CỔ PHẦN HÓA VÀ CƠ CẤU QUYỀN SỞ HỮU

Đổi mới cơ cấu quyền sở hữu trong doanh nghiệp cổ phần hoá là một trong những giải pháp góp phần thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với quốc sách phát huy tiềm lực toàn xã hội.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, quản trị doanh nghiệp (corporate governance) ngày càng trở thành vấn đề thời sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp và nền kinh tế. Khác với hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp (corporate management) hàng ngày của ban lãnh đạo Công ty, quản trị doanh nghiệp là cách thức để các cổ đông giám sát Công ty nhằm đảm bảo ban lãnh đạo điều hành Công ty một cách có hiệu quả và vì lợi ích tốt nhất của các cổ đông (hay chủ sở hữu). Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

QUANG CẬN

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang được thực hiện một cách phổ biến trên phạm vi cả nước. Vậy đó có phải là kết quả của đổi mới tư duy về sở hữu nhà nước, là khâu đột phá vào sở hữu nhà nước hay không? Sau khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đó có còn thuộc thành phần kinh tế nhà nước nữa không? Vai trò làm chủ của người lao động được thể hiện như thế nào ở doanh nghiệp đó?… Bài viết sẽ góp phần giải đáp các câu hỏi trên.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là đột phá vào sở hữu nhà nước của chủ nghĩa xã hội (CNXH) mô hình cũ, theo tư duy mới của Đảng ta về sở hữu xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong quá trình tìm tòi, thể nghiệm và cụ thể hóa con đường đi lên CNXH ở nước ta. Vì thế, cổ phần hóa DNNN thực sự là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, rất nhạy cảm.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn

QUANG CẬN

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang được thực hiện một cách phổ biến trên phạm vi cả nước. Vậy đó có phải là kết quả của đổi mới tư duy về sở hữu nhà nước, là khâu đột phá vào sở hữu nhà nước hay không? Sau khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đó có còn thuộc thành phần kinh tế nhà nước nữa không? Vai trò làm chủ của người lao động được thể hiện như thế nào ở doanh nghiệp đó?… Bài viết sẽ góp phần giải đáp các câu hỏi trên.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là đột phá vào sở hữu nhà nước của chủ nghĩa xã hội (CNXH) mô hình cũ, theo tư duy mới của Đảng ta về sở hữu xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong quá trình tìm tòi, thể nghiệm và cụ thể hóa con đường đi lên CNXH ở nước ta. Vì thế, cổ phần hóa DNNN thực sự là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, rất nhạy cảm.

Continue reading

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC

 

 

 Hôm nay 4.10, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành liên tiếp 2 thông tư số 19 về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 141 ngày 5.9.2007 của Chính phủ quy định chế độ tiền lương đối với công ty mẹ do Nhà nước làm chủ sở hữu và các công ty con trong Tập đoàn kinh tế và thông tư số 20 hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động theo Nghị định số 109 ngày 26.6.2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ  phần.

Theo Thông tư 19 thì phạm vi điều chỉnh được quy định cụ thể là: công ty mẹ là công ty nhà nước hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; các công ty con là công ty thành viên trong Tập đoàn kinh tế do công ty mẹ làm chủ sở hữu hoặc giữ quyền chi phối. Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CẦN THỰC HIỆN CÓ BÀI BẢN

NGUYỄN KIM HỘI – NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VĨNH PHÚC

Trong quá trình tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, chúng ta đã đạt được thành tựu đáng kể. Nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao gấp 5 – 6 lần so với khi doanh nghiệp chưa cổ phần hoá. Nhưng cũng còn nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá tình hình sản xuất kinh doanh giậm chân tại chỗ do những đơn vị này khi cổ phần hoá thiếu thận trọng, khi xây dựng dự án không tính toán kỹ sản xuất mặt hàng mới hoặc chưa đổi mới công nghệ tân tiến. Công tác tổ chức cán bộ còn cồng kềnh hoặc bộ máy cũ, hoặc dự án kêu gọi vốn cổ phần huy động vốn chưa đạt hiệu quả thiết thực phải vay vốn ngân hàng trên 70% cả vốn cố định và vốn lưu động.
Để cổ phần hoá chúng ta phải nghĩ ngay đến vấn đề phân bố. Phân bổ nền kinh tế từng bộ, từng tỉnh. Trong qui hoạch cổ phần hoá, để khi cổ phần hoá có đủ các loại sản phẩm tốt, cần thiết. Tránh trường hợp nhiều doanh nghiệp trong cả nước cùng sản xuất một sản phẩm gây thừa mặt hàng này lại thiếu các mặt hàng khác. Chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ sản xuất. Continue reading

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước CẦN THỰC HIỆN CÓ BÀI BẢN

NGUYỄN KIM HỘI– Ngân hàng Công thương Chi nhánh Vĩnh Phúc

Trong quá trình tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, chúng ta đã đạt được thành tựu đáng kể. Nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao gấp 5 – 6 lần so với khi doanh nghiệp chưa cổ phần hoá. Nhưng cũng còn nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá tình hình sản xuất kinh doanh giậm chân tại chỗ do những đơn vị này khi cổ phần hoá thiếu thận trọng, khi xây dựng dự án không tính toán kỹ sản xuất mặt hàng mới hoặc chưa đổi mới công nghệ tân tiến. Công tác tổ chức cán bộ còn cồng kềnh hoặc bộ máy cũ, hoặc dự án kêu gọi vốn cổ phần huy động vốn chưa đạt hiệu quả thiết thực phải vay vốn ngân hàng trên 70% cả vốn cố định và vốn lưu động. Để cổ phần hoá chúng ta phải nghĩ ngay đến vấn đề phân bố. Phân bổ nền kinh tế từng bộ, từng tỉnh. Trong qui hoạch cổ phần hoá, để khi cổ phần hoá có đủ các loại sản phẩm tốt, cần thiết. Tránh trường hợp nhiều doanh nghiệp trong cả nước cùng sản xuất một sản phẩm gây thừa mặt hàng này lại thiếu các mặt hàng khác. Chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ sản xuất.

Continue reading

ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VẤN ĐỀ KHÚC MẮC CHÍNH TRONG CỔ PHẦN HÓA

Chương trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã bắt đầu được hơn 10 năm; tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc đẩy nhanh tiến trình này đã trở thành một nhiệm vụ cấp thiết nhằm tăng năng lực cạnh tranh của các DNNN vì việc gia nhập WTO đang đến gần. Mặc dù Chính phủ đã có biện pháp và chính sách mạnh mẽ hơn trong việc sắp xếp, đổi mới DNNN, việc thực hiện cải cách DNNN vẫn bị chậm hơn so với mục tiêu đặt ra.1 Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là khó khăn mà các nhà quản lý cũng như bản thân các DNNN đã và đang gặp phải trong việc định giá để cổ phần hoá. Bản tin này đề cập tới các vấn đề xoay quanh việc định giá DNNN, bao gồm các vấn đề về khung pháp lý, triển khai trên thực tiễn và so sánh với các tập quán quốc tế phổ biến nhằm đưa ra một số đề xuất để đẩy nhanh quá trình cải cách này.

Hạn chế của những cơ chế và phương pháp định giá hiện hành

Theo quy định hiện hành, có hai cơ chế định giá được phép áp dụng là thành lập Hội đồng định giá hoặc thuê công ty tư vấn định giá độc lập.2 Thành viên của Hội đồng định giá là cán bộ đại diện của nhiều cơ quan quản lý Nhà nước khác nhau, ví dụ như Sở Tài chính, Sở KH-CN, Uỷ ban Nhân dân v.v., vì thế ý kiến đánh giá của họ không phải bao giờ cũng thống nhất và có thể bị nghiêng về những mục tiêu quản lý riêng. Do đó, định giá theo cơ chế này thường không phản ánh được giá trị “thực tế” của DNNN. Hơn nữa, mâu thuẫn về quyền lợi giữa DNNN với các cơ quan quản lý nhiều khi làm cho việc định giá chậm được thống nhất. Việc sử dụng công ty tư vấn độc lập để định giá tuy tỏ ra có hiệu quả hơn nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc xác định giá trị tài sản vô hình như thương hiệu hay lợi thế kinh doanh. Hơn nữa, hầu hết các công ty tư vấn độc lập của Việt Nam vẫn chưa đủ kinh nghiệm và trình độ để định giá các DNNN lớn và phức tạp.

Về mặt kỹ thuật, tuy trên thế giới có nhiều phương pháp định giá nhưng theo quy định của Bộ Tài chính chỉ có hai phương pháp định giá được phép áp dụng là (1) tài sản ròng và (2) dòng tiền chiết khấu.3 Hai phương pháp này được quy định kèm theo các công thức tính toán cố định. Điều này hạn chế việc tìm kiếm và áp dụng những phương pháp định giá phù hợp hơn.

Tranh luận quanh vấn đề tính giá trị quyền sử dụng đất (QSDĐ) khi định giá

QSDĐ của nhiều DNNN tính theo giá thị trường là rất lớn, thậm chí có thể còn lớn hơn cả giá trị của tất cả các tài sản khác của doanh nghiệp. Nếu không tính đến giá trị QSDĐ thì DNNN có thể bị định giá quá thấp. Vì vậy, Nhà nước đã có chủ trương thực hiện tính giá trị QSDĐ khi định giá DNNN để cổ phần hoá. Tuy nhiên, thực hiện chủ trương này trên thực tế còn rất khó khăn do thiếu những quy định cụ thể, chưa có thị trường cũng như các tổ chức định giá chuyên nghiệp.

Lãnh đạo các DNNN chuẩn bị cổ phần hóa thường không đồng tình với chính sách tính giá trị QSDĐ khi định giá để cổ phần hóa vì làm như vậy sẽ đẩy giá cổ phần của các DNNN cổ phần hóa lên quá cao, làm cho họ bất lợi hơn các doanh nghiệp khác và không hấp dẫn các nhà đầu tư tiềm năng. Các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân khác, theo Luật Đất đai sửa đổi, vẫn được quyền lựa chọn hình thức thuê đất nên không phải tính giá trị QSDĐ vào giá trị doanh nghiệp, do đó hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.

Khó khăn trong việc định giá tài sản vô hình

Một số DNNN lớn, hoạt động tốt như Vinamilk, Bảo Minh, Vietcombank đã có kế hoạch cổ phần hoá trong năm nay và những năm tới đây. Các DNNN này đều có thương hiệu và tên tuổi nổi tiếng, tài sản vô hình có thể có giá trị không kém tài sản hữu hình. Mặc dù Bộ Tài chính đã quy định công thức tính giá trị lợi thế kinh doanh của các DNNN (dựa trên giá trị tài sản trên sổ sách và tỷ lệ lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp), các công thức này khó áp dụng trên thực tế. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng đối với các DNNN lớn trong các ngành dịch vụ như bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn. Nhiều quan điểm cho rằng phương pháp định giá tốt nhất trong những trường hợp này là đấu giá công khai. Song một số DNNN lo ngại rằng đấu giá công khai sẽ chỉ thu hút các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ chứ không giúp họ đạt được mục tiêu chính khi cổ phần hoá là đem lại những định chế đầu tư chiến lược để đóng góp kinh nghiệm quản lý và chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp. Vì thế, còn rất nhiều tranh luận xung quanh việc tìm ra giải pháp định giá tài sản vô hình phù hợp, đặc biệt là đối với các DNNN lớn.

Định giá phần góp vốn của DNNN trong liên doanh

Nhiều DNNN có vốn góp tham gia liên doanh (LD) đang gặp khó khăn trong việc xác định giá trị phần vốn góp này khi cổ phần hoá. Trong nhiều trường hợp, DNNN góp vốn bằng QSDĐ, và một số DNNN giờ đây thừa nhận rằng QSDĐ đó có thể đã được định giá quá cao khi thành lập LD.

Một vấn đề khác là phần lớn các LD đều phát sinh lỗ trong những năm đầu hoạt động, do vậy nếu tính giá trị phần vốn góp tại thời điểm DNNN cổ phần hoá thì phần vốn góp đó thường bị thấp hơn so với số liệu ban đầu khi thành lập LD. Trong những trường hợp này, cơ quan tài chính không chấp nhận xác định giá trị phần vốn góp LD theo sổ sách tại thời điểm cổ phần hoá nhưng cũng chưa tìm ra được một giải pháp định giá nào hợp lý. Hiện nay có rất nhiều DNNN có vốn góp LD với nước ngoài chưa thể cổ phần hoá vì lý do này.

Một số quy định khác về cổ phần hóa có thể gây cản trở cho việc định giá

Rất nhiều DNNN phàn nàn rằng các quy định về xác định giá trị các khoản phải thu khó đòi của Bộ Tài chính là quá cứng nhắc, ví dụ như chỉ được phép xoá nợ khi chứng minh được con nợ đã chết hoặc phá sản. Do vậy, có những DNNN buộc phải tính các khoản phải thu hầu như không có khả năng thu hồi vào giá trị tài sản của doanh nghiệp để cổ phần hoá. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng không xóa các khoản nợ đã bị quá hạn hoặc treo cho những DNNN này. Kết quả là những DNNN đó có thể bị định giá quá cao nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động cổ đông.

Do các quy định hiện hành về bán cổ phiếu giá ưu đãi cho công nhân, quy định lưu giữ cổ phiếu ít nhất trong vòng 3 năm kể từ sau khi cổ phần hoá v.v., việc cổ phần hóa nhiều DNNN cho đến nay đều mang tính “nội bộ”, hầu như không thu hút thêm được nhà đầu tư mới, số lượng cổ phần bán cho nhà đầu tư ngoài DNNN chỉ chiếm khoảng 10%.4


 

(1) Tổng số DNNN được sắp xếp lại (bao gồm cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, giải thể, phá sản) trong hai năm 2002-2003 là 1.766, trong đó có 905 DNNN là được cổ phần hóa, mới chỉ đạt 80% kế hoạch. Báo cáo sơ kết của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DNNN tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN toàn quốc ngày 15-16 tháng 3 năm 2004
(2) Nghị định 64/CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 và các văn bản hướng dẫn có liên quan
(3) Thông tư số 79/2002/TT-BTC
(4) Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN toàn quốc ngày 15-16 tháng 3 năm 2004

SOURCE: KINHDOANH.COM.VN

VẤN ĐỀ XỬ LÝ TÀI CHÍNH KHI CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

ĐỖ XUÂN TRUNG  –  Vụ Tín dụng – NHNN

Trong quá trình đổi mới, sắp xếp, doanh nghiệp nhà nước (DNNN), Ngân hàng là người bạn đồng hành cùng tồn tại và gắn bó mật thiết với doanh nghiệp (DN), vốn tín dụng ngân hàng tham gia trong tất cả các khâu trong quá trình tái sản xuất, góp phần không nhỏ giúp các DN vượt qua mọi khó khăn, thử thách để đứng vững trong cơ chế thị trường; Nhiều DN ăn nên làm ra, vay vốn trả nợ Ngân hàng sòng phẳng, có năng lực cạnh tranh đóng vai trò chủ đạo, trong nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, cũng còn không ít những DN đang gặp khó khăn phải lao đao với những món nợ quá hạn triền miên, không những nợ gốc mà cả số nợ lãi luỹ kế; Do đầu tư vào những dây chuyền sản xuất hoặc nhập máy móc thiết bị của những năm trước đây không có hiệu quả kinh tế, vốn còn tồn đọng và cũng có những DN sản xuất kinh doanh nhỏ bé, không có sức cạnh tranh nên thua lỗ và dẫn đến các khoản công nợ vay ngân hàng tồn đọng khó hoàn trả. Vấn đề đặt ra là xử lý nợ tồn đọng trong DN nhà nước đang là một khâu mắt xích quan trọng và nó liên quan đến vốn tài sản của DN khi tiến hành cổ phần hoá, khó khăn lớn nhất là làm minh bạch các khoản nợ đọng và giải quyết các khoản thua lỗ, yếu tố này giữ vị trí quan trọng trong việc bán cổ phiếu. Thực tế cho thấy DN nào làm ăn có hiệu quả, ít bị vướng vào những khoản nợ đọng thì tính hấp dẫn của cổ phiếu càng cao hơn bởi nhà đầu tư không dại gì bỏ vốn mua nợ và lỗ; ngoại trừ một số ít chấp nhận rủi ro để mua thương hiệu. Nếu không giải quyết được vấn đề này, thì chắc chắn sẽ có những DN không thể cổ phần hoá được khi mà số lỗ bằng hoặc lớn hơn giá trị thực tế phần vốn nhà nước.
Do nhiều nguyên nhân dẫn đến của các khoản nợ tồn đọng trong DN, có thể do chủ quan hoặc do khách quan hoặc do công tác quản lý yếu kém như bán sản phẩm ra nhưng không thu hồi được vốn, bị người mua chiếm dụng hàng tỷ đồng từ đó đã ảnh hưởng đến việc trả nợ vay Ngân hàng. Vì vậy, không có vốn để quay vòng cho những chu kỳ sản xuất tiếp theo trong khi đó về phía DN vẫn phải đi vay của các tổ chức tín dụng, mà đã đi vay thì phải trả lãi, số nợ tồn đọng đó những năm gần đây đã lên đến bạc tỷ nằm ở tất cả các loại hình: Sản xuất Công nghiệp, thương mại dịch vụ, nông lâm nghiệp chế biến… tập trung ở các loại sản phẩm trong các ngành sản xuất như: DN trong ngành Mía đường nợ tồn đọng ngân hàng đang là gánh nặng cho các tổ chức tín dụng.
Lộ trình cổ phần hoá DN khi tiến hành sắp xếp lại sản xuất hoặc chuyển giao, bán, khoán cho thuê DN đã nảy sinh các vấn đề trong quan hệ tín dụng với ngân hàng như: Bản thân các DN xin đề nghị được khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ; tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự chi viện của nhà nước đã xuất hiện ở một số DN, ngành khác nhau. Về vấn đề này có những DN hoặc Uỷ ban nhân dân địa phương đã đẩy những khó khăn lên cho cấp trên?
Trong vài năm gần đây, Chính phủ đã có giải pháp tình thế cho khoanh nợ từ 1 – 3 năm chưa thu nợ gốc và không phải trả lãi tiền vay đối với một số DN cá biệt; bước đầu đã tạo cho họ trong việc ổn định sản xuất, giải quyết được số lao động dôi dư có việc làm, trong tiến trình sắp xếp lại sản xuất và đã có nguồn vốn để trả nợ số tiền vay Ngân hàng như: đối với người trồng, chăm sóc, thu mua và chế biến cà phê. Đối với ngành mía đường, Chính phủ đã có biện pháp tháo gỡ khó khăn sắp xếp lại sản xuất: xoá nợ các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước, đây là một trong những giải pháp cứu nguy cho các DN mía đường mà đang trong tình trạng hết sức khó khăn.
Để xử lý những vấn đề khó khăn chung của các doanh nghiệp trong quá trình sắp xếp lại sản xuất, phần lớn các DN khi tiếp nhận vốn và tài sản của các đơn vị giải thể đều có tư tưởng không muốn nhận những tồn tại cũ, bởi vì nhận vào thì lại phải giải quyết hậu quả và không biết đến bao giờ mới có thể khắc phục được. Vấn đề này Ngân hàng nhà nước, Bộ Tài chính đã có những biện pháp chỉ đạo trong vài năm gần đây kể từ khi Nhà nước ta có chủ trương chuyển đổi sắp xếp lại DNNN.
– Trước hết đối với đơn vị nhận bàn giao, DN phải có trách nhiệm tiếp nhận vốn và tài sản theo Thông tư hướng dẫn số 130/1998/TT-BTC ngày 30/9/1998 của Bộ Tài chính đã quy định: DN tiếp nhận hoặc doanh nghiệp mới có quyền và trách nhiệm tiếp nhận toàn bộ tài sản (kể cả tài sản hư hỏng, kém mất phẩm chất, không cần dùng, chờ thanh lý), các khoản công nợ phải thu (kể cả nợ phải thu khó đòi, các khoản nợ phải trả và các khoản lỗ luỹ kế của DN bị sáp nhập hoặc DN hợp nhất.
Trong quá trình sắp xếp lại các DNNN, có một số tồn tại là một số pháp nhân mới hình thành, sau khi sắp xếp đã chậm trễ trong việc tiếp nhận và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với các tổ chức tín dụng dẫn đến những vướng mắc trong quan hệ tín dụng và các pháp nhân mới được sắp xếp lại.
Đối với những khoản nợ Ngân hàng tồn đọng, Ngân hàng Nhà nước đã có Thông tư số 05/2003/TT-NHNN ngày 24/2/2003 hướng dẫn về xử lý nợ tồn đọng của DNNN tại các Ngân hàng thương mại Nhà nước theo Nghị định số 69/2002/NĐ-CP ngày 12/7/2002 của Chính phủ. Nguyên tắc chung về xử lý nợ tồn đọng là: Đối với DNNN đang hoạt động có các khoản nợ lên lưới thanh toán giai đoạn I, giai đoạn II còn tồn đọng tại các ngân hàng thương mại nhà nước đến 31/12/2000, DN đã áp dụng các biện pháp xử lý nợ như đối chiếu xác nhận nợ nhưng chưa thanh toán được và đến nay vẫn còn tồn đọng chưa được xử lý; Các khoản nợ tồn đọng phát sinh sau ngày 31/12/2000 các DNNN phải tự thanh toán.
Nợ tồn đọng của các DNNN đang thực hiện chuyển đổi là những khoản nợ tồn đọng tại các ngân hàng thương mại nhà nước đến thời điểm chuyển đổi DN vẫn chưa thanh toán được. Thông thường các DN hiện nay đang ở trong tình trạng dưới đây:
+ Đối với DN thua lỗi liên tục không thể khắc phục được phải giải thể, phá sản thì việc xử lý nợ tồn đọng được thực hiện theo các quy định của pháp luật về giải thể, phá sản và các khoản nợ tồn đọng được xử lý theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
+ Đối với các Doanh nghiệp thua lỗ đã tổ chức lại sản xuất, có khả năng phát triển nếu có nợ vay ngân hàng thương mại nhà nước đã được khoanh nợ thì được xoá lãi vay chưa trả ngân hàng và xem xét kéo dài thời gian khoanh nợ.
+ Đối với doanh nghiệp Nhà nước có quyết định thực hiện chuyển đổi nhưng gặp khó khăn không cân đối được nguồn để thanh toán các khoản nợ quá hạn thì Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại Nhà nước xem xét, quyết định cho DN được giãn nợ, khoanh các khoản nợ quá hạn có đến thời điểm quyết định thực hiện chuyển đổi trong thời hạn từ 3 đến 5 năm. Trường hợp các doanh nghiệp này bị lỗ, không có khả năng thanh toán thì được xoá nợ lãi vay chưa trả ngân hàng với mức không vượt quá số lỗ còn lại.
+ Đối với doanh nghiệp đang thực hiện thủ tục cổ phần hoá, giao, bán thì ngoài biện pháp khoanh nợ, xoá nợ, DN phối hợp với Ngân hàng chủ nợ và tổ chức có chức năng mua bán nợ để xử lý phần nợ gốc quá hạn còn lại theo hướng mua hoặc bán lại nợ hoặc chuyển nợ thành vốn góp của Ngân hàng vào DN cổ phần theo quy định của pháp luật về tỷ lệ vốn góp.
– Về xử lý lỗ để xác định giá trị DN: trong thực tế, có những DN trước khi tiến hành cổ phần hoá, còn có những tồn tại do đầu tư kém hiệu quả dẫn đến kinh doanh thua lỗ hoặc có những DN nhiều dự án không được tính toán, khả năng thu hồi vốn, việc quản lý đầu tư chưa được chặt chẽ dẫn đến đầu tư công nghệ lạc hậu, không phù hợp, đầu tư đắt không cân đối với vùng cung cấp nguyên liệu, đầu tư vượt quá khả năng về vốn, thậm chí có những DN triển khai đồng thời nhiều dự án trong cùng một thời gian nên không có vốn mà phải sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư. Hậu quả là công suất huy động thực tế thấp, giá thành sản phẩm cao dẫn đến kinh doanh thua lỗ, không thu hồi được vốn. Đối với số lỗ trong kinh doanh thì giám đốc DN phải xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm tập thể, cá nhân và phải xử lý bồi thường vật chất (nếu do nguyên nhân chủ quan).
– Trường hợp DN có số lỗ nhỏ hơn giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại DN và không thuộc đối tượng Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối thì thực hiện phương án điều chỉnh cổ phần hoá trên cơ sở điều chỉnh giảm giá trị phần vốn nhà nước dự kiến góp tại DN tương ứng với số lỗ còn lại. Nếu không đủ thì tiếp tục điều chỉnh giảm giá trị phần vốn nhà nước dùng để thực hiện chính sách ưu đãi về giá bán cổ phiếu.
– Trường hợp DN có số lỗ nhỏ hơn giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại DN nhưng thuộc đối tượng Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối thì điều chỉnh phương án cổ phần hoá theo hướng điều chỉnh giảm quy mô vốn điều lệ và phương án bán cổ phần ưu đãi cho người lao động, người sản xuất trên cơ sở đảm bảo tỷ lệ cổ phần nhà nước nắm giữ đủ để thực hiện quyền chi phối.
Đi đôi với lộ trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, để thực hiện Nghị quyết Trung ương IX (khoá IX). Kiên quyết xoá bỏ các loại bảo hộ bất hợp lý sớm khắc phục tình trạng bao cấp như khoanh nợ, xoá nợ, giãn nợ, bù lỗ, cấp vốn tín dụng ưu đãi tràn lan đối với DNNN. Đây là hình thức buộc các DNNN phải tìm mọi cách để xử lý giải quyết các khoản nợ tồn đọng, nhằm tăng thêm khối lượng tiền quay vòng qua quỹ ngân hàng, với mục tiêu không để tài sản và vốn nằm chết? Đây cũng là nguyên tắc hoạt động của nền kinh tế thị trường, nếu giải quyết thu được các khoản nợ tồn đọng thì sẽ góp phần giảm bớt lượng tiền phát hành vào lưu thông, góp phần kiềm chế lạm phát và tổ chức tín dụng lại có vốn để đầu tư cho các chu kỳ sản xuất tiếp theo. Trong quá trình sắp xếp và cổ phần hoá DNNN, xác định giá trị doanh nghiệp thì hàng loạt các vấn đề phải giải quyết như lao động, vốn và tài sản và vai trò của các NHTM cực kỳ quan trọng, vì hiện tại vốn của NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ tài sản của Doanh nghiệp, đang là gánh nặng cho DN.
Trong quá trình xử lý nợ tồn đọng, nếu do nguyên nhân khách hàng gây nên như hạn hán, sâu bệnh làm cho cây trồng, vật nuôi không phát triển được, không có sản phẩm thu hoạch dẫn đến không có nguồn trả nợ vay ngân hàng, ở từng thời điểm căn cứ vào báo cáo của các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét trình Chính phủ có biện pháp tháo gỡ khó khăn một phần cho DN.
Để giải quyết được số nợ tồn đọng thì bản thân mỗi DN phải có biện pháp tích cực đôn đốc các khoản nợ phải thu, xử lý vật tư hàng hoá ứ đọng chậm luân chuyển và đặc biệt đối với khoản nợ vay Ngân hàng thương mại phải có kế hoạch trả nợ, không thể trông chờ vào sự chi viện của Nhà nước./.

SOURCE: ICB.COM.VN

HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ CỔ PHẦN HÓA

THS. LÝ QUỐC HÙNG

Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần ngày 16 tháng 11 năm 2004 là văn bản đã đưa ra những quy định thông thoáng, chặt chẽ, phù hợp hơn với tiến trình thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Tuy nhiên, do đây là Nghị định của Chính phủ nên không thể quy định hết các điều kiện, trình tự, thủ tục và các bước công việc để chuyển DNNN sang công ty cổ phần. Văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định đã được cụ thể hoá bằng Thông tư 126/2004/TT-BTC ngày 24 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính. Sau một thời gian thực hiện, thông tư 126 đã nảy sinh một số bất cập cần hoàn thiện để việc cổ phần hoá các DNNN được nhanh, công khai, minh bạch, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, tập thể và người lao động.

1. Vấn đề kế thừa liên doanh

Trong những năm qua, có nhiều DNNN thực hiện liên doanh với các công ty nước ngoài theo các hình thức được quy định tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo đó, khi DNNN tiến hành cổ phần hoá, các trường hợp sau có thể xảy ra (quy định tại điểm 1.5 phần B Mục II – Xử lý tài chính khi cổ phần hoá của Thông tư 126):

– Trường hợp doanh nghiệp có kế thừa liên doanh thì phải tính giá trị vốn góp liên doanh vào giá trị doanh nghiệp theo quy định tại Điều 20 của Nghị định 187/2004/NĐ-CP.

– Trường hợp các doanh nghiệp không kế thừa liên doanh, thì cơ quan có thẩm quyền quyết định cổ phần hoá (là các Bộ, UBND cấp tỉnh) xem xét, xử lý theo ba hướng. Một là bán lại số vốn góp của doanh nghiệp cho đối tác hoặc nhà đầu tư khác. Hai là, chuyển giao cho doanh nghiệp khác làm đối tác sau khi thỏa thuận, thống nhất với đối tác liên doanh. Ba là, chấm dứt liên doanh .

Đây là những quy định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có sự chọn lựa hợp lý cho mình, khi tiến hành cổ phần hoá, là có thể tiếp tục hay chấm dứt việc liên doanh trước khi chuyển sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Vấn đề là ở chỗ, quy định việc xác định giá trị để bán lại số vốn góp của DNNN trước đây khi tiến hành liên doanh, đặc biệt là trường hợp khi chuyển nhượng vốn đó cho chính đối tác trong liên doanh. Quy định tại Thông tư 126 còn chung chung “Giá bán phải sát với giá thị trường, nhưng không thấp hơn giá trị phần vốn góp theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán tại thời điểm gần nhất với thời điểm bán.” Quy định là giá phải sát với thị trường nhưng lại không có cơ sở để định giá, so sánh hay kiểm tra, kiểm soát của cơ quan khác, dẫn đến tuỳ thuộc hoàn toàn vào sự quyết định của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt DNNN cổ phần hóa. Lý do nữa mà chúng ta ai cũng rõ là phần vốn góp của DNNN vào liên doanh chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất và giá trị thực của nó tăng theo cùng thời gian, nhất là ở các thành phố lớn hay vị trí thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ đó thấy rằng, phần thiệt thòi có thể sẽ thuộc về Nhà nước bởi cái “chốt an toàn” của giá chuyển nhượng là không thấp hơn giá trị phần vốn góp theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán tại thời điểm gần nhất. Như vậy, thuận lợi cho các bên, cấp thẩm quyền duyệt cổ phần hóa nhưng không hợp lý hoá được lợi ích Nhà nước.

2. Thực hiện bán đấu giá cổ phần

Theo quy định, việc bán đấu giá cổ phần được thực hiện thông qua tổ chức tài chính trung gian với trường hợp có tổng mệnh giá của cổ phần từ trên 1 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng và tại Trung tâm giao dịch chứng khoán với trường hợp có tổng mệnh giá của cổ phần bán đấu giá trên 10 tỷ đồng. Quy định của Thông tư 126 cũng không hạn chế các trường hợp có số cổ phần bán đấu giá thấp hơn các mức trên nhưng có nhu cầu thì vẫn được bán qua Trung tâm giao dịch chứng khoán (dưới 10 tỷ đồng) hay tổ chức tài chính trung gian (mức dưới 1 tỷ đồng). Quy định này thể hiện tính công khai, minh bạch cao, không “khép kín” như trước đây và qua đấu giá cổ phần, phần thu về cho ngân sách Nhà nước là cao hơn, như các trường hợp của Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn, Sông Hinh, Điện lực Khánh Hoà và nhiều trường hợp khác.

Các quy định của Nghị định 187/2005/NĐ-CP và Thông tư 126/TT-BTC cũng không có quy định nào hạn chế hay cấm đối với những trường hợp tham gia đấu giá cổ phần. Điều này có nghĩa là, những người có khả năng tài chính đều có quyền tham gia đấu giá không hạn chế. Tuy nhiên, thực tế có thể xảy ra là một số người hoặc cá nhân tham gia đấu giá có quan hệ mật thiết, ruột thịt với người lãnh đạo của tổ chức tài chính trung gian đứng ra bán cổ phần, thông qua đó họ có thể nắm vững thông tin về tình hình của doanh nghiệp (ở đây đề cập đến doanh nghiệp cổ phần hoá có khả năng sinh lợi cao) sẽ đấu giá cổ phần được chính xác hơn. Từ đó họ có khả năng mạnh dạn trong việc quyết sách các mức giá để mua hay “thâu tóm” cổ phần. Hệ quả của nó tuy không có vấn đề gì nghiêm trọng, nhưng ảnh hưởng tới tính bình đẳng trong đấu giá cổ phần và có thể làm “méo mó” kết quả đấu giá, gây ra những kiện tụng sau này. Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan, cần quy định những điều kiện hạn chế hay cấm những người có quan hệ ruột thịt với lãnh đạo các tổ chức tài chính trung gian không được tham gia đấu giá cổ phần khi tổ chức trung gian đó đứng ra bán đấu giá.

Về cơ bản, các quy định về cổ phần hoá DNNN của Nghị định 187/2005/NĐ-CP và Thông tư 126/TT-BTC đã được triển khai, áp dụng có kết quả. Việc hoàn thiện các vấn đề nêu trên nhằm hoàn chỉnh quy định là điều cần làm để việc cổ phần hóa DNNN ngày một tốt hơn.

SOURCE: TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP KỲ 1 THÁNG 5/2006

 

 

ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – NHỮNG KHÓ KHĂN CẢN TRỞ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trong những năm qua, các doanh nghiệp nhà nước đã có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước còn thấp. Việc nghiên cứu khái quát bài học từ 20 năm đổi mới doanh nghiệp nhà nước có ý nghĩa quan trọng với việc thực hiện nhanh và có hiệu quả nhiệm vụ này trong thời gian tới.

Nếu năm 1995 cả nước vẫn còn 12.400 doanh nghiệp nhà nước, thì đến tháng 6/2005, cả nước chỉ còn 2.983 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó có 2.253 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, 440 doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, 290 nông lâm trường quốc doanh với tổng số vốn khoảng 220.000 tỷ đồng. Ngoài ra, còn có 670 Công ty cổ phần mà nhà nước giữ 51% vốn điều lệ trở lên. Mặc dù đã có những chuyển biến quan trọng và đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nhưng nhiều khiếm khuyết, bất cập của các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được khắc phục một cách cơ bản, việc đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước thường được đánh giá là chậm so với yêu cầu. Đã có nhiều công trình phân tích nguyên nhân của tình trạng này. Trong bài này, chúng tôi xin nêu thêm một số yếu tố cản trở quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước và những bài học kinh nghiệm.

Những khó khăn cản trở việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất, sự không rõ ràng trong nhận thức và thực thi vai trò của nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần.

Trong điều kiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, sự chuyển đổi vai trò của nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế là vấn đề phức tạp. Nhà nước đóng “vai trò kép” trong nền kinh tế nhiều thành phần: một mặt, là người quản lý vĩ mô hệ thống doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệp nhà nước phải được đối xử bình đẳng như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác; mặt khác, lại là người chủ sở hữu các doanh nghiệp nhà nước, dù nhiều hay ít, nhà nước vẫn muốn giành cho chúng sự quan tâm riêng. Nhà nước chưa tạo lập được môi trường kinh doanh thật sự bình đẳng cho các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế.

Thứ hai, sự không rõ ràng trong nhận thức vai trò của doanh nghiệp nhà nước như “công cụ vật chất” để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vai trò này thường được hiểu là: nhà nước sử dụng doanh nghiệp nhà nước để khắc phục các trục trặc của thị trường và nhà nước tác động trực tiếp đến doanh nghiệp nhà nước để qua đó tác động đến doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. Nhận thức này dẫn đến 2 hệ luỵ:

– Nhà nước không muốn hoặc khó giảm đầu tư phát triển doanh nghiệp nhà nước, bởi lẽ nhà nước luôn muốn có “công cụ vật chất” mạnh. Điều này là yếu tố cản trở việc thu hẹp khu vực doanh nghiệp nhà nước vốn dĩ hiện đang còn khá phân tán;

– DNNN là một chủ thể bình đẳng với doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, nó có quyền tự chủ và phải tự chịu trách nhiệm với hoạt động của mình. Bản thân doanh nghiệp nhà nước cũng bị điều tiết bởi các quan hệ thị trường và phải hoạt động thích ứng với các điều kiện của thị trường.

Thứ ba, ảnh hưởng của cơ chế quản lý tập trung, bao cấp còn khá nặng nề. Tuy yêu cầu phải chuyển nhanh sang cơ chế thị trường, nhưng một số chính sách của nhà nước vẫn thể hiện tính bao cấp và hành xử của một số cơ quan quản lý nhà nước vẫn thể hiện sự phân biệt đối xử theo hướng giành ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước, chưa thể hiện quyết tâm đưa doanh nghiệp nhà nước ra đối mặt với cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Sự níu kéo này còn có nguyên nhân từ lợi ích của một số nhóm xã hội và một số cá nhân có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước.

Thứ tư, một số biện pháp của nhà nước còn mang tính chủ quan. Điều này thể hiện rõ nét trong việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Về nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt các doanh nghiệp của mình. Song sự định đoạt ấy phải tuân thủ các quy luật khách quan về sự vận động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Đáng tiếc là, quyết định về mô hình tổ chức doanh nghiệp nhà nước vẫn chứa đựng nhiều yếu tố chủ quan. Trong những năm 1970, đó là mô hình liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh, còn trong những năm 1990 là mô hình Tổng Công ty nhà nước. Trong khi yêu cầu phải tiến hành thí điểm thận trọng, thì những chủ trương này lại được triển khai đại trà trong một thời gian ngắn. Trong nhiều trường hợp, quyết định hành chính được sử dụng thay cho quá trình vận động khách quan của các doanh nghiệp.

Thứ năm, chưa tạo được hậu thuẫn vững chắc về chính trị-xã hội cho việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là quá trình phức tạp, vừa chứa đựng những nội dung kinh tế vừa chứa đựng những nội dung chính trị-xã hội.

Việc thực hiện nội dung kinh tế chịu những ràng buộc chính trị-xã hội; việc tạo lập hậu thuẫn chính trị-xã hội là một trong những bảo đảm quan trọng hàng đầu cho sự thành công của đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Thực tế thời gian qua cho thấy, một trong những nguyên nhân làm cho đổi mới doanh nghiệp nhà nước chưa đạt được yêu cầu mong muốn là chưa tạo lập được nền tảng chính trị-xã hội thật sự vững chắc. Đó là: i) chưa hoàn toàn có sự thống nhất trong nhận thức lý luận về nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, về các thành phần kinh tế, về vai trò của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; ii) chưa tiên liệu đầy đủ tác động chính trị-xã hội có thể xảy ra, hoặc bị chi phối quá nặng bởi các yếu tố chính trị; iii) chưa xác định rõ ràng cơ chế, chính sách về quyền lợi và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý trong việc bảo đảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; iv) sự chậm trễ trong tiến hành cải cách hành chính, chưa cắt đứt được cơ chế “lợi ích cá nhân và lợi ích nhóm” gắn với sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước.

Một số bài học chủ yếu.

1. Đổi mới tư duy và nhận thức lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đây là bài học có tính chất bao trùm bảo đảm sự thành công của đổi mới doanh nghiệp nhà nước trong công cuộc đổi mới ở nước ta. Sẽ không thể đổi mới một cách cơ bản hệ thống doanh nghiệp nhà nước nếu dựa trên nền tảng tư duy cũ về chủ nghĩa xã hội. Cần nhận thức rằng việc phát triển kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước chỉ là một trong những phương tiện để xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ và văn minh ở Việt Nam chứ không phải là mục tiêu cần đạt được. Đổi mới tư duy phải được thực hiện đồng bộ ở tất cả các cấp, các ngành, nhưng trước hết phải là cấp cấp có thẩm quyền cao nhất trong hoạch định và chỉ đạo thực hiện các quyết sách chiến lược về phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung và đổi mới doanh nghiệp nhà nước nói riêng.

Việc đổi mới tư duy và nhận thức lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải được thực hiện “trong điều kiện xã hội thuận lợi: bầu không khí dân chủ trong xã hội, nhất là trong sinh hoạt Đảng, trong nghiên cứu khoa học, tinh thần tôn trọng sự thật, tôn trọng chân lý; hệ thống thông tin chính xác… Điều quan trọng là phải coi trọng công tác lý luận nhằm cung cấp nội dung khoa học cho việc đổi mới tư duy”.

2. Xác định lại phạm vi và vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Về phạm vi của các doanh nghiệp nhà nước

Việc xác định lại phạm vi doanh nghiệp nhà nước phù hợp với điều kiện Việt Nam là một trong những cơ sở để hoạch định chính sách nhằm huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hiện nay Việt Nam và nhiều nước coi doanh nghiệp nhà nước bao gồm doanh nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn và doanh nghiệp nhà nước nắm phần vốn hoặc cổ phần chi phối. Việc coi loại thứ hai là doanh nghiệp nhà nước có thể dẫn đến những bất hợp lý trong tư duy và hành xử: sự lạm quyền của người nắm phần vốn chi phối, coi nhẹ quyền của các chủ thể khác cùng góp vốn, trái với tính chất của doanh nghiệp đa sở hữu hoạt động theo nguyên tắc đối vốn. Từ đó, làm hạn chế khả năng động viên các chủ thể kinh tế khác cùng góp vốn với nhà nước thực hiện đầu tư.

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, chỉ nên coi doanh nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn là doanh nghiệp nhà nước. Theo quan niệm này, phạm vi doanh nghiệp nhà nước sẽ được thu hẹp đáng kể và chắc chắn sẽ: i) không làm ảnh hưởng đến vai trò của doanh nghiệp nhà nước; ii) tạo thuận lợi cho hành xử của nhà nước với doanh nghiệp đích thực của mình; iii) tạo cơ sở thuận lợi mở rộng, quan hệ liên kết giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế khác.

Về vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Việc xác định vai trò của doanh nghiệp nhà nước liên quan đến xác định vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần. Trong bài này, chúng tôi không lạm bàn về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, mà chỉ đề cập đôi điều về doanh nghiệp nhà nước như một “công cụ vật chất” của nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Luận điểm này chưa dựa trên nền tảng xác định rõ vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế ấy, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế phải được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà nước, hệ thống pháp luật phải được coi là công cụ chủ yếu của nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bởi vậy, thay vì bận tâm vào việc củng cố và tăng cường “công cụ vật chất” của mình, nhà nước cần tập trung trí tuệ, thời gian và công sức vào việc xây dựng hệ thống pháp luật và tạo nền nếp hành xử theo pháp luật.

3. Thực sự đưa doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng sẽ tạo động lực huy động các nguồn lực trong và ngoài nước. Khi quyết định theo đuổi cơ chế thị trường cũng có nghĩa phải chấp nhận cạnh tranh như một trong những đặc trưng cơ bản. Trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lợi thế cạnh tranh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Việc giành cho doanh nghiệp nhà nước nhiều ưu đãi, thậm chí vẫn tồn tại những doanh nghiệp độc quyền, không những hạn chế quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, làm doanh nghiệp nhà nước chưa thể trở thành “tấm gương” trong nền kinh tế nhiều thành phần, mà còn tạo nên sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, hạn chế khả năng huy động các nguồn lực của xã hội vào hoạt động đầu tư.

Việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chỉ có thể được đẩy mạnh khi thực sự tư duy và hành động theo cơ chế thị trường, đoạn tuyệt hoàn toàn với cơ chế bao cấp, thực sự đưa các doanh nghiệp nhà nước ra cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đã khuyến cáo rằng: “Cạnh tranh cải thiện hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước không chỉ vì các đối thủ cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước hoạt động tốt hơn, mà còn vì cạnh tranh sẽ làm rõ các khoản chi phí hỗ trợ cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả hay những chi phí sử dụng doanh nghiệp nhà nước để theo đuổi các mục tiêu chính trị-xã hội. Cạnh tranh cũng cung cấp thông tin về hoạt động quản lý: Chính phủ có thể đánh giá vai trò của quản lý, mức độ cố gắng trong quản lý bằng cách so sánh hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước với hiệu quả của đối thủ cạnh tranh. Thực tế đây là điều mà các nước cải cách thành công đã làm: họ tăng cạnh tranh trong nước bằng cách xoá bỏ các kiểm soát giá cả và rào cản gia nhập thị trường, tăng cạnh tranh quốc tế bằng tự do hoá ngoại thương. Không chỉ vậy, các nước này còn giải thể hầu hết các doanh nghiệp nhà nước thuộc khu vực cạnh tranh.

4. Xác định rõ chủ sở hữu và xoá bỏ cơ chế chủ quản của doanh nghiệp nhà nước

Về chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước

Nếu giới hạn vào các doanh nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn, thì sở hữu cụ thể của doanh nghiệp là nhà nước. Song trong sự cụ thể đó lại chứa đựng nhiều yếu tố trừu tượng: trong hệ thống quản lý nhà nước với nhiều cơ quan ở nhiều cấp khác nhau có sự phân công và phối hợp để thực hiện các quyền và trách nhiệm về quản lý kinh tế, không xác định được rõ cơ quan nào là chủ sở hữu đích thực của doanh nghiệp nhà nước. Hậu quả khó tránh khỏi là tình trạng thiếu trách nhiệm, chồng chéo trùng lắp trong việc thực hiện các chức năng của quản lý nhà nước với doanh nghiệp nhà nước.

Bởi vậy, để đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, cần xác định rõ được chủ sở hữu đích thực của doanh nghiệp nhà nước. Với tinh thần nhà nước bỏ vốn đầu tư để thực hiện các hoạt động kinh tế (trong giới hạn hợp lý), tiền vốn đó phải được quản lý một cách có hiệu quả, Chính phủ có thể thành lập một cơ quan trực thuộc với chức năng quản lý vốn của nhà nước tại doanh nghiệp. Người được giao vốn (Hội đồng Quản trị hoặc Giám đốc doanh nghiệp nhà nước) có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý nhà nước khác thực hiện việc quản lý doanh nghiệp nhà nước theo đúng chức năng được giao như quản lý doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.

Về cơ chế chủ quản với doanh nghiệp nhà nước

Chủ trương xoá bỏ chế độ chủ quản đã được nêu ra từ đầu những năm 1990, nhưng đến nay vẫn chưa có chuyển biến cơ bản. Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là: i) sự chưa rõ ràng trong xác định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế; ii) sự e ngại mất quyền lực và lợi ích khi không còn doanh nghiệp “trực thuộc”; iii) thói quen của người quản lý doanh nghiệp trong việc tìm chỗ dựa để chia sẻ trách nhiệm trong hoạt động sản xuất-kinh doanh. Sự tồn tại cơ chế chủ quản đã dẫn đến hạn chế quyền chủ động và tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước, sự chậm trễ trong sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và ban hành các chính sách phù hợp với cơ chế thị trường.

Việc xoá bỏ cơ chế chủ quản phải được thực hiện trong khuôn khổ cải cách nền hành chính quốc gia. Theo đó, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ được tổ chức theo các chức năng mà nhà nước phải thực hiện phù hợp với cơ chế thị trường. Quan hệ giữa các cơ quan này với doanh nghiệp nhà nước được quy định cũng giống như quan hệ với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Như vậy, để thúc đẩy đổi mới doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ làm từ doanh nghiệp, mà trước hết phải làm từ chính các cơ quan quản lý nhà nước, nhà nước phải đổi mới mình làm cơ sở để đổi mới doanh nghiệp nhà nước.

5. Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa các vấn đề kinh tế với các vấn đề chính trị-xã hội trong đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Đây là một trong những điều kiện tiền đề để bảo đảm thành công của đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Trong khuôn khổ bài này, xin nhấn mạnh 2 điểm sau đây:

Thứ nhất, xác định đúng hệ mục tiêu mà doanh nghiệp nhà nước cần đạt. Trong thực tế, doanh nghiệp nhà nước thường được đặt nhiệm vụ phải thực hiện hệ đa mục tiêu, gồm cả kinh tế, chính trị và xã hội. Điều này đã gây nên những bất cập trong quản lý cả ở tầm vĩ mô và vi mô, chẳng hạn: i) không xác định rõ được mục tiêu trung tâm để tập trung sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; ii) tạo cớ để biện minh cho những kém cỏi trong quản lý hoạt động của doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, trừ những doanh nghiệp liên quan đến an ninh, quốc phòng, doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động theo đúng cơ chế thị trường với mục tiêu kinh tế là trung tâm và trên cơ sở đó thực hiện các mục tiêu xã hội như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Thứ hai, đổi mới doanh nghiệp nhà nước chắc chắn sẽ động chạm đến tâm tư và lợi ích của nhiều bộ phận dân cư. Bởi vậy, về mặt chính trị, một mặt, nhà nước phải có quyết tâm cao trong việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước, mặt khác, phải bảo đảm tính khả thi của những nội dung đổi mới và tạo sự đồng thuận của cả xã hội về đổi mới doanh nghiệp nhà nước.

SOURCE: irv.moi.gov.vn

KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ TRONG CỔ PHẦN HÓA

Cách đây 15 năm, Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (tháng 11/1991) đã đề ra chủ trương cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

Những hạn chế trong cổ phần hoá

Sau 15 năm thực hiện, CPH đã đạt được nhứng kết quả nhất định. Theo số liệu báo cáo của các địa phương, bộ, ngành, tổng công ty, đến 30/6/2006 cả nước đã CPH 3.365 doanh nghiệp  và bộ phận doanh nghiệp . Thông qua CPH đã huy động được trên 22.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi trong xã hội vào đầu tư kinh doanh. Quy mô của doanh nghiệp  CPH được mở rộng, số vốn nhà nước tại DN đã CPH tăng mạnh. Việc gắn kết CPH DNNN với niêm yết trên thị trường chứng khoán đã góp phần tăng nguồn cung cho thị trường, đồng thời là nhân tố thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. Hầu hết các doanh nghiệp  sau khi CPH đều hoạt động hiệu quả hơn trước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc CPH trong gần 15 năm quan cũng còn tồn tại hạn chế cần khắc phục:

– Sau 15 năm triển khai mới CPH được 12% số vốn nhà nước có tại doanh nghiệp  là quá nhỏ bé. Nhà nước giữ cổ phần vẫn nhiều (bình quân 46,5%) đặc biệt là vẫn nắm chi phối tới 38% số doanh nghiệp  CPH. Còn nhiều DN nhà nước giữ 100% vốn hoạt động trong các lĩnh vực nhà nước khong cần giữ hoặc chi phối.

– Các DNNN tuy đã được sắp xếp lại một bước, song quy mô vẫn nhỏ, năng lực tài chính yếu. Nhiều DN hệ số vốn tự có/ vốn vay và vốn tự có/ tổng tài sản đang nằm trong giới hạn mất an toàn. Hiện tại 20/101 tổng công ty thua lỗ rất lớn, số còn lại mổ xẻ ra thì cũng còn rất nhiều vấn đề đáng quan tâm.

– Việc chuyển đổi TCT sang mô hình công ty mẹ-công ty con có nhiều sơ hở để cho một số DN thnàh viên của TCT đúng ra phải CPH để “chui” vào công ty mẹ 100% vốn nhà nước để tránh phải CPH.

– Còn có sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, chưa tạo điều kiện để thu hút và gắn kết giữa hoạt động đầu tư của nhà đầu tư chiến lược với sự phát triển của doanh nghiệp CPH.

Phân tích nguyên  nhân hạn chế

Những hạn chế trong CPh xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó theo chúng tôi, những nguyên nhân chủ yếu là:

Chậm đổi mới tư duy quản lý.

Nguyên nhân chính dẫn đến việc CPH chậm, không đạt mục tiêu đặt ra là do tư duy quản lý chậm đổi mới. Một số Bộ, ngành, tỉnh, tổng công ty nhà nước chưa quán triệt sâu sắc và chưa chấp hành nghiêm nghị quyết của Đảng, quy định của Nhà nước trong đổi mới DNNN.

– Tư tưởng bao cấp đang đè nặng chưa hẳn được giải phòng. Quan điểm “quản được đến đâu mở đến đó” vẫn còn tồn tại trong không ít các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách. Sự lúng túng trong lý luận về “định hướng XHCN” dẫn đến sự chần chừ và chờ đợi trong tổ chức thực hiện.

– Chưa có các tiêu chí cụ thể và thống nhất để xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đánh giá về hiệu quả DNNN nên nhận định chưa đúng về tác dụng của các chủ trương và biện pháp cải cách DNNN và các định hướng tiếp theo.

Vấn đề hành lang pháp lý và tính nhất quán trong chỉ đạo thực hiện

– Hành lang pháp lý còn thiếu minh bạch, thiếu nhất quán, thiếu tính ổn định và đồng bộ.

– Việc sắp xếp, cơ cấu lại DNNN chưa được thực hiện theo một để án tổng thể kết hợp giữa ngành và địa bàn mà lại được thực hiện theo từng đề án của từng bộ, ngành, đại phương, tổng công ty nên còn có sự chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, giữa doanh nghiệp  trung ương và doanh nghiệp  địa phương trên cùng một địa bàn.

– Các doanh nghiệp  được troa nhiều quyền tự chủ nhưng chưa có cơ chế giám sát hiệu quả nên dẫn đến việc triển khai các chính sách còn tuỳ tiện, thiếu minh bạch…Chưa có những quy định về công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp  và CPH. Hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước còn thấp; công tác kế toán, kiểm toán còn nhiều yếu kém, chưa bảo đảm phục vụ một cách hữu hiệu công tác quản lý, kiểm tra, giám sát.

– Một số tổng công ty và công ty nhà nước chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con nhưng chưa tuân thủ điều kiện khách quan, đặc biệt điều kiện về liên kết kinhtế và đầu tư chi phối lẫn nhau, khiến cho việc chuyển đổi chỉ  mang tính chất sắp xếp hành chính, khiên cưỡng và ép buộc. Bộ máy chuyên môn nghiệp vụ của công ty mẹ chưa theo kịp yêu cầu thực hiện đồng thời hai chức năng của công ty mẹ là vừa trực tiếp sản xuất kinh doanh, vừa đầu tư tài chính.

– Việc hình thành tập đoàn kinh tế còn nhiều lúng túng, nhiều vấn đề chưa được tập trung quan tâm đúng mức trong chỉ đạo tổ chức thực hiện. Chưa hình thành khung pháp luật đầy đủ hướng dẫn cho việc hình thành và quản lý đối với tập đoàn.

Năng lực và trình độ của lãnh đạo DN còn hạn chế

– Năng lực, trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp  còn nhiều hạn chế, quản trị doanh nghiệp  khong theo đúng thông lệ quốc tế. Nhiều công ty cổ phần chưa có sự đổi mới, chuyển biến thực sự về phương thức quản lý và lề lối làm việc, do chưa có sự thay đổi đội ngũ lãnh đạo,

– CPH còn mang tình “khép kín”;trong đó chủ yếu cổ đông vẫn là người lao động, người quản lý và Nhà nước, không có chính sách thu hút cổ đông chiến lược khi tiến hành CPH, do vậy việc quản trị của các DN cổ phần không được cải thiện.

Những bất cập về cơ chế, chính sách

– Còn có sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, chưa tạo điều kiện để thu hút gắn kết giữa hoạt động đầu tư của nhà đầu tư chiến lược với sự phát triển của doanh nghiệp  CPH. Tỷ lệ bán cổ phần ra bên ngoài còn thấp, nhất là tỷ lệ cho các cổ đông nước ngoài.

– Phương thức bán đấu giá cổ phiếu chưa đa dạng, các phương thức như bảo lãnh phát hành, thoả thuận chưa được áp dụng.

– Việc ấn định tỷ lệ nhất định bán cho người lao động trong doanh nghiệp  vô tình đã biến họ trở thành các cổ đông bất đắc dĩ, hạn chế hiệu quả hoạt động của các DN sau CPH

– Các thủ tục liên quan đến hồ sơ đất đai để chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần còn chưa được hướng dẫn đầy đủ hoặc còn kéo dài.

Một số đề xuất, khuyến nghị

* Nhanh chóng hoàn thiện và bổ sung thể chế. Đẩy mạnh việc hoàn thiện các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và các luật liên quan như luật Đầu tư, Luật Đất đai…Ban hành các tiêu chí đáp ứng yêu cầu chuyển đổi DNNN như tiêu chí chuẩn về điều kiện hình thnàh tập đoàn kinh tế, soát xét lại các lĩnh vực Nhà nước cần giữ 100% vốn hoặc cổ phần chi phối để có cơ sở xác địnhcác DNNN tiếp tục thực hiện CPH theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X.

* Sửa đổi Nghị định 187/2004/NĐ-CP theo hướng thị trường và hội nhập,tạo cơ sở pháp lý chocác nhà đầu tư trong và ngoài nước được tham gia không hạn chế vào CPH theơc chế đấu giá bình đẳng, đơn giản hoá các thủ tục. Cụ thể là:

– Đối tượng CPH  cần bao gồm các công ty TNHH nhà nước 1 thành viên (bao gồm cả các công ty mẹ).

– Giảm tỷ lệ vốn nhà nước tại công ty cổ phần, giảm bớt tỷ lệ công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối. Mở rộng hơn nữa tỷ lệ cho phép nắm giữ cổ phần đối với các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài để thu hút nguồn vốn, công nghệ tiên tiến, quản trị doanh nghiệp  hiện đại.

– Bỏ quy định dành 20% cổ phiếu bán cho người lao động trong doanh nghiệp  với giá ưu đãi. Thay vào đó, người lao động được hưởng một khoản lợi ích theo năm công tác khi thực hiện CPH DN, không nên ép người lao động trở thành cổ đông bất đắc dĩ.

– Bổ sung thêm các phương pháp định giá phù hợp. Khi chúng ta chủ trương CPH các doanh nghiệp  có quy mô lớn thì phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp  được quy định tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP là không còn phù hợp. Bởi vì, đối với doanh nghiệp  này, ngoài giá trị hữu hình, còn nhiều giá trị vô hình như uy tín, thương hiệu…Ngoài ra, cần tính giá trị quyền sử dụng đất vào DN, giá đất phải được tính một cách hợp lý, hợp thức hoá đất đai trước khi DN CPH.

– Xoá bỏ chính sách ưu đãi thuế cho các DN thực hiện CPH. Quy định về ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp  quy mô nhỏ, kinh doanh thua lỗ kéo dài khi chuyển sang công ty cổ phần là cần thiết, nhằm giúp doanh nghiệp  vượt qua khó khăn trong thời kỳ đầu . Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay CPH đã được áp dụng đối với những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp  đang hoạt động kinh doanh có lãi thì việc ưu đãi thuế sau CPH là không cần thiết, gây thất thu thuế cho NSNN.

* Sớm ban hành các quy chế đánh giá hiệu quả DNNN, quy chế kiểm soát, giám sát và nhất là cơ chế tuyển chọn cán bộ quản lý để nâng cao trách nhiệm giám đốc DN

* Tạo điều kiện thúc đẩy thị trường lao động phát triển. Chuyển nhận thức và có cơ chế coi “giám đốc doanh nghiệp “ là một nghề chứ không phải là chức tước; thoát ly vấn đề quốc tịch và vị thế chính trị đối với giám đốc.

* Tập trung kiện toàn các tổng công ty nhà nước theo hướng sau:

– Chỉ lựa chọn những tổng công ty mạnh, đủ điều kiện theo tiêu chí của tập đoàn kinh tế để làm hạt nhân hình thành các tập đoàn kinh tế. Đây là những tập đoàn đóng vai trò rất quan trọng giúp Nhà nước chủ động trong điều tiết vĩ mô, đảm bảo phát triển kinh tế đất nước theo định hướng XHCN.

– Hình thành tập đoàn kinh tế theo kết cấu đa sở hữu: công ty mẹ-tập đoàn-có thể 100% vốn Nhà nước, có thể là đa sở hữu, nhưng Nhà nước giữ hơn 50% vốn điều lệ, còn các tổng công ty, công ty trong đó hầu hết là đa sở hữu. Hạn chế công ty mẹ 100% vốn Nhà nước.

– Kiên quyết giải thể những tổng công ty kinh doanh thua lỗ kéo dài, kém hiệu quả, Nhà nước không cần nắm giữ.

+ Hạn chế chuyển DNNN sang công ty TNHH nhà nước một thành viên 100% vốn Nhà nước. Rà soát lại các công ty này để tiến tới CPH toàn bộ các công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước.

+ Bên cạnh việc CPH, Nhà nước phải có cơ chế, chính sách đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời tạo một môi trường cạnh tranh bình đẳng, với những thủ tục rõ ràng, thống nhất, hệ thống thông tin minh bạch, ổn định và nhất quán cho các doanh nghiệp  hoạt động. Chính khu vực kinh tế này sẽ là động lực của sự phát triển trong những thập kỷ tới.

(Nguồn: TCTC – MOI.GOV.VN)

CỔ PHẦN HÓA: KHÔNG THỂ BÀN LÙI

Chuyển các DN do Nhà nước sở hữu 100% vốn thành Cty cổ phần (gọi tắt là CPH), là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, đã và đang được thực hiện trong nhiều năm qua.

Đến nay, không còn ai nghi ngờ gì về những tác động tích cực của CPH đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, gần đây, một số ý kiến đã đề nghị nên ”phanh lại” tốc độ CPH các DNNN. Những đề nghị ấy đưa ra nhiều lý do khác nhau, song tựu trung lại, có hai vấn đề nổi cộm cần quan tâm.
Thứ nhất, trong thời gian qua, tình trạng ”liên kết ngầm” của một nhóm quyền lực trong việc bán đấu giá lần đầu khi CPH các DNNN nhằm thôn tính DN đã xảy ra khá nhiều. Mục tiêu của “liên kết ngầm” này không có gì khác là chuyển một phần tài sản của Nhà nước sang cho một nhóm các cá nhân (xuất hiện hoặc không xuất hiện trực tiếp) có quyền thao túng việc CPH DN nhà nuớc.
Thứ hai, đã đến lúc, các “đại gia” trong các DNNN vào cuộc. Các tập đoàn, các TCty lớn, các ngân hàng thương mại Nhà nước đã có kế hoạch CPH trong một thời gian không xa. Khi CPH, các ”đại gia” này sẽ ngay lập tức đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung. Vì vậy, nhiều ý kiến lo ngại rằng, với một lượng rất lớn cổ phiếu của các DNNN này tung ra thị trường, tình trạng cung vượt cầu quá lớn trên TTCK VN là không thể tránh khỏi. Xa hơn nữa, nhiều ý kiến cũng cảnh báo rằng, điều đó có thể là ngòi nổ cho một cuộc khủng hoảng tài chính như đã từng xảy ra vào những năm 1997 -1999 trên thị trường tài chính khu vực. Khi đó, hậu quả đối với nền kinh tế sẽ là vô cùng lớn.
Tuy nhiên, lập luận của đề nghị ”phanh lại” tốc độ CPH như nêu trên là đúng nhưng chưa đủ. Có thể cho rằng, đó chỉ là những ý kiến dựa vào những biểu hiện bề ngoài để ”bàn lùi” trong vệc CPH các DNNN.
Trước hết, CPH các DNNN, tự bản thân nó là một chủ trương đúng đã được khẳng định trong thực tế. Nó là ”phác đồ điều trị” hữu hiệu để vực dậy những DNNN đang tồn tại ngắc ngoải trong nhiều năm; là biện pháp tích cực để thu hút vốn của mọi tầng lớp nhân dân đầu tư vào sản xuất, kinh doanh của các DN, là biện pháp có hiệu quả để biến những người lao động làm thuê tại các DNNN thành những người đồng sở hữu thực sự. Và, quan trọng hơn cả, đó là điều kiện quan trong nhất để xoá bỏ cơ chế chủ quản – cái nôi của cơ chế xin – cho…
Những tiêu cực phát sinh trong quá trình CPH các DNNN là có thực và đang làm đau đầu các nhà quản lý. Song, phải khẳng định ngay rằng, những tiêu cực ấy không có nguyên nhân từ bản thân việc CPH các DNNN. Nó xuất phát từ sự yếu kém trong nghiên cứu, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện việc CPH. Chẳng hạn, nhiều nghiên cứu đã chỉ rằng, nguyên nhân dẫn đến sự hình thành các “liên kết ngầm” nhằm thôn tính các DNNN khi CPH là do giá trị quyền sử dụng đất đã không được tính vào giá trị DN khi CPH. Đất đai là tài sản đặc biệt có khả năng sản sinh ra một lượng giá trị lớn được gọi là “địa tô chênh lệch”. Địa tô chênh lệch xuất hiện trong kinh tế thị trường không phụ thuộc vào việc mảnh đất đó là giao đất hay thuê đất… Lý giải rằng, đất do DN đi thuê thì không được đưa vào giá trị DN khi CPH là đúng về lý thuyết kế toán nhưng lại không đúng trong thực tế. Không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DN khi CPH tức là Nhà nước đã từ bỏ quyền được nhận phần “địa tô chênh lệch” phát sinh từ quyền sử dụng đất. Và, tất yếu, phần ”địa tô” ấy sẽ rơi vào túi những người quản lý, điều hành DN sau CPH. Tiếc rằng, trong Nghị định 109 mới ban hành về CPH các DNNN, vướng mắc trên vẫn chưa được giải quyết triệt để. Một mâu thuẫn nữa đã xuất hiện trong thực tiễn và cũng chưa được giải quyết triệt để đó là: nếu xác định đúng giá trị DN khi CPH, bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất, thì giá trị DN tăng lên rất cao, cổ phiếu bán ra với giá trị khá lớn, có thể vượt quá khả năng mua CP của người lao động và khi đó việc bảo đảm quyền mua CP của người lao động sẽ không thực hiện được…
Phân tích trên cho thấy, những tiêu cực trong việc CPH các DNNN chủ yếu xuất phát từ năng lực quản lý, điều hành. Không thể vì yếu kém trong quản lý mà “phanh lại” hay “cấm” một hoạt động đúng quy luật khách quan.
Về tác động của CPH các DNNN tới TTCK là tất yếu, không thể né tránh. Nếu nó không tác động hôm nay thì sẽ tác động vào ngày mai. Vì vậy, cũng không thể “vin” vào sư yếu kém trong việc quản lý, điều hành TTCK để làm chậm lại tiến trình CPH các DNNN.
CPH các DNNN là chủ trương đúng, hợp quy luật, hợp lòng dân. Xin đừng vì những yếu kém chủ quan mà bàn lùi để níu kéo sự tồn tại của các DNNN và cơ chế xin cho còn rất nặng nề như hiện nay.

(Nguồn:DĐDN)

 

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – ĐÔI ĐIỀU LÀM RÕ

SOURCE: MOI.GOV.VN

Tôi cho rằng, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không chỉ là một nhiệm vụ kinh tế mà cũng là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, rất nhạy cảm: đột phá vào một phần của vấn đề sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân, công hữu của chủ nghĩa xã hội mô hình cũ, theo tư duy mới về sở hữu xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Ðảng ta trong quá trình tìm tòi, thể nghiệm, cụ thể hóa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Ðây là một nhiệm vụ nặng nề và khó khăn mà cấp bách, phải kiên quyết và khẩn trương tiến hành nhưng thận trọng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, luôn luôn giữ vững định hướng XHCN, nhất là nay nước ta đã gia nhập WTO.
Cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là xử lý về mặt quan hệ sản xuất để phát triển lực lượng sản xuất. CPH DNNN góp phần thúc đẩy CNH, HÐH đất nước: DNNN có điều kiện huy động được những khoản tiền lớn trong nhiều nguồn vốn trong nước và ngoài nước để đổi mới công nghệ ngày càng hiện đại, đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực mới, phát triển sản xuất, kinh doanh. Ngược lại, CNH, HÐH là phát triển lực lượng sản xuất, tạo động lực ngày càng mạnh mẽ để thúc đẩy CPH DNNN cũng như các DN khác trong toàn bộ nền kinh tế. Do vậy, CPH DNNN phải gắn chặt với CNH, HÐH đất nước.
Như Ðảng ta chỉ rõ, tiêu chí quan trọng nhất đánh giá thành công của CPH DNNN là hiệu quả của DNNN cổ phần trong nhiệm vụ làm nòng cốt cho kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, thúc đẩy tất cả các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Ðây là một thành công “kép” cả về mặt phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại và về mặt định hướng XHCN (trước hết bởi kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển).
Ðương nhiên, CPH mới là xử lý vấn đề sở hữu – là quan trọng nhất; còn phải tiếp tục xử lý các vấn đề quản lý và phân phối nữa mới phát huy được hiệu quả của DNNN CPH. Quản lý và phân phối là quyết định ở thời kỳ “hậu CPH” mà then chốt là quản lý.
Vấn đề được dư luận quan tâm nhiều là, trong và sau CPH, cơ cấu sở hữu và chủ sở hữu của DN cổ phần phải như thế nào thì DN cổ phần ấy mới là DN cổ phần thuộc thành phần kinh tế nhà nước, với vị trí, vai trò và trách nhiệm của nó, không bị tư nhân hóa hoặc trở thành DN cổ phần thuộc thành phần kinh tế khác.
Ðương nhiên, không nói đến nhiều DNNN mà Nhà nước không cần và không nên nắm giữ, phải xử lý bằng nhiều biện pháp: sáp nhập, giải thể, bán…, góp phần lành mạnh hóa hệ thống DNNN.
Trong quá trình CPH DNNN thời gian qua ở nước ta, đã hình thành những DN cổ phần bao gồm ba chủ sở hữu là: Nhà nước, người lao động trong DN và cổ đông ngoài DN. Tổng hợp chung ở các công ty đã CPH, trong vốn điều lệ của DN, Nhà nước nắm giữ 49%, người lao động trong DN 26%, cổ đông ngoài DN 25%. CPH tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong DN.
Theo thông tin trên thì đây là một bước đột phá rất có ý nghĩa trong tư duy mới về sở hữu Nhà nước. DNNN không chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nước. Người lao động không sở hữu thực chất vẫn là người làm thuê (chỉ làm chủ về mặt lý thuyết thông qua Nhà nước của mình như trong chủ nghĩa xã hội mô hình cũ). Nay người lao động trở thành chủ sở hữu trực tiếp DN, là đồng sở hữu với Nhà nước và cổ đông ngoài DN. Tức là chúng ta thừa nhận trong thực tế người lao động chủ sở hữu trực tiếp vốn, tư liệu sản xuất (chứ không chỉ thừa nhận chủ sở hữu về tư liệu sinh hoạt theo mô hình chủ nghĩa xã hội cũ). Ðây là một bước tiến mới trong sự nghiệp giải phóng người lao động, đồng thời động viên được các tầng lớp nhân dân tham gia phát triển kinh tế nhà nước, tạo nên động lực mới, to lớn cho người lao động, cho sự phát triển mạnh mẽ của DNNN.
Phân tích mô hình DNNN CPH hình thành trong thời gian qua, được coi thuộc thành phần kinh tế nhà nước, ta thấy rằng, trong cơ cấu đa sở hữu của DN, sở hữu Nhà nước và sở hữu người lao động trong DN chi phối. Ðương nhiên nếu hình thức sở hữu khác chi phối thì DN cổ phần đó thuộc thành phần kinh tế khác: hoặc kinh tế tập thể, hoặc kinh tế tư nhân và tư bản tư nhân, hoặc kinh tế tư bản nhà nước, cũng cần phát triển trong nền kinh tế nói chung. Xin lưu ý tác động của kinh tế thị trường, trong đó có thị trường chứng khoán đến sự biến đổi chủ sở hữu và có thể cả cơ cấu sở hữu của DN cổ phần.
Như vậy, sở hữu người lao động trong DNNN trở thành một bộ phận cấu thành phổ biến trong cơ cấu sở hữu của DN cổ phần thuộc thành phần kinh tế nhà nước. Ðang diễn ra một quá trình giải phóng người lao động không sở hữu, làm thuê trong DNNN kiểu cũ thành người lao động chủ sở hữu, làm chủ trong DNNN kiểu mới. Vì vậy, Ðảng ta rất coi trọng việc tạo điều kiện để người lao động trong DNNN tham gia sở hữu cổ phần. Ðương nhiên, về kinh tế, có vấn đề phát huy tác dụng chi phối tối đa và hiệu quả cao nhất bằng số vốn tối thiểu của Nhà nước trong DN cổ phần của Nhà nước, và cả khi đầu tư vào DN cổ phần thuộc các thành phần kinh tế khác.
Tôi hiểu, đây chính là CPH DNNN theo định hướng XHCN. Trong thực tế, ta đã thừa nhận: sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân, công hữu của chủ nghĩa xã hội đổi mới, của chủ nghĩa xã hội hiện đại không phủ định mà có sự cấu thành sở hữu trực tiếp của cá nhân người lao động liên hiệp lại, nhưng phải trên cơ sở những thành tựu của CNH, HÐH, của kinh tế tri thức trong văn minh trí tuệ.
Có một thực tế sẽ ngày càng phổ biến là, trong kinh tế thị trường, trước sự phát triển sôi động của thị trường chứng khoán, sẽ có nhiều nhà đầu tư tham gia cổ phần trong DN nhưng không làm việc tại DN, trong khi đó, do yêu cầu mở rộng sản xuất, kinh doanh mà DN tiếp nhận thêm nhiều lao động không sở hữu cổ phiếu nào trong DN. Vậy, vấn đề người lao động sở hữu cổ phần trong DNNN sẽ như thế nào?
Rõ ràng, nếu trong DNNN CPH không có người lao động sở hữu cổ phần, chỉ có quan hệ của nhà đầu tư tư nhân và người lao động làm thuê chi phối, thì chúng ta sẽ chỉ có những DN cổ phần thuộc các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản tư nhân; có sở hữu Nhà nước nữa thì DN thuộc thành phần kinh tế tư bản nhà nước.
Trong chủ trương phát triển các DN cổ phần thuộc các thành phần kinh tế khác, vấn đề người lao động chủ sở hữu cổ phần trong những DN cổ phần ấy được đặt ra như thế nào? Tôi cho rằng có thì rất tốt, nên khuyến khích, nhưng không phải là nguyên tắc, không phải là bắt buộc. Tuy nhiên cũng nên lưu ý, ngay trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại, ở nhiều nước, như ở Mỹ, người lao động trong nhiều DN tư bản chủ nghĩa tham gia đầu tư, chủ sở hữu một phần cổ phiếu không chi phối; đương nhiên đó vẫn là những DN tư bản chủ nghĩa, quan hệ chi phối ở đây là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Tôi đề nghị tiếp tục làm rõ vấn đề cổ đông người lao động trong DNNN CPH – cũng là nguyện vọng chính đáng của người lao động trong DNNN, nhất là chúng ta triển khai một nhiệm vụ mới nặng nề nhưng rất vẻ vang: CPH thêm mấy nghìn DNNN nữa, chủ yếu là các DN lớn, các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế nắm giữ phần vốn chủ yếu của Nhà nước trong DNNN.
Ðịnh hướng đúng cho phép ta phân biệt đâu là những nhân tố mới cần nhân lên tuy có khó khăn, đâu là những trở ngại phải gạt bỏ tuy chẳng dễ dàng.
CPH DNNN, đột phá vào DNNN chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nước, là phải đưa người lao động trong DN vào đồng sở hữu với Nhà nước, tiếp tục thực hiện việc giải phóng người lao động, trước hết từ người lao động không sở hữu làm thuê trở thành người lao động có sở hữu làm chủ, đồng thời trở thành người lao động có tri thức trong quá trình CNH, HÐH gắn bó chặt chẽ với CPH DNNN.
Hai công cuộc giải phóng này trong thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta được kết hợp với nhau một cách hợp lý và khôn khéo như thế nào đó, là vận dụng quy luật về sự tác động biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, mà quyết định phải là phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại. Như vậy mới thực hiện được giải phóng người lao động hoàn toàn và triệt để. Trước mắt và về lâu dài, đây là bước khởi đầu của một giai đoạn lịch sử trí thức hóa người lao động, trí thức hóa giai cấp công nhân; cùng với việc các tầng lớp trí thức ngày càng tham gia đông đảo đội ngũ giai cấp công nhân, xây dựng và phát triển giai cấp công nhân hiện đại, làm chủ, đại biểu cho phương thức sản xuất mới trong chủ nghĩa xã hội hiện đại.

Các bài viết có liên quan: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22s%E1%BB%9F+h%E1%BB%AFu+nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22

CỔ PHẦN HÓA VÀ CƠ CẤU QUYỀN SỞ HỮU

Đổi mới cơ cấu quyền sở hữu trong doanh nghiệp cổ phần hoá là một trong những giải pháp góp phần thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với quốc sách phát huy tiềm lực toàn xã hội.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, quản trị doanh nghiệp (corporate governance) ngày càng trở thành vấn đề thời sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp và nền kinh tế. Khác với hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp (corporate management) hàng ngày của ban lãnh đạo Công ty, quản trị doanh nghiệp là cách thức để các cổ đông giám sát Công ty nhằm đảm bảo ban lãnh đạo điều hành Công ty một cách có hiệu quả và vì lợi ích tốt nhất của các cổ đông (hay chủ sở hữu).

Một trong những yếu tố căn bản quyết định cấu trúc quản trị doanh nghiệp chính là cơ cấu quyền sở hữu. Theo tiến sỹ Rolf – E.Breuer, phát ngôn viên của Ban Giám đốc Ngân hàng Deutsche AG (Đức), phát hiện các nguyên tắc về lợi ích của các cổ đông tại Đức gần đây đã chứng minh rằng cơ cấu vốn đã trở thành vấn đề quan trọng trong quá trình phân bổ tài sản và ra quyết định của Công ty.

Ở nhiều quốc ghia thuộc Đông Âu và Cộng động các quốc gia độc lập (SNG), tư nhân hoá là phương tiện để thiết lập quyền sử hữu tư nhân. Ở Việt Nam, tình hình có đôi chút khác biệt vì khu vực tư nhân đã tồn tại và phát triển từ trước năm 1998 – thời điểm chương trình cổ phần hoá được đẩy mạnh. Tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đến nay đã bước sang năm thứ 14, tuy nhiên, cơ cấu sở hữu ở Việt Nam vẫn không thay đổi bao nhiêu. Nhìn vào kết quả thống kê của Ban chỉ đạo đổi mới, phát triển doanh nghiệp, hiện nay cả nước có 3.107 doanh nghiệp được cổ phần hoá trên tổng số 5.700 doanh nghiệp nhà nước. Thế nhưng, dù đã cổ phần hoá khoảng 54,5% tổng số các doanh nghiệp nhà nước, vốn của các doanh nghiệp này vẫn chỉ chiếm từ 15-17% tổng số vốn của cả hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Điều này cho thấy, tính chung cho cả nền kinh tế, cổ phần hoá ở Việt Nam hầu như chưa có tác động đến cấu trúc sở hữu của nền kinh tế.

Trong thời gian qua, nhà nước luôn giữ một tỷ lệ cổ phần cao trong các doanh nghiệp cổ phần hoá (trung bình khoảng 30% trong giai đoạn 1998-2002). Đặc biệt, từ năm 2002, tỷ lệ cổ phần nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hoá có chiều hướng tăng lên. Năm 2003, nhà nước nắm giữ 55,4% tổng cổ phần phát hành bởi các doanh nghiệp cổ phần hoá và tỷ lệ này vẫn duy trì ở mức cao trong năm 2004 (50%). Nhìn vào biểu đồ 1 và 2, ta thấy nhà nước và nội bộ doanh nghiệp nắm giữ đa số cổ phần, còn lượng cổ phần được bán ra bên ngoài chỉ khoảng 15%. Nguyên nhân chính của hiện tượng tăng đột ngột tỷ lệ cổ phần giữ lại này là do từ năm 2002, nhà nước đẩy mạnh việc cổ phần hoá đối với các doanh nghiệp ở nhiều ngành kinh tế trọng điểm và các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá này thường có quy mô lớn hơn, và có lợi nhuận cao hơn so với các doanh nghiệp đã được cổ phần hoá trong những năm trước đó.

Việc nhà nước duy trì tỷ lệ cổ phần đa số vô hình trung đã tạo ra một số khó khăn trong việc điều hành Công ty của các doanh nghiệp cổ phần hoá, đồng thời làm nảy sinh một số vấn đề pháp lý mới. Cụ thể là: cổ phần hoá vẫn chưa tạo ra được sự rạch ròi giữa quyền quản lý nhà nước và quyền sở hữu, vì nhà nước vừa là người ban hành các quy định, vừa là cổ đông lớn. Khi sở hữu đa số cổ phần, những người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp có quyền phủ quyết các quyết định quản lý và đầu tư quan trọng, và điều này có thể dẫn đến trường hợp can thiệp một cách duy ý chí vào hoạt động điều hành của doanh nghiệp. Ở tầm vĩ mô, việc nhà nước đóng vai trò kép – vừa là người chủ sở hữu các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp cổ phần hoá, vừa là cơ quan hành pháp tối cao – tạo ra khả năng một số cơ quan của nhà nước bị thao túng.

Một vấn đề cần quan tâm khác là khả năng và nguồn lực của cơ quan quản lý vốn nhà nước rất hạn chế trong khi cơ quan này phải giám sát cùng lúc rất nhiều doanh nghiệp cổ phần hoá. Hệ quả là cho dù trở thành cổ đông lớn (nếu không nói là lớn nhất) trong nhiều doanh nghiệp thì nhà nước cũng không thể sử dụng quyền điều hành và giám sát một cách đúng đắn. Điều này, cùng với việc người lao động thường chỉ có tiếng nói yếu ót, dẫn tới tình trạng ban Giám đốc không bị giám sát và trong nhiều trường hợp có thể tự do làm theo ý mình, vì vậy rất dễ xảy ra tình trạng lạm dụng quyền của tập thể để phục vụ lợi ích cá nhân.

Một đặc điểm nổi bật nữa của cổ phần hoá ở Việt Nam là có tính khép kín và nội bộ cao. Trong số các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, có tới 860 doanh nghiệp chưa bao giờ bán cổ phần ra bên ngoài. Lý do chủ yếu của hiện tượng này có thể là do ở đây có sự bất cân xứng thông tin đáng kể giữa những nhà đầu tư bên trong và bên ngoài doanh nghiệp về giá trị thực và giá trị tương lai của doanh nghiệp sẽ được cổ phần hoá. Khi thông tin không minh bạch và/hoặc không đầy đủ, đồng thời quyền lợi của các nhà đầu tư thiểu số không được bảo vệ một cách thích đáng thì hệ quả là đa số các nhà đầu tư bên ngoài sẽ không chấp nhận rủi ro và không mua cổ phiếu của doanh nghiệp. Kết quả là trong nhiều trường hợp, cổ phiếu tập trung vào tay ban Giám đốc, họ hàng và người quen của họ, tức là những người có thông tin nội bộ. Ngoài ra, việc khống chế tỷ lệ cổ phần bán cho các nhà đầu tư nước ngoài càng làm cho cổ phần hoá nội bộ trở nên phổ biến hơn. Điều này giải thích tại sao ban Giám đốc của nhiều doanh nghiệp nhà nước không muốn tiết lộ thông tin chân thực về doanh nghiệp của mình.

Mặt khác, hiện đang có một rào cản rất lớn đối với các nhà đầu tư chiến lược, là không phải doanh nghiệp nào cũng muốn có nhà đầu tư chiến lược tham gia. Bởi vì một khi nhà đầu tư chiến lược tham gia và có tiếng nói trong các quyết định của doanh nghiệp thì quyền lực của những người điều hành hiện tại bị giảm đi rất nhiều và khả năng bị sa thải vì năng lực không đáp ứng được yêu cầu công việc là điều khó tránh khỏi.

Do đó, có thể nói, chính cổ phần hoá nội bộ là nguyên nhân của sự thất bại trong việc thu hút lượng vốn vô cùng lớn từ nguồn tiết kiệm trong nước. Thêm vào đó, không có sự tham gia hiệu quả của các chủ sở hữu ở bên ngoài (đặc biệt là các cá nhân và tổ chức nước ngoài), chất lượng quản trị doanh nghiệp hậu cổ phần hoá sẽ rất khó được cải thiện. Đáng chú ý, một cuộc điều tra 261 doanh nghiệp cổ phần hoá do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện vào năm 2002 cho thấy, ban Giám đốc cũ được duy trì trong gần 90% doanh nghiệp nhà nước trong thời gian cổ phần hoá, và trong hơn 80% doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá.

Theo báo cáo gần đây của Ban Chỉ đạo đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp, hiện nay có khoảng 30% doanh nghiệp cổ phần hoá có tỷ lệ vốn nhà nước chiếm trên 50%. Tỷ lệ này đang kìm hãm đà phát triển của nhiều doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá.

Theo chúng tôi, sở hữu nhà nước thấp hơn 51% không có nghĩa nhà nước mất quyền kiểm soát doanh nghiệp, bởi nếu vẫn nắm vai trò cổ đông chi phối thì vẫn kiểm soát được. Do đó, vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta có thực sự cần thiết để một doanh nghiệp nào đó có hơn 51% vốn thuộc sở hữu của nhà nước hay không. Và ngày cả trong trường hợp, việc chiếm giữ đa số đó là cần thiết, chúng ta cần một lộ trình rõ ràng hơn về cơ cấu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hoá. Cần nhận thức được rằng, với việc nhà nước vẫn giữ tỷ lệ 51% hoặc hơn nữa ở doanh nghiệp sau khi đã cổ phần hoá, việc đưa công nghệ và kỹ năng quản lý điều hành hiện đại, đặc biệt là quản trị rủi ro vào những doanh nghiệp này sẽ có khả năng gặp nhiều khó khăn hơn trong khi quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày một nhanh ở hầu hết các ngành kinh tế quốc dân.

Mặt khác, nhà đầu tư bao giờ cũng muốn nắm giữ nhiều hơn ở những doanh nghiệp hoạt động tốt, và đó là nguyện vọng chính đáng. Như vậy tình trạng tỷ lệ sở hữu của nhà nước cao không thể kéo dài mãi được. Hơn nữa, nguyện vọng chính đáng này của các nhà đầu tư cũng tạo tiền đề cho việc đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư và huy động mọi nguồn lực để phát triển thị trường vốn của đất nước.

CPH là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước, một bộ phận quan trọng của chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước. Để cổ phần hoá thực sự phát huy được hiệu quả, huy động được tiềm lực toàn xã hội, những nghiên cứu về việc xây dựng cấu trúc quyền sở hữu phù hợp với môi trường quản lý của Việt Nam trong doanh nghiệp cổ phần hoá đã và đang trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện này.

Các bài viết có liên quan: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22s%E1%BB%9F+h%E1%BB%AFu+nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22

(Nguồn: TC – MOI. COM.VN)

CÔNG VĂN SỐ 125/BXD-QLN NGÀY 21 THÁNG 1 NĂM 2008 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG NHÀ, ĐẤT KHI DOANH NGHIỆP THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA

BỘ XÂY DỰNG
—–
Số: 125/BXD-QLN
V/v sử dụng nhà, đất khi doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——-
Hà Nội, ngày 21 tháng 01 năm 2008

Kính gửi: Sở Xây dựng Hải Phòng

Bộ Xây dựng đã nhận được văn bản số 1665/SXD-QLN ngày 19/12/2007 của Sở Xây dựng Hải Phòng về chính sách sử dụng nhà, đất khi doanh nghiệp nhà nước đang thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước thực hiện cổ phần hoá. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng cần triển khai thực hiện Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp lại, xử lý cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước do các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, công ty nhà nước đang quản lý, sử dụng trên địa bàn thành phố để đảm bảo sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả và theo tiêu chuẩn, định mức quy định.

Đối với doanh nghiệp nhà nước chưa cổ phần hoá thì việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước do doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng được thực hiện theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 83/2007/TT-BTC ngày 16/7/2007 của Bộ Tài Chính. Khi doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá thì quyền sử dụng đất do được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất và nhà được Nhà nước bán thanh lý là tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp phải được tính giá trị vào giá trị tài sản doanh nghiệp. Việc xác định giá trị nhà, đất phải được thực hiện theo quy định của pháp luật và không để thất thoát tài sản của Nhà nước.

Trường hợp doanh nghiệp đang thuê nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước để làm cơ sở sản xuất, kinh doanh thì được tiếp tục thuê theo quy định của pháp luật. Uỷ ban nhân dân thành phố cần thống nhất giao cho một cơ quan quản lý nhà đất của địa phương thực hiện công việc này.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng để Sở Xây dựng báo cáo Uỷ ban nhân dân thành phố biết, thực hiện./.

Nơi nhận:
– Như trên;
– Lưu VP, QLN.
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

NHÀ NƯỚC ĐƯỢC GÌ TỪ CỔ PHẦN HÓA?

Dưới đây là một số nhận định về vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hoá.

Khi bỏ ra 3.000 tỉ đồng để xây dựng Công ty Phân đạm và Hóa chất dầu khí (Đạm Phú Mỹ), Nhà nước không bao giờ nghĩ rằng chỉ vài năm sau lại thu về một khoản tiền lớn như vậy.

Vào thời điểm cổ phần hóa, giá trị doanh nghiệp của Đạm Phú Mỹ được xác định là 3.800 tỉ đồng, tăng thêm 800 tỉ so với vốn đầu tư. Với mức khởi điểm đấu giá 50.000 đồng/cổ phiếu, giá trị doanh nghiệp của Đạm Phú Mỹ tăng lên thành 19.000 tỉ đồng.

Đấu giá thành công 128,6 triệu cổ phần vào cuối tháng 4-2007 với giá bình quân 54.000 đồng/cổ phiếu, Nhà nước đã thu về gần 7.000 tỉ đồng, gấp 2,3 lần số vốn bỏ ra thành lập doanh nghiệp và vẫn giữ cổ phần chi phối tuyệt đối ở công ty này.

Nếu bán toàn bộ vốn nhà nước, Nhà nước sẽ thu về 20.520 tỉ đồng, đủ để xây dựng 4-5 nhà máy mới tầm cỡ Đạm Phú Mỹ. Quả là siêu lợi nhuận!

Cổ phần hóa nhưng vẫn bảo toàn vốn Nhà nước

Đạm Phú Mỹ khởi đầu giai đoạn mới của cổ phần hóa, hay nói chính xác là giai đoạn mới của cải cách doanh nghiệp quốc doanh: các công ty tầm cỡ quốc gia với vốn nhà nước hàng ngàn tỉ đồng vào cuộc.

Với vai trò cơ quan quản lý ngân khố đất nước, Bộ Tài chính là người trăn trở hơn ai hết về việc làm thế nào để không thất thoát tài sản nhà nước. Và điều này phụ thuộc nhiều vào điểm xuất phát định giá doanh nghiệp.

Ở Đạm Phú Mỹ, việc xác định giá trị doanh nghiệp không quá khó khăn như ở Bảo Việt, Vietcombank, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), MobiFone, Vinaphone… vì Đạm Phú Mỹ mới thành lập cách đây chưa lâu với số vốn đầu tư được hạch toán rõ ràng trên sổ sách.

Việc xác định giá trị Bảo Việt hay Vietcombank phải tính đến yếu tố quá trình xây dựng, phát triển công ty trong hàng chục năm, thương hiệu, kinh nghiệm, vị trí đầu ngành…

Có lẽ vì thế mà ở Đạm Phú Mỹ, Nhà nước chấp thuận phương án bán ra một phần vốn nhà nước, nhưng với Bảo Việt và Vietcombank, vốn nhà nước vẫn được giữ nguyên, chỉ phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn, nâng vốn điều lệ doanh nghiệp lên mức gấp 2-4 lần vốn điều lệ trước khi cổ phần hóa.

Việc khoanh vốn nhà nước thành một “cục”, tương ứng với một tỷ lệ vốn điều lệ doanh nghiệp sau khi chuyển đổi sở hữu, đồng thời Nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất, nắm quyền chi phối điều hành doanh nghiệp, gửi đến công chúng đầu tư một thông điệp: bất kể giá cổ phiếu doanh nghiệp sau này biến động ra sao, phần vốn nhà nước vẫn còn nguyên đó. Nghĩa là doanh nghiệp cổ phần hóa, nhưng vốn nhà nước vẫn được bảo toàn.

Những bất cập

Việc xác định giá trị phần vốn nhà nước ở Bảo Việt, cũng như những đơn vị chuẩn bị IPO, như vậy, khác hẳn với việc định giá doanh nghiệp khi cổ phần hóa trước đây. Tuy nhiên cách thức mới này bắt đầu bộc lộ những bất cập.

Thứ nhất, chẳng hạn như ở Bảo Việt, đã có sự không công bằng trong việc đấu giá mua cổ phần giữa nhà đầu tư nhỏ lẻ cá nhân và nhà đầu tư chiến lược. Nhà đầu tư cá nhân phải mua với giá trúng bình quân của ngày 31-5-2007 là 73.910 đồng/cổ phiếu, trong khi nhà đầu tư chiến lược được mua với giá tối thiểu bằng giá bình quân của ngày 26-6-2007 (là ngày nhà đầu tư nộp tiền, chấp nhận mua thực sự), chắc chắn thấp hơn giá ngày 31-5-2007.

Thứ hai sự chênh lệch quá lớn vốn điều lệ doanh nghiệp trước và sau cổ phần hóa (vốn điều lệ thực của Bảo Việt trước cổ phần hóa là 1.800 tỉ đồng, sau cổ phần hóa là 6.800 tỉ đồng, gấp 3,77 lần) gây sức ép cho doanh nghiệp về hiệu quả kinh doanh bởi tốc độ tăng trưởng lợi nhuận không thể ngang bằng tốc độ tăng vốn.

Mặt khác, việc tăng vốn như vậy sẽ làm giá trị cổ phiếu doanh nghiệp trở nên quá “loãng”, khó được chấp nhận đầu tư ở mức cao. Thường doanh nghiệp không muốn giá cổ phiếu của mình quá cao vì e ngại sức ép cổ đông về lợi nhuận, nhưng giá cổ phiếu thấp cũng không phải là điều họ mong muốn.

Hơn nữa, giá cổ phiếu thấp sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh công ty. Nhà đầu tư có thể nói: “Công ty đó chắc làm ăn kém nên giá cổ phiếu mới thấp như vậy”! Với cùng mức lợi nhuận sau thuế của năm 2007 là 615 tỉ đồng (theo bản cáo bạch), thì giá cổ phiếu của Bảo Việt sẽ khác xa hiện nay nếu vốn điều lệ của Bảo Việt là 1.800 tỉ đồng thay vì là 6.800 tỉ đồng.

Thứ ba việc Nhà nước thu về phần lớn thặng dư từ đợt đấu giá, doanh nghiệp chỉ được hưởng một phần nhỏ (mà trong phần nhỏ này, Nhà nước vẫn được hưởng phần lớn vì là cổ đông chi phối) là không hợp lý với doanh nghiệp.

Ngay cả những công ty tư nhân khi chuyển sang cổ phần, đấu giá cổ phần ra bên ngoài như Thủy sản Nam Việt, Thủy sản Minh Phú, phần thặng dư chủ đầu tư cũng để lại cho doanh nghiệp (nhập vào vốn chủ sở hữu công ty), chứ họ không lấy cho riêng mình.

Ở đây cần nhìn xa hơn là một khi phần vốn thặng dư được để lại, doanh nghiệp sẽ có tiềm lực phát triển, lợi nhuận cao, họ sẽ nộp thuế nhiều hơn và giá cổ phiếu công ty tăng, thì giá trị phần vốn nhà nước ở doanh nghiệp cũng tăng lên. Khi đó nếu bán ra, Nhà nước sẽ thu về một khoản tiền lớn hơn nhiều lần số thặng dư đã để lại cho doanh nghiệp.

Cũng cần phải nói thêm là trong các thời kỳ cổ phần hóa từ năm 2005 trở về trước, số tiền thu về từ bán bớt phần vốn nhà nước tại các đơn vị chuyển đổi sở hữu, đều được để lại cho doanh nghiệp sử dụng vào những việc như đào tạo người lao động, giải quyết lao động dôi dư, tái đầu tư cho doanh nghiệp phát triển.

Chính nhờ đó, hầu hết doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều làm ăn hiệu quả, nộp ngân sách, nộp thuế tăng vọt, số lượng lao động tuyển mới cũng tăng thêm, thu nhập của công nhân được cải thiện đáng kể. Và kết quả cuối cùng là giá trị phần vốn nhà nước còn lại ở doanh nghiệp tăng gấp 3-4 lần, thậm chí gấp 10-15 lần trước cổ phần hóa.

Còn hiện nay, việc Nhà nước thu phần lớn thặng dư từ phát hành thêm cổ phiếu trong khi phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được giữ nguyên đang khiến không ít đơn vị băn khoăn. Mới đây nhất, BIDV đã đề xuất thặng dư từ bán cổ phần, Nhà nước nên để lại cho doanh nghiệp dưới hình thức vay ưu đãi hoặc sử dụng để tăng vốn cho chính Nhà nước trong trường hợp doanh nghiệp huy động thêm vốn, mở rộng đầu tư kinh doanh. Đề xuất này rất nên được Nhà nước xem xét.

(Nguồn: TT Online)

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỂ XỨNG ĐÁNG VỚI KỲ VỌNG

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (CPH DNNN) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, và là một nội dung quan trọng của cải cách DNNN ở Việt Nam.

Kỳ vọng chưa đạt được

Mục tiêu của CPH DNNN đã được quán triệt trong Nghị quyết Hội nghị TW 3 khoá IX (tháng 8/2001) là “Tạo ra loại hình doanh nghiệp (DN) có nhièu chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản  lý năng động, có hiệu quả cho DNNN, phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường giám sát của xã hội đối với DN, bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, DN và người lao động…”.

Đánh giá kết quả của quá trình CPH DNNN sau 15 năm, có nhiều ý kiến khác nhau. Có nhiều ý kiến cho rằng quá trình CPH DNNN diễn ra quá chậm, không đạt mục tiêu đề ra. Một số ý kiến khác lại đánh giá cao kết quả của quá trình CPH DNNN trong thời gian qua, với việc đã CPH được trên 50% số DNNN và huy động được một số vốn lớn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nứơc, đã tăng không ngừng quy mô vốn nhà nước trong các DN.

Theo chúng tôi, trước hết cần khẳng định rằng CPH DNNN là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. CPH là nội dung quan trọng nhất trong tiến trình đổi mới và sắp xếp DNNN, nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các DNNN. Không thể tiếp tục kéo dài sự tồn tại của các DN mà vốn và tài sản thuộc sở hữu của toàn dân, toàn xã hội nhưng thực chất là không có ai là chủ sở hữu thực sự. Đi cùng với tình trạng DN “vô chủ”,vấn đề hiệu quả kinh doanh của các DNNN trong một thời gian dài đã không được coi trọng. Tình trạng DN thua  lỗ kéo dài không bị xử lý phá sản không còn là hiện tượng cá biệt trong khu vực DNNN. Trong bối cảnh chuyển sang kinh doanh theo cơ chế thị trường, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế quốc tế và khu vực, thì  yêu cầu phải thực hiện cải cách DNNN là một tất yếu khách quan. Tiến trình cải cách DNNN ở vn được diễn ra với các nội dung: (i)sắp xếp lại DNNN về mặt tổ chức, thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê với các DNNN vốn nhỏ, thua lỗ; (ii) hình thành các DN lớn, các tập đoàn kinh tế mạnh đủ sức cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường; (iii) đổi mới cơ chế quản lý DNNN; (iv) CPH các DN mà Nhà nước không cần nắm 100% sở hữu vốn-trong đó, CPH DNNN là nội dung được coi là quan trọng nhất.

Nhìn nhận một cách khách quan, có thể khẳng định rằng: Hầu hết các mục tiêu đặt ra đối với quá trình CPH đã được thực hiện.Tính tới 30/6/2006, cả nước đã thực hiện chuyển đổi được 3.365 DNNN thuộc diện Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn thành công ty cổ phần; đã tăng được quy mô vốn nhà nước bình quân tại DN từ 24 tỷ đồng (năm 2001) lên 71 tỷ đồng (năm 2005) trên một DN; đã thu về cho NSNN hơn 13.000 tỷ đồng để đầu tư cho mục đích khác; thông qua CPH đã huy động được trên 22.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh; sau CPH có trên 90% số công ty hoạt động có hiệu quả; cổ tức bình quân đạt 17,11%/năm; người lao động trong DN đã quan tâm và có trách nhiệm hơn đối với việc thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh (SXKD) được giao, cũng như đối với sựtồn tại và phát triển của DN. Kết quả điều tra đối với 850 DNNN sau chuyển đổi sở hữu từ một năm trở lên cho thấy các chỉ tiêu chủ yếu đều có sự tăng trưởng tích cực: vốn điều lệ tăng 44% so với trước khi CPH; doanh thu tăng 23,6%; lợi nhuận tăng 139%; nộp ngân sách tăng 24,95%.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, không thể phủ nhận  một thực tế là: quá trình CPH DNNN trong thời gian qua còn nhiều mặt hạn chế, kết quả đạt được còn hết sức khiêm tốn so với sự quan tâm và kỳ vọng của Đảng, Chính phủ và dư luận xã hội. Cụ thể:

Quá trình CPH diễn ra còn chậm so với kế hoạch

Sau 15 năm thực hiện CPH DNNN đến nay vẫn còn hơn 2.300 DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn và trên 1000 công ty cổ phần mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối. Để thực hiện lộ trình đến năm 2010 hoàn thành việc chuyển đổi toàn bộ các công ty Nhà nước sang hoạt động theo Luật DN  2005 thì mỗi năm cần CPH gần 600 DNNN. Tuy nhiên, với tốc độ CPH hết sức chậm chạp như hiện nay (bình quân mỗi năm CPH được khoảng 220 DNNN) thì quỹ thời gian 4 năm còn lại quả là quá ngắn để thực hiện kế hoạch đặt ra.

Các DN tiến hành CPH chủ yếu có vốn nhỏ, việc đa dạng hoá sở hữu trong CPH còn hạn chế

Mặc dù các DNNN đã thực hiện CPH chiếm tỷ trọng lớn về mặt số lượng (khoảng 53%), nhưng hcỉ chiếm khoảng 8,2% tổng số vốn nhà nước đầu tư tại DN. Các DNNN đã CPH có số vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng chiếm tới gần 60%; chỉ có 18,5% số DNNN CPH có quy mô vốn nhà nước trên 10 tỷ đồng.

Chuyển DNNN thành công ty cổ phần là nhằm đa dạng hoá sở hữu về vốn. Tuy nhiên, trong số trên 3.000 DN đã CPH, chỉ có 30% DN mà Nhà nước không  nắm giữ một đồng vốn nào; 20% DN mà Nhà nước giữ cổ phần từ 51% trở lên; tỷ lệ vốn nhà nứơc trong vốn điều lệ của các DNNN đã thực hiệnCPH chiếm tới 46,5%, người lao động nắm giữ 38,1% và cổ đông ngoài DN năm 15,4% vốn đièu lệ. Như vậy, Nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất của phần lớn các DN sau CPH. Tỷ lệ vốn nhà nước trong vốn điều lệ của các DNNN đã thực hiện cổ phần hoá vẫn còn cao và có xu hướng ngày một tăng lên: từ chố chỉ chiếm 28% vào những năm 2000 và 2001 đã tăng dần lên 31% năm 2002, 55% năm 2003; 47$ năm 2004 và 57% năm 2005.

Chưa có sự đổi mới mạnh mẽ trong quản trị công ty

Hầu hết các DN sau khi CPH vẫn sử dụng gần như toàn bộ bộ máy và cán bộ quản lý cũ. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, sau khi CPH có tới 81,5% giám đốc, 78% phó giám đốc và kế toán trường DN vẫn giữ nguyên chức vụ; không có DN nào sau khi CPH sử dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành. Có ý kiến cho rằng điều này chứng tỏ chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý  của các DNNN thực hiện CPH là tốt, được sự tín nhiệm cao(?!). Tuy nhiên với những cán bộ quản lý cũ sẽ khó có thể tạo sự đổi mới và chuyển biến thực sự về phương pháp quản lý, lề lối làm việc và tư duy mới trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh theo mô hình tổ chức kinh doanh mới-công ty cổ phần. Việc công khai, minh bạch hoá tình hình tài chính ở nhiều công ty chưa được coi trọng. Kết quả điều tra chothấy, chỉ có 27,5% DN thực hiện kiểm toán hàng năm và 18,7% thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của vụ việc, còn lại là không có kiểm toán. Việc quản lý và điều hành ở không ít công ty sau CPH chưa được tổ chức, hoạt động đúng quy định của pháp luật và điều lệ của công ty cổ phần. Số liệu điều tra cho thấy tại khoảng 70% DN CPH chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) kiêm giữ chức vụ giám đốc công ty. Việc kiêm nhiệm này tuy không trái quy định của pháp luật (Điều 85 Luật DN 1999), nhưng có nhược điểm là chưa tách bạch giữa quản lý với điều hành, vì vậy, không thích hợp để áp dụng một cơ chế quản trị công ty hiện đại với sự kiểm tra, giám sát có hiệu quả đối với bộ máy điều hành DN.

Hiệu quả SXKD của các DN sau CPH chưa cao

Thực hiện CPH, các DN được hưởng ưu đãi về thuế như các DN mới thành lập theo Luật Khuyến khích đàu tư trong nước, được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển nhượng các tìa sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của DNNN CPH thành sở hữu của công ty cổ phần, được tiếp tục vay vốn của ngân hàng thương mại nhà nước theo cơ chế và lãi suất như đối với DNNN và nhiều ưu đãi khác. Do đó, không quá bất ngờ khi một số chỉ tiêu của các DN sau CPH tăng khá ngoạn mục so với trước CPH, như bình quân doanh thu tăng 23,6%, lợi nhuận tăng 139%, thu  nhập người lao động tăng 11,8%. Tuy  nhiên, chưa có tài liệu nào đề cập tới các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh, tỷ suất lợi nhận vốn chủ sở hữu của DN thay đổi ra sao sau CPH DNNN; đặc biệt là, sau khi hết thời gian ưu đãi về thuế thu nhập, hiệu quả SXKD của các DN này đạt được như thế nào? Đây là những câu hỏi hiện chưa có lời giải đáp. Con số 28,6% các DN có doanh thu giảm, 10% số DN bị lỗ, 42% các DN có số nộp ngân sách giảm, 17% số DN có thu nhập giảm so với trước cổ phần hoá đã phản ánh khó rõ thực tế về sự sụt giảm  kết quả SXKD của một bộ phận không nhỏ các DN hậu CPH.

Hầu hết các DN hậu CPH không mặn mà với việc tham gia niêm yết thị trường chứng khoán

Công ty cổ phần là một mô hình tổ chức DN trong nền kinh tế thị trường với những ưu thế nổi bậtvề khả năng khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh, khả năng tồn tạilâu dài, khả năng tiếp cận các phương pháp kinh doanh tiên tiến, khả năng di chuyển vốn đầu tư dế dàng. Đặc biệt công ty cổ phần là loại hình DN duy nhất có khả năng giải quyết thành công vấn đề huy động vốn trên thị trường để mở rộng SXKD dựa vào phát hành chứng khoán công ty. Điều đáng ngạc nhiên là, mặc dù nhu cầu huy động vốn để đầu tư đổi mới kỹ thuật công nghệ, nâng cao khả năng cạnhtranh của các DN hậu CPH là rất lớn; nhưng số công ty tham gia niêm yết chứng khoán trên thị trường vẫn còn rất nhỏ bé. Theo kết quả điều tra khảo sát mới đây của dự án “Điều tra, đánh giá khả năng tham gia thị trường chứng khoán của các DN vừa và nhỏ Việt Nam” thì 74,9% DN được hỏi đang vay vốn của ngân hàng, vay của công nhân viên và nguồn khác; 42,2% số DN được hỏi có sử dụng hình thức huy động vốn qua phát hành chứng khoán; 48,6% DN có ý định tham gia niêm yết; 47,4% đủ điều kiện và có ý định niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội sau năm 2007(?!). Phải chăng sự không mặn mà của các DN trong việc tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán là do DN chưa quen huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán? Hay  là do cơ chế chính sách chưa khuyến khích các DN tham gia niêm yết? Hoặc các DN e ngại việc công khai và minh bạch hoá tình hình tài chính sẽ bộc lộ các điểm yếu của công ty và có nguy cơ bị các đối thủ cạnh tranh khai thác? Theo chúng tôi, các lý do nêu trên là không thể loại trừ.

Còn nhiều bất cập trong việc quản lý nhà nước đối với DN hậu CPH

Sau khi thực hiện CPH, vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước đối với DN đã có sự thay đổi lớn. Tuy nhiên, nhiều vấn đè liên quan đến quản lý nhà nước đối với công ty sau CPH vẫn chưa được giải đáp rõ ràng, như: nội dung quản lý nhà nước đối với DN sau CPH DNNN, những cơ quan  nào có chức năng quản lý nhà nước với các DN hậu CPH DNNN, vấn đề thu hẹp đầu mối các cơ quan quản lý nhà nước để tránh chồng chéo, nhiều cửa, nhiều khoá. Tình trạng chưa thay đổi tư duy quản lý nhà nước, chưa hiểu đúng luật DN, vẫn coi công ty cổ phần như DNNN dẫn tới việc nhiều cơ quan quản lý nhà nước can thiệp vào nội bộ công ty một cách không đúng luật.

Những vấn đề cần quán triệt

Để đảm bảo thực hiện lộ trình đến 2010 hoàn thành việc chuyển đổi toàn bộ công ty nhà nước sang hoạt động theo Luật DN 2005, cũng như để đảm bảo quá trình CPH DNNN đạt được các mục tiêu đề ra,theo chúng tôi cần quán triệt một số vấn đề có tính chất nguyên tắc sau đây:

* Tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của chủ trương CPH DNNN, nhưng cần lưu ý rằng CPH không phải là con đường duy nhất để đổi mới, sắp xếp lại DNNN ở Việt Nam.

Mặc dù DNNN đã có những đóng góp và tác động tích cực không thể phủ nhận đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; tuy nhiên, sự kém hiệu quả về kinh tế, sự kém về khả năng cạnh tranh đòi hỏi phải thực hiện đổi mới, sắp xếp lại DNNN-trong đó CPH là nội dung cơ bản. Tuy vậy, cần tránh rơi vào khuynh hướng quá đề cao CPH, coi CPH là con đường duy nhất để đưa các DNNN thoát khỏi tình trạng yếu kém kể trên, từ đó dẫn tới CPH theo kiểu phong trào, hình thức, chạy theo số lượng, sau CPH không tạo ra sự thay đổi về chất trong tổ chức quản lý SXKD, về hiệu quả và khả năng cạnh tranh-mục tiêu hàng đầu của CPH DNNN. Bên cạnh việc đẩy mạnh CPH, cần coi trọng các nội dung khác của quá trình đổi mới sắp xếp lại DNNN, như vấn đề xây dựng các tập đoàn kinh tế, vấn đề chuyển hoạt động của các tổng công ty, công ty theo mô hình công ty mẹ-công ty con, vấn đề giao bán khoán kinh doanh và cho thuê DNNN…

* Chỉ đạo quá trình CPH một cách quyết liệt hơn, đảm bảo hoàn thành đúng kế hoạch đã đề ra.

Để đảm bảo thực hiện lộ trình đến 2010 hoàn thành việc chuyển đổi toàn bộ các công ty nhà nước sang hoạt động theo Luật DN 2005, cần có sự chỉ đạo quá trình CPH một cách quyết liệt hơn. Cần nghiên cứu sửa đổi Nghị đinh 187 theo hướng nới lỏng hơn nữa các quy định về bán cổ phần ra ngoài DN và tỷ lệ cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ, hạn chế, thậm chí cắt bỏ ưu đãi đối với các DN không thực hiện CPH đúng tiến độ, không thể chỉ hô hào chung chung, mà cần có sự thông suốt và phối hợp chặt chẽ từ Trung ương tới địa phương, từ các bộ, ngành tới ban lãnh đạo và tập thể người lao động trong DN. Đây thực sự là một cuộc đấu tranh không kém phần gay go, quyết liệt giữa tư tưởng níu kéo, tiếc nuối, sợ mất quyền lợigắn liền với sự trì trệ, với quyết tâm đổi mới, tạo động lực cho sự phát triển cho các DN và nền kinh tế.

* Mở rộng đối tượng thực hiện CPH, giảm tỷ lệ vốn nhà nước trong các DN CPH.

Hiện nay, đối tượng CPH chưa bao quát đối với cong ty mẹ trong mô hình công ty mẹ-công ty con và công ty TNHH một thành viên không thuộc diện nhà nước giữ 100% vốn. Việc triển khai CPH các tổng công ty và các ngân hàng thương mại còn rất chậm. Đặc biệt, tỷ lệ nắm giữ cổ phần của Nhà nước tại các DN CPH là quá cao. Vì vậy, trong thời gian tới cần rà soát lại đối tượng các DN phải CPH theo hướng: hạn chế việc chuyển các DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty TNHH nhà nước một thành viên, cần giảm dần tỷ lệ vốn nhà nước tại công ty cổ phần và giảm bớt tỷ lệ công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối.

* Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo điều kiện để các công ty cổ phần tiến hành các hoạt động một cách thuận lợi, hiệu quả cao.

Sự cố suý tốt nhất cho quá trình CPH chính là hiệu quả hoạt động của các DN hậu CPH, điều này phụ thuộc không nhỏ vào sự hoàn thiện của môi trường pháp lý mà các DN đang hoạt động. Vì vậy, trong thơì gian tới cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách đối với công ty cổ phần, tránh việc vận dụng thiếu thống nhất giữa các công ty.Cần chấm dứt sự can thiệp không đúng luật của các cơ quan quản lý nhà nước vào công việc nội bộ của công ty, phát huy vai trò của đại hội đồng cổ đông và HĐQT  trong quản lý công ty theo các thông lệ quản trị DN tốt nhất; gắn CPH với việc niêm yết trên thị trường chứng khoán.

(Nguồn: TCTC – MOI.GOV.VN)

TRÁNH THẤT THOÁT TÀI SẢN NHÀ NƯỚC KHI CỔ PHẦN HÓA (về quyền sử dụng đất khi xác định giá trị doanh nghiệp)

Tránh thất thoát tài sản nhà nước khi cổ phần hoá Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất… Người sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh được lựa chọn hình thức nhận giao đất có thu tiền sử dụng dất hoặc thuê đất của nhà nước; nhận chuyển quyền sử dụng đất, thuê đất, thuê lại đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; thuê lại đất gắn với kết cấu hạ tầng của tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Luật quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất tuỳ theo hình thức thuế đất hay nhận giao đất. Cụ thể như: Đối với Tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có các quyền và nghĩa vụ như: (i) Chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng gắn liền với đất; (ii) Cho thuê quyền sử dụng đất và công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng gắn liền với đất; (iii) Tặng cho quyền sử dụng đất cho nhà nước, tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; (iv) Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn theo quy định của pháp luật; (v) Góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc có thu tiền nhưng tiền sử dụng đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để xây dựng các công trình không bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được quyền bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất. Người mua tài sản được nhà nước tiếp tục giao đất không thu tiền sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.
Trường hợp tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê có các quyền và nghĩa vụ như: (i) Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật; (ii) Bán tài sản, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuế; người mua tài sản được nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định; (iii) Cho thuê lại đất đã được xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong trường hợp được phép đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng tại khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế; (iv) Tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm thì có các quyền và nghĩa vụ như quy định đối với tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong thời hạn đã trả tiền thuê đất; trường hợp có nhu cầu chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất trừ đi tiền thuê đất đã trả và có các quyền, nghĩa vụ như đối với tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong thời hạn đã trả tiền thuê đất; trường hợp có nhu cầu chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất trừ đi tiền thuê đất đã trả và có các quyền, nghĩa vụ như đối với tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Như vậy, theo quy định tại các văn bản pháp luật về đất đai, tổ chức kinh tế thuê đất thì không có đủ các quyền về đất đai như đối với trường hợp tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất nộp ngân sách nhà nước không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối; tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; tổ chức kinh tế để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm; đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất là không quá 70 năm. Theo đó, tiền sử dụng đất đã nộp NSNN hoặc nhận quyền chuyển nhượng hợp pháp về quyền sử dụng đất, tổ chức kinh tế được khấu hao và tính vào chi phí kinh doanh, mức khấu hao tối thiểu hàng năm bằng tổng số tiền nộp cho nhà nước hoặc trả tiền nhận chuyển nhượng hợp pháp chia cho số năm được giao quyền sử dụng đất. Trường hợp tổ chức kinh tế trả tiền về nhận chuyển nhượng đất lâu dài thì không tính khấu hao vào chi phí khoản tiền này (theo quy định tại chuẩn mực kế toán Việt Nam); sở dĩ quy định không khấu hao đối với tổ chức kinh tế có quyền sử dụng đất lâu dài vì khi khấu hao hết giá trị, tổ chức kinh tế vẫn còn nguyên quyền sử dụng đất, mặt khác, giá trị quyền sử dụng đất ngày càng gia tăng bởi vì đất đai ít gia tăng.
Việc chuyển đổi Công ty nhà nước thành Công ty cổ phần thực chất là nhà nước chuyển đổi sở hữu giá trị tài sản thuần tương ứng với vốn nhà nước có tại doanh nghiệp tại thời điểm chuyển đổi và chuyển đổi Công ty nhà nước sang hoạt động theo loại hình Công ty cổ phần. Giá trị tài sản thuần được xác định bằng tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trừ đi nợ phải trả. Trong đó giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất nhà nước giao có thu tiền (nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền) và giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp. Theo đó, Thông tư số 126/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định: đối với quyền sử dụng đất, doanh nghiệp được lựa chọn một trong hai hình thức thuê đất hoặc giao đất có nộp tiền sử dụng đất. Trong đó, nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức thuê đất thì không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp; Công ty cổ phần tiếp tục ký hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật và quản lý sử dụng đúng mục đích, không được nhượng bán; đối với đất đã nhận giao, đã nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước, hoặc mua quyền sử dụng đất của các cá nhân, pháp nhân khác nếu chuyển sang thuê đất thì chỉ tính vào giá trị doanh nghiệp các khoản chi phí làm tăng giá trị sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất như: chi phí đền bù, giải toả, san lấp mặt bằng. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính giá trị doanh nghiệp để tính giá trị doanh nghiệp tính theo giá do UBND tỉnh quy định nhưng không tính tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp mà hạch toán là khoản phải nộp ngân sách nhà nước. Công ty cổ phần phải nộp số tiền này cho ngân sách nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trình tự và thủ tục giao đất, nộp tiền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai; đối với diện tích đất doanh nghiệp đã được giao, đã nộp tiền sử dụng đất cho ngân sách nhà nước: phải xác định lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá do UBND tỉnh quy định, khoản chênh lệch giữa giá trị quyền sử dụng đất xác định lại với giá trị hạch toán trên sổ kế toán được tính vào giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Quy định về quyền sử dụng đất tính hay không tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá theo quy định như trên là hoàn toàn phù hợp với quy định của văn bản pháp luật về đất đai.
Theo quy định giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp được quy định tại Thông tư số 126/2004/TT-BTC, bao gồm: vị trí địa lý, giá trị thương hiệu và tiềm năng phát triển. Giá trị lợi thế kinh doanh được xác định bằng giá trị phần vốn nhà nước theo sổ kế toán tại thời điểm định giá nhân với (x) tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn nhà nước bình quân 3 năm trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp trừ (-) lãi suất trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 10 năm trở lên tại thời điểm gần nhất với thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo các tính này giá trị lợi thế kinh doanh chưa thể hiện đầy đủ tiềm năng phát triển của doanh nghiệp hoặc lợi thế về địa lý đối với một doanh nghiệp có mặt bằng kinh doanh thuận lợi và vị trí “đẹp”, mặc dù giá quyền sử dụng đất đã được quy định cao hơn nhiều đối với đất ở vị trí khác; đặc biệt đối với những doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá có kết quả kinh doanh thấp hạơc bị lỗ thì sẽ không có giá trị lợi thế kinh doanh dù đó là ở vị trí đẹp thứ nhất nhì ở một địa bàn nào đó . Do đó, để phản ánh đúng giá trị doanh nghiệp làm cơ sở cho việc xác định giá sàn để thực hiện đấu giá doanh nghiệp chuyển đổi sở hữu, nhà nước cần hoàn thiện phương thức tính toán lợi thế kinh doanh sao cho phù hợp với những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh lãi hoặc bị lỗ để phản ảnh đúng lợi thế địa lý, tiềm năng phát triển và giá trị thương hiệu của doanh nghiệp. Từ đó khắc phục được tình trạng thất thoát lợi ích của nhà nước tại Công ty mà nhà nước thực hiện chuyển đổi sở hữu nói chung và giá trị quyền sử dụng đất có tại doanh nghiệp nói riêng góp phần đẩy nhanh tiến trình sắp xếp lại Công ty nhà nước.

(Nguồn: TCDN – MOI.GOV.VN)

 

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Đổi mới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được triển khai thực hiện ở nước ta trên 10 năm. Thực chất của quá trình này là sự sắp xếp lại các DNNN, trong đó trọng tâm là tiến hành Cổ phần hoá (CPH) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh. Bên cạnh một số kết quả đã đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu cũng như bản thân doanh nghiệp. Bài viết này sẽ đưa ra một số ý kiến xung quanh vấn đề CPH các DNNN ở Việt Nam.

Cải cách doanh nghiệp

Mục tiêu của mọi doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là phải đạt hiệu quả kinh doanh. Mục tiêu cao nhất và không thay đổi đó là phát triển trên cơ sở có lợi nhuận cao, bảo toàn và tăng vốn kinh doanh, mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và mọi người lao động trong doanh nghiệp (các nhà quản lý, người lao động trực tiếp) đồng thời đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, của xã hội. Điều này cũng có nghĩa là khi doanh nghiệp không đạt được những mục tiêu cơ bản trên thì phải xem xét đánh giá lại và cần có những thay đổi cần thiết. Trong nhiều trường hợp đó là một sự cải cách triệt để trong hoạt động kinh doanh để đảm bảo đạt được các mục tiêu đã định. Không làm được như vậy sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ bị đe doạ. Trên thực tế do không nhận ra hay nhận ra nhưng không kịp cải cách, hoặc cải cách không đúng đã làm nhiều doanh nghiệp phá sản, bất kể đó là doanh nghiệp nhỏ hay các tập đoàn kinh tế lớn có phạm vi hoạt động toàn cầu, và cũng không loại trừ doanh nghiệp đó thuộc loại hình sở hữu nào. Như vậy, vấn đề cải cách doanh nghiệp luôn được đặt ra và cải cách là cần thiết để đạt được mục tiêu đã định..

Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.

Ở Việt Nam cải cách hay đổi mới DNNN là yêu cầu khách quan. Do những áp lực cạnh tranh, vì sự tồn tại và phát triển, và vì sự cần thiết phải thực hiện sứ mệnh của các DNNN mà phải tiến hành đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp này. Trong đó CPH là nội dung chính, là hướng cải cách chủ yếu.

Những thành tựu đạt được của quá trình CPH

Sau hơn 13 năm tiến hành đổi mới DNNN (bắt đầu từ năm 1992), đã có 2.996 doanh nghiệp được CPH (tính đến cuối năm 2005), bình quân khoảng trên 200 DN/năm. Đây là con số không nhỏ. Trong vài năm gần đây ngày càng nhiều DNNN được CPH và tốc độ của quá trình này được đẩy nhanh hơn. Riêng năm 2005 cả nước CPH được 724 doanh nghiệp. Nhìn lại quá trình qua có thể thấy chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

* Số DNNN đã CPH chiếm khoảng 24% tổng số DN khi chưa tiến hành sắp xếp lại và CPH (khoảng 12.000 DN vào thời điểm trước năm 1995)

. Có trên 10% vốn của nhà nước trong các DNNN được CPH (khoảng 30.000 tỷ đồng)

* Hầu hết các doanh nghiệp thuộc loại nhỏ, yếu, hiệu quả kinh doanh thấp, sức cạnh tranh kém đã được đưa bớt ra khỏi hệ thống các DNNN. Như vậy có thêm điều kiện để củng cố các DNNN khác.

* Trong các doanh nghiệp đã CPH, 30% số các doanh nghiệp (trên 800 DN) được hoàn toàn độc lập tự chủ trong kinh doanh mà không còn sự chi phối trực tiếp nào của nhà nước (nhà nước không nắm giữ một cổ phần nào, toàn bộ thuộc về tập thể người lao động).

* Việc sắp xếp lại và CPH các DNNN đã hoàn thành trên 61 trong tổng số 64 tỉnh thành.

* Qua CPH, nhiều yếu kém cố hữu đã được giải quyết là: nợ xấu, tồn kho vật tư hàng hoá kém phẩm chất, các trang thiết bị và tài sản cũ nát…

* Với các doanh nghiệp đã CPH, bộ máy và phương pháp quản lý đã thích nghi, năng động và sát với thị trường hơn, phần nào làm tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp, động lực lao động mới đang dần được tạo ra.

* Các biện pháp tiến hành CPH ngày càng được hoàn thiện hơn. Cơ chế định giá doanh nghiệp mới qua các tổ chức tư vấn độc lập (thay vì qua hội đồng định giá như trước đây) được áp dụng. Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện đấu thầu giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Sau CPH, các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn trên hầu hết các mặt chủ yếu. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế của các DNNN sau CPH tăng lên rõ rệt. Kết quả khảo sát hơn 850 doanh nghiệp cổ phần (năm 2005) cho thấy: vốn điều lệ tăng bình quân 44%, doanh thu tăng gần 24%, lợi nhuận tăng 140%, nộp ngân sách tăng 25%, thu nhập người lao động tăng 12%. Cũng theo điều tra của Ban, có khoảng 87% số doanh nghiệp khẳng định kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp cổ phần hoá tốt hơn hoặc tốt hơn rất nhiều so với trước CPH. Có thể nói đây là con số rất ý nghĩa đối với các doanh nghiệp, khẳng định CPH là một trong những biện pháp hữu ích nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN. Một điều có ý nghĩa quan trọng nữa là, kết quả trên sẽ tạo niềm tin và động lực cho các DNNN khác tiến hành đổi mới hoạt động kinh doanh của mình một cách tích cực hơn.

Những vấn đề còn tồn tại

Bên cạnh những thành tựu đạt được như trên thì cũng còn nhiều vấn đề tồn tại đang đặt ra trong quá trình CPH:

Thứ nhất: Chúng ta đã CPH và sắp xếp lại được khá nhiều doanh nghiệp nhưng xét về chỉ tiêu vốn nhà nước đã CPH thì vẫn chưa tới 10%. Hơn nữa trong số các doanh nghiệp đã được CPH có tới 29% số doanh nghiệp ở đó nhà nước vẫn giữ một lượng cổ phần chi phối (từ 51% trở lên). Nhà nước đang còn nắm khoảng 46,5% vốn kinh doanh của các doanh nghiệp này. Như vậy, thực chất mới chỉ khoảng 8% vốn kinh doanh của các DNNN đã CPH thuộc về các chủ sở hữu khác-không phải nhà nước (phần lớn là những cổ đông vốn là người lao động trong doanh nghiệp). Con số này là quá ít. Vì nói đến CPH thì chỉ tiêu chủ yếu nhất là CPH vốn kinh doanh, do vậy có thể nói rằng CPH các DNNN được thực hiện rất chậm chạp, chưa nhiều.

Thứ hai: Xét về các DN đã CPH, trong khi về số lượng các doanh nghiệp là không nhỏ nhưng vốn của nhà nước trong các doanh nghiệp này lại quá ít,  điều này chứng tỏ chúng ta mới chỉ CPH được các DN nhỏ và rất nhỏ. Đó cũng là các doanh nghiệp chủ yếu do các địa phương quản lý. Trên thực tế các doanh nghiệp này không có vai trò đáng kể và không thể hiện được vai trò là những DNNN chủ đạo trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta mới thực hiện được phần dễ nhất trong toàn bộ khối lượng công việc phải làm.

Thứ ba: Về vai trò của Nhà nước. Đến nay, trong các doanh nghiệp đã được CPH thì Nhà nước đang còn nắm quá nhiều vốn. Điều này cho thấy sự chi phối, gây ảnh hưởng của nhà nước vẫn ở mức độ lớn (dưới các hình thức khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp). Do vậy, trong nhiều doanh nghiệp đã CPH chưa thấy có những thay đổi căn bản về tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh theo mô hình mới của một công ty cổ phần thực thụ. Các doanh nghiệp này vẫn chưa có hay rất thiếu những cổ đông mới có quyền lực mạnh, các cổ đông chiến lược mới. Việc Nhà nước còn nắm các cổ phần chi phối trong nhiều doanh nghiệp đã CPH cũng cho thấy Nhà nước còn đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực và phạm vi hoạt động kinh doanh, chưa có sự tập trung vốn cần thiết vào các lĩnh vực, các ngành hay các doanh nghiệp trọng điểm mà ở đó cần có sự hiện diện của Nhà nước.

Thứ tư: Những bước tiếp theo của CPH. Như đã nêu ở trên, CPH chủ yếu chỉ thực hiện ở các DN nhỏ và rất nhỏ, và có rất ít doanh nghiệp lớn đã tiến hành CPH (như Vinamilk). Tới đây, theo kế hoạch của Chính phủ, lượng vốn trong các DNNN cần phải CPH khoảng trên 270.000 tỷ đồng. Đây là một lượng vốn rất lớn. Số vốn này đang nằm trong các doanh nghiệp lớn (các tổng công ty, các công ty lớn). Việc tiến hành CPH các doanh nghiệp này không hề đơn giản như đã từng làm trong thời gian qua vì vai trò, tầm quan trọng và phạm vi kinh doanh, phạm vi ảnh hưởng của các doanh nghiệp này rất lớn và phức tạp hơn nhiều. Rõ ràng để CPH thành công các doanh nghiệp này cần phải có những giải pháp thích hợp.

Thứ năm: Những cản trở đối với quá trình CPH các DNNN trong thời gian qua là: Vướng mắc nhiều về đất đai và sở hữu tài sản, chưa có chính sách và cơ chế rõ ràng, CPH còn khép kín, còn có sự phân biệt đối xử trước và sau CPH, chẳng hạn như vay vốn ngân hàng, những khó khăn về giải quyết số lao động dôi dư của các doanh nghiệp, thủ tục hành chính phức tạp và thời gian kéo dài… Đây là những vấn đề nằm ngoài khả năng của doanh nghiệp. Do vậy, nếu nhà nước không giải quyết triệt để các vấn đề này thì không thể đẩy nhanh tiến trình CPH được.

Thứ sáu: Vai trò của các doanh nghiệp. Dường như vấn đề CPH vẫn chưa phải là nhu cầu tự thân, nhu cầu nội tại của các DNNN, thậm chí còn là sự miễn cưỡng. Trong thực tế thực hiện, hầu hết các chương trình hay kế hoạch CPH đều là của các bộ, ngành, hay chính quyền địa phương, chưa có (hoặc nếu có thì cũng rất ít) doanh nghiệp chủ động đề xuất đưa tên mình vào chương trình hay kế hoạch đó. Điều này chỉ có thể lý giải là đối với các doanh nghiệp, CPH không hấp dẫn họ. Hầu hết các DNNN vẫn không muốn, hay né tránh, hoặc tìm cách né tránh thực hiện CPH vì muốn được an toàn hơn và không muốn mất đi lợi ích hay lợi thế đang có. Một trong những lợi thế đang mang lại quá nhiều lợi ích-lợi nhuận siêu ngạch đó là sự độc quyền hoặc những ưu đãi mà các doanh nghiệp vẫn nghĩ là chỉ DNNN mới có được. Ở đây, nhà nước và các DNNN chưa có cùng một suy nghĩ và hành động. Do vậy, nếu còn có sự khác nhau về thái độ và quyết tâm đối CPH, và khi các DNNN vẫn còn e ngại và nghi ngờ, chưa quyết tâm thì vẫn còn nhiều trở ngại cho quá trình CPH.

Đẩy nhanh quá trình CPH-một vài kiến nghị

Đẩy nhanh quá trình CPH các DNNN trong thời gian tới đang còn rất nhiều những thách thức. Giải pháp để vượt qua theo chúng tôi cần tập trung vào những vấn đề chính sau :

1.  Nhà nước phải có những biện pháp chiến lược mới cho quá trình CPH vì các DNNN là đối tượng CPH trong thời gian tới có những điểm khác với các doanh nghiệp đã được CPH trước đây. Trong đó, việc tạo ra được động lực của chính các DNNN này có ý nghĩa quyết định cho sự thành công. Đối với doanh nghiệp, lợi ích chính là động lực mạnh mẽ nhất. Để có được điều này, cần phải làm cho các doanh nghiệp có được và thấy được lợi ích thực sự (so với không thực hiện CPH). Do vậy cần:

* Xoá bỏ nhanh bao cấp dưới mọi hình thức để không còn chỗ dựa tạo đặc quyền, đặc lợi như trước đây và hiện vẫn còn ở mức độ khác nhau của các DNNN (lợi thế hay lợi ích kiểu này không còn nữa).

* Có ưu tiên và nghiên cứu đưa ra những biện pháp khuyến khích và hỗ trợ cần thiết và thiết thực cho các doanh nghiệp đã CPH.

Làm như vậy tức là thay cho việc duy trì những bao cấp khi đang còn là DNNN cần chuyển sang hỗ trợ các doanh nghiệp đã hoàn thành CPH, đặc biệt đối với các DNNN có thành tích và thực hiện tốt quá trình này. Đây cũng là một sự khuyến khích mới.

2. Thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu, với những biện pháp quyết liệt hơn, khẩn trương hơn, có lộ trình cụ thể. Tiến hành mở nhanh những vùng, lĩnh vực kinh doanh đang còn độc quyền hay mang tính độc quyền, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia . Cùng với đó tập trung chỉ đạo thực hiện nhanh và kiên quyết việc CPH các DNNN lớn, chiếm giữ một lượng vốn lớn của Nhà nước, đang nắm nhiều lợi thế độc quyền nhưng chậm đổi mới. Đối với các doanh nghiệp này,  thực hiện CPH còn phải được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ban lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp. Họ phải có trách nhiệm thực hiện những chủ trương đổi mới và cải cách, những chiến lược của chủ đầu tư-của Nhà nước. Chỉ có thực hiện thành công ở các doanh nghiệp này thì mới hoàn thành sự nghiệp CPH các DNNN.

3. Tổng điều tra đánh giá hiệu quả thực tế các doanh nghiệp sau CPH để rút ra những kinh nghiệm về thành công và chưa thành công của các doanh nghiệp. Qua đó làm cho mọi doanh nghiệp thấy được lợi ích rõ ràng, những bài học cụ thể từ CPH. Điều này sẽ có tác động làm thay đổi nhận thức, tạo những hiểu biết tốt hơn, từ đó tạo niềm tin và động lực từ bên trong của doanh nghiệp. Đồng thời có chiến lược hỗ trợ một cách có hiệu quả về đào tạo nâng cao năng lực trước, trong và sau CPH.

4. Nhanh chóng thực hiện những biện pháp giải quyết dứt điểm những vướng mắc hiện nay về vấn đề đất đai, tài sản và những vướng mắc về lao động (không để CPH làm thiệt hại đến người lao động trong doanh nghiệp). Đặc biệt cần sớm chấm dứt trên thực tế (không phải chỉ trên giấy tờ, văn bản) sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nhất là các DNNN đã CPH. Điều này rất quan trọng và sẽ là một nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp tiến hành CPH có hiệu quả. Chúng ta cũng cần sớm hoàn thiện và tạo những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể áp dụng tốt trình tự tiến hành CPH và cơ chế định giá doanh nghiệp mới, không gặp khó khăn tiếp cận thị trường chứng khoán. Mở rộng hơn nữa đối tượng tham gia CPH để có những cổ đông mạnh, họ sẽ là một trong những tác nhân quan trọng nhất đảm bảo cho sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp sau CPH.

(Nguồn: KTPT – MOI.GOV.VN)