TRAO ĐỔI LẠI "MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG"

LUẬT GIA. THS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Tạp chí Ngân hàng số 18 tháng 9/2008 có đăng bài “Trao đổi một số vấn đề pháp lý về cổ phần hoá ngân hàng” của Luật sư Trương Thanh Đức (tác giả). Sau khi đọc bài báo này, là một người đã nhiều năm công tác trong lĩnh vực ngân hàng và từng trực tiếp xử lý các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục chuyển đổi một ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên thành ngân hàng thương mại cổ phần(1), tôi xin có một số ý kiến dưới góc độ khoa học pháp lý và thực tiễn để trao đổi với tác giả như sau:

1. Về thời điểm bán cổ phần: Bán cổ phần trước hay sau khi cổ phần hoá?

Về vấn đề này, tác giả cho rằng, Nhà nước là người bán cổ phần. Quan hệ mua bán này không thể áp dụng quy định của việc mua bán hàng hoá một cách thông thường. Người mua cổ phần đồng thời là cổ đông tham gia việc thành lập công ty.

Tuy nhiên, tác giả không nói rõ “cổ phần” do ai phát hành (lấy ở đâu ra) để Nhà nước bán cho nhà đầu tư và quan hệ mua bán cổ phần này được thực hiện ở thời điểm nào. Theo ý kiến của tôi, để trả lời câu hỏi tại tiêu đề của điểm 1 nêu trên, cần phải làm rõ các vấn đề sau:

Thứ nhất, thời gian cổ phần hoá: Ngay tại Điều 1 của Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ (Nghị định số 109) đã quy định rõ cổ phần hoá là việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần. Do đó, bản chất của cổ phần hoá là việc Nhà nước tiến hành các thủ tục để chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước để thành lập công ty cổ phần trên cơ sở doanh nghiệp nhà nước đó. Quá trình này diễn ra liên tục mà thời điểm chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đồng thời là thời điểm công ty cổ phần được thành lập và hoạt động. Vì vậy, việc cổ phần hoá chỉ kết thúc khi tư cách pháp nhân của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã chấm dứt và công ty cổ phần đã được thành lập (tư cách pháp nhân mới được xác lập) trên cơ sở chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước đó.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC

HÀ MY

Trên thực tế, cổ phần hóa ở Trung Quốc đã được thực hiện từ năm 1984 với sự ra đời của Công ty Cổ phần Hữu hạn Bách hóa Thiên Kiều (Bắc Kinh). Sau đó, trong Văn kiện quan trọng được ban hành tháng 12 năm 1986, Quốc Vụ viện Trung Quốc đã cho phép “Các địa phương có thể chọn ra một vài doanh nghiệp lớn và vừa có điều kiện, thuộc chế độ sở hữu toàn dân để thực hiện thí điểm cổ phần hóa”.

Đến cuối năm 1993, Trung Quốc đã có hơn 3.000 đơn vị thực hiện thí điểm cổ phần hóa. Tính đến cuối năm 1996, Trung Quốc có hơn 9.200 DNNN đã chuyển thành công ty cổ phần, với tổng số vốn là 600 tỷ NDT, hơn 4.300 công ty cổ phần hữu hạn đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, với tổng số vốn cổ phần đạt 358 tỷ NDT, trong đó 150 tỷ NDT là vốn huy động từ xã hội, 35 tỷ NDT là giá trị cổ phần phát hành trong nội bộ doanh nghiệp, 80 tỷ NDT là vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Nhiều công ty cổ phần đã tham gia thị trường chứng khoán Thượng Hải, Thâm Quyến, một số công ty cổ phần đã niêm yết trên thị trường

Các công ty cổ phần của Trung Quốc được hình thành chủ yếu theo 3 cách: Bán cổ phiếu cho CNVC trong nội bộ doanh nghiệp; Phát hành cổ phiếu công khai ra xã hội; Công ty cổ phần hình thành bằng cách nắm giữ cổ phiếu giữa các doanh nghiệp… Sau khi tiến hành cổ phần hóa, cấu của doanh nghiệp Trung Quốc được tổ chức theo sơ đồ sau:

Continue reading

VỀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG CƠ CHẾ – CHÍNH SÁCH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC QUA VIỆC THÍ ĐIỂM CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

NGUYỄN DUY LÊ

Rất đồng tình với bài viết đầy thuyết phục của tác giả Nguyễn Phương Linh được đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 15 tháng 8 năm 2008 với tựa đề “Pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhìn từ việc cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”. Trong bài viết này, với tư cách nhà đầu tư cá nhân – một cổ đông nhỏ của Vietcombank cổ phần ngay từ đầu, với ý thức trách nhiệm chung thường xuyên theo sát tình hình dư luận xã hội xung quanh câu chuyện cổ phần hoá Vietcombank, đặc biệt là nắm bắt tâm tư nguyện vọng, những bức xúc của các cổ đông Vietcombank, bao gồm tổ chức pháp nhân và cá nhân, phản ảnh qua kỳ họp đầu tiên của Đại hội đồng cổ đông được tổ chức vào ngày 26/4/2008 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, tôi xin tổng hợp lại cùng với những suy nghĩ luận bàn cá nhân theo chủ đề nêu trên…

Trước khi vào từng nội dung cụ thể, xin được đặt vấn đề có tính mở đầu sau đây. Như chúng ta biết, sau đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) của Vietcombank tiến hành vào cuối năm 2007, Vietcombank đã tiến hành kỳ họp thứ I của Đại hội đồng cổ đông; rồi sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết của một định chế công ty cổ phần đại chúng, kể từ ngày 02/6/2008, Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Ngoại thương Việt Nam đã chính thức hoạt động trên vị thế của NHTMCP. Đây là cuộc chuyển đổi mang dấu ấn lịch sử sau 45 năm tồn tại và phát triển của Vietcombank. Phải khẳng định rằng, việc chuyển đổi từ Vietcombank Nhà nước sang Vietcombank cổ phần đại chúng có trên 15.000 cổ đông lớn nhỏ khác nhau, đã diễn ra một cách suôn sẻ theo đúng lộ trình thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong lĩnh vực tiền tệ – ngân hàng ở nước ta. Ở đây, từng khâu của cuộc cổ phần hoá Vietcombank đều đã được xúc tiến kỹ càng theo sát sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, với sự lãnh đạo điều hành sâu sát của một Ban chỉ đạo Nhà nước cấp Bộ/Ngành do một Phó Thống đốc thường trực của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đứng đầu. Những gì phải có để đảm bảo vận hành hoạt động kinh doanh của Vietcombank theo định chế NHTMCP, về cơ bản đã hội đủ…

Continue reading

CẢI TỔ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

TS. NGUYỄN QUANG A

Quan niệm “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” của Đảng CSVN trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi tích cực. Từ chỗ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đồng nghĩa với khu vực các doanh nghiệp quốc doanh “chiếm tỉ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông” (Đại hội VI của Đảng CSVN tháng 12.1986), đến tháng 3.1989 vẫn coi kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, song “không nhất thiết chiếm tỉ trọng lớn trong mọi ngành, nghề”.

Vào đầu các năm 1990, kinh tế quốc doanh nắm vai trò chi phối nền kinh tế với 12 nghìn xí nghiệp (toàn bộ vốn đều thuộc Nhà nước), chiếm tỉ trọng lớn và giữ những vị trí then chốt trong các ngành phi nông nghiệp. Cương lĩnh 1991 của Đảng CSVN nêu gọn “kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế”.
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000, được thông qua tại Đại hội VII của Đảng CSVN năm 1991 nói rõ hơn : “Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu và đảm đương những hoạt động mà các thành phần khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh…
Những cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh thì Nhà nước chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời có chính sách giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động”. Đại hội X của Đảng CSVN nêu quan điểm “phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Continue reading

LẠM BÀN VỀ TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG SAU CỔ PHẦN HÓA

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Việc Đảng và Nhà nước có chủ trương chuyển đổi doanh nghiệp 100% nhà nước thành công ty cổ phần (cổ phần hoá) không chỉ nhằm đa dạng hoá sở hữu, nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện cho người lao động làm chủ, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống của họ.

Trong lĩnh vực ngân hàng, Đảng và Nhà nước đã quyết định cổ phần hoá tất cả các ngân hàng thương mại nhà nước (một loại hình doanh nghiệp nhà nước). Trước đây, toàn hệ thống ngân hàng có 5 ngân hàng thương mại nhà nước, bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank). Theo lộ trình cổ phần hoá được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Vietcombank đã chính thức chuyển đổi thành Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam từ ngày 02/6/2008. Dự kiến, Nhà nước tiếp tục cổ phần hoá MHB trong năm 2008 và Vietinbank, BIDV trong năm 2009(1).

Continue reading

TRAO ĐỔI MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÊ CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Hệ thống pháp luật nói chung, về ngân hàng nói riêng còn nhiều sự bất cập vô lý, gây khó khăn cho việc quản lý pháp luật và kinh doanh. Tuy nhiên, không ít vấn đề vướng mắc lại xuất phát từ chính cách hiểu sai của cơ quan Nhà nước cũng như doanh nghiệp.

Tôi xin trao đổi một số vấn đề pháp lý về cổ phần hoá ngân hàng trong bài “Pháp luật về cồ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhìn từ việc cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” của tác giả Nguyễn Phương Linh, đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 15 tháng 8-2008.

Bán cổ phần trước hay sau khi cổ phần hoá?

Tác giả bài viết trên cho rằng, vì không có quy định của pháp luật cho phép công ty nhà nước được “huy động vốn dưới hình thức phát hành cổ phiếu”, nên cổ phần lần đầu được bán ra công chúng không thể là của Ngân hàng Ngoại thương, với tư cách là ngân hàng thương mại nhà nước, mà phải là của Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Ngoại thương.

Theo tôi, việc bán cổ phần trong trường hợp này phải được xác định là của Nhà nước, chứ không phải là của Ngân hàng Ngoại thương dù trước hoặc sau cổ phần hoá. Ngân hàng Ngoại thương không đương nhiên có quyền sở hữu đối với số tiền bán cổ phần lần đầu ra công chúng. Số tiền thu được sẽ do Nhà nước toàn quyền quyết định trở thành tiền nộp lại Nhà nước hay là số vốn đầu tư vào công ty cổ phần hoá. Trong trường hợp này, Nhà nước đóng vai trò tương tự như một cổ đông chuyển nhượng cổ phần của mình cho những nhà đầu tư khác.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC HUY ĐỘNG VÀ PHÁT HUY CÁC NGUỒN LỰC

ĐỖ BÌNH DƯƠNG – Kiểm toán Nhà nước

Kinh nghiệm từ nhiều nước trên thế giới cho thấy, cổ phần hóa có vai trò rất quan trọng trong việc đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, nhất là những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam. Cổ phần hóa có tác động mạnh mẽ và rất hiệu quả đến việc khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực về vốn, tài sản và con người để phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tuy vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình khó khăn, phức tạp, vừa đi vừa tiếp tục tìm tòi để lựa chọn phương thức phù hợp với những đặc tính riêng có của hệ thống doanh nghiệp nhà nước ở nước ta. Trong thời gian qua, hệ thống cơ chế chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không ngừng được hoàn thiện để thu hút các nguồn lực, tạo điều kiện thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa nhanh, có hiệu quả. Nhìn nhận, đánh giá toàn diện quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hơn 13 năm qua ở nước ta là việc lớn, ở đây chỉ bước đầu đánh giá việc huy động và phát huy các nguồn lực trong tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA: ĐỊNH GIÁ ĐÚNG SẼ TRIỆT TIÊU TIÊU CỰC

THƯ ANH

Xử lý đất đai và bán cổ phần ưu đãi cho người lao động tại doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa là trọng tâm cuộc giám sát trên quy mô toàn quốc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thất thoát vốn chủ yếu từ khâu định giá đất

Một mặt nhận định rằng cơ chế cổ phần hóa (CPH) nói chung đang ngày càng hoàn thiện hơn, song báo cáo của Đoàn giám sát của UBTVQH thẳng thắn chỉ ra rằng, việc xử lý đất đai trong quá trình CPH theo các nghị định của Chính phủ còn thiếu đồng bộ và chưa nhất quán.

Đơn cử, Nghị định 181/2004 ban hành ngày 29/10/2004 khẳng định đất cho thuê cũng được xác định giá trị quyền sử dụng đất, tính vào giá trị của doanh nghiệp. Cũng năm này, chưa đầy 1 tháng sau, Nghị định 187/2004 lại quy định trường hợp doanh nghiệp CPH lựa chọn hình thức thuê đất thì không tính giá trị vào giá trị của doanh nghiệp. Tiếp đó, năm 2007, Nghị định 109 của Chính phủ tiếp tục tạo ra một sự khác biệt lớn trong định giá doanh nghiệp CPH. Chẳng hạn, Công ty TNHH một thành viên Bến xe miền Đông (TPHCM) được xác định giá trị doanh nghiệp và lợi thế kinh doanh lần lượt là 60 tỷ đồng và 9 tỷ đồng theo Nghị định 187/2004; song theo Nghị định 109/2007 lại là 1.121 tỷ đồng và 1.052 tỷ đồng, chênh nhau tới 31,4 lần!

Continue reading

NHÌN LẠI QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA

image ĐỖ MAI THÀNH

1. Ở nước ta, doanh nghiệp nhà nước được hình thành từ sau Cách mạng Tháng Tám và phát triển mạnh sau khi đất nước thống nhất. Doanh nghiệp nhà nước đã từng giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, nhất là đóng góp to lớn vào thắng lợi chung của toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, bước sang thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả nước, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước không những đã không kịp chuyển mình để đáp ứng được yêu cầu mới đặt ra, mà còn bộc lộ nhiều yếu kém như: quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ bé, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lý non kém; tổ chức, bộ máy cồng kềnh; cơ chế quản lý trong các doanh nghiệp chưa hợp lý, kém hiệu quả; khả năng cạnh tranh yếu trên thị trường trong nước và quốc tế.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP VÀO DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH CHÀO BÁN CỔ PHẦN RIÊNG LẺ

CAO BÁ KHOÁT – GĐ CÔNG TY K VÀ CỘNG SỰ

A- Các vấn đề chưa thoả đáng
1. Trái với xu hướng đơn giản hoá các thủ tục hành chính
Vấn đề nổi cộm nhất và không thoả đáng nhất trong toàn bộ Dự thảo chính là việc đi ngược lại với xu hướng cải cách hành chính và đơn giản hoá các thủ tục hành chính. Doanh nghiệp chào bán cổ phần riêng lẻ có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục chào bán theo quy định của Dự thảo. Điều này có nghĩa là lại có thêm các thủ tục hành chính dành cho Doanh nghiệp và rất có thể sẽ lại phải thêm một bộ phận nhân sự để thực hiện thủ tục này.

Trường hợp thứ nhất, khi doanh nghiệp tăng vốn điều lệ thì phải thực hiện hai thủ tục: thủ tục thứ nhất là thủ tục tăng vốn theo quy định tại Nghị định 88/2006/NĐ-CP và thủ tục thứ hai là thủ tục chào bán theo quy định tại Dự thảo này. Việc ban hành thêm thủ tục chào bán cổ phần đã đi ngược lại với tinh thần cải cách hành chính, gây thêm phiền hà cho doanh nghiệp. Trường hợp thứ hai, khi Hội đồng quản trị chào bán số cổ phần quỹ (do mua lại hoặc chưa bán hết) thì việc thực hiện thủ tục chào bán cũng không hợp lý vì Luật Doanh nghiệp đã trao thẩm quyền quyết định việc chào bán cổ phần cho Hội đồng quản trị. Khoản 1 Điều 87 Luật Doanh nghiệp quy định: “Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán”. Việc Hội đồng quản trị tự quyết định phương thức chào bán, thủ tục chào bán sẽ tạo ra sự linh động cho doanh nghiệp mà lại không ảnh hưởng đến lợi ích của các cổ đông và công ty.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA – NHIỀU KẼ HỞ ĐỂ TRỤC LỢI CÁ NHÂN

LÊ NHUNG

image“Lâu nay vẫn có hai xu thế, một cho là nếu cổ phần hóa (CPH) sẽ làm mất vai trò chủ đạo của Nhà nước, hai thì cho rằng chưa cổ phần hóa DNNN là vẫn còn khó khăn cho nền kinh tế. Cả hai quan điểm này đều lệch lạc, vì vậy sau CPH đang có hiện tượng buông lỏng quản lý”, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách QH Phùng Quốc Hiển nói.

Ủy ban này vừa kết thúc đợt giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về xử lý đất đai, mua bán cổ phiếu trong CPH các DNNN. Những thống kê đưa ra trong ngày họp đầu tiên của phiên họp thứ 11 UBTVQH ngày 21/8 đã nhận được rất nhiều ý kiến tranh luận trái chiều.

“Chệch choạc ngay từ đầu”

Mặc dù đoàn giám sát đánh giá đa số DN sau CPH đều “kinh doanh có  lãi, tăng doanh thu, vốn điều lệ, thu hút thêm và cải thiện đời sống người lao động”, các DN giai đoạn đầu đều được hưởng ưu đãi về thuế, nhưng khảo sát cho thấy 6 tháng đầu năm nay mới chỉ tiến hành CPH xong vỏn vẹn 30 DN, trong khi suốt năm 2007 là 150.

“Mục tiêu là đến 1/7/2010, phải chuyển đổi xong nhưng dự kiến sẽ có khoảng 700 DN chưa thể CPH”, ông Phùng Quốc Hiển thông báo.

Continue reading

BÀN VỀ GIÁ BÁN CỔ PHẦN ƯU ĐÃI CHO CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN VÀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN KHI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA

TS. TÔN THANH TÂM

1. Cổ phần hóa – xu hướng của thời hội nhập

Xu hướng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nói chung, các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) nói riêng như: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam VCB (đã hoàn tất cổ phần hóa và phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng – IPO), Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB)… đang trở thành xu thế chung của thời hội nhập. Cổ phần hóa nhằm thay đổi vai trò sở hữu vốn và tài sản tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần, trong đó Nhà nước nắm giữ một phần vốn (thường tối thiểu là 51%) và bên ngoài (có thể là pháp nhân, tư nhân..) nắm giữ tối đa là 49%. Tuy nhiên, tỷ lệ này còn tùy thuộc vào tầm quan trọng ngành nghề mà doanh nghiệp đó đang đảm nhận đối với nền kinh tế quốc dân để Chính phủ xem xét, quyết định đưa ra tỷ lệ Nhà nước cần nắm giữ là cao hay thấp. Có một điều chúng ta phải thừa nhận rằng: “cổ phần hóa”có nghĩa là thay đổi tính chất sở hữu vốn, tài sản từ “Doanh nghiệp nhà nước” sang “Doanh nghiệp cổ phần” đã mang lại cho chúng ta những thay đổi lớn về nhận thức, tính năng động, sáng tạo và hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Continue reading

BÀN VỀ “XÁC ĐỊNH” GIÁ TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

TRẦN ĐẠI BẰNG – Ngân hàng Công thương Việt Nam

Theo kế hoạch cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của Chính phủ sẽ cổ phần hoá toàn bộ 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN). NHTMNN là NHTM do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Như vậy, cổ phần hoá NHTMNN là chuyển các NHTM có 1 chủ sở hữu là Nhà nước thành các NHTM đa chủ sở hữu.
Cổ phần hoá NHTMNN được tiến hành cổ phần hoá theo 2 bước:
Bước 1:
Nâng cao năng lực tài chính NHTMNN theo hướng đạt các chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn quốc tế.
Bước 2: Thực hiện cổ phần hoá NHTMNN.
Theo Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính, các NHTMNN phải xây dựng các quy trình cổ phần hoá như sau:
+ Xây dựng phương án cổ phần hoá (được phê duyệt)
+ Tổ chức bán cổ phần
+ Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần
Bài viết này bàn về xác định giá trị NHTMNN trong giai đoạn chuẩn bị cổ phần hoá NHTMNN. Tác giả mong nhận được những ý kiến trao đổi của các bạn đồng nghiệp quan tâm tới vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp trong cổ phần hoá NHTMNN.

Continue reading

CẦN BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CHO NGÂN HÀNG KHI CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

PHÒNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT – VỤ PHÁP CHẾ – NHNN VIỆT NAM

Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, thay thế Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần. Nghị định số 109/2007/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định của Nghị định số 187/2004/NĐ-CP, đồng thời sửa đổi, bổ sung thêm nhiều nội dung mới để phù hợp hơn với thực tế hiện nay.

Một trong những nội dung sửa đổi, bổ sung của Nghị định số 109/2007/NĐ-CP có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên có liên quan, trong đó có các ngân hàng là quy định về việc chuyển giao nghĩa vụ từ doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá sang công ty cổ phần.

1. Quy định về việc chuyển giao nghĩa vụ từ doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá sang công ty cổ phần- những điểm bất cập

Đối với việc chuyển giao nghĩa vụ từ doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá sang công ty cổ phần, Nghị định số 187/2004/NĐ-CP có quy định chung mang tính nguyên tắc đó là công ty cổ phần có nghĩa vụ kế thừa mọi quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của công ty nhà nước trước khi cổ phần hoá (khoản 2 Điều 8 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP).

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – DƯỚI GÓC NHÌN PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI BỀN VỮNG

PGS.TS. TÔ HUY RỨA

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một trong những hướng quan trọng của quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước – bộ phận không thể thiếu trong thành phần kinh tế nhà nước. Trong đổi mới kinh tế, một vấn đề lớn được đặt ra là phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất. Để giải phóng lực lượng sản xuất, tất yếu phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường và xây dựng thể chế kinh tế thị trường, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Muốn vậy, phải đổi mới mạnh mẽ các doanh nghiệp nhà nước. Theo hướng đó, sau nhiều năm tìm tòi và thử nghiệm trong thực tế, Đảng ta đã lựa chọn cổ phần hóa như một phương thức có hiệu quả để đổi mới các doanh nghiệp nhà nước như các Nghị quyết 3 và Nghị quyết 9 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ.

Cho đến nay, với sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và tinh thần chủ động trong thực hiện của các cấp, các ngành, từ trung ương tới địa phương, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã thu được những thành tựu bước đầu đáng khích lệ, đủ để chứng minh tính đúng đắn của sự lựa chọn đó. Tuy nhiên, trong xã hội cũng như trong tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn có những băn khoăn, lo lắng. Dựa vào những khiếm khuyết thực tế ở một số doanh nghiệp đã cổ phần hóa, có ý kiến lo lắng rằng, đó là cơ hội cho tình trạng chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, là một hình thức tránh né thuật ngữ “tư nhân hóa”, là sự thủ tiêu hoặc làm suy yếu vai trò điều tiết nền kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,…

Continue reading

BÀN VỀ CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG

TS. TÔN THANH TÂM & THS. NGỤY BẢO HIỂM –  SGDIII-BIDV

Tạp chí Ngân HàngThời gian gần đây, đặc biệt là vào thời điểm giữa năm 2005 và đầu năm 2006, cổ phiếu của một số ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) lớn nói riêng, các NHTMCP nói chung có xu hướng “leo thang”. Theo chúng tôi, cổ phiếu các NHTMCP leo thang bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

Một là, trong năm qua, tình hình kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, hệ thống văn bản qui phạm pháp luật liên quan đến quản trị NHTM liên tục được bổ sung, sửa đổi và ban hành mới, vừa tạo thuận lợi, thông thoáng cho môi trường kinh doanh của các ngân hàng (NH), nhưng cũng vừa đảm bảo an toàn cho quá trình giám sát, quản trị rủi ro không những của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối với các NHTM, mà còn cho chính bản thân nội tại của từng NHTM. Chính sự ổn định kinh tế vĩ mô và hành lang pháp lý an toàn đã góp phần làm cho giá trị cổ phiếu của các NHTMCP tăng cao;

Hai là, sự hỗ trợ có hiệu quả của Hiệp hội Ngân hàng và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng như các cơ quan hữu quan đối với hệ thống NH góp phần củng cố niềm tin của công chúng, nâng cao tính liên kết trong hệ thống trước những khó khăn, tạo ra giá trị ổn định cho cổ phiếu NH;

Continue reading

NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP

TS. NGUYỄN MINH PHONG

Với hàng trăm đợt phát hành cổ phiếu (CP) của các doanh nghiệp trên cả nước trong thời gian qua, gồm cả phát hành lần đầu và phát hành bổ sung, phát hành công khai và phát hành nội bộ (phát hành riêng lẻ), về cơ bản có thể nói, các hoạt động và các phương án phát hành CP của các doanh nghiệp đã diễn ra hợp pháp và mang lại hiệu quả tích cực cho đời sống kinh doanh của doanh nghiệp – tổ chức phát hành nói riêng, cũng như cho toàn bộ nền kinh tế nói chung. Điều này có thể thấy và được minh chứng qua những cải thiện rõ rệt:

Về phía doanh nghiệp

– Tăng vốn sản xuất – kinh doanh và thu hút các nguồn lực cần thiết

– Mở rộng quy mô, tăng sức cạnh tranh

– Tăng hiệu quả, lợi nhuận kinh doanh, việc làm

– Cải thiện thu nhập và dân chủ về kinh tế cho các cổ đông, người lao động

Continue reading

PHÚ THỌ: 5 PHIÊN TÒA KHÔNG XONG MỘT VỤ KIỆN?

CÔNG THẮNG

Đó là vụ kiện yêu cầu xác định số vốn góp của 4 cổ đông trong Cty cổ phần Hoà Thanh ở tỉnh Phú Thọ. Sự việc vô cùng đơn giản nếu các cán bộ ngành toà án căn cứ đúng pháp luật để xét xử; nhưng đã có những cán bộ toà án ở tỉnh này không làm như thế, nên vụ việc kéo dài. Đây được coi là một vụ điển hình về thực trạng hoạt động xét xử của ngành toà án.

Góp vốn “ma”, vẫn được

Do có tranh chấp về việc góp vốn điều lệ giữa 4 cổ đông sáng lập trong Cty cổ phần Hoà Thanh, ngày 28.6.2005, bà Đào Thị Phương đã làm đơn khởi kiện tới Toà án Nhân dân tỉnh Phú Thọ, đề nghị xác định số vốn góp của các cổ đông sáng lập. Theo điều lệ của Cty, số vốn ban đầu đăng ký là 3,8 tỉ đồng.
Mặc dù các thành viên chưa góp đủ số vốn đăng ký, nhưng Hội đồng quản trị (HĐQT) Cty đã quyết định nâng vốn điều lệ lên 4,15 tỉ đồng, trong đó ông Hồ Văn Sơn giữ chức Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Cty sẽ góp 1,1 tỉ đồng.

Continue reading

MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

BÙI VĂN DŨNG & NGUYỄN THỊ LUYẾN

Trong hơn mười lăm năm vừa qua, pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nên đã khắc phục được nhiều hạn chế, bất cập trong công tác cổ phần hóa và đã có tác động tích cực đến tiến độ, chất lượng cổ phần hóa công ty nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán ở nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay cổ phần hóa công ty nhà nước nói chung, nhất là cổ phần hóa các doanh nghiệp quy mô lớn, các tổng công ty nhà nước vẫn tồn tại một số bất cập, hạn chế cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và giải quyết theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 Khóa IX và Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng.

1. Quan hệ giữa tiêu chí xác định danh mục doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa và việc hình thành công ty mẹ – công ty con, tập đoàn kinh tế

Kinh nghiệm cải cách doanh nghiệp nhà nước ở nhiều quốc gia và nhất là ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy, trong bối cảnh số lượng doanh nghiệp nhà nước rất lớn, hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề, nhiều địa bàn với quy mô, hiệu quả và mục tiêu hoạt động rất khác nhau, thì việc đầu tiên và cực kỳ quan trọng là phải xây dựng tiêu chí phân loại doanh nghiệp một cách đúng đắn, có cơ sơ khoa học, phù hợp với thực tế, làm cơ sở cho bước tiếp theo là xây dựng và thực hiện biện pháp sắp xếp, tái cơ cấu phù hợp với từng loại doanh nghiệp đã được phân loại. Tuy nhiên, ở nước ta, quan hệ giữa tiêu chí phân loại, xác định danh mục cổ phần hóa và hình thành công ty mẹ – công ty con, tập đoàn kinh tế thường có một số bất cập như sau:

Continue reading