THỦ TỤC CÔNG CHỨNG VĂN BẢN THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THEO QUI ĐỊNH CỦA LUẬT CÔNG CHỨNG

PHAN THỦY – Vụ Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp

Việc phân chia di sản là một trong những vấn đề đang được nhiều người quan tâm khi có di chúc hoặc không có di chúc của người thân trong gia đình để lại. Xã hội phát triển kéo theo nhiều nhu cầu của người dân đòi hỏi pháp luật ngày càng phải hoàn thiện. Luật công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 đã có các quy định về thủ tục công chứng Di chúc, công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản, công chứng Văn bản khai nhận di sản, công chứng Văn bản từ chối nhận di sản và Nhận lưu giữ di chúc.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng nhiều của những người đang muốn tìm hiểu về việc công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản quy định trong Luật công chứng, xin được giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Trước hết cần tìm hiểu về quy định phân chia di sản trong Bộ luật dân sự năm 2005 cho thấy: tại chương XXV quy định về Thanh toán và phân chia di sản trong đó có Phân chia di sản theo di chúc (Điều 684) và Phân chia di sản theo Pháp luật (Điều 685 ).

Đối với việc phân chia di sản theo di chúc thì: việc phân chia này được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc, nếu trong di chúc đó không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản phải chia đều cho từng người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Continue reading

Thủ tục công chứng văn vản thỏa thuận phân chia di sản THEO QUI ĐỊNH CỦA LUẬT CÔNG CHỨNG

PHAN THỦY – Vụ Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp

Việc phân chia di sản là một trong những vấn đề đang được nhiều người quan tâm khi có di chúc hoặc không có di chúc của người thân trong gia đình để lại. Xã hội phát triển kéo theo nhiều nhu cầu của người dân đòi hỏi pháp luật ngày càng phải hoàn thiện. Luật công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 đã có các quy định về thủ tục công chứng Di chúc, công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản, công chứng Văn bản khai nhận di sản, công chứng Văn bản từ chối nhận di sản và Nhận lưu giữ di chúc.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng nhiều của những người đang muốn tìm hiểu về việc công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản quy định trong Luật công chứng, xin được giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Trước hết cần tìm hiểu về quy định phân chia di sản trong Bộ luật dân sự năm 2005 cho thấy: tại chương XXV quy định về Thanh toán và phân chia di sản trong đó có Phân chia di sản theo di chúc (Điều 684) và Phân chia di sản theo Pháp luật (Điều 685 ).

Đối với việc phân chia di sản theo di chúc thì: việc phân chia này được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc, nếu trong di chúc đó không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản phải chia đều cho từng người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Continue reading

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 68/1999/KHXX NGÀY 13 THÁNG 7 NĂM 1999 VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA DI SẢN THỪA KẾ LÀ NHÀ Ở MỞ TRƯỚC NGÀY 1-7-1991

Hà Nội, ngày 13 tháng 7 năm 1999

Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Long An

Sau khi nghiên cứu Công văn số 1031/CV.TA ngày 31-5-1999 của Toà án nhân dân tỉnh Long An trao đổi về vụ kiện tranh chấp thừa kế nhà ở mở trước ngày 1-7-1991 mà có đương sự là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20-8-1998 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội “Về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991” quy định: “Nghị quyết này không áp dụng đối với giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia”. Theo quy định này thì khi có tranh chấp phát sinh từ một trong tám loại giao dịch dân sự về nhà ở (bao gồm: thuê nhà ở; cho mượn, cho ở nhờ nhà ở; mua bán nhà ở; đổi nhà ở; tặng cho nhà ở; thừa kế nhà ở; quản lý nhà ở vắng chủ giữa cá nhân với cá nhân) đang thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 1-7-1991 giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức, nếu có một trong các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) là người Việt Nam định ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài, thì tuỳ từng trường hợp mà quý Toà xử lý theo hướng dẫn tại khoản 2 Mục II Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 25-1-1999 như sau:

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT DI SẢN THỪA KẾ – TIỀN GỬI CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

image NGUYỄN PHƯƠNG LINH

Trong những năm qua, nhờ có chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nước mà nhiều người dân được ra nước ngoài sinh sống bằng những hình thức khác nhau, như: đi lao động có thời hạn, đi học, đi du lịch, đi nghiên cứu và khảo sát thị trường, kết hôn với người nước ngoài … Sau nhiều năm “bôn ba, sinh sống” ở nước ngoài, nhiều người đã quay trở về Việt Nam để sống những ngày còn lại của cuộc đời, thể hiện một bản sắc văn hoá riêng của dân tộc Việt Nam “hướng về cội nguồn lúc tuổi già”. Nhiều người trong số đó đã dùng những đồng vốn, kinh nghiệm và kiến thức tích lũy được trong những năm sinh sống ở nước ngoài để đầu tư, xây dựng quê hương đất nước.

Ngân hàng được coi là một trong những địa chỉ tin cậy để những người Việt Nam từ nước ngoài trở về lựa chọn, gửi tiền. Tùy theo mục đích và sự lựa chọn của mình, người gửi tiền có thể gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn và được hưởng lãi theo lãi suất của kỳ hạn tương ứng do ngân hàng nơi nhận tiền gửi quy định. Hình thức gửi tiền tại ngân hàng có thể không mang lại lợi nhuận cao so với nhiều hình thức đầu tư khác, như: buôn bán bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu … nhưng hình thức đầu tư này an toàn hơn, ít rủi ro hơn.

Continue reading

Một số vấn đề pháp lý về giải quyết di sản thừa kế – TIỀN GỬI CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

image NGUYỄN PHƯƠNG LINH

Trong những năm qua, nhờ có chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nước mà nhiều người dân được ra nước ngoài sinh sống bằng những hình thức khác nhau, như: đi lao động có thời hạn, đi học, đi du lịch, đi nghiên cứu và khảo sát thị trường, kết hôn với người nước ngoài … Sau nhiều năm “bôn ba, sinh sống” ở nước ngoài, nhiều người đã quay trở về Việt Nam để sống những ngày còn lại của cuộc đời, thể hiện một bản sắc văn hoá riêng của dân tộc Việt Nam “hướng về cội nguồn lúc tuổi già”. Nhiều người trong số đó đã dùng những đồng vốn, kinh nghiệm và kiến thức tích lũy được trong những năm sinh sống ở nước ngoài để đầu tư, xây dựng quê hương đất nước.

Ngân hàng được coi là một trong những địa chỉ tin cậy để những người Việt Nam từ nước ngoài trở về lựa chọn, gửi tiền. Tùy theo mục đích và sự lựa chọn của mình, người gửi tiền có thể gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn và được hưởng lãi theo lãi suất của kỳ hạn tương ứng do ngân hàng nơi nhận tiền gửi quy định. Hình thức gửi tiền tại ngân hàng có thể không mang lại lợi nhuận cao so với nhiều hình thức đầu tư khác, như: buôn bán bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu … nhưng hình thức đầu tư này an toàn hơn, ít rủi ro hơn.

Continue reading

CÔNG VĂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 77/2003/HĐTP NGÀY 27 THÁNG 6 NĂM 2003 VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KỂ ĐỐI VỚI NHỮNG TRƯỜNG HỢP NAM – NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG TỪ NGÀY 3/1/1987 ĐẾN NGÀY 1/1/2001 CHƯA CÓ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN MÀ MỘT BÊN CHẾT TRƯỚC

Kính gửi: – Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

– Các Toà phúc thẩm, Toà dân sự toà án nhân dân tối cao

Ngày 16/4/2003 Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP “Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình” (gọi tắt là Nghị quyết số 01). Theo hướng dẫn tại điểm b mục 1 Phần II của Nghị quyết số 01 đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nếu sau ngày 01/01/2003 họ vẫn chưa đăng ký kết hôn mà có một bên chết trước và có tranh chấp về thừa kế thì trong khi chưa có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuỳ từng trường hợp mà Toà án xử lý như sau:

– Nếu chưa thụ lý vụ án thì không thụ lý;

– Nếu đã thụ lý vụ án và đang giải quyết thì ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án. Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỪA KẾ TIỀN GỬI NGÂN HÀNG

NGUYỄN THANH – Phòng Công chứng số 1 Quảng Ninh

Trong thời gian qua, có nhiều trường hợp cá nhân gửi tiền, vàng, kim khí quý, đá quý tại ngân hàng hoặc sở hữu giấy tờ có giá do ngân hàng, tổ chức tín dụng phát hành nhằm huy động tiền gửi, vốn (gọi chung là tiền gửi tại ngân hàng) qua đời. Từ đó phát sinh vấn đề về thừa kế những tài sản này, xác định ai là người được hưởng di sản, phần di sản được hưởng của mỗi người, pháp luật quy định áp dụng trong trường hợp này ra sao? Đặc biệt, rất phức tạp đối với những trường hợp có yếu tố nước ngoài (Ví dụ: Người để lại di sản là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.v.v..) Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trao đổi về một số tình huống xảy ra trong thực tế và hướng giải quyết.

1. Tổ chức tín dụng (TCTD) thanh toán trao trả tiền gửi cho những người được hưởng di sản dựa trên văn bản nào?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc thanh toán và phân chia di sản của người chết có thể được thực hiện tại Phòng Công chứng, Phòng Tư pháp, cơ quan ngoại giao được thực hiện việc công chứng, chứng thực trên cơ sở có yêu cầu của những người thừa kế. Ngoài ra, cơ quan toà án các cấp cũng là người tiến hành thanh toán và phân chia di sản trên cơ sở có đơn khởi kiện về thừa kế của người có quyền thừa kế, của người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Ngân hàng có thể dựa vào những văn bản về việc thanh toán, phân chia di sản đã được công chứng, chứng thực đúng thẩm quyền hoặc dựa vào bản án, quyết định có hiệu lực của toà án để tiến hành giao lại tài sản của người chết cho những người được hưởng di sản thừa kế.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 37/2006/DS-GDT NGÀY 06 THÁNG 11 NĂM 2006 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VỤ ÁN: "TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 06 tháng 11 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về quyền sở hữu tài sản (đòi nhà cho ở nhờ) và tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hàng Nguyệt Hoa, sinh năm 1930;

Trú tại: nhà số 492, đường Thống Nhất, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

B đơn: Ông Sử Chấn Quang, s inh năm 1953;

Trú tại: nhà số 1A, hẻm Nguyễn Thái Học, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (hiện đang định cư tại Mỹ).

Người quyn li, nghĩa v liên quan:

1. Bà Sử Thị Đẩu, sinh năm 1927;

Trú tại: nhà số 1A, hẻm Nguyễn Thái Học, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

2. Ông Sử Chấn Hùng, sinh năm 1945 (hiện đang định cư tại Mỹ); uỷ quyền cho anh Sử Chấn Quang đại diện tham gia tố tụng.

3. Bà Sử Thị Vàng, 93 tuổi (đã chết); hiện chưa xác minh được địa chỉ gia đình bà Vàng.

4. Ông Sử Văn Mà, sinh năm 1944 (đã chết); gia đình ông Mà đang trú tại: khu phố 2, phường Đông Hải, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

5. Ông Đào Thân Diệu (Đào Tỷ), sinh năm 1945;

Trú tại: nhà số 490, đường Thống Nhất, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

6. Bà Hàng Quỳnh Hoa, sinh năm 1928;

Trú tại: tổ 7, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 25/2006/DS-GDT NGÀY 2 THÁNG 10 NĂM 2006 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VỤ ÁN "TRANH CHẤP THỪA KẾ"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 02 tháng 10 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ngọc Huệ, sinh năm 1948; trú tại: nhà số 95, đường 30-4, phường Thanh Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

B đơn: Ông Trương Minh Hải, sinh năm 1954; trú tại: nhà số 205C, quốc lộ 15, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyn li, nghĩa v liên quan:

+ Bà Trương Thị Thu Thuỷ (Ri), sinh năm 1943; trú tại: 205C, quốc lộ 15, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

+ Bà Trương Thị Ngọc Hương, sinh năm 1940 (đang ở Thụy Sĩ);

+ Bà Trương Thị Kim Loan, sinh năm 1950 (đang ở Mỹ);

+ Bà Trương Thị Nga Hoàng, sinh năm 1933 (chết năm 1981, hiện các con bà đang ở Mỹ);

+ Bà Trương Thu Hà, sinh năm 1946 (đang ở Mỹ).

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 05/2006/DS-GDT NGÀY 05 THÁNG 4 NĂM 2006 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 05 tháng 4 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Bản, sinh năm 1926; trú tại: nhà số 27, phố Lê Lợi, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây.

B đơn: Ông Trương Gia Hải, sinh năm 1943; trú tại: nhà số 5, tổ 42, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Người có quyn li, nghĩa v liên quan:

+ Bà TrươngThị Nhân, sinh năm 1948; trú tại: tổ 19, phường Giáp Bát, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

+ Ông Lý Quang Hà, sinh năm 1957; trú tại: nhà số 57, ngõ 82 phố Phạm Ngọc Thạch, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 01/2006/DS-GDT NGÀY 21 THÁNG 2 NĂM 2006 VỀ VỤ ÁN "TRANH CHẤP THỪA KẾ"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 21 tháng 2 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Ông Lại Hữu Minh;

Ông Lại Hữu Hiền;

Ông Lại Hữu Lệ;

Cùng trú tại thôn Nghiêm Thôn, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Bà Lại Thị Tuyên: trú tại thôn Guột, xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Ông Lại Hữu Hiển: trú tại khu 1, xã Thị Cầu, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

2. B đơn: Anh Lại Hữu Vận: trú tại khu 3, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

 

Continue reading

NHỮNG VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ

THS. NGUYỄN VĂN MẠNH – Ban xây dựng pháp luật – Văn phòng Chính phủ

Bộ luật Dân sự năm 2005 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Để đảm bảo việc thi hành Bộ luật, hiện nay Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ đang soạn thảo, chuẩn bị ban hành các luật chuyên ngành, các pháp lệnh và nghị định hướng dẫn thi hành. Riêng về chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (có một số sửa đổi, bổ sung so với Bộ luật Dân sự năm 1995), thì có lẽ do đây là một chế định tương đối cụ thể, rõ ràng nên hiện nay vẫn chưa có kế hoạch xây dựng các văn bản dưới luật quy định chi tiết hay hướng dẫn thi hành1. Trong khi đó, việc áp dụng chế định này trong thực tiễn vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh cãi. Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng chế định thừa kế, tôi có một số ý kiến sau2:

1. Về quyền từ chối nhận di sản

Người thừa kế có quyền và nghĩa vụ kể từ thời điểm mở thừa kế3. Cùng với các quyền yêu cầu phân chia di sản, quyền nhận di sản… thì người thừa kế cũng có quyền từ chối nhận di sản. Theo quy định tại Điều 642 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”. Tuy nhiên, việc từ chối nhận di sản của người thừa kế không dễ dàng vì phải trải qua một loại các thủ tục sau:

Continue reading

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ (PHẦN 2)

THS. NGUYỄN VĂN MẠNH – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt: Tiếp theo số trước (số 3/2002), trong số này tác giả phân tích và đề xuất hướng hoàn thiện những quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995 về chế định thừa kế, cụ thể là thừa kế theo di chúc, những vấn đề nảy sinh trong việc truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, xử lý di sản dùng vào việc thờ cúng…

IV. Thừa kế theo di chúc

1. Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế

Khoản 1, Điều 651 của Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định người lập di chúc có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. Việc truất quyền hưởng di sản có thể được thực hiện thông qua hai hình thức:

– Truất trực tiếp: Người lập di chúc nêu rõ trong di chúc truất (không cho) một cá nhân nhất định được quyền thừa kế di sản.

– Truất gián tiếp: Người lập di chúc khi định đoạt phần di sản không chỉ định một cá nhân nhất định để nhận di sản.

Vấn đề đặt ra là: trong nhiều trường hợp, người lập di chúc không định đoạt hết tài sản của mình, hoặc trường hợp trong số những người thừa kế theo di chúc có người chết trước hoặc chết cùng người lập di chúc, hoặc trường hợp có người thừa kế từ chối nhận di sản. Khi này, những người bị truất quyền hưởng di sản có được thừa kế phần tài sản cha được định đoạt hay không?

Continue reading

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

THS. NGUYỄN VĂN MẠNH – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt: Chế định thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam. Hơn nữa, trong những năm gần đây, số vụ việc tranh chấp về thừa kế luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các tranh chấp dân sự và có tính phức tạp cao. Bởi vậy, nghiên cứu chế định thừa kế có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và đời sống thực tế. Với ý nghĩa đó, bài viết phân tích các quy định trong Bộ luật Dân sự về chế định thừa kế theo hướng đề xuất các phương án nhằm hoàn thiện chế định này trong Bộ luật Dân sự năm 1995.
I. Những quy định chung về thừa kế
Bộ luật Dân sự (BLDS) dành 15 điều (từ Điều 634 đến Điều 648 ) quy định những nguyên tắc chung về thừa kế. Đây là những quy định áp dụng cho cả hai trình tự thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật 1 . Nghiên cứu các quy phạm pháp luật cũng như quá trình áp dụng trong thực tiễn, chúng tôi nhận thấy cần phải làm rõ, bổ sung những điểm sau:
1. Người thừa kế
Pháp luật dân sự ghi nhận quyền thừa kế của cá nhân, tổ chức. Điều 638 BLDS quy định:
” 1. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
2. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải là cơ quan, tổ chức
tồn tại vào thời điểm mở thừa kế ” .

Continue reading

CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC TRẢ THÙ LAO CHO NGƯỜI QUẢN LÝ DI SẢN

TƯỞNG BẰNGLƯỢNG – Phó Chánh tòa Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

I. NGƯỜI QUẢN LÝ DI SẢN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC THANH TOÁN CÔNG SỨC CHO NGƯỜI QUẢN LÝ DI SẢN:

Khi một người chết có di sản để lại sẽ phát sinh quan hệ thừa kế. Thừa kế được mở kể từ thời điểm người để lại di sản chết. Nhưng trong thực tế ít có trường hợp ngay khi mở thừa kế đã diễn ra việc chia thừa kế. Thông thường việc chia thừa kế diễn ra sau đó một thời gian khá dài. Đặc biệt là các vụ tranh chấp thừa kế tại Tòa án thì hầu hết thừa kế đã mở từ lâu, có những vụ thời điểm mở thừa kế cách thời điểm tranh chấp từ 10 năm đến 30 – 40 năm, cá biệt có vụ còn lâu hơn, do đó sẽ xuất hiện “người quản lý di sản”.

Tuy pháp luật thừa kế được quy định từ sớm, nhưng các quy định ban đầu còn rất sơ lược và chung chung, mới chỉ đề cập đến một vài nguyên tắc cơ bản về thừa kế chứ chưa đề cập đến việc thanh toán công sức cho “người quản lý di sản”. Song, qua thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều hướng dẫn, trong đó phải kể đến Thông tư số 81 ngày 24/7/1981. Trong Thông tư này vấn đề thừa kế được quy định tương đối có hệ thống và cũng tại đây lần đầu tiên pháp luật của Nhà nước ta đề cập đến việc những người “có công nuôi dưỡng, chăm sóc người để lại di sản và người có công giữ gìn di sản của người đã chết, cần được chiếu cố” khi chia di sản. Continue reading

ĐỔI MỚI NỘI DUNG GIẢNG DẠY CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ TRONG MÔN LUẬT DÂN SỰ DƯỚI GÓC ĐỘ GIỚI

NGUYỄN HỒNG HẢI

I. Mục tiêu tổng quát:

Lồng ghép giới trong giảng dạy chế định thừa kế của môn Luật dân sự được dành cho đối tượng ngưòi học là sinh viên thuộc các hệ đào tạo bậc đại học của trường Đại học Luật Hà Nội (hệ chính qui, văn bằng hai, tại chức, chuyển cấp, trung cấp pháp lý) với mục tiêu tổng quát là:

Tng bước lng ghép gii trong xây dng Giáo trình, Giáo án, phương pháp ging dy v chế định tha kế hướng ti mc tiêuchung là tng bước thay đổi nhn thc và cách tiếp cn ca sinh viên khi nghiên cu các qui định pháp lut v tha kế dưới góc độ gii.

Continue reading

QUYỀN THỪA KẾ TRONG LUẬT LA MÃ CỔ ĐẠI

TS. NGUYỄN ĐÌNH HUY –  Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP.HCM

Khái niệm luật La Mã rất rộng, được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ luật La Mã là truyền thống luật La Mã trong lịch sử pháp luật châu Âu, dựa trên Bộ Luật Justinian; luật La Mã còn được hiểu là luật thông dụng (Ius Commune) được áp dụng ở hầu hết các nước châu Âu ; luật La Mã còn là một trường phái luật pháp theo xu hướng bảo tồn những nguyên tắc của luật La Mã… Thế nhưng khi nhắc đến khái niệm luật La Mã chúng ta phải hiểu rằng đó là luật pháp của nhà nước La Mã cổ đại kéo dài suốt 13 thế kỷ (từ thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ VI sau Công nguyên). Những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực xây dựng pháp luật của nhà nước La Mã là một trong những công trình văn hóa vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, có thể so sánh với Kim tự tháp của Ai Cập, Vạn lý trường thành của Trung quốc… Theo Ăng- ghen: “Luật La Mã là hình thức pháp luật hoàn thiện nhất dựa trên cơ sở tư hữu. Sự thể hiện pháp lý những điều kiện sống và những xung đột xã hội trong đó thống trị tư hữu mà những nhà làm luật sau đó không thể mang thêm điều gì hoàn thiện hơn…”.

Cho đến ngày nay, người ta vẫn luôn đặt ra câu hỏi tại sao kỹ thuật xây dựng luật pháp của các luật gia La Mã lại hoàn thiện đến mức khó tin như vậy. Chỉ lấy một ví dụ trong phần hợp đồng thì so với luật pháp hiện đại người ta chỉ thấy thiếu một loại hợp đồng duy nhất, đó là hợp đồng bảo hiểm.

Sẽ không thái quá khi nói rằng luật La Mã là cơ sở, là nền tảng của pháp luật hầu hết các nước trên thế giới và đối với những nhà làm luật, những người nghiên cứu luật pháp thì việc nghiên cứu luật La Mã là điều gần như không thể bỏ qua. Gomsten cho rằng: Continue reading

QUYỀN THỪA KẾ trong Luật La Mã cổ đại

TS. NGUYỄN ĐÌNH HUY –  Khoa Luật Dân sự, trường ĐH Luật TP.HCM

Khái niệm luật La Mã rất rộng, được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ luật La Mã là truyền thống luật La Mã trong lịch sử pháp luật châu Âu, dựa trên Bộ Luật Justinian; luật La Mã còn được hiểu là luật thông dụng (Ius Commune) được áp dụng ở hầu hết các nước châu Âu ; luật La Mã còn là một trường phái luật pháp theo xu hướng bảo tồn những nguyên tắc của luật La Mã… Thế nhưng khi nhắc đến khái niệm luật La Mã chúng ta phải hiểu rằng đó là luật pháp của nhà nước La Mã cổ đại kéo dài suốt 13 thế kỷ (từ thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ VI sau Công nguyên). Những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực xây dựng pháp luật của nhà nước La Mã là một trong những công trình văn hóa vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, có thể so sánh với Kim tự tháp của Ai Cập, Vạn lý trường thành của Trung quốc… Theo Ăng- ghen: “Luật La Mã là hình thức pháp luật hoàn thiện nhất dựa trên cơ sở tư hữu. Sự thể hiện pháp lý những điều kiện sống và những xung đột xã hội trong đó thống trị tư hữu mà những nhà làm luật sau đó không thể mang thêm điều gì hoàn thiện hơn…”.

Cho đến ngày nay, người ta vẫn luôn đặt ra câu hỏi tại sao kỹ thuật xây dựng luật pháp của các luật gia La Mã lại hoàn thiện đến mức khó tin như vậy. Chỉ lấy một ví dụ trong phần hợp đồng thì so với luật pháp hiện đại người ta chỉ thấy thiếu một loại hợp đồng duy nhất, đó là hợp đồng bảo hiểm.

Sẽ không thái quá khi nói rằng luật La Mã là cơ sở, là nền tảng của pháp luật hầu hết các nước trên thế giới và đối với những nhà làm luật, những người nghiên cứu luật pháp thì việc nghiên cứu luật La Mã là điều gần như không thể bỏ qua. Gomsten cho rằng: Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP THỪA KẾ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG THỜI GIAN VỪA QUA

TƯỞNG BẰNG LƯỢNG  – TÒA DÂN SỰ TANDTC

I. Tình hình chung

Sau khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành, số vụ tranh chấp thừa kế mà Tòa án nhân dân các cấp thụ lý có phần giảm hơn trước. Theo số liệu thống kê thì:

Năm 1998 toàn ngành thụ lý sơ thẩm 1055 vụ án thừa kế, đã giải quyết 633 vụ, trong đó đình chỉ, tạm đình chỉ, cho rút đơn 249 vụ, chuyển cơ quan có thẩm quyền 34 vụ, hòa giải thành 112 vụ, xét xử 268 vụ.

Thụ lý phúc thẩm toàn ngành: 226 vụ, đã giải quyết 153 vụ, trong đó giữ nguyên bản án sơ thẩm 54 vụ, sửa một phần bản án sơ thẩm 46 vụ, sửa toàn bộ bản án 12 vụ, hủy án và đình chỉ 3 vụ, hủy để xét xử lại 23 vụ, hủy chuyển vụ án sang cơ quan khác 3 vụ, còn lại là hình thức giải quyết khác.

Năm 1999 toàn ngành thụ lý sơ thẩm 2234 vụ thừa kế, đã giải quyết 1190 vụ, trong đó tạm đình chỉ, đình chỉ, cho rút đơn 390 vụ, chuyển cơ quan có thẩm quyền 78 vụ, hòa giải thành 235 vụ, xét xử 487 vụ.

Năm 2000 (theo số liệu tháng 9) toàn ngành đã thụ lý sơ thẩm 1438 vụ, đã giải quyết 917 vụ, trong đó tạm đình chỉ, đình chỉ, cho rút đơn 331 vụ, chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết 52 vụ, hòa giải thành 133 vụ, xét xử 401 vụ.

Số vụ thụ lý phúc thẩm toàn ngành là 464 vụ (số liệu 9 tháng) đã giải quyết 332 vụ, trong đó giữ nguyên bản án sơ thẩm 115 vụ, sửa một phần bản án sơ thẩm 84 vụ, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm 37 vụ, hủy án và đình chỉ 12 vụ, hủy bản án để xét xử lại 49 vụ, hủy bản án và chuyển cơ quan khác 4 vụ, còn lại là các hình thức giải quyết khác.

Sở dĩ có tình trạng Tòa án các cấp thụ lý giảm là do tại Nghị quyết của Quốc hội số 02/1997/QH9 ngày 10/5/1997, kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa 9 đã có quyết nghị giao cho Chính phủ căn cứ vào ý kiến của đại biểu Quốc hội tiếp tục nghiên cứu, khảo sát để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành  nghị quyết quy định về các giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 1/7/1991 giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức, bao gồm 7 loại trong đó có: Thừa kế nhà ở.

Vì vậy các cơ quan chức năng đã tạm ngừng thụ lý, giải quyết loại việc trên. Sau khi có Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991, các Tòa án bắt đầu thụ lý giải quyết một số việc về thừa kế, trừ trường hợp thừa kế mở trước 1/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia thì vẫn tạm thời chưa thụ lý, giải quyết.

Mặt khác, có trường hợp tranh chấp di sản thừa kế không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như việc tranh chấp quyền sử dụng đất, mà đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo Luật Đất đai năm 1993. Vì loại việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân, còn theo quy định tại Điều 38 Luật Đất đai năm 1993 và Thông tư liên tịch số 02 ngày 28/7/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993 thì Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, mà đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 hoặc tranh chấp tài sản là các công trình kiến trúc, cây lâu năm trên đất thì tranh chấp di sản thừa kế đó mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Đó là những lý do làm cho số việc tranh chấp thừa kế được Tòa án các cấp thụ lý, giải quyết ít hơn so với thực tế tranh chấp trong nhân dân.

1. Về chương I: Những quy định chung

Trong quá trình áp dụng phần quy định chung của pháp luật thừa kế chúng tôi nhận thấy trên thực tế chủ thể tranh chấp di sản thừa kế tuyệt đại đa số là giữa cá nhân với cá nhân, chỉ có một số rất ít tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức, cơ quan Nhà nước.

Đối tượng tranh chấp trong các vụ án thừa kế chủ yếu là nhà đất ở và các tài sản trên đất như cây lâu niên, công trình phụ trên đất. Thường giá trị số tài sản này chiếm gần như toàn bộ giá trị số di sản mà các bên yêu cầu giải quyết. Cũng có một số vụ tài sản mà hai bên tranh chấp là tiền, vàng, đồ dùng sinh hoạt như xe đạp, xe máy, xe ô tô du lịch hoặc tài sản tranh chấp vừa có nhà và các tài sản sinh hoạt khác. Việc tranh chấp tài sản là tư liệu sản xuất được giải quyết tại Tòa án mới chỉ xuất hiện vài năm gần đây, số vụ không nhiều và thường là giá trị khối di sản đó cũng không lớn lắm. Đối với các tranh chấp thừa kế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và sở hữu công nghiệp tại Tòa án hầu như không có.

– Về áp dụng pháp luật có một thực tế là: kể từ khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành đến nay, khi giải quyết các tranh chấp thừa kế, nếu việc thừa kế mở trước ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực thì có những vụ áp dụng Pháp lệnh thừa kế, nếu các giao dịch đó có nội dung và hình thức khác với qui định của Bộ luật Dân sự, nhưng không vi phạm điều cấm hoặc không trái đạo đức xã hội theo qui định của Bộ luật Dân sự; còn các trường hợp khác, cũng như trường hợp thừa kế mở sau khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực thì Tòa án mới áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự để xét xử. Đây là một trong những vấn đề phức tạp khi áp dụng pháp luật. Tuy nhiên trong thời gian qua, nhìn chung chất lượng xét xử của các Toà án về các vụ án thừa kế có nhiều tiến bộ, song vẫn còn để xảy ra nhiều sai sót, xét xử thiếu thống nhất, hoặc lúng túng khi vận dụng pháp luật, được thể hiện dưới các khía cạnh sau:

– Việc xác định thời điểm mở thừa kế chưa chính xác, như không xác định đúng thời điểm mở thừa kế, có vụ là do giấy khai tử không ghi chi tiết, nên khó xác định, nhưng có nhiều vụ là do người để lại di sản thừa kế đã chết lâu, giấy tờ không còn lưu giữ, chỉ dựa vào trí nhớ, nên mỗi người khai mỗi khác, việc điều tra xác minh không cụ thể, tỉ mỉ nên không làm rõ được thời điểm chết; có vụ mở thừa kế nhiều lần, nhưng Tòa án chỉ tính thời điểm mở thừa kế một lần để chia vì vậy đã bỏ sót người được hưởng thừa kế, chia thừa kế cho cả người đã chết trước người để lại di sản.

– Việc xác định khối di sản cũng có nhiều trường hợp xác định không đúng. Có trường hợp bỏ sót khối di sản là do xác định sai thời điểm mở thừa kế, song có vụ xác định sai khối di sản là do người quản lý khối di sản đã tự ý bán bớt một phần di sản. Tòa án không đưa phần đã bán vào khối di sản; không xác định rõ phần quyền sở hữu về tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác; đặc biệt có vụ di sản đã có sự thay đổi về quyền sở hữu khi Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo nhà cửa hay đã chuyển phần diện tích đất thổ cư thành đất phần trăm khi thực hiện chính sách đất đai, nên đất đó không còn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của người để lại di sản, nhưng Tòa án vẫn đưa đất đó vào khối di sản để chia, hoặc tài sản mà người để lại thừa kế đã cho, bán trước khi mở thừa kế vẫn tính vào khối di sản, hoặc người để lại di sản chỉ cho sử dụng chứ chưa định đoạt, chuyển quyền sở hữu cho người khác nhưng Tòa án lại tách ra khỏi khối di sản. Có một thời gian ngắn việc xác định di sản là quyền sử dụng đất không thống nhất, đường lối xét xử không ổn định dẫn đến có trường hợp chỉ xác định di sản là giá trị vật liệu nhà, cây lâu niên trên đất… còn giá trị quyền sử dụng đất không coi là di sản, hoặc chỉ coi giá trị vật liệu nhà và phần đất trên có căn nhà là di sản, còn diện tích đất xung quanh nhà không coi là di sản. Vì đất đó đã được người khác đứng tên trong sổ địa chính hoặc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên người đã đứng tên hoặc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được công nhận là chủ sử dụng đất hợp pháp. Hiện nay, riêng đất trên có nhà, công trình kiến trúc, cây lưu niên; và đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 cho người để lại di sản thì đường lối giải quyết đã thống nhất và đi vào ổn định. Tuy nhiên đối với trường hợp khi mở thừa kế trên đất có nhà, cây lưu niên nhưng sau này do chiến tranh, thiên tai v.v… làm cho nhà và cây lưu niên không còn hoặc do người quản lý di sản tự ý phá đi làm lại nhà mới từ lâu hoặc đối với trường hợp trên đất không có tài sản, đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản mà người để lại di sản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993, nhưng người đang quản lý, sử dụng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 thì có coi đất đó là di sản hay không? Hiện vẫn còn ý kiến khác nhau trong mỗi ngành cũng như giữa các ngành chức năng với nhau. Các vướng mắc liên quan đến thừa kế quyền sử dụng đất còn nhiều khía cạnh khác nữa, chúng tôi sẽ trình bày sâu ở phần thừa kế quyền sử dụng đất khi có dịp. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến vướng mắc lúng túng trong thực tiễn xét xử khi xác định khối di sản là quyền sử dụng đất.

– Về việc trả thù lao cho người quản lý di sản đã được quy định trong Điều 643, nhưng khi vận dụng vào xét xử còn rất nhiều khác nhau về việc trích thù lao (mặc dù giữa các vụ đó có các điểm tương đồng) như có vụ thì trích rất cao, có vụ rất ít và có vụ không trích thù lao; không tách bạch rõ ràng giữa việc trả thù lao do quản lý di sản với việc thanh toán phần công sức đóng góp do làm tăng giá trị khối tài sản…

– Tuy việc từ chối nhận di sản được quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự, nhưng hầu hết các Tòa án không áp dụng quy định tại khoản 2 và 3 Điều 645. Phần lớp trường hợp đương sự từ chối nhận di sản chỉ cần họ khai báo rõ ràng tại Tòa án là được Tòa án chấp nhận, dù thời hạn từ chối nhận di sản cách thời điểm mở thừa kế có khi cả chục năm, chúng tôi cho đó là cách xử lý phù hợp với nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, góp phần tăng cường đoàn kết trong nhân dân.

– Trường hợp người không được quyền hưởng di sản (Điều 646): trong thực tiễn thường gặp nhất là một bên xuất trình di chúc, bên kia khai đó là di chúc giả mạo, cũng có một số ít vụ bên khai di chúc đó đã được bên kia sửa chữa hoặc hủy di chúc nên di chúc không còn. Qua giám định di chúc (mà một bên coi là giả mạo), qua các chứng cứ khác, Toà án bác di chúc mà một bên xuất trình và chia di sản theo pháp luật cho tất cả các thừa kế, kể cả người đã xuất trình di chúc giả; chỉ có một số ít vụ, Tòa án đã xử không cho người giả mạo di chúc được hưởng di sản. Sở dĩ có nhiều vụ sau khi một bên xuất trình di chúc, mặc dù bị Tòa án bác di chúc, nhưng vẫn cho họ hưởng thừa kế là do hồ sơ không phản ảnh rõ di chúc này do ai làm giả hay ai sửa chữav.v…

2. Về Chương thừa kế theo di chúc

Nếu nghiên cứu dưới góc độ lý luận; kỹ thuật lập pháp và thực tiễn thì có nhiều vấn đề của luật thực định trong chương này cần phải được xem xét, sửa đổi cho rõ ràng, cho phù hợp với thực tế cuộc sống. Tuy nhiên trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ đề cập đến những sai sót, vướng mắc, thiếu thống nhất hoặc tuy có thống nhất nhưng là sự tự “thống nhất” không áp dụng quy định nào đó của luật trong thực tiễn xét xử thời gian vừa qua như sau:

Có lẽ điểm nổi bật nhất là sự đánh giá khác nhau giữa các Thẩm phán, giữa Tòa án các cấp, giữa Luật sư, Kiểm sát viên trong việc xác định di chúc đó là hợp pháp hay không hợp pháp khi người để lại di sản có nhiều di chúc khác nhau; hoặc tuy có một di chúc nhưng di chúc đó không thực hiện đầy đủ các quy định mà điều luật đã ghi rõ, ví dụ như di chúc miệng (Điều 645) không có người làm chứng, hoặc tuy có đủ hai người làm chứng nhưng họ lại không ghi chép lại ngay hoặc sau đó mới nói lại cho người trong hành thừa kế biết và người trong hàng thừa kế mới ghi chép lại, cũng có vụ người làm chứng lại là người trong diện hưởng thừa kế theo pháp luật còn người kia là người được hưởng thừa kế theo di chúc viết v.v…

Đối với di chúc viết: có bản di chúc không ghi đầy đủ các nội dung như quy định của Điều 656  (không ghi nơi cư trú, thậm chí có trường hợp không ghi rõ nơi có di sản) nhưng vẫn được các Tòa án chấp nhận di chúc đó là hợp pháp, nếu có căn cứ kết luận đó chính là di chúc do người để lại di sản viết ra khi minh mẫn, sáng suốt, không bị ai ép buộc.

Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, có rất nhiều trường hợp không phải tự tay người để lại di sản viết mà họ đánh máy, điểm chỉ hay ký rõ ràng, hoặc di chúc có người làm chứng, nhưng những người làm chứng đều là các thừa kế ký vào bản di chúc, còn số người không phải trong diện thừa kế tuy họ có chứng kiến nhưng họ không ký bản di chúc, có trường hợp chỉ có một người ký. Sau này các thừa kế công nhận đó là di chúc của người để lại di sản thì hầu hết được Tòa án công nhận di chúc đó là hợp pháp. Nếu không công nhận di chúc, rất dễ bị Tòa án cấp trên cho là xét xử sai, sửa hoặc hủy án.

Cũng có trường hợp (di chúc viết hoặc di chúc miệng) nội dung di chúc chỉ giao quản lý, sử dụng di sản có điều kiện, nhưng khi điều kiện đã thay đổi, Tòa án vẫn sử dụng theo di chúc; một bên lập di chúc đã định đoạt toàn bộ tài sản chung của vợ chồng, nhưng có thẩm phán khi xét xử vẫn công nhận toàn bộ di chúc chúng tôi cho là không đúng; nhưng nếu công nhận một phần di chúc thì được ngành coi là xét xử đúng (Trong luật chưa quy định rõ trường hợp này).

Điều 672 quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, đó là “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con đã thành niên mà không có khả năng lao động”. Nhưng có vụ người để lại di sản, khi viết di chúc đã không dành lại “phần di sản bằng 2/3 suất của một thừa kế theo pháp luật” cho các đối tượng nói trên, song Tòa án vẫn công nhận toàn bộ di chúc của họ hợp pháp là không đúng; việc áp dụng Điều 676 giải thích nội dung di chúc cũng còn rất khác nhau. Những tranh chấp di sản dùng vào việc thờ cúng khi giải quyết còn gặp vướng mắc và lúng túng dẫn đến sai sót. Nguyên nhân là do điều luật chỉ thiên về việc hướng dẫn cách xử sự của công dân trong một số tình huống, mà chưa dự liệu những trường hợp khác, ví dụ như các thừa kế không thống nhất được với nhau, tranh chấp gay gắt hoặc họ không dùng di sản đó vào việc thờ cúng mà phá đi làm nhà ở… thì giải quyết thế nào? Đó là những khoảng trống pháp lý cần phải được bổ khuyết.

3. Về Chương thừa kế theo pháp luật

Khi áp dụng các quy định của chương này, sai sót thường gặp là không xác định hết những người trong diện được hưởng thừa kế, nên đã bỏ sót họ, hoặc không xác định đúng những người được hưởng thừa kế thế vị, dẫn đến phải hủy bỏ bản án để điều tra xét xử lại.

Việc áp dụng Điều 682 Bộ luật Dân sự về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế cũng gặp nhiều khó khăn, lúng túng, vướng mắc khi xác định “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con”, để cho họ được hưởng di sản thừa kế.

Có một điều cũng đáng lưu ý là: Khi áp dụng chương 2 và 3 (thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật); có một sai sót chung và cũng hay gặp vướng mắc, lúng túng nhiều là khi giải quyết thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc hoặc theo pháp luật. Đó là các di chúc định đoạt quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản diễn ra trước ngày giải phóng miền Nam năm 1975, trước khi có Hiến pháp năm 1992; vấn đề định giá đất theo khung giá hay theo giá thị trường; vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết các thừa kế quyền sử dụng đất v.v…. Những vấn đề trên, ý kiến giữa các thẩm phán và các cơ quan chức năng cũng còn rất khác nhau.

4. Về Chương thanh toán và phân chia di sản

Sai sót nhiều nhất khi áp dụng các điều luật của Chương này là trong khi khối di sản có thể chia đều hiện vật cho các thừa kế, thì có Tòa án lại chỉ chia cho một số người hoặc một người; nhất là việc định giá không đúng với giá trị thực của di sản, thì việc khiếu kiện sau khi xét xử càng gay gắt. Các trường hợp xử như vậy đều bị sửa án, hoặc hủy bản án để xét xử lại.

Ngoài ra các sai sót do điều tra sơ sài, không tạo dựng đủ các căn cứ cho các quyết định trong bản án như không đi, vẽ sơ đồ, xác định diện tích, giá trị di sản, số lượng di sản, v.v… không đầy đủ; cũng có trường hợp sai sót do phần quyết định không rõ ràng, thiếu cụ thể hay chồng chéo lên nhau, nên không thể thi hành án được; bỏ sót tài sản không phân chia.

5. Về các nguyên nhân dẫn đến các sai sót, vướng mắc khi áp dụng pháp luật thừa kế

1. Do tính ổn định không cao của pháp luật dân sự, đặc biệt là pháp luật đất đai, dẫn đến đường lối giải quyết các tranh chấp thừa kế liên quan đến nhà, đất không ổn định. Mỗi lần pháp luật có sự sửa đổi lớn gây ra những lúng túng và sự khác biệt trong quan điểm giải quyết giữa các ngành, giữa các thẩm phán. Hậu quả của sự lúng túng, không thống nhất là không ít bản án bị cải, sửa, hủy. Mặt khác pháp luật, nhất là pháp luật tố tụng chưa đầy đủ, cụ thể cũng là nguyên nhân dẫn đến sai sót khi xét xử.

2. Bộ luật Dân sự ra đời là một thuận lợi rất lớn cho công tác xét xử. Song có những quy định của pháp luật thừa kế, pháp luật đất đai và các quy định pháp luật khác liên quan chưa thật nhất quán, có điểm chưa hợp lý hoặc chưa chặt chẽ, rõ ràng, nên khó áp dụng; có vấn đề chưa được Bộ luật quy định.

Do Bộ luật có hiệu lực thi hành đã hơn 4 năm nhưng chưa có một văn bản hướng dẫn đầy đủ, có hệ thống về thừa kế, dẫn đến việc hiểu, giải thích rất khác nhau giữa các ngành, các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất v.v…

3. Có một bộ phận Thẩm phán do trình độ còn hạn chế, nên khi kiểm tra xét xử còn phạm những sai lầm rất sơ đẳng; có thẩm phán cấp trên do trình độ không hơn thẩm phán cấp dưới, nên việc cải, sửa, hủy án, y án không đúng. Bên cạnh đó có Thẩm phán thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu đi điều tra, nên hồ sơ làm rất sơ sài nghiên cứu hồ sơ không kỹ, không chịu khó nghiên cứu văn bản, không cập nhật kịp thời các văn bản mới.

Lương Thẩm phán không cao, không đủ đảm bảo cho cuộc sống, làm cho các Thẩm phán chưa thật yên tâm, toàn ý với nghề; có Thẩm phán bị chi phối vì lý do này khác, nên chưa thật vô tư, khách quan trong xét xử cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các vụ án thừa kế.

II. Từ thực tiễn xét xử chúng tôi xin có một số kiến nghị tổng quát như sau

1. Chúng tôi cảm thấy Bộ luật Dân sự quy định có phần thiên về hướng dẫn cách xử sự cho công dân, nhưng hầu hết các quy định trong phần thừa kế lại có tính chất dứt khoát; đã thế lại có những quy định chưa sát với tâm lý, tập quán của người dân; trong khi người dân chưa hiểu biết về các quy định này, không hành xử đầy đủ như luật yêu cầu về hình thức thể hiện văn bản. Dù nội dung là đúng ý chí của họ; dẫn đến khó khăn khi áp dụng pháp luật, thậm chí có trường hợp áp dụng theo thực tế cuộc sống, chứ không theo quy định của luật, ví dụ vấn đề từ chối nhận di sản (Điều 645). Vì vậy khi quy định phải tính đến yếu tố tâm lý và trình độ dân trí chung của người dân.

2. Cần phải quy định trong Bộ luật Dân sự theo hướng toàn bộ các tranh chấp thừa kế đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân giải quyết, thì mới tạo ra sự thống nhất trong áp dụng pháp luật và đường lối xử lý (hiện nay việc tranh chấp thừa kế, nếu thuộc thẩm quyền Tòa án giải quyết thì di sản đó sẽ được chia cho các thừa kế, nếu thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thì nhiều trường hợp người đang quản lý di sản được hưởng cả, chứ không áp dụng các quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự để giải quyết).

3. Cần quy định rõ một số loại quyền cũng thuộc di sản thừa kế (Ngoài quyền sử dụng đất đã được quy định trong Bộ luật Dân sự thì còn có các quyền khác như: quyền sử dụng nhà cho thuê…. Ở Việt Nam nhà nước đã chính thức công nhận quyền chuyển nhượng quyền sử dụng nhà cho thuê, nên quyền này đã được chuyển hóa thành một giá trị nhất định). Vấn đề thừa kế tài sản của doanh nghiệp tư nhân, cần quy định sao cho việc xử lý di sản không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp.

4. Cần phải quy định rõ hơn nữa về chủ thể trong quan hệ thừa kế mà người thừa kế là: cơ quan, tổ chức… (đặc biệt nếu là cơ quan, tổ chức nước ngoài?).

Cần phải bổ sung vấn đề thừa kế có nhân tố nước ngoài.

Những điều quy định về người quản lý di sản cũng cần có sự sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống và thực tiễn xét xử. Không thể để tồn tại quy định bất hợp lý trong luật là người vừa quản lý, sử dụng di sản cũng được hưởng thù lao theo cách thức giống như người chỉ quản lý di sản.

Đưa vào và bổ sung thêm quy định về hạn chế phân chia di sản vào chương các quy định chung của phần thừa kế.

5. Chương thừa kế theo di chúc có rất nhiều điểm không hợp lý về nội dung cũng như cách thức thể hiện. Vì vậy cần có sự sửa đổi căn bản để có thể thực hiện trên thực tế việc tôn trọng ý chí đích thực của người để lại di sản, quy định rõ ràng, đầy đủ và chặt chẽ hơn di chúc miệng và di chúc bằng văn bản, di chúc chung của vợ chồng, vấn đề giải thích di chúc, di sản dùng vào việc thờ cúng v.v… cho phù hợp với thực tế cuộc sống.

6. Chương thừa kế quyền sử dụng đất cũng nên sửa đổi căn bản theo hướng mọi người đều có quyền hưởng di sản là quyền sử dụng đất (nếu có hạn chế thì chỉ hạn chế việc được nhận hiện vật là đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản đối với những trường hợp không có nhu cầu, điều kiện canh tác, v.v…). Liên quan đến việc sửa phần thừa kế quyền sử dụng đất phải sửa cả phần thứ 5

Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai để tạo ra sự nhất quán thì mới tháo gỡ được các vướng mắc trong thực tiễn hiện nay.

Trên đây chỉ là một vài kiến nghị chung, còn về các kiến nghị có tính chất cụ thể, chi tiết vào từng điều luật cần bổ sung, sửa đổi, hủy bỏ của phần thừa kế thì chúng tôi sẽ trình bày tiếp khi có dịp.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2001