể hiện ý chí chung sẽ được biểu đạt bằng cách nào? Nếu từng người trình bày riêng ý nguyện của mình, thì thực ra, đó là di chúc cá nhân; còn nếu một người đại diện trình bày ý chí chung và người kia chấp nhận toàn bộ, thì cũng giống như đã uỷ quyền lập di chúc, mà như vậy thì lại vi phạm nguyên tắc lập di chúc trực tiếp. Hơn nữa, trong hoàn cảnh đặc biệt do cái chết đe dọa cả hai, để một người phát biểu ý chí chung cho người kia nghe và hoàn toàn đồng ý, là không thực tế.

Ba là, sau 3 tháng kể từ ngày di chúc miệng mà một người chết và một người còn sống, thì toàn bộ di chúc miệng hoặc một phần di chúc miệng liên quan tới người còn sống có còn giá trị thi hành nữa hay không? Vì theo Điều 651 khoản 1: “Sau 3 tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ”. Trong khi đó, di chúc chung chỉ có hiệu lực khi cả hai người đều đã chết.

Bốn là, đang lúc hoàn cảnh bối rối trước sự sống, chết của cả 2 người, việc tiếp nhận và ghi nhớ ý nguyện của mỗi người có thể sẽ không đầy đủ, không chính xác. Ý nguyện của người chết lại không được thể hiện ra thành một dạng vật chất định hình rõ ràng và cố định, rất dễ quên và cũng dễ bị sửa đổi mà lại không có chứng cứ xác đáng thể hiện sự đồng thuận của vợ, chồng. Việc chứng minh được tính chất đồng thuận, tự nguyện của cả hai vợ chồng trong trường hợp này sẽ không bảo đảm được tối đa tính trung thực, khách quan.

Chính vì thế, việc cho phép vợ chồng lập di chúc chung bằng miệng sẽ trở nên phức tạp và không bảo đảm sự an toàn pháp lý cho quyền lợi chính đáng của chính người lập di chúc lẫn người thừa kế hợp pháp của họ.

– Vợ, chồng có thể cùng nhau lập di chúc viết tay mà không có người làm chứng?

Điều 655 BLDS qui định về lập di chúc viết tay của cá nhân: “Người lập di chúc phải tự tay viết và vào bản di chúc”. Về mặt lôgic, hai người không thể cùng một lúc viết cùng một nội dung trên cùng một tờ di chúc. Vậy phải từng người viết xong, rồi sau đó, từng người ký tên vào bản di chúc đó. Vấn đề đặt ra là di chúc do một người viết và người kia chỉ ký tên hoặc điểm chỉ thì có hiệu lực pháp luật không? Hoặc mỗi người viết một đoạn để nói về những quyết định của mình về từng vấn đề khác nhau, rồi sau đó, cùng ký tên vào di chúc thì có được không? Chúng tôi cho rằng, nếu chỉ một người viết toàn bộ di chúc, rồi cả hai cùng ký vào bản di chúc thì không đảm bảo thủ tục lập di chúc viết tay, dễ dẫn đến sự ngụy tạo chữ ký để giả mạo di chúc chung, mà không có cơ sở để giám định bút tích của người lập di chúc. Nhưng việc cả hai cùng nhau và thay nhau viết bằng chữ viết của chính mình để định đoạt tài sản chung, thì không thể thực hiện được trên thực tế, vì như vậy, tức là hai người phải cùng viết giống nhau về cùng một nội dung, thành 2 đoạn khác nhau trên tờ di chúc, mà như vậy thì giống với di chúc cá nhân nhiều hơn. Một bên cũng không thể “uỷ quyền” cho người kia thay mặt để viết ra toàn bộ di chúc, vì trái với nguyên tắc di chúc viết tay phải được viết trực tiếp bằng chữ viết tay. Mặt khác, làm như vậy giống như là viết hộ di chúc, nên sẽ phải tiến hành theo một thủ tục khác, trước mặt ít nhất hai người đủ điều kiện làm chứng để chứng kiến việc lập di chúc chung.

Tóm lại, pháp luật cần phải qui định hình thức riêng cho di chúc chung của vợ chồng, chứ không thể áp dụng giống như di chúc của cá nhân. BLDS 2005 chưa qui định cụ thể vấn đề này là một thiếu sót cần được khắc phục. Tốt nhất, chỉ nên thừa nhận vợ, chồng được lập di chúc bằng hình thức văn bản có người làm chứng hoặc văn bản có công chứng, chứng thực.

1.5. Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung

Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng phải dựa trên nguyên tắc nhất trí. Khoản 2 Điều 664 BLDS 2005 qui định: “Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình”. Điều này tạo ra sự thống nhất cao cho việc lập di chúc chung cũng như việc sửa đổi, bổ sung… di chúc chung. Tuy vậy, nếu một bên muốn thay đổi quyết định trong di chúc chung mà bên kia không đồng ý, thì các bên cũng không được quyền thay đổi. Qui định này tạo ra những vấn đề bất cập sau:

– Thứ nhất, qui định này xâm phạm tới quyền tự do định đoạt của cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, cũng như vi phạm nguyên tắc tự nguyện trong việc lập di chúc. Nếu một bên vợ hoặc chồng, vì lý do nào đó mà bắt buộc phải sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung đã lập, nhưng không được sự đồng ý của người kia, thì việc sửa đổi, bổ sung đó sẽ không được luật chấp nhận. Thiết nghĩ, qui định này đã xâm phạm quyền tự do định đoạt của người có tài sản và xâm phạm tới sự tự nguyện trong việc lập di chúc, thậm chí, xâm phạm tới lợi ích chính đáng của cá nhân khi cấm họ đưa ra những quyết định cá nhân, nhằm bảo đảm lợi ích cho mình. Điều đó cũng không công bằng đối với bên muốn được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung.

– Thứ hai, qui định này cũng tỏ ra thiếu nhất quán vì không cho phép một bên tự ý sửa đổi, bổ sung di chúc chung khi vợ – chồng còn sống, nhưng lại cho phép một bên còn sống có quyền sửa đổi, bổ sung phần di chúc liên quan đến phần tài sản của mình khi một bên vợ hoặc chồng đã chết. Sự thiếu nhất quán trong qui định trên không thể giải thích được, vì thực chất, cả hai trường hợp này đều giống nhau là khi một bên sửa đổi, bổ sung di chúc chung đều không có sự đồng thuận của người kia. Trong khi việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung của vợ, chồng cần phải bảo đảm nguyên tắc nhất trí giữa vợ, chồng với tư cách là các đồng sở hữu chủ của tài sản chung. Do đó, nếu đã cho phép một bên được tự ý sửa đổi, bổ sung di chúc chung khi một bên đã chết, thì cũng cần phải công nhận quyền của một bên được tự mình sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ phần di chúc chung liên quan đến tài sản của mình, khi không tìm thấy sự đồng thuận của bên kia.

– Thứ ba, qui định trên cũng chưa dự liệu các khả năng khác khiến di chúc phải bị sửa đổi, bổ sung mà không thể tìm được sự đồng thuận của vợ, chồng do vợ, chồng đã mâu thuẫn và sống ly thân, ly hôn hoặc do một bên vợ hoặc chồng còn sống, nhưng đã bị tuyên bố mất tích, bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị mất trí, bị bệnh lú lẫn tuổi già… khiến cho họ không còn thể hiện được ý chí cá nhân được nữa. Điều này chưa được qui định rõ ràng trong luật, nên dễ dẫn đến sự lúng túng và thiếu nhất quán trong việc áp dụng và thực thi pháp luật liên quan đến vấn đề vừa nêu.

Suy cho cùng, lập di chúc chung là sự thể hiện tập trung của nguyên tắc củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình. Nhưng việc níu kéo các bên vợ chồng, buộc họ phải nhất trí với nhau, trong hoàn cảnh mâu thuẫn giữa họ không thể dung hoà được nữa, thì việc lập di chúc chung hay cố giữ lại di chúc chung cũng không phải là cách hữu hiệu khiến cho họ trở nên thương yêu, đoàn kết với nhau hơn, mà chưa biết chừng, đó còn là tiền đề làm cho mâu thuẫn giữa các bên càng trở nên trầm trọng thêm, nhất là khi ý nguyện tự do của một bên (muốn sửa đổi, bổ sung di chúc chung) bị bên kia khước từ.

1.6. Hiệu lực của di chúc chung của vợ – chồng

Vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc chung vốn đã gây ra rất nhiều tranh cãi giữa các chuyên gia pháp luật thừa kế, khi góp ý cho Dự thảo BLDS 2005. Sở dĩ có sự bất đồng này là do thời điểm có hiệu lực của di chúc chung không trùng với thời điểm mở thừa kế10.

Điều 668 BLDS 2005 qui định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”. Giải pháp này đã đơn giản hóa việc thực thi di chúc chung (vì chỉ chia thừa kế theo di chúc chung một lần), so với giải pháp của BLDS 199511. Mặc dù vậy, việc xác định di chúc chung của vợ chồng phát sinh tại thời điểm người sau cùng chết lại phát sinh những vấn đề phức tạp khác sau đây:

– Thứ nhất, phải chia thừa kế nhiều lần đối với di sản của người vợ hay chồng chết trước

Thực tế cho thấy, một cá nhân có thể có nhiều sản nghiệp, bao gồm tài sản riêng của cá nhân và phần tài sản chung với vợ hay chồng, chưa kể có thể họ còn có nhiều vợ hay nhiều chồng hợp pháp khác. Nếu xác định di chúc chung chỉ có hiệu lực dựa vào “cái chết sau cùng”, thì sẽ có ít nhất hai lần “chia thừa kế” đối với di sản của người vợ hay người chồng chết trước. Lần thứ nhất là chia thừa kế đối với phần di sản là tài sản riêng hoặc những tài sản chung khác không định đoạt trong di chúc chung, dựa vào thời điểm mở thừa kế. Lần thứ hai là chia thừa kế phần di sản định đoạt trong di chúc chung của vợ, chồng, khi di chúc chung có hiệu lực. Người thừa kế của bên chết trước sẽ phải mất hai lần yêu cầu phân chia di sản và rất có thể, toà án sẽ phải hai lần thụ lý và giải quyết hai vụ tranh chấp khác nhau trên di sản của cùng một người. Điều này không chỉ gây khó khăn cho người thừa kế của người chết trước, làm phức tạp thêm tính chất của vụ việc, mà còn gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế 12, thậm chí, có thể còn vi phạm nguyên tắc “nhất sự bất tái cứu” trong tố tụng (vụ việc đã xét xử xong rồi thì toà án không thụ lý, giải quyết lại), vì phải tiến hành xét xử nhiều lần để phân chia di sản của người chết.

– Thứ hai, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế của người vợ hay chồng chết trước

Quyền thừa kế đối với di sản của người chết trước phát sinh từ thời điểm mở thừa kế, nhưng cho đến khi di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực, những người thừa kế của người chết trước sẽ không thể yêu cầu phân chia di sản của người chết đã được định đoạt trong di chúc chung và phần di sản liên quan tới phần nội dung di chúc chung bị vô hiệu, nếu có; hoặc trong trường hợp người vợ hay người chồng vẫn còn sống lâu hơn so với tuổi thọ của những người thừa kế hợp pháp của người chết trước (như cha, mẹ của người chết trước, người thừa kế là con riêng chưa thành niên đang đau yếu cần có tiền để chữa bệnh…), làm những người này mất quyền được hưởng di sản. Điều này đã xâm phạm tới quyền thừa kế hợp pháp của công dân được hiến pháp và pháp luật bảo hộ.

– Thứ ba, gây khó khăn cho việc xác định phạm vi những người thừa kế và tư cách của người được thừa hưởng di sản

Nếu những người thừa kế (của vợ, chồng đã quá cố hoặc những người được chỉ định trong di chúc chung) chết sau thời điểm mở thừa kế, nhưng chết trước khi di chúc chung có hiệu lực, thì họ có còn được hưởng thừa kế nữa không, có chia thừa kế thế vị hay thừa kế chuyển tiếp không; hoặc những người trong diện thừa kế hợp pháp (của người vợ hoặc chồng còn sống), nhưng tư cách thừa kế của họ được xác định trước khi di chúc chung có hiệu lực (như vợ, chồng tái hôn hoặc con riêng với người vợ, chồng sau…), thì họ có được thừa kế bắt buộc đối với phần di sản đã được định đoạt trong di chúc chung hay không; hoặc những được chỉ định trong di chúc chung chết trước khi di chúc chung có hiệu lực, nhưng chết sau thời điểm mở thừa kế của người vợ hay chồng đã quá cố, thì họ có thuộc thừa kế theo di chúc chung hay không… là những vấn đề chưa được qui định trong pháp luật hiện hành, làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc xác định tư cách người thừa kế và các qui định khác có liên quan.

– Thứ tư, làm ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản của người chết trước

Thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Nếu hết 10 năm đó mà người kia vẫn còn sống, thì thời hiệu khởi kiện xin chia thừa kế đối với phần di sản của người chết trước cũng không còn. Nếu vì lý do nào đó, chẳng hạn nội dung di chúc chung vi phạm pháp luật, có dấu hiệu lừa dối, giả mạo… mà người thừa kế không biết để khởi kiện kịp thời (do di chúc chung chưa được công bố), đến khi người sau cùng chết mà thời hiệu khởi kiện không còn, thì quyền lợi của người thừa kế của người chết trước cũng như những người thừa kế hợp pháp của cả vợ, chồng có được bảo vệ không, cũng chưa được pháp luật qui định rõ. Vấn đề đã đuợc chúng tôi đề cập trong một bài viết khác về thời hiệu khởi kiện thừa kế 13.

– Thứ năm, nếu tình trạng không phân chia di sản kéo dài quá lâu, khiến cho di sản là tài sản chung không còn nguyên vẹn do bị tiêu huỷ, giảm sút giá trị, hoặc do sự đầu tư, sửa chữa, tu bổ làm tài sản tăng giá trị, thì hậu quả của nó càng hết sức phức tạp, việc xác định giá trị của tài sản chung trong trường hợp này sẽ rất khó khăn, sẽ càng tạo ra nhiều tranh chấp khác rất khó giải quyết.

Như vậy, thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của di chúc chung, không đơn giản chỉ là căn cứ để phân chia di sản theo di chúc chung, mà sẽ ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện, quyền thừa kế di sản của người chết trước, xác định phạm vi những người thừa kế hợp pháp, xác định giá trị di sản của người chết và những biến động của nó… Qua đó, sẽ làm cho việc chia thừa kế theo di chúc chung trở nên khó khăn, phức tạp thêm.

1.7. Vấn đề chấm dứt sự tồn tại của di chúc chung

Di chúc chung có nhiều tính chất khác biệt so với di chúc cá nhân. Dù vậy, nhà làm luật vẫn không dự liệu các căn cứ riêng biệt đương nhiên làm chấm dứt di chúc chung.

Như đã biết, di chúc chung được hình thành dựa trên hai yếu tố quan trọng của quan hệ vợ – chồng, đó là tình cảm vợ – chồng và tài sản chung của vợ – chồng. Nếu hai yếu tố này mất đi thì di chúc chung cũng không còn ý nghĩa. Trên thực tế sẽ phát sinh nhiều tình huống pháp lý khiến cho hai yếu tố trên bị thay đổi, như trường hợp: các bên vợ chồng ly hôn; chia tài sản chung trong khi hôn nhân đang tồn tại; một bên mất tích hoặc bị toà án tuyên bố chết và người còn lại đã kết hôn với người khác, sau đó người bị tuyên bố chết còn sống trở về, nhưng không thể tái hợp quan hệ vợ chồng; hoặc sau khi có di chúc chung, vợ chồng lại định đoạt tài sản chung vào một mục đích khác, như tặng cho, bán; vợ hay chồng còn sống đã kết hôn với người khác hoặc có những quyết định làm ảnh hưởng tới hiệu lực hoặc sự tồn tại của di chúc chung (như quyết định sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ phần di chúc chung liên quan tới phần tài sản của họ trong tài sản chung của vợ, chồng…). Đây là những trường hợp dẫn đến việc chấm quan hệ vợ – chồng, hoặc chấm dứt tình trạng sở hữu chung đối với tài sản, hoặc trực tiếp làm chấm dứt di chúc chung. Tuy vậy, những tình huống này không được dự liệu của pháp luật, nên sẽ dẫn tới sự lúng túng trong việc thực thi di chúc chung, vì không ai dám chắc là di chúc chung có đương nhiên bị mất hiệu lực, trong những tình huống đó hay không.

2. Những kiến nghị

2.1. Có tiếp tục thừa nhận di chúc chung của vợ, chồng?

Có thể thấy, pháp luật hiện hành vẫn chưa có giải pháp nào để giải quyết tốt các vấn đề pháp lý phức tạp được đặt ra đối việc lập, sửa đổi, huỷ bỏ di chúc chung và xác định hiệu lực thực thi của di chúc chung. Bản chất của di chúc vốn là giao dịch pháp lý đơn phương của cá nhân. Không thể có sự tham dự ý chí của nhiều cá nhân trong việc lập di chúc. Nếu thừa nhận di chúc chung, pháp luật có thể đạt được mục đích tốt đẹp là hướng các bên trong quan hệ thừa kế cần quan tâm hơn việc tăng cường tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình. Nhưng không nên nhầm lẫn việc tăng cường đoàn kết trong gia đình với việc phải cùng nhau lập di chúc chung. Chưa kể việc lập di chúc chung xong rồi lại bất đồng trong việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung; hay sau khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, nhưng người thừa kế hợp pháp không thể xin phân chia di sản thừa kế hoặc chia thừa kế bắt buộc… thì có thể còn tạo hiệu ứng ngược. Bởi thế, không nên thừa nhận loại hình di chúc chung của vợ chồng và cần qui định minh thị trong luật cấm nhiều người lập di chúc chung, kể cả vợ chồng.

Việc bảo đảm quyền lợi thừa kế của gia đình và của người thân thích không thể trông đợi vào việc lập di chúc chung, mà đã có các giải pháp khác hữu hiệu hơn, như thừa kế bắt buộc, tước quyền thừa kế, thừa kế thế vị, thừa kế theo các hàng thừa kế…

2.2. Trường hợp không thể bãi bỏ các qui định về di chúc chung trong luật thực định, thì cần có những thay đổi toàn diện về vấn đề này trong BLDS 2005

Dường như kiến nghị bãi bỏ qui định di chúc chung của vợ, chồng là không khả thi, vì đây là một thực tiễn pháp lý và tục lệ, đã tồn tại từ lâu trong xã hội Việt Nam. Vấn đề cần thiết hiện nay là, làm sao vẫn duy trì di chúc chung nhưng phải hạn chế tối đa những rắc rối, phức tạp do việc thừa loại di chúc này mang lại. Bởi thế, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau đây phục vụ cho việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung các qui định pháp luật có liên quan tới di chúc chung của vợ, chồng:

Thứ nhất, cần phải tách vấn đề di chúc chung của vợ chồng ra khỏi di chúc của cá nhân và thiết

kế thành một mục riêng trong chương thừa kế theo di chúc

Như đã phân tích trên, tuy di chúc chung của vợ chồng cũng là một loại di chúc được lập, sửa đổi, bổ sung và phát sinh hiệu lực gần giống như một di chúc thông thường. Nhưng di chúc chung còn có những đặc thù: (i) do hai ý chí cá nhân cùng tham gia định đoạt dựa trên mối quan hệ hôn nhân đang còn hiệu lực; (ii) dùng để định đoạt khối tài sản chung của vợ chồng; (iii) có hiệu lực không đồng thời với thời điểm mở thừa kế của bên chết trước… do đó, cần phải được qui định thành một mục riêng; hoặc chí ít, cũng cần phải định rõ những ngoại lệ của di chúc chung so với di chúc cá nhân, trong các điều luật tương ứng qui định về di chúc cá nhân.

Thứ hai, nội dung của mục này cần phải làm rõ các vấn đề sau đây:

+ Qui định quyền lập di chúc chung của vợ chồng, khi hôn nhân đang còn tồn tại, phải tuân thủ các qui định chung về năng lực lập di chúc, các yêu cầu để di chúc có hiệu lực cũng tương tự như di chúc của cá nhân;

+ Qui định về hình thức bắt buộc mà di chúc chung phải tuân thủ. Chỉ nên lập di chúc chung bằng thể thức văn bản có người làm chứng (nếu cả hai đủ điều kiện minh mẫn, sáng suốt, không thuộc trường hợp mù chữ hoặc bị khiếm khuyết thể chất liên quan tới chức năng lập, kiểm tra nội dung di chúc); hoặc văn bản công chứng, chứng thực.

+ Qui định quyền được sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của một bên, khi vợ chồng còn sống, vẫn phải có sự đồng ý của vợ, chồng. Nhưng nếu một bên cần sửa đổi mà bên kia nhất quyết không đồng ý hoặc không thể biểu lộ ý chí một cách tự nguyện, thì người kia có quyền tự lập di chúc cá nhân hoặc có quyền sửa đổi, bổ sung một phần di chúc chung trong phạm vi phần tài sản của mình. Điều này làm cho các bên vợ, chồng luôn phải tìm thấy sự đồng thuận, kể cả trong việc lập hay sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung; đồng thời cũng nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa quyền lợi cá nhân với quyền lợi chung của vợ, chồng trong việc lập di chúc chung. Người ta không thể bị bắt buộc phải lập di chúc chung và càng không thể bị bắt buộc phải giữ nguyên nội dung di chúc chung đã lập, khi không tìm thấy sự đồng thuận ở người bạn đời của mình trong việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung. Cũng cần nói thêm rằng, khi các bên còn sống, di chúc chung vẫn chưa có hiệu lực, và người ta vẫn có nhiều cách để làm mất hiệu lực của di chúc chung, mà không cần phải sửa đổi, bổ sung, thay thế hay huỷ bỏ di chúc chung đó.

+ Luật cần dự liệu các căn cứ cụ thể làm chấm dứt di chúc chung của vợ chồng một cách đương nhiên, nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để giải quyết các trường hợp tương ứng, tránh gây ra sự lúng túng, thiếu nhất quán hoặc những tranh cãi không cần thiết, khi các bên liên quan tiến hành phân chia di sản dựa trên di chúc chung của vợ – chồng.

+ Cần phải dung hòa giữa quyền của vợ, chồng trong việc lập di chúc chung với lợi ích chính đáng của những người thừa kế của vợ hay chồng. Thừa nhận thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng là thời điểm bên sau cùng chết, nhưng cũng cho phép những người thừa kế hợp pháp của người vợ hay chồng chết trước có quyền xin chia thừa kế đối với phần di sản của vợ, chồng không được định đoạt trong di chúc chung. Đối với phần tài sản đã định đoạt trong di chúc chung thì cho phép các bên thừa kế bắt buộc được nhận phần di sản bắt buộc, nếu việc kéo dài tình trạng không phân chia di sản, theo hiệu lực của di chúc chung, có ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi hợp pháp của họ; đồng thời cần phải xác định rõ trong luật khoảng thời gian mà di sản chưa được phân chia thì được trừ vào thời hiệu khởi kiện thừa kế. Và, việc kéo dài thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc chung sẽ chấm dứt, nếu người còn sống kết hôn với người khác hoặc họ đã lập di chúc khác để thay thế, huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung di chúc chung liên quan tới phần tài sản của họ trong tài sản chung, mà việc đó ảnh hưởng tới sự tồn tại của di chúc chung hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản chung của vợ chồng.

Kết luận

Giữa ý định muốn bỏ định chế di chúc chung của vợ, chồng với việc giữ lại các qui định này, thì quan điểm muốn giữ lại có phần thắng thế do tục lệ, do thực tiễn pháp lý và thực tế đời sống đangđặt ra nhu cầu phải điều chỉnh bằng luật việc vợ, chồng muốn cùng nhau lập di chúc chung. Qua nghiên cứu vấn đề trên cũng cho thấy, di chúc chung của vợ, chồng hoàn toàn không phải là vấn đề đơn giản. Luật thực định chỉ dùng một hai điều luật ngắn để điều chỉnh vấn đề này, rõ ràng là chưa tương xứng và không đủ liều lượng cần thiết. Việc này cũng giống như dùng chiếc áo trẻ em để mặc cho một cơ thể người lớn. Đó sẽ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bất cập và thiếu nhất quán trong việc thực thi pháp luật về vấn đề liên quan. Bây giờ mà kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung qui định về di chúc chung trong BLDS 2005 là quá sớm, nhưng nghiên cứu vấn đề để chuẩn bị tiền đề tư tưởng phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung nội dung này trong BLDS 2005 là việc nên làm ngay và hoàn toàn không phải là quá sớm.

Tài liệu tham khảo:

1 Điều 968 BLDS của Pháp: “Hai hay nhiều người không được lập di chúc chung để lại di sản cho người thứ ba hay để lại di sản cho nhau”, Bộ luật Dân sự Pháp, Nxb. Tư pháp, Hà Nội. 2005, tr. 611.

2 Vũ Văn Mẫu, Les succesions testamentaires en droit vietnmaien (Thừa kế theo di chúc trong luật Việt Nam), Luận án

Paris, 1948, tr. 67, dẫn theo Nguyễn Ngọc Điện, Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ. TP Hồ Chí Minh, 1999, tr.167.

3 Điều 313 Dân luật Trung kỳ (tương tự, vấn đề cũng được qui định tại Điều 321 Dân luật Bắc): “Người cha được lập chúc thư để xử trí tài sản chung của gia đình tuỳ theo ý mình, nhưng phải có vợ chính đồng ý… Trừ tài sản của vợ chính ra thì người chồng được làm chúc thư để xử trí tài sản của gia đình tùy theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được”, Nhà in Viễn Đệ, 1947, tr. 94.

4 Điều 572 Bộ Dân luật Sài Gòn 1972: “Chúc thư chỉ có thể do một người lập ra; hai người không thể cùng chung một chúc thư lợi tha hay lưỡng tương đắc lợi. Đặc biệt, trong trường hợp chúc thư do hai vợ chồng cùng làm để sử dụng tài sản chung, chúc thư được thi hành riêng về phần di sản của người chết trước, người sống vẫn có quyền huỷ bãi hay thay đổi chúc thư về phần mình”. Nxb. Thần Chung, Sài Gòn. 1973, tr. 150.

6 Xem các Điều 663, Điều 664, Điều 668 BLDS 2005.

7 Xem các Điều 667, Điều 671… BLDS 1995.

8 Xem Nguyễn Ngọc Điện, sđd, tr. 172.

9. Ví dụ: phần tài sản của người còn sống trong tài sản chung của vợ, chồng bị tịch thu hoặc bị toà án phân chia để trả nợ riêng của người đó, làm cho một phần di chúc chung liên quan tới tài sản của họ vô hiệu, thì họ có được quyền xin hưởng thừa kế bắt buộc từ phần di sản còn lại của người chết trước trong di chúc chung được không?

10 “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết” (khoản 1 Điều 634 BLDS 2005). Thời điểm mở thừa kế có

ý nghĩa quan trọng: là thời điểm làm phát sinh quyền thừa kế, là mốc tính thời hiệu khởi kiện, là thời điểm để xác định giá trị di sản, xác định phạm vi những người thừa kế của người chết.

11 Điều 671 BLDS 1995: “Trong trường hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực…”. Cũng cần nói thêm là giải pháp này không thoả đáng, vì như thế khác nào thực thi hai di chúc khác nhau của hai cá nhân, làm cho việc phân chia di sản trong khối tài sản chung của vợ, chồng, trên thực tế, trở nên rắc rối và phức tạp.

12 Như việc xác định di sản của người chết, xác định người thừa kế của người chết trước và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nếu người chết có để lại món nợ đối với người thứ ba.

13 Xem: Lê Minh Hùng, Thời hiệu khởi kiện thừa kế – Thực trạng pháp luật và hướng hoàn thiện, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2004, tr. 40

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4/2006

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA CÁC QUI ĐỊNH VỀ THỪA KẾ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

THS. LÊ MINH HÙNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

So với Bộ luật Dân sự (BLDS) 1995, các qui định về thừa kế trong BLDS 2005 đã có nhiều điểm mới. Về cơ cấu, bố cục của các chương mục và số lượng các điều luật không có sự thay đổi lớn, ngoài việc tăng thêm một điều luật mới (Điều 687). Về nội dung, có một số điểm mới sau đây:

1. NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG:

Phần này có tất cả 14 điều, nhưng có 7 điểm mới được sửa đổi, bổ sung. Ngoài sửa đổi mang tính kỹ thuật tại Điều 635 thì việc sửa đổi, bổ sung trong 6 trường hợp còn lại đã làm thay đổi cơ bản về nội dung của các điều luật.

1.1. Thứ nhất, sửa đổi qui định về di sản

Khoản 2 Điều 637 BLDS 1995 qui định quyền sử dụng đất là một loại di sản thừa kế. Điều 634 BLDS 2005 bỏ qui định tại khoản 2 của Điều luật tương ứng và chỉ qui định thành 1 đoạn: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. Điều này không có nghĩa là từ nay, pháp luật không thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại di sản. Quyền sử dụng đất vẫn là một loại di sản thừa kế vì theo BLDS 2005 và Luật Đất đai 2003 thì quyền sử dụng đất là một loại tài sản và được để lại thừa kê1. Khi soạn thảo BLDS 1995, trong giới luật học có nhiều tranh cãi về việc thừa nhận “quyền sử dụng đất” là tài sản, vì nhiều người cho rằng, quyền sử dụng đất chỉ là nội dung của quyền sở hữu đất đai. Để làm rõ việc công nhận khả năng thừa kế của quyền sử dụng đất, khoản 2 Điều 637 BLDS 1995 qui định quyền sử dụng là một loại di sản đặc biệt. Cho đến nay, việc thừa kế quyền sử dụng đất dần dần đã được xã hội chấp nhận. Vì thế, BLDS 2005 không cần thiết phải qui định thêm về di sản là quyền sử dụng đất. Sự sửa đổi này là tích cực và tiến bộ hơn về kỹ thuật lập pháp so với Luật cũ vì nó làm cho điều luật trở nên tinh gọn hơn nhưng vẫn không làm ảnh hưởng đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật.

1.2. Bổ sung qui định về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

BLDS 1995 qui định người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại trong “phạm vi di sản” mà họ được hưởng. BLDS 2005 đã bổ sung cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” vào cuối khoản 1 và cuối khoản 3. Đây chỉ là sự thay đổi nhỏ, nhưng lại có ý nghĩa rất lớn về pháp lý. Về nguyên tắc, nghĩa vụ của người thừa kế đối với khoản nợ do người chết để lại vẫn nằm trong giới hạn và theo tỷ lệ di sản mà họ nhận được từ người chết, nhưng phạm vi này có thể không tương ứng với tỷ lệ di sản, thậm chí có thể lớn hơn phần di sản mà người thừa kế thực tế được hưởng, nếu các bên có thỏa thuận khác. Đây là một qui định mềm dẻo, vừa bảo vệ được quyền lợi chính đáng của những người thừa kế và quyền lợi chính đáng của chủ nợ, vừa đề cao nguyên tắc tự định đoạt trong quan hệ dân sự, khuyến khích con cháu của người chết thực hiện thay toàn bộ nghĩa vụ mà người chết để lại, nhưng vẫn giữ được nguyên tắc “trả nợ không làm xấu đi tình trạng của người thừa kế và món nợ mà người thừa kế phải gánh chịu không được vượt quá di sản”. Mặt khác, nội dung điều luật trở nên mềm dẻo hơn, mở ra một không gian tự do nhiều hơn để giữa nội bộ những người thừa kế với nhau và với chủ nợ có thể tự thỏa thuận để thực hiện nghĩa vụ dân sự do người chết để lại, mà không bị gò bó, cứng nhắc như qui định tương ứng của Luật cũ. Qui định này thể hiện tư tưởng tiến bộ, phù hợp với xu thế chung của pháp luật dân sự trên thế giới, tôn trọng và đề cao nguyên tắc tự do, tự nguyện trong các quan hệ dân sự.

1.3. Sửa đổi qui định về việc thừa kế của những người chết cùng một thời điểm

Điều 644 BLDS 1995 qui định: những người thừa kế của nhau mà chết cùng một thời điểm thì không được thừa kế của nhau. Theo Ban soạn thảo BLDS 1995, thì qui định như là để bảo đảm sự công bằng giữa những người thừa kế của nhau. Hơn nữa, nếu thừa nhận họ có quyền thừa kế của nhau, thì di sản của mỗi người có thể phải chia mãi cho nhau mà không bao giờ chấm dứt. Thực tế cho thấy, qui định này không phù hợp với nguyên tắc xác định hàng thừa kế và tập tục chia thừa kế của các cộng đồng người Việt Nam. Tập quán “nước mắt chảy xuôi” thể hiện ở chỗ, khi ông bà, cha mẹ qua đời thì di sản của họ được truyền lại cho con cháu. Nếu con cháu của người thừa kế chết trước được thừa kế thế vị, mà con cháu của người thừa kế chết cùng thời điểm với người để lại di sản lại không được thừa kế thế vị, thì thật là vô lý và bất công. Do đó, Điều 641 BLDS 2005 đã sửa đổi theo hướng vẫn không thừa nhận quyền thừa kế của những người thừa kế của nhau mà chết cùng một thời điểm, nhưng ghi nhận trường hợp ngoại lệ là nếu con, cháu được thừa kế của cha mẹ hoặc của ông bà mà chết cùng thời điểm với người để lại di sản, thì cháu hoặc trực hệ sẽ được thừa kế thế vị theo qui định chung. Qui định này chấm dứt sự tranh cãi bấy lâu nay về việc thừa kế thế vị của cháu hay chắt khi người thừa kế là con chết cùng thời điểm với người để lại di sản; đồng thời cũng bảo đảm sự rõ ràng, nhất quán trong việc áp dụng pháp luật.

1.4. Bổ sung qui định về quyền từ chối nhận di sản thừa kế

Khoản 3 Điều 642 BLDS 2005 bổ sung qui định: “Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế”. Bổ sung này không làm thay đổi tinh thần Điều luật, nhưng làm rõ hơn tính chất “mặc nhiên” “tự động” của quyền thừa kế; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để xác định những vấn đề có liên quan trong việc giải quyết nợ của người chết, xác định kỷ phần thừa kế bắt buộc, tiến hành các thủ tục phân chia di sản, xác định tư cách tố tụng trong việc kiện chia di sản… Nhưng theo chúng tôi, qui định này vẫn không làm “vô hiệu hóa” quyền từ chối nhận di sản. Trên thực tế, người thừa kế vẫn có quyền không nhận di sản cho đến khi di sản được phân chia mà không ai có thể buộc họ phải nhận, kể cả tòa án. Bởi vì khi di sản được chia theo thủ tục thỏa thuận hoặc thủ tục tư pháp, thì người thừa kế vẫn có quyền từ chối nhận di sản. Như vậy, nếu vận dụng các thủ tục này, thì việc ràng buộc người thừa kế “không được quyền từ chối thừa kế sau 6 tháng, kể từ ngày mở thừa kế” như tinh thần của Điều luật chỉ còn có ý nghĩa hạn chế.

1.5. Bổ sung qui định về di sản không có người thừa kế thì thuộc về Nhà nước

Điều 647 BLDS 1995 qui định Nhà nước hưởng di sản không có người thừa kế nhưng Nhà nước không phải là người thừa kế sau cùng. Tuy nhiên, Điều luật đã không qui định rõ là Nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu và vận dụng không nhất quán. Nhiều trường hợp, cơ quan chức năng không quan tâm đến nghĩa vụ của người chết đối với người khác, nên đã làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan. Khắc phục điểm yếu này, Điều 644 BLDS 2005 bổ sung như sau:

Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước.”

Qui định này vẫn không làm thay đổi nguyên tắc Nhà nước được hưởng di sản không người thừa kế, nhưng xác định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan nhà nước khi nhận di sản không người thừa kế: phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, qua đó thể hiện sự tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể có quyền và lợi ích liên quan đến di sản.

1.8. Bổ sung qui định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

Điều 648 BLDS 1995 không qui định về thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại. Thông tư liên ngành số 03/1996 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao dựa vào Nghị quyết ngày 28/10/1995 của Quốc hội để hướng dẫn thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại là “không hạn chế thời gian”. Qui định này đã gây ra một hậu quả tiêu cực về mặt tố tụng: bất cứ lúc nào, chủ nợ cũng có thể khởi kiện đòi nợ do người chết để lại. Thực tế đó không chỉ gây khó khăn cho tòa án trong việc điều tra, xác minh tìm chứng cứ và gây ra sự bất ổn trong các quan hệ dân sự, mà còn đe dọa xâm phạm tới quyền và lợi ích chính đáng của người thừa kế, những người đã thực hiện nghĩa vụ từ rất lâu, nhưng không lưu giữ được chứng từ… Khắc phục nhược điểm này, BLDS 2005 đã bổ sung qui định về thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là 3 năm, tính từ ngày mở thừa kế. Có nghĩa, sau 3 năm kể từ ngày mở thừa kế, các chủ nợ không mẫn cán đòi nợ người thừa kế thì quyền đòi nợ chấm dứt2. Thế nhưng qui định này vẫn còn những bất cập, như: Trên thực tế, có những món nợ đã đến ngày hết thời hiệu khởi kiện theo qui định chung, nhưng khi người có nghĩa vụ chết thì được cộng thêm 3 năm nữa, làm cho thời hiệu khởi kiện thực tế kéo dài thêm rất lâu so với qui định chung; mặt khác, có những nghĩa vụ chưa tới hạn mà người có nghĩa vụ chết, thì thời hiệu khởi kiện được tính từ thời điểm nào: bắt đầu từ ngày đáo hạn hay bắt đầu khi người có nghĩa vụ chết, là điều còn nhiều tranh cãi. Hơn nữa, qui định thời hiệu chung cho các loại nghĩa vụ của người sống chỉ có hai năm3, nhưng đòi nợ của người đã chết thì đến những 3 năm, chưa kể khoảng thời gian trước khi con nợ chết chưa được luật cho trừ ra, là điều khó lý giải. Thiết nghĩ qui định này cần có sự giải thích và hướng dẫn của các cơ quan liên ngành để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

2. THỪA KẾ THEO DI CHÚC

Chương XXIII gồm 28 điều luật, trong đó có 7 điều luật được sửa đổi, bổ sung. Ngoài những sửa đổi mang tính kỹ thuật tại khoản 3 Điều 650 và Điều 657, thì 5 điểm mới còn lại đều có những thay đổi cơ bản về mặt nội dung.

2.1. Sửa đổi qui định về quyền của người lập di chúc

Khoản 4 Điều 648 BLDS 2005 qui định về quyền của người lập di chúc cơ bản vẫn giữ nội dung gần giống như Luật cũ, nhưng bỏ đi cụm từ “trong phạm vi di sản”. Qui định này sẽ có tác động tiêu cực đến việc người lập di chúc định đoạt di sản có kèm theo món nợ. Nếu người thừa kế tự nguyện thực hiện nghĩa vụ nhiều hơn phần di sản mà mình được hưởng thì không có gì đáng nói, nhưng để cho người lập di chúc toàn quyền ấn định nghĩa vụ tài sản cho những người thừa kế để buộc họ phải thực hiện tất cả các món nợ do người chết để lại, thì thật là bất công, trong khi Điều 642 BLDS 2005 lại không cho phép người thừa kế được quyền từ chối nhận di sản sau 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế. Chẳng may người thừa kế không có điều kiện để biết nội dung di chúc hoặc không thể thực hiện quyền từ chối đúng thủ tục và trong thời hạn qui định, thì chắc chắn họ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ do người chết để lại, cho dù nghĩa vụ đó có thể lớn hơn di sản mà người chết để lại rất nhiều, hoặc ngay cả khi họ không được hưởng di sản. Qui định này tạo ra sự bất công và xâm phạm quyền lợi chính đáng của người thừa kế, nhất là với con, cháu chưa thành niên hoặc những người thừa kế không có khả năng kinh tế. Pháp lệnh Thừa kế và BLDS 1995 đã rất thành công trong việc xóa bỏ tục lệ lạc hậu phong kiến “phụ trái, tử hoàn”4(4). Thiết nghĩ luật không nên buộc người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại vượt quá phần di sản mà họ được nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận.

2.2. Sửa đổi và bổ sung qui định về di chúc miệng

Khoản 1 Điều 651 BLDS 2005 bỏ đoạn cuối trong khoản 1 của Điều 654 và nội dung này được chuyển thành khoản 5 của Điều 652 BLDS 2005. Sự sửa đổi này không làm thay đổi nội dung mà chỉ có tác dụng làm cho Điều luật tinh gọn.

Khoản 2 của Điều 651 bổ sung thêm hai từ “mặc nhiên”, làm cho Điều luật trở nên rõ nghĩa hơn. Theo Luật cũ, di chúc miệng cũng được coi là bị hủy bỏ sau 6 tháng kể từ ngày lập mà người di chúc vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn, sáng suốt, nhưng không qui định thủ tục để hủy bỏ và ai có quyền tuyên bố hủy bỏ di chúc miệng. Bổ sung thêm hai từ “mặc nhiên” nhằm xác định rõ phạm vi áp dụng của Điều luật, tránh làm cho Điều luật được hiểu theo nhiều nghĩa và áp dụng không thống nhất..

2.3. Bổ sung qui định về điều kiện để công nhận di chúc hợp pháp

Điều 652 BLDS 2005 có một bổ sung rất quan trọng: “Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”. Theo đó, nhà làm luật đã qui định thêm về thời hạn xác định và thủ tục để lập bản ghi chép nội dung di chúc miệng.

Pháp lệnh Thừa kế 1990 thừa nhận giá trị của di chúc miệng nhưng không qui định thủ tục ghi chép lại di chúc miệng. Khi tranh tụng tại tòa án, hầu hết các di chúc miệng đều bị tòa án bác bỏ vì không có cơ sở để tin cậy nếu chỉ dựa vào lời khai đơn phương của một bên nhân chứng hoặc khi các nhân chứng có lời khai mâu thuẫn. Khắc phục bất cập này, BLDS 1995 qui định về thủ tục lập nội dung di chúc miệng là: những người làm chứng “phải ghi chép lại bằng văn bản ngay sau đó”. Nhưng “ngay sau đó” là bao lâu thì không thể xác định được, nên thực tế có nhiều người làm chứng đã để rất lâu sau mới chịu lập văn bản ghi nội dung di chúc miệng. Điều này đã gây ra khó khăn cho tòa án trong việc thẩm định giá trị của di chúc miệng và muốn bác bỏ nó thì cũng thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng.

Luật mới xác định chính xác khoảng thời gian mà người làm chứng phải viết lại nội dung di chúc miệng là “5 ngày, sau khi người di chúc miệng thể ý chí sau cùng”. Với thủ tục chặt chẽ này, hy vọng việc lập di chúc miệng sẽ đi vào qui củ hơn, bảo đảm độ chính xác và tin cậy cao hơn, ngăn ngừa sự thể hiện ý chí chủ quan của người làm chứng, tăng cường trách nhiệm của người làm chứng di chúc. Qui định này cũng thể hiện quyết tâm của nhà lập pháp nhằm loại bỏ khả năng người làm chứng có thể tự ý sửa chữa, viết lại nhiều lần hay đánh tráo văn bản ghi nội dung di chúc miệng.

2.4. Sửa đổi qui định về hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng

Điều 671 BLDS 1995 qui định: “Trong trường hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà có người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật; nếu vợ, chồng có thỏa thuận trong di chúc chung về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó”. Qui định này tỏ ra phiền toái vì vấn đề thỏa thuận như vậy rất ít gặp trên thực tế và nếu các bên không thỏa thuận thì sẽ dẫn tới một điều bất hợp lý là tuy là di chúc được lập chung, nhưng di sản của từng người để lại sẽ được chia riêng. Điều đó gây khó khăn cho việc thi hành di chúc vì chỉ có một giao dịch, nhưng có đến hai thời điểm có hiệu lực khác nhau. Cũng vì thế mà nguyên tắc “củng cố tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình” sẽ không thể thực hiện được. Khắc phục nhược điểm này, Điều 668 BLDS 2005 qui định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc thời điểm vợ, chồng cùng chết”. Qui định này tỏ ra hợp lý hơn so với qui định tương ứng trong BLDS 1995, vì một di chúc chỉ có thể có một thời điểm có hiệu lực.

Tuy vậy, qui định này, tự thân nó, cũng còn vẫn chứa đựng nhiều bất cập. Liệu một di chúc chung của vợ, chồng có còn duy trì hiệu lực hay không, nếu vợ chồng được tòa án cho ly hôn hoặc được tòa án cho phép chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, sau thời điểm di chúc chung được lập?. Mặt khác, qui định này đã xâm phạm đến quyền thừa kế hợp pháp của người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế bắt buộc của người vợ hoặc chồng chết trước và làm ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Theo đó, nhiều câu hỏi phức tạp đặt ra mà không dễ tìm lời giải đáp: người thừa kế hợp pháp của người vợ hay chồng chết trước có được khởi kiện để chia thừa kế của người chết hay không? Nếu thời hiệu khởi kiện thừa kế (10 năm) đã hết, nhưng di chúc vẫn chưa có hiệu lực pháp luật (vì người vợ hay người chồng còn lại vẫn còn sống) thì người thừa kế của người chết trước có được quyền khởi kiện nữa không? Nếu di sản hư hỏng hay giảm sút giá trị thì ai chịu trách nhiệm?…

Thiết nghĩ nhà làm luật nên giải thích rõ thêm vấn đề này để việc nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất.

2.5. Sửa đổi qui định về công bố di chúc

Khoản 3 Điều 672 BLDS 2005 bỏ đoạn “bản sao di chúc phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mở thừa kế”. Phù hợp với thực trạng pháp luật công chứng, chứng thực hiện nay (do quá tải trong hoạt động công chứng và pháp luật không bắt buộc mọi bản sao đều phải có công chứng), luật không bắt buộc phải công chứng, chứng thực bản sao tờ di chúc. Qui định này tỏ ra thông thoáng, thể hiện tính thực tiễn cao, làm cho Điều luật mang tính khả thi hơn, tạo điều thuận lợi hơn cho việc công bố di chúc mà vẫn bảo đảm sự minh bạch vì tại khoản 4 của Điều luật đã qui định quyền được đối chiếu bản sao di chúc với bản gốc của nó.

3. THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

Phần này gồm có 7 điều luật qui định về việc thừa kế theo pháp luật, nhưng có 3 điều khoản được sửa đổi, bổ sung. Tuy số nội dung bị sửa đổi, bổ sung không nhiều, nhưng đây là những điểm mới làm thay đổi cơ bản nội dung của điều luật:

3.1. Bổ sung qui định hàng thừa kế thứ hai và hàng thừa kế thứ ba

Điểm b khoản 1 Điều 679 BLDS 1995 qui định hàng thừa kế thứ hai không có cháu nội, cháu ngoại của người chết. BLDS 2005 bổ sung người thừa kế là “cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại”. Tương tự, điểm c khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 cũng bổ sung thêm người thừa kế là “chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”. Như vậy, theo qui định mới, thì ông, bà và cháu là “hàng thừa kế thứ hai của nhau”; các cụ và chắt là “thừa kế hàng thứ ba của nhau”. Việc bổ sung này đã gây ra nhiều tranh cãi trên thực tế.

Có ý kiến cho rằng, diện thừa kế theo pháp luật được đặt trên 3 mối quan hệ cơ bản về gia đình: quan hệ huyết thống (trực hệ và bàng hệ), quan hệ hôn nhân (vợ – chồng hợp pháp) và quan hệ nuôi dưỡng (con nuôi và con riêng của vợ hoặc của chồng…). Thật bất hợp lý và không công bằng, nếu con hoặc cháu trực hệ (cháu nội, cháu ngoại) hoặc chắt trực hệ (chắt nội, chắt ngoại) không được đưa vào hàng thừa kế, trong khi những người khác có quan hệ huyết thống bàng hệ lại được thừa kế của người chết. Cũng không công bằng khi để cho ông, bà được thừa kế hàng thứ hai của cháu, nhưng cháu không được thừa kế ở hàng thứ hai của ông bà; tương tự, chắt không được thừa kế ở hàng thứ ba của cụ.

Có ý kiến ngược lại cho rằng, qui định của luật mới thừa nhận cháu vào hàng thừa kế thứ hai và chắt vào hàng thừa kế thứ ba của người để lại di sản sẽ tạo ra sự bất cập, mâu thuẫn và chồng chéo giữa các điều luật. Vì ngoài việc được xếp vào hàng thừa kế thứ hai (đối với cháu nội, cháu ngoại) hoặc hàng thừa kế thứ ba (đối với chắt nội, chắt ngoại) thì các đối tượng này còn được xếp vào diện được thừa kế thế vị. Nếu cho cháu hoặc chắt được thừa kế thế vị thì qui định cháu thừa kế theo hàng thứ hai và chắt ở hàng thứ ba sẽ trở nên vô nghĩa, vì lúc đó việc thừa kế của hàng thứ hai và của hàng thứ ba sẽ không xảy ra. Nếu cho họ vừa được thừa kế theo hàng, vừa thừa kế thế vị thì lại vi phạm nguyên tắc chia thừa kế ưu tiên cho hàng thừa kế trước.

Tuy vậy, chúng tôi cho rằng qui định như trên là tiến bộ và phần nào khắc phục được những bất cập của BLDS 1995 về thừa kế thế vị; đồng thời, qui định này cũng không mâu thuẫn với qui định khác về hàng thừa kế vì những cơ sở sau đây:

Thứ nhất, qui định của luật hiện hành về hàng thừa kế và thừa kế thế vị đã không bảo vệ hữu hiện quyền lợi chính đáng của cháu, chắt trong quan hệ thừa kế. Thực tế cho thấy không phải lúc nào con chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu cũng được thừa kế thế vị. Tương tự, không phải lúc nào cha, mẹ của chắt chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt đương nhiên được thừa kế thế vị. Quyền được thừa kế thế vị của cháu, chắt trong thực tế thường gặp nhiều rủi ro khiến cho họ không được thế vị, vì cha mẹ của họ không đủ điều kiện để hưởng thừa kế của người để lại di sản. Không đủ điều kiện để được hưởng di sản là rất đa dạng, bao gồm những trường người thừa kế bị tước quyền hưởng di sản; hoặc bị truất quyền hưởng di sản; hoặc từ chối di sản. Nếu cha mẹ của cháu hoặc cha mẹ của chắt thuộc 1 trong 3 trường hợp vừa nêu thì tất nhiên là cháu, chắt sẽ không thể được hưởng thế vị. Khi hàng thừa kế thứ nhất không còn bất kỳ ai đủ điều kiện để được thừa kế, thì di sản sẽ được chia cho hàng thứ hai; hàng thừa kế thứ hai không ai đủ điều kiện thì di sản sẽ chuyển xuống cho hàng thứ ba. Do đó, nếu chỉ áp dụng qui định về thừa kế thế vị thì sẽ không bảo đảm quyền được thừa kế của cháu, chắt trực hệ và cũng không bảo đảm sự công bằng trong mối quan hệ thừa kế qua – lại giữa cháu với ông bà hoặc giữa chắt với các cụ. BLDS 2005 qui định bổ sung điểm này là cần thiết, vừa khắc phục bất cập trong quan hệ thừa kế giữa cháu với ông, bà và giữa chắt với các cụ, vừa tạo điều kiện tối đa để cháu hoặc chắt có cơ hội được hưởng thừa kế.

Thứ hai, qui định này và qui định về thừa kế thế vị chẳng những không chồng chéo, mâu thuẫn mà còn bổ sung cho nhau. Nếu cháu hoặc chắt được thừa kế thế vị, có nghĩa di sản sẽ không được chuyển xuống cho các hàng thứ hai và hàng thứ ba, nên sẽ không có chuyện một người vừa được thừa kế thế vị vừa được hưởng thừa kế theo hàng. Nhưng nếu chẳng may cháu hoặc chắt không được thừa kế thế vị thì vẫn có thể được hưởng thừa kế theo hàng.

Tuy vậy, qui định này cũng không bảo đảm triệt để quyền thừa kế của cháu, chắt trực hệ vì trong nhiều trường hợp các cháu hoặc chắt vừa không được thừa kế thế vị vừa không được thừa kế theo hàng. Nếu cha, mẹ của cháu hoặc cha mẹ chắt đều không đủ điều kiện để được hưởng di sản; đồng thời ở hàng thừa kế thứ nhất vẫn còn người thừa kế khác đủ điều kiện để hưởng thừa kế; hoặc tương tự, nếu ở hàng thừa kế thứ hai vẫn còn người thừa kế khác đủ điều kiện hưởng thừa kế, thì cháu hoặc chắt sẽ không được hưởng thừa kế của người để lại di sản, vì họ không được chia thừa kế theo hàng và cũng không được thừa kế thế vị.

Qui định này cũng tỏ ra không công bằng giữa người thừa kế đồng vị với nhau, đó là giữa cháu hoặc chắt có cha, mẹ không đủ điều kiện thừa kế so với cháu hoặc chắt có cha, mẹ đủ điều kiện hưởng thừa kế. Cháu hoặc chắt nói đến trong trường hợp thứ nhất không được thừa kế thế vị và cũng không được thừa kế theo hàng nếu hàng trước còn người khác đủ điều kiện thừa kế; còn cháu hoặc chắt nói đến trong trường hợp sau sẽ được hưởng thừa kế thế vị, tức là thay vào vị trí của cha, mẹ hoặc ông bà để hưởng thừa kế ở hàng thứ nhất. Do đó, qui định mới vẫn chưa khắc phục được bất cập trong BLDS 1995 mà chúng ta muốn sửa.

Thiết nghĩ, để bảo đảm quyền được thừa kế của cháu, chắt đối với di sản do ông, bà hoặc các cụ để lại, không nên chỉ bổ sung họ vào hàng thừa kế, mà nên bổ sung luôn cả vào diện thừa kế thế vị, mới có thể bảo đảm triệt để quyền thừa kế của con cháu trực hệ.

3.2. Bổ sung qui định về thừa kế thế vị

Nhằm bảo đảm sự nhất quán trong việc hưởng thừa kế thế vị của cháu trực hệ, chắt trực hệ trong trường hợp người thừa kế là con hoặc cháu nội, cháu ngoại chết cùng thời điểm với người để lại di sản so với trường hợp chết trước người để lại di sản, Điều 677 BLDS 2005 đã bổ sung như sau: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha, mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha, mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.

Sự bổ sung này có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho cháu hoặc chắt trực hệ được hưởng thừa kế của người để lại di sản. Không có lý do nào mà người con của người thừa kế là con “chết trước” được hưởng thế vị, mà người con của người thừa kế là con “chết cùng thời điểm” lại không được thế vị. Suy cho cùng, “người con chết trước” người để lại di sản hay “người con chết cùng thời điểm” với người để lại di sản hoàn toàn giống nhau về bản chất: thứ nhất, cả hai trường hợp người thừa kế đều là con, cháu trực hệ của người để lại di sản; thứ hai, họ đều đã không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Sự bổ sung này của Luật mới làm chấm dứt tình trạng tranh cãi trong việc áp dụng qui định về thừa kế thế vị, chấm dứt việc “phân biệt đối xử” một cách bất hợp lý trong luật thực định bấy lâu nay và đảm bảo sự công bằng trong việc thừa kế thế vị giữa các cháu, chắt.

Sự sửa đổi này cũng cho chúng ta thấy một điểm rất thú vị của pháp luật là, mặc dù cả hai trường hợp người thừa kế là con hoặc cháu chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản đều làm phát sinh quyền được thừa kế thế vị đối với các cháu hoặc chắt trực hệ của người để lại di sản. Nhưng giữa hai trường hợp này trên thực tế vẫn có điểm khác nhau. Vì đối với người con hay người cháu được thừa kế mà chết trước người để lại di sản, thì người để lại di sản cũng được hưởng thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất (cha thừa kế của con) hoặc thứ hai (ông, bà thừa kế của cháu), hoặc được hưởng thừa kế bắt buộc phần di sản do người này để lại. Ngược lại, nếu con hoặc cháu chết cùng thời điểm với người để lại di sản, thì họ không được thừa kế của nhau. Người để lại di sản không được hưởng thêm phần di sản từ người con, cháu chết cùng thời điểm với mình, nhưng vẫn dành phần di sản để chia thừa kế thế vị cho cháu hoặc chắt theo qui định chung. Ví dụ: A có con là B và C. B có vợ là H, có con là K. A có tài sản riêng là 100 triệu. B có tài sản riêng là 90 triệu. Nếu B chết trước A thì A được thừa kế của B 30 triệu, nên khi A chết, di sản của A là 130 triệu, và khi A chết thì K (thế vị cho B) và C được hưởng thừa kế của A, mỗi người 65 triệu. Nhưng nếu A và B chết cùng thời điểm, thì A và B không được thừa kế của nhau. Do đó, B chết, H và K được mỗi người 45 triệu từ B. A chết, C và K (thế vị cho B) mỗi người chỉ được 50 triệu mà thôi. Phần di sản của A truyền lại cho những người thừa kế của mình giảm đi rõ rệt. Mặc dù vậy, qui định như trên trong Luật mới là hoàn toàn hợp lý.

4. THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN

Phần này trong BLDS 1995 có 6 điều luật và được sửa đổi, bổ sung 2 điều khoản trong BLDS

2005. Cụ thể:

4.1. Bổ sung qui định về các trường hợp hạn chế phân chia di sản

Ngoài hai căn cứ hạn chế phân chia di sản được qui định tại Điều 689 BLDS 1995, Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 cũng đưa điều khoản hạn chế phân chia di sản khi một bên vợ hoặc chồng chết trước mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ chồng còn sống và gia đình5… Qui định này đã được thực tế chấp nhận và phát huy tính tích cực trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan. Kế thừa qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, nhà làm luật đã bổ sung vào Điều luật tương ứng trong BLDS 2005 nội dung:

Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của một bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định, nhưng không quá 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do Tòa án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế”. Đây là qui định tiến bộ, thể hiện rõ nguyên tắc củng cố tình thương yêu đoàn kết trong gia đình.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ của Điều luật, chúng ta thấy vẫn còn những vấn đề bất cập chưa được giải quyết rốt ráo trong Điều 689 BLDS 1995 cũng như Điều 686 BLDS 2005. Cụ thể:

– Đoạn 1 vẫn chưa qui định một khoảng thời gian tối đa cho việc hạn chế phân chia di sản hay căn cứ chấm dứt việc hạn chế phân chia. Điều này gây ra những bất cập mới là, sẽ có những trường hợp đáng lẽ phải chấm dứt tình trạng hạn chế phân chia di sản để bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người thừa kế khác, thì lại không có căn cứ pháp lý để công nhận sự chấm dứt đó. – Qui định mới cũng đã không dự liệu được khả năng di sản bị sụt giảm nghiêm trọng do lỗi cố ý hoặc vô ý của người hưởng dụng, của người thứ ba hay do nguyên nhân bất khả kháng; luật cũng không qui định quyền được giám sát hay quyền yêu cầu của những người thừa kế để đòi chấm dứt sự hạn chế phân chia di sản đối với người hưởng dụng, cũng như quyền yêu cầu được thanh toán giá trị phần di sản bị tổn thất khi xảy ra tình huống trên.

– Cả hai khoản trong Điều luật đều cho phép hạn chế phân chia di sản trong một thời hạn. Sự hạn chế này trên thực tế sẽ làm cho thời hiệu khởi kiện 10 năm bị ảnh hưởng (ngắn đi so với qui định của pháp luật). Vậy thì pháp luật có cho phép thời hiệu khởi kiện được kéo dài tương ứng với thời hạn bị hạn chế phân chia di sản hay không? Nếu có thì cơ sở pháp lý là ở đâu?

Đây là những điểm bất cập mà nhất thiết phải được bổ khuyết hoặc phải được giải thích, hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm tránh sự tranh cãi và sự tùy tiện, thiếu nhất quán khi áp dụng pháp luật.

4.2. Bổ sung Điều luật mới về phân chia di sản khi có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế

Điều 687 BLDS 2005 qui định:

1. Trong trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Điều luật này khắc phục tình trạng bỏ sót người thừa kế khi chia thừa kế; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để yêu cầu người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế phải hoàn trả phần di sản mà họ được chia trước khi quyền thừa kế của họ bị bác bỏ. Điều luật qui định rõ thời điểm qui đổi giá trị kỷ phần di sản là thời điểm di sản được phân chia trên thực tế, nhằm xác định rõ ràng về cách tính giá trị phần di sản mà mỗi người thừa kế được hưởng khi có tranh chấp.

Tóm lại, mặc dù những qui định về thừa kế trong BLDS 2005 không được hoàn mỹ như mong đợi của nhiều người, nhưng trên thực tế nó đã có một bước tiến rất đáng kể cả về kỹ thuật lập pháp cũng như về nội dung. Nhiều bất cập trong BLDS 1995 đã được luật mới sửa đổi, hoàn thiện. Nói như vậy không phải là sau khi Bộ luật mới được thông qua, mọi sự bàn cãi, nghiên cứu thêm về các bất cập khác và các bất cập mới sẽ phát sinh, đều được xếp lại. Đòi hỏi thực tế cuộc sống luôn buộc chúng ta không ngừng phải hoàn thiện những hạn chế trong luật thực định mà chúng ta chưa kịp hoàn thiện lần này, cũng như những vướng mắc sẽ phát sinh khi áp dụng những qui định mới của luật trong thời gian tới.

Chú thích:

1 BLDS 2005 dành một phần riêng để qui định về thừa kế quyền sử dụng đất (từ Điều 688 đến Điều 735) và Luật Đất đai 2003 cũng qui định về thừa kế quyền sử dụng đất rất cụ thể tại các Điều 106, Điều 113 khoản 5, Điều 114 khoản 1, Điều 121 khoản 2 điểm d, Điều 129.

2 Xem thêm khoản 7 Điều 374 và Điều 383 BLDS 2005.

3 Xem thêm các Điều 427 BLDS về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự, Điều 607 về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là 2 năm.

4 “Phụ trái, tử hoàn” nghĩa là cha, mẹ mắc nợ thì khi cha, mẹ qua đời, con cháu phải hoàn trả. Đây là tục lệ cũ, ràng buộc con cháu trả nợ thay cho người quá cố, dù họ không được hưởng di sản của người đó.

5 Xem thêm qui định tại khoản 1 Điều 31 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000; mục 4 Nghị quyết số 02/2000/ NQ – HĐTP của Hội đồng Thẩm phán – Tòa án nhân dân Tối cao ngày 23/12/2000.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ…/2006

THỦ TỤC THỪA KẾ ĐỂ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
*****
Số: 2662/2007/QĐ-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******Huế, ngày 03 tháng 12 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC THỪA KẾ ĐỂ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực;
Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
Căn cứ Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký;
Căn cứ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Căn cứ Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13 tháng 4 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Thông tư Liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tư pháp – Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất;
Căn cứ Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành Quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số: 518/TTr-TN&MT-ĐK ngày 20 tháng 11 năm 2007
,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về thủ tục thừa kế để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trên địa bàn tỉnh.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 1108/2006/QĐ-UBND ngày 26 tháng 04 năm 2006 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh ban hành Quy định về thủ tục thừa kế để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh; Giám đốc các sở: Tài nguyên và Môi trường, Tư pháp, Tài chính, Xây dựng; Cục trưởng Cục Thuế; Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Huế và các huyện; Thủ trưởng các cơ quan có liên quan và người sử dụng đất chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:
– Như Điều 3;
– Bộ Tài nguyên và Môi trường (b/c);
– TVTU; TT HĐND tỉnh;
– Đoàn ĐBQH tỉnh; UBMTTQ VN tỉnh;
– Cục Kiểm tra VBQPPL-Bộ Tư pháp;
– CT và các PCT UBND tỉnh;
– Các sở, ban, ngành thuộc tỉnh;
– Viện KSND tỉnh; TAND tỉnh;
– Thanh tra tỉnh;
– Báo TT Huế, Đài PTTH tỉnh;
– VP: CVP và PCVP Mai Hùng Tuân,
Trung tâm Công báo; CV:TH,KNTC;
– Lưu: VT,NĐ.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT.CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Thị Thúy Hòa

QUY ĐỊNH

VỀ THỦ TỤC THỪA KẾ ĐỂ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2662/2007/QĐ-UBND ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh)

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Quy định này được áp dụng cho những hộ gia đình, cá nhân được hưởng quyền thừa kế về quyền sử dụng đất ở theo pháp luật nhưng những người được hưởng thừa kế không tự phân chia được di sản hoặc được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất chưa chia thuộc quyền sử dụng chung của những người thừa kế để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh.

Giấy chứng nhận trong trường hợp người nhận thừa kế quyền sử dụng đất là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở được thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ.

Điều 2. Về xác định những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật

Việc xác định số người được thừa kế quyền sử dụng đất ở theo quy định tại Bộ Luật Dân sự phải do một trong số những người đồng thừa kế đứng ra khai báo hàng thừa kế và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung khai báo. Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật được lập theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Quy định này và có xác nhận của Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn (cấp xã) nơi có đất là di sản thừa kế.

Điều 3. Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Sau khi người đại diện thừa kế đã lập Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật và được Uỷ ban Nhân dân cấp xã xác nhận theo quy định tại Điều 2 Quy định này thì tiến hành lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định hiện hành và nộp tại cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, thụ lý hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cấp huyện để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Điều 4. Việc ghi tên những người đồng thừa kế trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tất cả những người đồng thừa kế có tên trong Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật đều được ghi tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

1. Trường hợp đã xác định được đầy đủ tất cả số người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật:

Nếu tại Mục I trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đủ chỗ để ghi tên của tất cả những người sử dụng chung thửa đất thì giấy chứng nhận chỉ ghi họ, tên, năm sinh và số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi đăng ký thường trú của người đã đứng ra lập Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật, tiếp theo ghi “cùng với những người sử dụng đất có tên trong danh sách kèm theo Giấy chứng nhận này”; thông tin về những người sử dụng đất còn lại phải được in hoặc viết vào trang phụ “Danh sách những người sử dụng chung thửa đất” theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Quy định này. Trang phụ sau khi lập được đóng dấu giáp lai với trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (dấu giáp lai của Uỷ ban Nhân dân huyện, thành phố Huế). Tại khoản 5, Mục II của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì ghi toàn bộ diện tích thửa đất đó vào mục hình thức “Sử dụng chung” và ghi “không” vào mục “Sử dụng riêng”.

2. Trường hợp chưa xác định được đầy đủ những người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật:

Trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất mà có nhiều người được thừa kế theo pháp luật nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa xác định được đầy đủ những người đó thì cấp một (01) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đại diện đối với toàn bộ diện tích để thừa kế. Việc cử người đại diện ghi tên vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải bằng văn bản thỏa thuận của những người được thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật đã xác định được có chứng thực của Ủy ban Nhân dân cấp xã hoặc chứng nhận của Công chứng Nhà nước. Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi “Người đại diện là”, sau đó ghi họ, tên, năm sinh và số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi đăng ký thường trú của người đại diện, tiếp theo ghi “cùng với những người nhận thừa kế có tên trong danh sách kèm theo Giấy chứng nhận này”; lập danh sách những người khác được nhận thừa kế quyền sử dụng theo pháp luật đã được xác định, cuối danh sách được ghi “và một số người thừa kế khác chưa được xác định”; danh sách những người được nhận thừa kế đã được xác định lập theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Quy định này. Tại mục IV (phần ghi chú) của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi: “Chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất, không được thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất”.

3. Sau khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trường hợp xác định được thêm người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật thì người đã đứng ra lập Tờ khai khai bổ sung những người thừa kế theo pháp luật, để được ghi bổ sung vào danh sách kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, 2 Điều này

4. Sau khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu những người được hưởng thừa kế quyền sử dụng chung thửa đất đã phân chia được di sản theo quy định tại Điều 5 Quy định này; thì người được hưởng di sản về thừa kế quyền sử dụng đất lập thủ tục để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, thụ lý hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cấp huyện.

Điều 5. Trường hợp các đồng thừa kế tự thoả thuận được việc phân chia di sản nhà, đất

Khi những người được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất có nhu cầu phân chia thừa kế quyền sử dụng đất và các đồng thừa kế tự thoả thuận được việc phân chia di sản nhà, đất; nhận thừa kế quyền sử dụng đất trong trường hợp người nhận thừa kế là người duy nhất thì được lựa chọn hình thức công chứng tại các Phòng Công chứng hoặc chứng thực tại Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất; sau đó lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được thừa kế tại cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, thụ lý hồ sơ đất đai của cấp huyện.

Điều 6. Trách nhiệm thi hành

1. Giám đốc các sở: Tài nguyên và Môi trường, Tư pháp tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Quy định này.

2. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Huế và các huyện chỉ đạo  các phòng ban chuyên môn và Uỷ ban Nhân dân các xã, phường, thị trấn thực hiện Quy định này.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc đề nghị các địa phương phản ánh về Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư pháp để báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo giải quyết./.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT.CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Thị Thúy Hòa

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 178/2002/KHXX NGÀY 5 THÁNG 12 NĂM 2002 VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 178/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 5 tháng 12 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 178/2002/KHXX NGÀY 5 THÁNG 12 NĂM 2002 VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Kính gửi: Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

Sau khi nghiên cứu Công văn số 52/CV-TA ngày 22/8/2002 của Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Về việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất mà đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 và người sử dụng đất chết không để lại di chúc.

Đối với vấn đề này về nguyên tắc, khi thụ lý, giải quyết loại việc này Toà án phải căn cứ vào hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/01/2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất” để xác định xem tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án hay không (đặc biệt là đối với các loại đất không có tài sản).

Nếu tranh chấp đó không thuộc một trong các trường hợp nêu tại phần I của Thông tư liên tịch nói trên (có nghĩa là tranh chấp đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án), thì Toà án không thụ lý giải quyết.

Nếu tranh chấp đó thuộc thẩm quyền của Toà án, thì Toà án căn cứ vào các quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai năm 1993 để thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.

2. Về việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất mà người có đất chết trước ngày 15/10/1993, không để lại di chúc, sau đó chỉ có một trong các thừa kế của người đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993.

Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC nói trên, thì tranh chấp quyền sử dụng đất mà đất đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 1à thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.

Tuy nhiên, Toà án có chấp nhận yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất cho các đương sự hay không thì phải căn cứ vào từng vụ án cụ thể.

dụ: Nếu qua điều tra thu thập chứng cứ mà có đủ căn cứ kết luận phần đất do người chết để lại đã được tất cả những người trong họ tộc nhất trí giao cho một trong các thừa kế được quyền sử dụng có sự đồng ý của chính quyền địa phương và người đó đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993, nay các thừa kế khác thấy đất có giá trị cao nên đòi chia thừa kế quyền sử dụng đất đó và có tranh chấp, thì Toà án không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất của các thừa kế khác; nếu có đủ cơ sở kết luận một trong các đồng thừa kế bằng thủ đoạn nào đó (giấu giếm tự kê khai…) để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Toà án chia thừa kế quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế khác theo thủ tục chung và áp dụng Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Uỷ ban nhân dân đã cấp.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong khi giải quyết vụ án cụ thể ở địa phương.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THỪA KẾ NHÀ Ở

VŨ ANH – Cục Quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG

A. Thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ thừa kế nhà ở bao gồm:

 

– Một trong các giấy tờ thừa kế nhà ở như: di chúc hợp pháp, Biên bản phân chia di sản thừa kế, Bản án của toà án, bản khai di sản thừa kế có công chứng Nhà nước);

– Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của người chết

– Bản sao Giấy khai sinh của người thừa kế nếu là con của người chết hoặc bản sao Giấy đăng ký kết hôn nếu người nhận thừa kế là vợ (chồng) của người chết làm cơ sở để miễn nộp nghĩa vụ tài chính.

– Giấy chứng tử;

– Bản khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ).

Đối với người được tặng cho là Việt kiều phải có thêm giấy tờ như Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Về trình tự, thủ tục thừa kế nhà ở

 

Bước 1: Bên thừa kế nộp hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện (nếu là cá nhân), cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh (nếu là tổ chức).

Nếu bên thừa kế không có di chúc hoặc bản án thì phải đến công chứng lập thủ tục kê khai di sản thừa kế hoặc chứng nhận biên bản phân chia di sản thừa kế. Trường hợp có tranh chấp thì phải giải quyết xong tranh chấp.

Bước 2: Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);

Bước 3: Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế (nếu chủ nhà không thuộc diện phải nộp hoặc được miễn nộp nghĩa vụ tài chính thì không có bước này).

Bước 4: Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạ cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

 

Thời gian làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Thời gian này không tính vào thời gian chủ nhà đi nộp các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước.

B. Thừa kế nhà ở không có quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ thừa kế nhà ở bao gồm:

– Một trong các giấy tờ thừa kế nhà ở như: di chúc hợp pháp, Biên bản phân chia di sản thừa kế, Bản án của toà án, bản khai di sản thừa kế có công chứng Nhà nước);

 

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của người chết

– Giấy chứng tử;

– Bản khai nộp nghĩa vụ tài chính.

Đối với người được tặng cho là Việt kiều phải có thêm giấy tờ như Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Về trình tự, thủ tục thừa kế nhà ở

 

Trình tự, thủ tục thừa kế nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như quy định đối với trường hợp thừa kế nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở nêu tại phần a trên đây.

Bên nhận thừa kế nhà ở không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất mà chỉ phải nộp lệ phí trước bạ nhà ở (bằng 1% giá trị nhà ở theo quy định).

Bên thừa kế nhà ở chỉ được quyền sở hữu nhà ở theo thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Nguồn: Cục Quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ: NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN (Bài viết theo qui định của BLDS năm 1995)

THS. Lê Minh Hùng Khoa Luật dân sự – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu khởi kiện thừa kế còn nhiều bất cập, chưa rõ ràng, chưa hợp lý. Thực tiễn áp dụng các quyđịnh này vẫn còn khá lúng túng, chưa nhất quán. Để góp thêm ý kiến trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, bài viết sau đây phân tích một số điểm bất cập trong các quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện thừa kế và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.

1. Điều 648 không quy định thời hiệu khởi kiện đòi nợ từ di sản do người chết để lại

Đây là sự thiếu sót cả về nội dung và cơ cấu của điều luật dẫn đến sự thiếu nhất quán trong các quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự (1). Theo hướng dẫn tại điểm 1-b mục III, TTLN 03/1996, đối với các trường hợp thừa kế mở từ ngày 01-7-1996 thì người có quyền khởi kiện đòi nợ do người chết để lại không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước toà án. Hướng dẫn này tạo cơ sở pháp lý để toà án thụ lý giải quyết các đơn kiện đòi nợ từ di sản thừa kế, nhưng cũng dẫn đến sự bất cập về hai phương diện sau:

(i) Về đường lối giải quyết là thiếu nhất quán đối với hai trường hợp đòi nợ tương tự.

Trước khi BLDS được ban hành, thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đã từng được quy định trong các văn bản pháp luật trước đó (xem Hộp 1).

———————————————————————————————————

Hộp 1: Điều 56 của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (PLHĐDS) quy định thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng là 3 năm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ dân sự và Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế quy định thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại là 3 năm tính từ thời điểm mở thừa kế.

———————————————————————————————————

Do BLDS không quy định về thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và đòi thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, vì vậy, đối với khoản nợ mà ngày đáo hạn hoặc ngày người mắc nợ chết sau khi BLDS có hiệu lực, thì chủ nợ có quyền khởi kiện đòi nợ vào bất kỳ lúc nào (2). Tuỳ thuộc vào việc người mắc nợ chết trước hay chết sau (dù chỉ một ngày) ngày BLDS có hiệu lực, mà thời hiệu khởi kiện sẽ khác nhau. Quy định này không có tính kế thừa từ Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế nên đã thiếu nhất quán trong đường lối giải quyết đối với cùng một loại việc đòi nợ do người chết để lại làm xáo trộn các quan hệ xã hội và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người thừa kế của người mắc nợ.

(ii) Về chứng cứ trong tố tụng

Việc không hạn chế thời hiệu gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động chứng minh và việc lưu giữ bằng chứng về việc đã trả nợ, không bảo đảm an toàn pháp lý cho người đã trả xong nợ từ rất lâu nhưng không lưu giữ được bằng chứng trả nợ.

Thông thường, nếu người chủ nợ trong một thời gian dài không khởi kiện đòi nợ, thì pháp luật suy đoán là món nợ đó đã được thực hiện xong hoặc chủ nợ đã tự nguyện xoá nợ cho người mắc nợ. Không ai lại tự nguyện để cho người khác thiếu nợ quá lâu mà không yêu cầu trả nợ. Bởi thế, pháp luật của Việt Nam và nhiều nước quy định thời hiệu khởi kiện đòi nợ từ các hợp đồng dân sự thông thường là 3 năm, tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ và thời hiệu khởi kiện đòi thực

hiện nghĩa vụ ngoài hợp đồng là 4 năm, tính từ ngày gây thiệt hại3. BLDS không quy định thời hiệu trong trường hợp này và được “chữa cháy” bằng các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, cách qui định như hiện nay về thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để chưa bảo đảm an toàn pháp lý cho người thừa kế của người mắc nợ. Bất cứ lúc nào, họ cũng có thể bị khởi kiện về nghĩa vụ mà có thể họ đã thực hiện xong từ rất lâu, nhưng không thể lưu giữ bằng chứng. Trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thì việc chứng minh đã trả nợ lại càng khó khăn hơn vì người mắc nợ đã chết, không thể đối chứng hay khai báo về việc đã trả nợ.

Từ những phân tích trên cho thấy, việc bổ sung quy định về thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại nói riêng, là yêu cầu cấp thiết. Cũng có ý kiến cho rằng sở dĩ BLDS không quy định thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại vì tranh chấp loại này sẽ được áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nghĩa vụ dân sự (nói chung). Theo chúng tôi, ý kiến này không phù hợp.

Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn thì thời hiệu khởi kiện đòi nợ người có nghĩa vụ còn sống và thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại là hai loại thời hiệu khác nhau do có tính chất khác nhau. Về mặt lý luận, thể hiện ở 4 điểm sau đây: (i) trong việc thực hiện nghĩa vụ thông thường thì bị đơn chính là bản thân người có nghĩa vụ, còn trong việc đòi nợ của người chết thì bị đơn là những người thừa kế của người chết; (ii) đối tượng của nghĩa vụ thường là bất kỳ những nghĩa vụ tài sản nào (kể cả các nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, các nghĩa vụ gắn liền với nhân thân, các nghĩa vụ không chuyển dịch được do thoả thuận hoặc do pháp luật quy định…), còn đối tượng của nghĩa vụ do người chết để lại chỉ có thể là các nghĩa vụ tài sản chuyển dịch từ người chết sang cho người thừa kế, mang tính tài sản thuần tuý; (iii) mức trách nhiệm của nghĩa vụ đối với cá nhân thiếu nợ là vô hạn, còn mức trả nợ của người thừa kế là có giới hạn trong phạm vi di sản được hưởng; (iv) thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ của người mắc nợ tính từ ngày nghĩa vụ bị vi phạm, còn thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại tính từ ngày mở thừa kế…

Về mặt thực tiễn, cũng có sự khác biệt giữa người mắc nợ tự mình thực hiện nghĩa vụ và thực hiện nghĩa vụ thông qua người thừa kế. Trong trường hợp thừa kế, người chủ nợ có thể phải khởi kiện nhiều người thừa kế; di sản do người chết để lại có thể bị biến động theo chiều hướng xấu tới mức di sản để lại không đủ để trả nợ; việc thi hành án đối với nợ do người chết để lại khó khăn hơn so với món nợ do chính người mắc nợ thực hiện khi còn sống…

Đề xuất

Với phân tích trên, chúng tôi kiến nghị bổ sung vào BLDS hai quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự do người chết để lại như sau:

Một , bổ sung khoản 2 của Điều 648 của BLDS như sau: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại là 3 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế”. Quy định này kế thừa nội dung của Khoản 2, Điều 36, Pháp lệnh Thừa kế, phân biệt được sự khác nhau giữa thời hiệu khởi kiện yêu cầu người có nghĩa vụ còn sống tự mình thực hiện nghĩa vụ so với thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại.

Hai là, đồng thời với việc quy định như trên nên bổ sung trong BLDS điều khoản quy định về các điều kiện cần thiết làm cơ sở cho người chủ nợ thực hiện quyền khởi kiện chỉ trong những trường hợp sau đây:

(i) đó phải là nghĩa vụ tài sản;

(ii) nghĩa vụ đó được phép chuyển dịch thông qua giao dịch dân sự hoặc để lại thừa kế;

(iii) nghĩa vụ đó chưa được người chết thực hiện khi còn sống và vào thời điểm người có nghĩa vụ chết, thời hiệu khởi kiện đòi nợ vẫn còn;

(iv) người thừa kế chỉ phải trả nợ trong phạm vi phần di sản mà mình được thừa kế, theo tỷ lệ tương ứng so với các đồng thừa kế khác (nếu có).

Vì thế, kiến nghị bổ sung Điều 640b quy định về điều kiện để được khởi kiện đòi nợ từ di sản của người chết (xem Hộp 2)

———————————————————————————————————

Hộp 2: “Điều 640b Các trường hợp không được khởi kiện đòi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại:

1- Các nghĩa vụ dân sự đã hết thời hiệu khởi kiện vào thời điểm mở thừa kế;

2- Các nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân, nghĩa vụ phải do người chết tự mình thực hiện;

3- Các nghĩa vụ mà các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định không được phép chuyển giao;

4- Các nghĩa vụ tài sản khác pháp luật quy định là đã chấm dứt khi người có nghĩa vụ chết.

Trong trường hợp các nghĩa vụ nói ở khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này là một nghĩa vụ có thể được chuyển thành một loại nghĩa vụ tài sản khác, chuyển giao được hoặc tính được bằng tiền khi người có nghĩa vụ chết, thì người có quyền vẫn được khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện theo quy định tại Điều 640 Bộ luật này. Đối với những nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ đã nhận thù lao nhưng chưa được thực hiện xong nghĩa vụ, thì người có quyền được khởi kiện yêu cầu người thừa kế hoàn trả khoản tiền tương ứng với khoảng thời gian chưa thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 640, trừ trường hợp nói tại khoản 1 Điều này”.

———————————————————————————————————Quy định này nhằm giới hạn những nghĩa vụ mà người chủ nợ được khởi kiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền trong các trường hợp họ đã trả toàn bộ tiền thù lao, nhưng người có nghĩa vụ đã chết mà chưa hoàn thành nghĩa vụ, thì người có quyền vẫn được đòi lại một phần tiền thù lao đã trả, tương ứng với phần công việc chưa được thực hiện. Ví dụ: thân chủ đã trả đủ tiềnđể được luật sư bảo vệ trước tòa hoặc để được bác sỹ khám bệnh và điều trị, nhưng mới làm được một phần công việc thì luật sư hoặc bác sỹ đó qua đời. Do nghĩa vụ cung cấp dịch vụ pháp lý hay dịch vụ khám chữa bệnh không thể chuyển giao cho những người thừa kế thực hiện. Vì vậy, người cóquyền vẫn được quyền đòi người thừa kế hoàn lại số tiền, tương ứng với phần công việc chưa được thực hiện.

2. Điều 648 chưa tính đến việc điều chỉnh quan hệ thừa kế có đối tượng là di sản dùng vào việc thờ cúng

Quy định thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế là chưa phù hợp với tập quán thờ cúng tổ tiên và thực tiễn xét xử về tranh chấp loại việc này. Theo tập tục thờ cúng tổ tiên tại các vùng đồng bằng Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ, thì thời hạn thực hiện việc cúng giỗ người chết không tính theo năm mà tính theo “đời người”. Dân gian có câu tục ngôn là “ngũ đại mai thần chủ” (người chết qua năm đời, thì chôn bài vị vào trong góc sau nhà), nghĩa bóng là con cháu cúng giỗ người chết đến đời thứ năm (4) thì không cúng giỗ riêng mà cúng chung cùng với các ông tổ của dòng họ. Vì vậy, sự bất hợp lý trong Điều 648 là theo quy định này thì thời hiệu khởi kiện là 10 năm, trong khi việc lưu truyền di sản thờ cúng thường qua nhiều thế hệ. Hơn nữa, di sản hương hoả được giao cho người thừa kế thực hiện nghĩa vụ thờ cúng, nếu quy định sau 10 năm những người thừa kế khác không được khởi kiện nữa, thì đã mặc nhiên thừa nhận rằng nghĩa vụ thờ cúng sau 10 năm coi như đã được thực hiện xong. Những người thừa kế hợp pháp khác của người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng không thể khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ thờ cúng. Đó là một điều bất hợp lý. Vì thế, đối với di sản dùng vào việc thờ cúng phải có một quy định về thời hạn lưu truyền di sản dùng vào việc thờ cúng và thời hiệu khởi kiện riêng cho việc tranh chấp liên quan đến di sản dùng vào việc thời cúng. Thời hạn lưu truyền di sản dùng vào việc thờ cúng là thời hạn mà nghĩa vụ thờ cúng được thực hiện, nên được tính theo đời người hay theo thế hệ (thứ bậc trong tông – chi). Trong trường hợp nghĩa vụ thờ cúng đã được thực hiện xong thì di sản dùng vào việc thờ cúng (nếu còn) sẽ thuộc quyền sở hữu của người sau cùng hoàn thành nghĩa vụ thờ cúng.

Người thừa kế hợp pháp của người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng có quyền khởi kiện trong hai trường hợp: Thứ nhất, yêu cầu toà án xác định hiệu lực pháp luật của di chúc được lập để định đoạt di sản dùng vào việc thờ cúng (như kiện huỷ bỏ di chúc vô hiệu do có nội dung trái pháp luật và đạo đức, do bị giả mạo, do bị lừa dối, do không còn minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc); Thứ hai, là khi nghĩa vụ thờ cúng bị vi phạm thì người thừa kế có quyền yêu cầu toà án giải quyết hậu quả của việc vi phạm đó (hoặc chỉ định người khác tiếp tục thực hiện việc thờ cúng hoặc di sản được chia theo pháp luật).

Từ phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung hai quy định có liên quan trực tiếp đến thời hiệu khởi kiện đối với di sản dùng vào việc thờ cúng như sau:

(i) Một là, cần được bổ sung thêm một mục quy định riêng về di sản dùng vào việc thờ cúng tại Phần thứ tư, Chương II; trong đó, phải có một điều luật riêng quy định các trường hợp làm căn cứ chấm dứt nghĩa vụ thờ cúng;

(ii) Hai là, bổ sung quy định tại Điều 648 khoản 3 với nội dung như sau:

“Khoản 3- Thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp liên quan đến di sản thờ cúng:

a) Thời hiệu khởi kiện yêu cầu toàn án huỷ bỏ di chúc liên quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng, do vô hiệu, là 10 năm tính từ thời điểm mở thừa kế.

b) Trong trường hợp người hưởng di sản thờ cúng vi phạm nghĩa vụ thờ cúng, thì thời hiệu khởi kiện là 10 năm tính từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ thờ cúng”.

Yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu không giống như tuyên bố giao dịch dân sự thông thường, do người lập di chúc đã không còn sống để có thể đối chứng hay cung cấp chứng cứ chứng minh về sự vô hiệu của di chúc, mà người thừa kế có thể là người ở xa, hoặc là người chưa thành niên hoặc là con (bị bỏ rơi, thất lạc…) chưa có điều kiện để xin xác định cha, mẹ ruột. Do đó, quy định như trên vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế khi có sự giả mạo di chúc hoặc di chúc vô hiệu, vừa bảo đảm sự trong sáng và nghiêm túc trong việc thực hiện nghĩa vụ thờ cúng của người được chỉ định trong di chúc để lo việc thờ cúng.

3. Quy định tại Điều 648 chưa tính đến quy định của điều 671 về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung

Vợ, chồng có quyền lập di chúc chung và xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung (Xem Hộp 3).

———————————————————————————————————

Hộp 3: Điều 671 của BLDS quy định: “…nếu vợ, chồng có thoả thuận trong di chúc về thời

điểm hiệu lực của di chúc thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó”.

———————————————————————————————————

Nếu người vợ (hay người chồng) vẫn còn sống sau 10 năm từ thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của người chồng (hay người vợ) đã chết trước, thì những người thừa kế của người chết trước không còn quyền khởi kiện để đòi quyền thừa kế. Việc không khởi kiện được không phải do sự kiện bất khả kháng, cũng không do trở ngại khách quan, mà do di chúc chưa có hiệu lực thi hành. Do đó, quy định tại Điều 648 về thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm, nếu áp dụng cho trường hợp di chúc chung quy định tại Điều 671 thì thời hiệu khởi kiện thừa kế sẽ bị rút ngắn, thậm chí bị triệt tiêu, nếu người còn lại vẫn sống đến hơn 10 năm sau khi mở thừa kế của người chết trước. Khi điều này xảy ra mà thời hiệu khởi kiện không được cộng thêm tương ứng, thì quyền khởi kiện của những người thừa kế hợp pháp của người chết trước sẽ không được đảm bảo.

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị bổ sung nội dung quy định về các trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện và thiết kế thành một điểm mới trong một khoản mới của Điều 648 (Xem Hộp 4).

———————————————————————————————————

Hộp 4: Đề xuất khoản mới, Điều 648 “Ngoài những trường hợp quy định tại Điều 170 của Bộ luật này, những trường hợp sau đây cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện thừa kế:

a). Khoảng thời gian từ thời điểm mở thừa kế của người chết trước cho đến thời điểm mở thừa kế của người chết sau, nếu vợ, chồng thoả thuận trong di chúc chung về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm người sau cùng chết theo quy định tại Điều 671 của Bộ luật này… ”

———————————————————————————————————

4. Quy định tại Điều 648 cũng chưa tính đến các trường hợp làm gián đoạn thời hiệu do hạn chế phân chia di sản theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế

Điều 689 quy định việc phân chia di sản bị giới hạn trong hai trường hợp: khi người để lại di sản nói rõ trong di chúc hoặc khi tất cả những người thừa kế thoả thuận hạn chế phân chia di sản trong một thời hạn nhất định, thì trong khoảng thời gian đó, di sản không được chia thừa kế.

Như vậy, việc hạn chế phân chia di sản trong những trường hợp nói trên sẽ làm cho thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế bị gián đoạn. Nếu thời gian này không được trừ ra thì thời hiệu khởi kiện đòi quyền thừa kế trên thực tế sẽ bị rút ngắn, thậm chí triệt tiêu. Ví dụ: ông A và bà B có tài sản chung là một căn nhà. Ông A lập di chúc để lại ngôi nhà cho vợ và các con là C, D, E nhưng lại nói rõ trong di chúc là các con C, D, E chỉ được chia thừa kế ngôi nhà khi mẹ của C, D, E (bà B) qua đời. Giả sử sau khi ông A chết, bà B còn sống thêm hơn 20 năm nữa, thì thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di chúc của ông A sẽ không còn.

Theo chúng tôi, việc hạn chế phân chia di sản trong các trường hợp này cũng không phải là do sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan vì thời hạn không khởi kiện chia di sản nói ở đây là dựa trên ý chí chủ quan của người lập di chúc, của những người thừa kế. Trong khi đó, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 1 Điều 170 của BLDS thì phải do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, tức những sự kiện mang tính khách quan, ngoài ý muốn của các bên chủ thể tham gia quan hệ, chứ không do ý chí chủ quan của người có quyền khởi kiện. Mặt khác, thời hiệu là thời hạn do luật định mà không ai có thể thoả thuận để kéo dài hay rút ngắn. Trên thực tế, việc người lập di chúc hoặc tất cả những người thừa kế thoả thuận về việc phân chia di sản đã làm cho thời hiệu khởi kiện bị rút ngắn, thay vì 10 năm như quy định của Điều 648. Do vậy, nếu khoảng thời gian hạn chế phân chia di sản không được cộng thêm vào thời hiệu, thì sẽ làm cho quyền khởi kiện của người thừa kế bị xâm phạm. Để khắc phục bất cập này, chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm nội dung này vào khoản 4 Điều 648 giống như trường hợp nói tại mục 2.3 trên đây và thiết kế thành điểm b.

Tương tự như trên, thời gian hạn chế phân chia di sản do Toà án tuyên bố theo quy định tại Điều 31 Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000 (LHN&GĐ) cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện 5.

Khoản 4 Điều 648 (bổ sung) sẽ có thêm các nội dung sau: “Ngoài những trường hợp quy định tại Điều 170 Bộ luật này, những trường hợp sau đây cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện thừa kế:

a) Khoảng thời gian từ thời điểm mở thừa kế của người chết trước cho đến thời điểm mở thừa kế của người chết sau, nếu vợ, chồng thoả thuận trong di chúc chung về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm người sau cùng chết theo quy định tại Điều 671 Bộ luật này;

b) Khoảng thời gian hạn chế phân chia di sản theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế theo quy định tại Điều 689 của Bộ luật này;

c) Khoảng thời gian hạn chế phân chia di sản khi toà án tuyên bố hạn chế phân chia di sản theo yêu cầu của một bên vợ, chồng còn sống theo quy định tại Điều 31 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn của Luật này”

5. Đối chiếu với quy định tại Điều 171 thì Điều 648 chưa quy định rõ các trường hợp mà thời hiệu khởi kiện thừa kế phải được tính lại từ đầu

Theo quy định tại Điều 171, khoản 1, điểm c, thì thời hiệu khởi kiện được tính lại từ đầu khi các bên tự hoà giải với nhau. Như vậy, nếu những người thừa kế có thoả thuận được với nhau thì thời hiệu khởi kiện thừa kế 10 năm sẽ được tính từ ngày thoả thuận giữa những người được xác lập, chứ không tính từ ngày mở thừa kế như quy định tại Điều 648. Tuy nhiên, quy định này cũng có nhiều ý kiến chưa thống nhất.

ý kiến thứ nhất cho rằng, trong quá trình giải quyết tranh chấp di sản, nếu những người thừa kế hoà giải, thoả thuận được với nhau thì thời hiệu khởi kiện thừa kế sẽ bắt đầu lại theo quy định tại Điều 171, khoản 1, điểm c như vừa trình bày.

ý kiến thứ hai cho rằng, căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện quy định ở Điều 171 khoản 1, điểm c chỉ có thể áp dụng với giao dịch dân sự chứ không áp dụng đối với mọi loại thời hiệu khởi kiện, nên không áp dụng đối với thời hiệu khởi kiện về thừa kế.

Quan điểm thứ nhất không hoàn toàn thuyết phục, vì trong trường hợp hoà giải của đương sự đã được toà án công nhận bằng một quyết định hay bản án có hiệu lực pháp luật, thì người tham gia tố tụng không được khởi kiện lại vì vụ án đã được giải quyết, trừ trường hợp hoà giải và rút đơn kiện. Còn hoà giải sau khi thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết thì cũng không bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vì người thừa kế không còn quyền khởi kiện. Quan điểm thứ hai rõ ràng là suy đoán chủ quan, vì quy định tại Điều 171 của BLDS không quy định điều luật này chỉ áp dụng cho thời hiệu khởi kiện đối với các giao dịch dân sự mà không áp dụng cho thời hiệu khởi kiện thừa kế. Vì thế, khi những người thừa kế thoả thuận, hoà giải được với nhau thì sự kiện đó cũng làm cho thời hiệu khởi kiện thừa kế được bắt đầu lại, nếu hội đủ các điều kiện pháp luật quy định.

6. Thừa kế di sản là tài sản chung của vợ, chồng trong trường hợp thời hiệu khởi kiện đòi chia thừa kế đối với di sản của người chết trước đã hết, nhưng thời hiệu khởi kiện đối với phần di sản của người chết sau vẫn còn trong hạn luật định

Thực tế có nhiều trường hợp người vợ và người chồng chết cách nhau quá 10 năm Nay các thừa kế tranh chấp di sản là tài sản chung của họ, thì giải quyết như thế nào?

dụ: ông A và bà B có 3 người con là C, D, E. Tài sản chung của ông và bà B là ngôi nhà trị giá 600 triệu đồng. Ông A chết năm 1991, bà B và anh C vẫn ở trong ngôi nhà. Bà B chết năm 2002, anh C tiếp tục quản lý và sử dụng ngôi nhà chung của bố, mẹ. Năm 2003, E đã khởi kiện yêu cầu Toà án chia thừa kế ngôi nhà của bố, mẹ mà anh C đang quản lý, hưởng dụng. Vậy có nên Về trường hợp này, có 3 ý kiến khác nhau:

ý kiến thứ nhất cho rằng: từ khi ông A chết (năm 1991) đến khi E khởi kiện (năm 2003) là 12 năm, theo quy định tại Điều 36 PLTK thì thời hiệu khởi kiện đòi chia thừa kế của ông A đã hết. Yêu cầu của E chỉ được Toà án xem xét đối với phần di sản của bà B. Toà án không giải quyết yêu cầu của E liên quan đến phần di sản của ông A.

ý kiến thứ hai cho rằng: nhà ở là bất động sản, có thời hiệu xác lập quyền sở hữu là 30 năm, nên tuy thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với ông A không còn, nhưng người thừa kế vẫn có quyền khởi kiện đòi nhà theo quy định của pháp luật về quyền sở hữu tài sản. Bởi lẽ, thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết chỉ làm chấm dứt quyền khởi kiện của người thừa kế chứ không phải là căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với di sản.

ý kiến thứ ba cho rằng phần di sản của ông A do bà B quản lý, hưởng dụng từ khi ông A chết với tư cách là đồng sở hữu chủ. Trong thời gian bà B quản lý, nếu không có ai khởi kiện đòi chia thừa kế, thì phần di sản của ông A để lại cũng đã thuộc về bà B. Bà B được xác lập quyền sở hữu trên toàn bộ tài sản chung của vợ, chồng. Khi bà B chết, toàn bộ tài sản chung của bà với ông A phải được xem là tài sản riêng của bà B. Do đó, anh E có quyền đòi chia thừa kế đối với toàn bộ di sản.

Thực tế có Toà án đã đưa toàn bộ di sản của vợ, chồng ra chia thừa kế, có Toà án chỉ chia phần di sản của người chết sau, có Toà án không thụ lý giải quyết6. Toà Dân sự- TAND Tối cao đã hướng dẫn các Toà án địa phương giải quyết vấn đề này theo theo hướng chấp nhận một phần các ý kiến nêu trên và “tuỳ trường hợp mà xử lý…”7.

Theo quan điểm của chúng tôi, ý kiến của Toà dân sự – TAND tối cao như vừa trình bày cũng như cả ba ý kiến trên đều chưa có sự thuyết phục.

ý kiến thứ nhất trong nhiều trường hợp cũng chưa phù hợp, vì nếu con cái mà đi kiện người cha hay người mẹ còn sống, người đã sinh thành và nuôi dạy mình nên người, đuổi họ ra khỏi ngôi nhà là tài sản chung của họ với người quá cố, để chia thừa kế thì có đúng luật, nhưng không phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Ngược lại, nếu người thừa kế đã không khởi kiện trong thời hiệu, chờ đến khi người cha hoặc mẹ còn lại qua đời mới khởi kiện, thì việc ấy tuy có phù hợp với đạo đức, nhưng không được pháp luật công nhận. Căn cứ Điều 648 mà tuyên bố hết thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp này thì tuy hợp lý, nhưng không hợp tình.

ý kiến thứ hai cũng không thuyết phục vì còn vướng hai yêu cầu pháp lý: Một là, người thừa kế đã không có quyền khởi kiện về thừa kế do thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết; Hai là, trên thực tế, người thừa kế vẫn chưa có tư cách của sở hữu chủ (hoặc người chiếm hữu hợp pháp), nên họ không có tư cách pháp lý để khởi kiện người đang thực tế chiếm hữu di sản phải hoàn trả tài sản đó được.

ý kiến thứ ba cũng chưa hợp lý vì trên thực tế, thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản thừa kế của người chết trước đã hết. Sau 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà không có căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện hoặc không được kéo dài thời hiệu, thì thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết, người có quyền khởi kiện đã mất quyền khởi kiện. Mặt khác, sau

10 năm kể từ ngày mở thừa kế, di sản do người chết để lại cũng không đương nhiên thuộc quyền sở hữu của người vợ hay người chồng còn sống. Do vậy, khi người còn lại chết, phần tài sản của người vợ hay người chồng chết trước chưa phải là tài sản riêng của người chết sau, nên không phải là di sản của người chết sau. Công nhận tài sản chung của vợ, chồng là tài sản riêng của người chết sau để chia thừa kế là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế của người chết trước.

ý kiến của Toà dân sự -TAND tối cao, cũng còn nhiều sơ hở. Thứ nhất, đối với bất động sản như nhà, quyền sử dụng đất, công trình kiến trúc, v-ờn cây lâu năm… thì thời hiệu xác lập quyền sở hữu trong trường hợp tương ứng là 30 năm. Vì thế, chỉ với những di sản là bất động sản của người chết đã được người vợ hoặc chồng còn sống tiếp tục quản lý, hưởng dụng liên tục sau 30 năm kể từ ngày mở thừa kế, thì phần di sản đó mới được coi là tài sản riêng của của người vợ hoặc chồng còn sống. Lẽ tất nhiên, phần di sản của người vợ hay chồng chết trước để lại không thể trở thành di sản của người chết sau, nên không thể chia thừa kế cho người thừa kế của chết sau. Thứ hai, hướng dẫn của Toà Dân sự-TAND Tối cao chưa nhất quán trong hai trường hợp: người chết sau chỉ có thể để lại thừa kế đối với toàn bộ tài sản chung với người vợ hay người chồng chết

trước, nếu họ là người thừa kế duy nhất ở hàng thứ nhất của người chết trước và đang thực tế quản di sản; còn nếu người vợ hay chồng chết trước có nhiều người thừa kế ở hàng thứ nhất (bao gồm vợ hoặc chồng còn sống, cha, mẹ, các con) mà nay những người thừa kế ở hàng thứ nhất đó khởi kiện đòi thừa kế di sản của cả hai vợ chồng hoặc người chết sau không trực tiếp quản lý phần di sản do người chết trước để lại, thì Toà án chỉ có thể giải quyết đối với phần di sản của người chết sau (còn thời hiệu), còn đối phần di sản của người vợ hay người chồng chết trước thì tách ra không giải quyết. Chúng tôi không đồng ý với ý kiến này của Toà dân sự. Vì thật ra, hai trường hợp này không có gì khác nhau. Một câu hỏi mà chúng tôi rất lấy làm băn khoăn là nếu giải quyết theo hướng này, phần di sản của người vợ hay chồng chết trước không được chia thừa kế cho ai cả thì sẽ do ai hưởng, hưởng theo cơ sở pháp lý nào? Cần lưu ý là phần di sản đó cũng không thuộc về người vợ hay chồng chết sau vì nếu phần di sản đó thuộc quyền sở hữu của người chết sau thì đã được chia thừa kế cho những người thừa kế của họ. Nếu câu hỏi này không được phúc đáp, thì việc tranh chấp sẽ càng trở nên phức tạp hơn, do phần di sản của người chết trước được tách ra, không được toà án giải quyết nhưng chúng cũng chẳng thuộc quyền sở hữu của ai cả. Về pháp lý, người thực tế đang quản lý di sản cũng không thể xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản của người chết trước để lại, do thủ tục hành chính đòi hỏi phải có bằng chứng về việc được hưởng thừa kế hợp pháp (di chúc hợp pháp chỉ định họ được hưởng thừa kế phần đó) hoặc có sự thoả thuận, cam kết của các đồng thừa kế giao tài sản đó cho họ hưởng (mà điều này thì không xảy ra, vì phần di sản đó đang bị tranh chấp). Còn nếu di sản thừa kế là một bất động sản không người thừa kế, thì Nhà nước xác lập quyền sở hữu theo quy chế hưởng tài sản vô chủ, mà như vậy thì thật vô lý và không phù hợp với tập quán.

Thực tiễn khá phổ biến trong xã hội ta hiện nay đối trường hợp một bên vợ hay chồng đã chết mà các con chung của họ chưa thành niên, thì người vợ hay chồng còn sống vẫn sẽ tiếp tục quản lý tài sản chung của vợ chồng và nuôi dạy các con. Trường hợp này, pháp luật quy định một bên còn sống đại diện cho con chưa thành niên và có quyền quản lý tài sản của các con để thực hiện việc chăm sóc và nuôi day chúng. Những người con chưa thành niên sẽ rất khó tự mình khởi kiện để đòi chia thừa kế di sản của người cha, mẹ đã chết để lại. Nếu sau này, những người con đó trưởng thành và muốn khởi kiện đòi chia thừa kế, nhưng thời hiệu khởi kiện chỉ được trừ ra có một năm như quy định tại Điều 170 của BLDS, thì quyền lợi hợp pháp của họ không được đảm bảo. Tình trạng không yêu cầu phân chia di sản là tài sản chung của vợ chồng khi một bên còn sống là hết sức phổ biến, vì không ai nỡ đuổi ông, bà hay cha, mẹ còn sống ra khởi nơi nương náu của gia đình để giành chia nhau tài sản.

Vì thế theo chúng tôi, không nên áp dụng máy móc Điều 648 để từ chối giải quyết yêu cầu chia thừa kế trong trường hợp trên. Cơ quan thực thi pháp luật nên giải quyết vấn đề này theo hướng cho phép con (hoặc cháu hay chắt được thừa kế thế vị) được hưởng quyền khởi kiện thừa kế, bắt đầu tính từ thời điểm người sau cùng chết, giống như trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện hoặc không tính vào thời hiệu khởi kiện7.

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan theo một trong ba phương án sau đây:

Phương án 1: Đối với phần di sản của người vợ hay người chồng đã chết mà người còn sống vẫn quản lý, hưởng dụng đến sau

10 năm tính từ ngày mở thừa kế, mà không có ai khởi kiện đòi chia thừa kế, thì người vợ hay người chồng còn sống được xác lập quyền sở hữu. Phương án này cho phép những người thừa kế của người chết sau (có thể họ đồng thời cũng là người thừa kế hợp pháp của người chết trước như con đẻ, con nuôi…) được quyền khởi kiện đòi chia thừa kế không chỉ đối với một phần di sản của người chết sau mà còn có thể đòi thừa kế trên toàn bộ di sản. Tuy vậy, phương án này có những điều khó khăn sau đây:

(i) Thứ nhất, để có thể áp dụng các quy định này, trước hết, phải sửa đổi, bổ sung thêm quy định tại Điều 176 của BLDS về căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu: “Người vợ hay chồng còn sống trực tiếp quản lý, hưởng dụng đối với phần di sản của người đã chết trong khối tài sản chung của vợ, chồng cho đến khi hết thời hiệu khởi kiện thì được xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản đó”; đồng thời bổ sung khoản 5 Điều 648 về căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản đã hết thời hiệu khởi kiện: “Khi thời hiệu khởi kiện đã hết thì người thừa kế đang trực tiếp quản lý di sản được xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản đó”.

(ii) Thứ hai, phương án này tạo ra bất hợp lý là những người thừa kế hợp pháp của người chết sau không đồng thời là người thừa kế của người chết trước (như cha, mẹ, con riêng, con nuôi, vợ, chồng, con với đời vợ hay đời chồng sau…) cũng được hưởng toàn bộ tài sản chung của vợ, chồng người chết sau và người chết trước, trong khi những người thừa kế khác ở hàng thứ nhất của người chết trước (con riêng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi…) lại bị mất quyền khởi kiện.

Phương án 2: kéo dài thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với bất động sản sao cho có thời hiệu tương ứng với thời hiệu xác lập quyền sở hữu đối với bất động sản quy định tại khoản 1, Điều 255 của BLDS. Do đó, sửa đổi Điều 640 theo hướng quy định về hai thời hiệu khởi kiện khác nhau: “thời hiệu khởi kiện thừa kế di sản đối với động sản là 10 năm và đối với bất động sản là 30 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế”. Phương án cũng sẽ có những vấn đề phức tạp như sau:

(i) Quy định không nhất quán về thời hiệu khởi kiện thừa kế sẽ làm cho việc xét xử loại việc này trở nên rắc rối và phức tạp;

(ii) Thời hiệu khởi kiện 30 năm là đồng nhất với thời hiệu xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu và thực tế chứng minh, thời hiệu như thế là quá dài, nhiều trường hợp di sản hoặc không còn tồn tại hoặc do sự biến thiên lớn về giá trị khiến cho việc xác định giá trị di sản để chia thừa kế là rất khó khăn;

(iii) Vẫn không khuyến khích việc duy trì đạo hiếu của người Việt Nam đối với ông, bà, cha, mẹ vì nếu người thừa kế không kiện trong thời hiệu luật định thì họ vẫn lại mất quyền khởi kiện…

Phương án 3: bổ sung thêm một căn cứ làm gián đoạn thời hiệu khởi kiện là trường hợp: người thừa kế là con, cháu của người chết đã không kiện để tranh giành di sản thừa kế do một bên chết để lại, khi một bên vợ hoặc chồng của người để lại di sản đang còn sống. Phương án này cũng có những điểm khó khăn do khoảng thời gian không tính vào thời hiệu là khá dài, nên những biến đổi trong quá trình tôn tạo, tu bổ hoặc quá trình hao mòn, tiêu huỷ của khối di sản dẫn đến việc xác định giá trị ban đầu của di sản là rất khó khăn. Tuy vậy, theo chúng tôi, phương án 3 là phương án tối ưu hơn cả so với hai phương án 1 và 2. Chỉ lưu ý rằng, phương án này chỉ áp dụng hạn chế trong một trường hợp duy nhất đối với con, cháu có quyền khởi kiện đòi chia thừa kế của cha, mẹ hoặc ông bà, nhưng đã không khởi kiện vì một bên vợ hay chồng còn sống và đang quản lý tải sản là cha-mẹ hoặc ông bà của mình, tránh làm ảnh hưởng tới cuộc sống của người đang thực tế quản lý tài sản (ví dụ: người quản lý, hưởng dụng đang bệnh nặng, hoặc là người già yếu, hoặc đang mang thai, đang nuôi con nhỏ hoặc nuôi cả gia đình…).

Bởi thế, chúng tôi chọn phương án ba để kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế, cụ thể là thiết kế thành điểm d, khoản 4 (bổ sung) Điều 648 như sau:

“Ngoài những trường hợp quy định tại Điều 170 Bộ luật này, những trường hợp sau đây cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện thừa kế:

d). Khoảng thời gian từ khi mở thừa kế di sản của người chết trước cho đến khi mở thừa kế của người chết sau, trong trường hợp di sản là tài sản chung của vợ, chồng chết vào hai thời điểm khác nhau và người có quyền khởi kiện là các con hoặc cháu hay chắt của họ”.

=======================================================

1 Báo cáo tham luận của Toà dân sự TAND tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành toà án năm 2003 có đưa ra hai phương án như sau:

– Phương án 1: áp dụng quy định tại Điều 648, BLDS để hướng dẫn thời hiệu khởi kiện là 10 năm.

– Phương án 2: Do BLDS không quy định thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp nói trên, nên thời hiệu khởi kiện loại việc này không bị hạn chế về thời gian.

2 Xem Nghị quyết ngày 28-10-1995 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự Thông t– liên ngành số 03 ngày 10/8/1996 của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

3 Xem Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam 2000: Điều 30 (thời hiệu 3 năm), Luật Th-ơng mại Việt Nam 1997: Điều 242 (2 năm), Luật Hàng không Dân dụng Việt Nam 1991: Điều 81 (1 năm), Bộ luật Dân sự Sài Gòn 1972:

các Điều 1475-1478, Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp: Điều 91, Bộ luật Dân sự CHLB Đức: Điều 196, Những nguyên tắc chung của Luật Dân sự CHND Trung Hoa 1986: Điều 135- 136, Bộ luật Dân sự Nhật Bản: Điều 173- 174 cũng quy định thời hiệu khởi kiện từ 1-4 năm đối với các loại nghĩa vụ trên.

4 Đời thứ nhất từ thời bố mẹ của cụ (gọi cao tổ); các cụ ( tăng tổ) là đời thứ hai; ông – bà là đời thứ ba, cha mẹ đời thứ , con cháu đời thứ năm. Do đó, từ đời cao tổ trở về trước thì không cúng giỗ riêng cúng giỗ chung một lần vào đầu năm.

5 Điều 31 LHN&GĐ cũng quy định trường hợp việc phân chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của một bên vợ hoặc chồng còn sống, thì bên còn sống quyền yêu cầu toà án chưa chia di sản trong một thời hạn nhất định. Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định này tại điểm b, mục 4 Nghị quyết 02/NQ-HĐTP ngày 23 – 12 – 2000 xác định thời gian chưa chia di sản trong trường hợp nói trên là 3 năm.

6 Xem báo cáo tham luận của Toà án Dân sự –TAND tối cao tại hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 2003, tr.5.

6 Báo cáo tham luận của Toà án dân sự- TAND tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 2003, tr.5 hướng dẫn về vấn đề này như sau: “…đối với loại việc này, tuỳ từng trường hợp mà xử lý như sau:

+Nếu người vợ hoặc người chồng chết trước chỉ một người thừa kế hàng thứ nhất chính người vợ hoặc người chồng còn sống, họ đã thực hiện trên thực tế việc hưởng quyền thừa kế của người chết trước thì khối tài sản của họ đã bao gồm phần di sản của người chết trước. Do đó không cần tách bạch phần di sản của người chết trước với phần di sản của người chết sau. Hay nói cách khác, thời hiệu khởi kiện đối với phần di sản của người vợ hay người chồng chết trước đã hết không ảnh hưởng đến việc những người thừa kế của người chết sau xin chia toàn bộ khối di sản đó. Còn nếu người thừa kế hàng thứ 2, thứ 3 của người chết trước xin hưởng di sản của người chết trước thì toà án không chấp nhận đơn của họ.

+ Nếu phần di sản của người vợ hoặc người chồng chết trước chưa chuyển hoá sang người khác, nay thời hiệu khởi kiện không còn, các thừa kế kiện yêu cầu chia di sản của người này thì toà án không thụ lý giải quyết nếu họ xin chia thừa kế của người vợ hoặc người chồng chết sau (còn thời hiệu) thì thụ giải quyết, toà án cần tách bạch phần di sản của người chết trước người chết sau toà án chỉ cần giải quyết phần di sản của người chết sau còn thời hiệu khởi kiện theo thủ tục chung”. (Phần di sản hết thời hiệu khởi kiện thì áp dụng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự để trả lại đơn khởi kiện, nếu chưa thụ lý (Khoản 2, Điều 36) hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu đã thụ lý (khoản 4, Điều 46).

7 Trong tình huống này thì cả hai trường hợp trên đều tương tự như nhau khoảng thời gian từ khi mở thừa kế di sản của người chết trước cho đến khi mở thừa kế của người chết sau khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện. Điều này đồng nghĩa với việc chưa từng áp dụng thời hiệu, nên thời hiệu vẫn tính lại từ đầu 10 năm từ ngày người sau cùng chết.

========================================

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 9/2004

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS NGUYỄN MINH TUẤN VỀ ĐỀ TÀI “CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ”.

Chuyên ngành: Luật dân sự; Mã số62.38.30.01; Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Hà Thị Mai Hiên; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

Những đóng góp mới của luận án:

– Theo khái niệm truyền thống, tài sản là vật đã có và quyền tài sản trị giá được bằng tiền. Luận án phát triển khái niệm tài sản không những là vật đã có mà còn là vật đang hình thành(nhà ở đang xây dựng, hoa lợi chuẩn bị thu hoạch…), quyền tài sản là quyền trị giá bằng tiền và quyền yêu cầu người khác thực hiện một nghĩa vụ tài sản(quyền đối với bất động sản liền kề, quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng…).

– “Di sản là tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết”. Đây là khái niệm chưa khoa học, chưa thể hiện được sự phát triển khách quan của sự vật. Luận án mở rộng khái niệm di sản là tất cả tài sản của người chết và các tài sản khác phát sinh khi người để lại thừa kế chết(như hoa lợi, lợi tức, tiền bảo hiểm tính mạng sức khoẻ, quyền và các lợi ích khác phát sinh từ di sản…).

– Quyền của người thừa kế là quyền hưởng di sản. Luận án phát triển khái niệm quyền của người thừa kế là quyền hưởng di sản và các quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh bằng quyền hưởng di sản.

– Luận án xây dựng các khái niệm mới :

+ Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế và các chủ thể khác tham gia quan hệ thừa kế.

+ Thời điểm phát sịnh quyền sở hữu của người thừa kế đối với di sản, là thời điểm người thừa kế thể hiện ý chí nhận di sản mà không phụ thuộc vào việc chia di sản.

+ Di tặng là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, nhằm tặng cho người khác tài sản sau khi chết. Di tặng là hợp đồng tặng cho có điều kiện làm phát sinh hiệu lực, vì vậy người hưởng di tặng có quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng tặng cho mà không có nghĩa vụ của người thừa kế.

– Luận án làm rõ mối liên hệ giữa quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế. Quyền sở hữu tư nhân là tiền đề làm phát sinh quyền thừa kế, mặt khác quyền thừa kế là một trong những căn cứ quan trọng làm phát sinh quyền sở hữu tư nhân.

– Hiện nay, thời hiệu của thừa kế là 10 năm. Hết thời hiệu, người thừa kế mất quyền khởi kiện. Tuy nhiên, thời hiệu xác lập quyền sở hữu đối với bất động sản là 30 năm. Hai loại thời hiệu này không đồng nhất, vì vậy không xử lý được di sản đã hết thời hiệu thừa kế. Luận án làm rõ sự tương thích giữa hai loại thời hiệu này là 30 năm.

– Luận án đã đưa ra phương án sửa đổi, bổ sung   các Điều: 632, 634, 635, 636, 637, 642, 643, 644, 645 BLDS.

======= *********** ========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

NHIỀU QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT CÒN MÂU THUẪN

QUỐC PHONG

Hiện nay, trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xảy ra tình trạng các luật quy định một nội dung giống nhau nhưng lại không thống nhất với nhau. Việc không thống nhất giữa quy định của pháp luật dẫn đến khó khăn khi vận dụng vào thực tiễn. Xin phân tích một ví dụ để chứng minh.

Bộ luật Dân sự có quy định di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc được thể hiện thông qua hai hình thức là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng.
Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự quy định về hình thức di chúc miệng như sau: trong trường hợp tính mạng của một người bị cái chết đe dọa di bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Và: di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng.
Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự thì di chúc miệng chỉ được lập trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, đó là tính mạng của người để lại di chúc bị đe dọa, được hiểu là người di chúc không còn khả năng hoặc không thể lập di chúc bằng văn bản. Và nếu sau một thời gian, do pháp luật quy định mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn sáng suốt thì di chúc miệng đó mặc nhiên vô hiệu. Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận tính hợp pháp di chúc miệng với những điều kiện hết sức chặt chẽ. Tuy nhiên, với những quy định hiện hành thì di chúc miệng có còn là một loại hình di chúc hợp pháp nữa hay không và việc để lại di chúc miệng có thể thực hiện được không?
Luật Công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29.11.2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2007 quy định rất cụ thể về thủ tục công chứng. Điều 48 Luật công chứng có quy định về công chứng di chúc người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác công chứng di chúc… Quy định này của Luật công chứng chỉ đúng với trường hợp thực hiện công chứng đối với di chúc được lập thành văn bản. Còn đối với di chúc miệng thì người di chúc đã trong hoàn cảnh đặc biệt bị cái chết đe dọa thì không thể tự mình yêu cầu công chứng được. Nếu buộc người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc thì không còn tồn tại loại hình di chúc miệng nữa. Vì, nếu người để lại di chúc miệng có thể tự mình yêu cầu công chứng thì trong mọi trường hợp ý chí đó sẽ được công chứng viên ghi chép lại, có nghĩa là đều được thể hiện bằng văn bản, và thực hiện công chứng đối với văn bản được thành lập theo cách như vậy.
Nhưng pháp luật dân sự đã quy định, trường hợp để lại di chúc miệng là phải trước mặt hai người làm chứng và những lời di chúc đó sẽ được ghi chép lạicông chứng trong thời hạn năm ngày, sau thời hạn này di chúc mới được coi là hợp pháp. Hai người làm chứng sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác trong việc thể hiện ý chí cuối cùng của người di chúc. Như vậy, có thể thấy rằng với quy định trên, Luật Công chứng đã phủ nhận hoàn toàn tính hợp pháp của loại hình di chúc miệng và, với quy định đó thì chỉ tồn tại duy nhất một loại hình di chúc, đó là di chúc bằng văn bản.
Từ những phân tích trên cho thấy, giữa các luật quy định về cùng một nội dung đã xảy ra những sự mâu thuẫn với nhau. Chính sự mâu thuẫn này đã dẫn đến tình trạng vô hiệu hóa các quy định pháp luật trong các luật khác nhau, gây ra tình trạng khó áp dụng trong thực tiễn những quy định của pháp luật. Đây là vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật hiện nay.

SOURCE:  BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ THỪA KẾ: MỐC ĐỂ TÍNH LÀ KHI NỘP ĐƠN KHỞI KIỆN

LÊ KIÊN – PLTP HCM

Thời gian qua, nhiều tòa án địa phương đã lúng túng, thậm chí xử lý sai những vụ án tranh chấp di sản thừa kế liên quan đến hướng dẫn trong nghị quyết 02 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (về thời hiệu khởi kiện và cách phân chia di sản). Cạnh đó, Nghị quyết 1037 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người VN định cư ở nước ngoài tham gia cũng đã gây ra những cách hiểu khác nhau.

Bên lề hội nghị toàn quốc của ngành tòa án, chúng tôi đã trao đổi với lãnh đạo TAND tối cao để làm rõ các nội dung này.

Hai trường hợp không tính thời hiệu

Phó Chánh án TAND tối cao Nguyễn Như Bích cho biết tại Nghị quyết 02 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn có hai trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.

Thứ nhất là trong thời hạn mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế thì tài sản thành di sản chung. Khi xảy ra tranh chấp thì không tính thời hiệu và tòa sẽ tiến hành chia tài sản theo di chúc hoặc chia theo thỏa thuận của các đồng thừa kế.

Thứ hai là di sản người chết để lại nhưng do người ngoài quản lý, còn các thừa kế không quản lý, không biết gì về di sản. Thực tế có những trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau mà sau một thời gian dài đương sự mới phát hiện đó là tài sản của cha mẹ và chưa chia, nay họ muốn đòi lại thì không tính thời hiệu khởi kiện. Một số tòa án thời gian qua đã không nhận thức rõ vấn đề này nên vẫn tính thời hiệu khởi kiện là sai.

Còn thời hiệu phần nào, làm phần đó

Một vấn đề khác là nếu đương sự khởi kiện đòi chia di sản thừa kế mà trong khối di sản này có cả phần tài sản còn thời hiệu lẫn phần tài sản hết thời hiệu thì các tòa có thụ lý, giải quyết?

Theo Chánh tòa dân sự TAND tối cao Tưởng Duy Lượng, tòa án có thẩm quyền phải nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án nếu như đương sự thực hiện đúng quy định tại Điều 164, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự và nộp tiền tạm ứng án phí (với trường hợp phải nộp)

Mốc để tính thời hiệu khởi kiện về thừa kế còn hay hết là vào lúc đương sự có đơn khởi kiện tại tòa án chứ không phải từ thời điểm thụ lý như một số tòa vẫn áp dụng. Khi giải quyết, tòa chỉ phân chia theo yêu cầu của các bên đương sự đối với phần di sản còn thời hiệu khởi kiện, phần di sản hết thời hiệu thì không “đụng” tới.

Không cần chờ hướng dẫn

Việc kiện tụng liên quan đến giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991, có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia: Tòa phải thụ lý, không cần chờ hướng dẫn của TAND tối cao!

Nghị quyết 1037 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người VN định cư ở nước ngoài tham gia đã gây ra một số cách hiểu khác nhau. Một số tòa án địa phương đã từ chối thụ lý các vụ án dạng này với lý do chưa có hướng dẫn của TAND tối cao. Người dân thì hoang mang vì sợ hết thời hiệu khởi kiện (hai năm) theo Bộ luật Dân sự.

Theo ông Tưởng Duy Lượng, những quy định trong Nghị quyết 1037 đã khá rõ, các tòa án địa phương hoàn toàn có thể giải quyết được mà không phải đợi hướng dẫn của TAND tối cao. Việc chậm hướng dẫn Nghị quyết 1037 không ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện theo BLDS vì thời hiệu hai năm này cũng được xác định còn hay hết với mốc là lúc tòa nhận đơn của đương sự.

Ông Lượng giải thích cụ thể: Nếu người khởi kiện đã thực hiện đúng quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tòa án phải nhận đơn kiện và tiến hành xử lý theo quy định. Đối với các trường hợp tòa án đã tạm đình chỉ theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, Kỳ họp thứ 8 và Nghị quyết 58 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì phải tiếp tục giải quyết ngay. Tòa án các cấp không chỉ áp dụng Nghị quyết 1037 mà còn phải áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự tương ứng với giai đoạn tạm đình chỉ để giải quyết.

Tòa đã thụ lý: Không cần thông báo!

Ngoài ra, theo ông Lượng, đối với một số loại việc như thuê nhà ở, mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở theo quy định của Nghị quyết 1037, khi chủ nhà muốn lấy lại nhà phải thực hiện thủ tục thông báo bằng văn bản theo đúng hạn định của pháp luật. Do đó, gặp trường hợp các đương sự mới bắt đầu khởi kiện mà chưa thực hiện việc thông báo cho phía bên kia theo đúng Nghị quyết 1037 thì tòa án trả lại đơn kiện.

Tuy nhiên, đối với tòa án các cấp đã thụ lý hoặc đã chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm…, sau đó phải tạm đình chỉ theo nghị quyết của Quốc hội, nay lý do tạm đình chỉ không còn (Nghị quyết 1037 có hiệu lực), tòa án tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết thì không yêu cầu đương sự phải tiến hành thủ tục thông báo. Trường hợp tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm huỷ các bản án, giao hồ sơ về cho tòa án cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm giải quyết lại thì cũng không yêu cầu đương sự phải tiến hành thủ tục thông báo!

SOURCE: http://www.tuoitre.com.vn

VIỆC THỪA KẾ TẠI PHÁP ĐƯỢC GIẢI QUYẾT RA SAO

Một người thân vừa mới qua đời tại Pháp, không để lại di chúc. Người đã mất có thể là bố, mẹ, bác, cô, vợ, chồng, anh chị, em ruột hay anh chị em họ với một hoặc nhiều người sống tại Việt Nam. Xung quanh vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài, có nhiều câu hỏi sẽ đặt ra: Ai sẽ là người được hưởng thừa kế? Luật của Pháp có quy định giống luật Việt Nam về quyền thừa kế của vợ hoặc chồng goá hay không? Trình tự giải quyết thừa kế ở pháp được tiến hành ra sao? Đâu là những khoản phí phải trả? Trong hàng loạt vấn đề pháp lý, thuế khoá do việc mở thừaa kế sẽ đặt ra, vấn đề nào cần phải giải quyết trước? Điều gì nên làm và điều gì tuyệt đối không nên làm? Xin chia sẻ cùng các đồng nghiệp một vài hiểu biết về thủ tục thừa kế tiến hành tại Pháp.


Trình tự giải quyết.


Việc giải quyết thừa kế tại Pháp sẽ qua bốn giai đoạn và do một Công chứng viên, được nhà nước uỷ quyền, chịu trách nhiệm thực hiện.

 

Lập danh sách những người thừa kế.

 

Trong giai đoạn đầu tiên này, cần lập danh sách những người có quyền hưởng thừa kế và kỳ phần tương ứng của họ.

Để làm việc này, người công chứng viên yêu cầu thân nhân của người quá cố cung cấp tài liệu xác định những thành viên của gia đình mà việc thừa kế có thể sẽ liên hệ đến ( sổ hộ khẩu gia đình, thoả ước hôn nhân bản án ly dị…) tiếp theo, người công chứng viên tập hợp những giấy tờ thể hiện ý chí của người quá cố định đoạt một phần hay toàn bộ di sản thừa kế: di chúc, hợp đồng tặng cho tài sản giữa vợ chồng. Người công chứng viên sẽ tra cứu cơ sở dữ liệu tại Trung tâm lưu trữ di chúc để kiếm những di chúc mà người quá cố đã lập.


Xác định khối di sản thừa kế.

 

Trong giai đoạn này, Công chứng viên thống kê khối di sản người quá cố để lại, trong đó liệt kê tài sản có (gồm số dư tài khoản, chứng khoản, động sản, bất động sản) cùng với ước tính giá trị của nhưng tài sản này và những khoản nợ. Để làm việc này, người công chứng viên thu thập những giấy tờ như chứng từ sở hữu, giấy báo có ngân hàng, sổ tiết kiệm, hoá đơn… cho phép xác tài sản có và tài sản nợ trong khối di sản. Những người thừa kế cũng cần cung cấp cho người công chứng viên những giao dịch khác nhau người quá cố đã thực hiện như mua, bán, đổi chác, lập công ty, tặng cho.. Tuỳ theo từng trường hợp mà người công chứng viên lập bản tình trạng khối di sản hoặc lập bản kiểm kê tài sản.

 

Kê khai thừa kế.

 

Sau hai bước trên, công chứng viên thực hiện các thủ tục liên quan đến đăng ký bất động sản (do có sự chuyển dịch quyền sở hữu) và khai thừa kế gồm lập và gửi cho Cơ quan quản lý thế chấp Giấy chứng nhận bất động sản đối với tài sản trả thuế do cơ quan thuế vụ trong thời hạn 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế hoặc đề nghị trả chậm hoặc trả từng phần khoản thuế này.Những người thừa kế có thể quyết định trong giai đoạn này việc chia hoặc không chia, một phần hoặc toàn bộ di sản với lời tư vấn của công chứng viên.


Phân chia thực tế di sản thừa kế.

 

Việc phân chia thực tế khối di sản thừa kế là giai đoạn cuối cùng. Những người thừa kế có thể quyết định không phân chia khối di sản và trong trường hợp này, họ giữ chế độ sở hữu chung (theo phần) bao lâu tuỳ thích.

Tuy vậy, khi chế độ sở hữu chung tỏ ra không phù hợp, những người thừa kế (là đồng chủ sở hữu) có thể quyết định phân chia khối di sản. Về nguyên tắc, quyết định phân chia di sản có thể xảy ra bất cứ lúc nào và theo nguyên tắc tự chia và tự thoả thuận. Trong trường hợp có bất đồng nghiêm trọng (ví dụ như thành phần tài sản của mỗi suất thừa kế hay việc định giá những tài sản đó) tranh chấp sẽ do Toà án giải quyết (tốn thêm thời gian và tiền bạc cho vụ kiện dân sự).

 

Mất bao nhiêu thời gian ?

 

Thời gian giải quyết thừa kế tuỳ thuộc nhiều vào đặc điểm từng trường hợp. Trung bình là mất 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế. Đó cũng là thời hạn mà luật yêu cầu phải nộp các khoản thuế từ thừa kế. Nếu chậm nộp, thì sẽ phải chịu phạt 0,75%/tháng trên khoản tiền chậm nộp.

Ngoài những trình tự giải quyết chung nói trên, có thể có thêm những thủ tục đặc biệt và như vậy, thời gian sẽ kéo dài thêm vài ba tháng. Ví dụ, nếu có người thừa kế là vị thành niên hoặc người không có năng lực hành vi (đặt dưới chế độ giám hộ hoặc đỡ đầu), thì có thể phải triệu tập Hội đồng gia đình, tham khảo ý kiến của thẩm phán giám hộ hoặc xin phép những người này. Một số tài sản phải được xử lý đặc biệt như sản nghiệp thương mại, nông trại, doanh nghiệp cần phải duy trì hay cần chuyển quyền khai thác cho người khác. Đôi khi phải trưng cầu giám định hoặc người quản lý tư pháp. Việc tìm kiếm những người thừa kế theo luật hoặc theo di chúc đôi khi được trao cho chuyên gia phả hệ, và có thể nói trước thời gian tìm kiếm là bao lâu.

Còn có nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng đến quá trình giải quyết thừa kế, và đến thời hạn giải quyết như: Mức độ hoà thuận giữa những người thừa kế, tầm quan trọng của khối di sản hoặc khoản nợ, sự xuất hiện người thừa kế nước ngoài hoặc tài sản thừa kế nằm ở nước ngoài.

 

Chi phí ?

 

Những chi phí mà những người thừa kế trả trong quá trình giải quyết thừa kế tại Pháp sẽ bao gồm 3 loại: Thuế trả cho Nhà nước Pháp (gồm thuế thu nhập từ thừa kế giao động từ 5% đến 60% tuỳ theo mức độ gần gũi giữa người thừa kế và người để lại thừa kế và giá trị tài sản được nhận, thuế tem, thuế trên giá trị gia tăng do chuyển nhượng bất động sản), các chi phí mà Công chứng viên đã chi (chi phí để xin một số giấy tờ bắt buộc, lệ phí đăng ký bất động sản) và tiền thù lao của công chứng viên chịu trách nhiệm giải quyết thừa kế (theo biểu thù lao Nhà nước qui định).


=========================

Luật sư Trần Nguyên Hạnh

Văn Phòng Luật sư Nam Á

Ngun thông tin: http://www.luatsuhanoi. org.vn