BIỆN PHÁP TỰ BẢO VỆ – NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ SO VỚI CÁC BIỆN PHÁP KHÁC

THS. VŨ HẢI YẾN – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

1. Khái niệm chung về biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu

Quyền sở hữu là một trong những loại quyền dân sự cơ bản được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Bên cạnh việc ghi nhận các quyền của chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp tài sản, pháp luật sở hữu còn ghi nhận các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu chống lại các hành vi xâm phạm. Bảo vệ quyền sở hữu là biện pháp Nhà nước tác động bằng pháp luật tới hành vi xử sự của con người nhằm thông qua đó bảo đảm cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của mình.

Ở Việt Nam, quyền sở hữu được bảo vệ thông qua nhiều biện pháp khác nhau, do nhiều ngành luật điều chỉnh. Trong các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, biện pháp dân sự có ý nghĩa thực tế nhất vì nó khôi phục lại tình trạng ban đầu về mặt vật chất cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, Tòa án hoặc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Quan hệ sở hữu là loại quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa – tiền tệ đặc thù, trong đó thể hiện quyền tự định đoạt cao độ của chủ thể. Quyền tự định đoạt trong quan hệ sở hữu không chỉ thể hiện trong việc chủ thể của quyền sở hữu có quyền tự do định đoạt tài sản của mình mà còn thể hiện trong việc tự do lựa chọn các biện pháp, cách thức để bảo vệ quyền sở hữu. Pháp luật dân sự ghi nhận nhiều biện pháp khác nhau để bảo vệ quyền sở hữu, trong đó biện pháp tự bảo vệ là biện pháp thể hiện tính định đoạt cao nhất của chủ thể.

Điều 255 Bộ luật dân sự ghi nhận “chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”.

Tự bảo vệ quyền sở hữu là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản tự mình tiền hành các biện pháp trong khuôn khổ pháp luật nhằm bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình.

Biện pháp tự bảo vệ cho phép chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp được áp dụng các biện pháp nhất định để ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Hành vi xâm phạm trước tiên làm phát sinh quan hệ giữa chủ thể quyền và người xâm phạm. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp hơn ai hết là người biết rõ mức độ và hậu quả của hành vi xâm phạm. Việc tự bảo vệ gắn liền với quyền lợi thiết thân của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Vì vậy, tự bảo vệ cũng chính là việc thực hiện hành vi bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp.

Biện pháp tự bảo vệ cũng xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự và nguyên tắc hòa giải. Quan hệ tài sản dựa trên cơ sở bình đẳng, độc lập giữa các chủ thể tham gia. Vì vậy, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu các chủ thể khác tôn trọng quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Khi nảy sinh tranh chấp, pháp luật luôn khuyến khích các bên chủ thể chủ động thương lượng, hoà giải. Hòa giải là cách thức chủ yếu để chủ thể của quyền sở hữu tự bảo vệ quyền sở hữu của mình.

Biện pháp tự bảo vệ là biện pháp được áp dụng rất phổ biến trong đời sống. Lý do chính là quan niệm truyền thống của nhân dân ta là “dĩ hòa vi quý”, “vô phúc đáo tụng đình”. Người dân rất ngại phải liên quan đến việc kiện tụng. Chỉ trong những trường hợp bất đắc dĩ, không có cách giải quyết nào khác họ mới đưa nhau ra tòa.

2. Đặc trưng của biện pháp tự bảo vệ so với các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu khác

· Việc tự bảo vệ là một yêu cầu cần thiết trong mọi phương thức bảo vệ quyền sở hữu. Dù tự bảo vệ hay yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình bảo vệ. Khi yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải cung cấp các chứng cứ, tài liệu là cơ sở để giải quyết. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu chỉ được thực hiện có hiệu quả nếu chủ thể thực sự tự bảo vệ một cách tích cực. Nói một cách khác, chủ sở hữu, người chiếm hữu không chỉ thể hiện vai trò chủ động của mình trong việc tự bảo vệ mà ngay cả khi có sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

· Là biện pháp thể hiện tính định đoạt cao độ của chủ thể: Khi phát hiện ra hành vi xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền chủ động lựa chọn cách thức bảo vệ phù hợp như: yêu cầu người xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, yêu cầu người chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại. Chủ thể có quyền chủ động thương lượng, hòa giải bất cứ lúc nào trong quá trình giải quyết tranh chấp.

· Về cách thức: Biện pháp tự bảo vệ có thể tiến hành dưới bất kỳ cách thức nào, miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội, trong khi việc khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết phải tuân thủ theo những điều kiện, trình tự, thủ tục nhất định như: điều kiện về chủ thể khởi kiện, thẩm quyền giải quyết, hình thức tiến hành…

· Về tính kinh tế: Biện pháp tự bảo vệ là biện pháp có tính kinh tế cao nhất do tiết kiệm được thời gian, chi phí tốn kém cho việc giải quyết tranh chấp. Trong khi việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp khởi kiện không chỉ tốn kém về thời gian cho việc giải quyết theo trình tự tố tụng mà còn tốn kém chi phí cho việc tham gia tố tụng, chi phí giám định.

· Hiệu quả bảo vệ: Biện pháp tự bảo vệ là biện pháp mang tính kịp thời, tạo khả năng ngăn chặn hành vi xâm phạm ngay từ đầu. Ngay khi phát hiện ra có hành vi xâm phạm hoặc khả năng xâm phạm, chủ thể có thể áp dụng ngay lập tức mà không cần chờ bất kỳ một thủ tục nào. Đặc điểm này cũng phần nào tránh được vụ việc xâm phạm trở nên nghiêm trọng hơn. Biện pháp tự bảo vệ bên cạnh những ưu điểm về hiệu quả bảo vệ như: nhanh chóng, kịp thời, một hạn chế lớn nhất của biện pháp này là hiệu quả bảo vệ không cao do không được bảo đảm bằng tính cưỡng chế nhà nước. Yêu cầu của chủ thể không được bảo đảm bằng cơ chế mang tính quyền lực Nhà nước mà hoàn toàn trông chờ, phụ thuộc vào sự tự nguyện và thiện chí của bên xâm phạm. Do vậy, nếu bên xâm phạm không tự nguyện, thiện chí chấm dứt hành vi xâm phạm, khắc phục hậu quả đã gây ra thì biện pháp này không mang lại hiệu quả.

3. Các hình thức tự bảo vệ quyền sở hữu

3.1. Truy tìm và đòi lại tài sản

Thông thường, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp là người có quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường hợp tài sản rời khỏi sự nắm giữ, quản lý của họ đến tay người khác hoàn toàn ngoài sự kiểm soát của họ. Để bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu tài sản của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền truy tìm tài sản của mình. Truy tìm tài sản là hình thức đầu tiên để tự bảo vệ quyền sở hữu, cũng là cơ sở để chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện được việc tự đòi lại tài sản hoặc kiện đòi lại tài sản.

Khi phát hiện tài sản của mình đang nằm trong sự chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp của người khác, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể thực hiện quyền đòi lại tài sản. Điều 256 BLDS quy định “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó”.

Dù tự đòi lại tài sản hay yêu cầu Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải trả lại tài sản, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp vẫn có vai trò trung tâm, quyết định trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.

– Họ phải tự chứng minh quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình; chứng minh tài sản đang do người khác chiếm hữu trái pháp luật.

– Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải xác định tài sản đang nằm trong sự chiếm hữu không có căn cứ pháp của ai.

– Tự yêu cầu người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người này phải trả lại tài sản.

3.2. Yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản để thoả mãn nhu cầu của mình trong đời sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh. Mọi chủ thể được thực hiện các hành vi theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Vì vậy, trong trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp nhận thấy chủ thể khác có hành vi cản trở, xâm phạm hoặc có khả năng xâm phạm đến việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, họ có quyền thông báo, nhắc nhở, yêu cầu chủ thể này phải chấm dứt các hành vi đó. Biện pháp tự bảo vệ trong trường hợp này tạo khả năng bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu một cách nhanh chóng, kịp thời, nhiều trường hợp có thể tránh được thiệt hại xảy ra.

3.3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại

Đây là biện pháp bảo vệ được áp dụng khi hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu gây ra thiệt hại về tài sản. Yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể là yêu cầu độc lập hoặc kết hợp với yêu cầu đòi lại tài sản. Thiệt hại có thể là do tài sản bị hư hỏng một phần hoặc toàn bộ, tài sản bị huỷ hoại, tiêu huỷ… Trong trường hợp chủ sở hữu không thể đòi lại tài sản, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể yêu cầu người có lỗi gây ra thiệt hại về tài sản phải bồi thường. Khi yêu cầu bồi thường thiệt hại, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có các chứng từ, giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí đã bỏ ra để khắc phục thiệt hại.

Tóm lại, trong việc bảo vệ quyền sở hữu, vai trò tự bảo vệ của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp rất quan trọng. Tự bảo vệ vừa là quyền, trong nhiều trường hợp còn là trách nhiệm của chủ sở hữu trong việc bảo vệ quyền sở hữu. Biện pháp tự bảo vệ góp phần giảm thiểu các tranh chấp tại Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền, giúp giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm thời gian và chi phí.

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Toà án nhân dân

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

Bảo vệ quyền sở hữu tài sản là vấn đề tất yếu nhằm bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản một cách có hiệu quả và trọn vẹn nhất. Vì vậy, Điều 255 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”. Một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu tài sản có hiệu quả nhất đó là phương thức khởi kiện đến Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong phạm vi của hội thảo, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản bằng con đường Toà án mà trong thực tiễn áp dụng pháp luật hiện có các quan điểm khác nhau .

1. Thẩm quyền xét xử của Toà án

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu của các chủ thể tại Toà án được chia thành hai thủ tục: Thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự. Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS không có khái niệm vụ việc dân sự mà chỉ có khái niệm vụ án dân sự. Khái niệm vụ án dân sự dùng để chỉ những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa hẹp), những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Cho nên, bên cạnh khái niệm vụ án dân sự còn có các khái niệm vụ án kinh tế, vụ án lao động. BLTTDS ra đời đã thống nhất ba loại thủ tục TTDS, kinh tế, lao động thành thủ tục TTDS và các loại việc được giải quyết tại Toà án theo thủ tục TTDS là vụ việc dân sự. Tuy không đưa ra khái niệm vụ việc dân sự nhưng theo Điều 1 của BLTTDS thì vụ việc dân sự bao gồm: vụ án dân sự và việc dân sự, trong đó việc dân sự là những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS). Còn vụ án dân sự là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS). Như vậy, các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản được Toà án thụ lý, giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.

Hiện nay, BLTTDS không quy định giá trị tối thiểu đối với những tài sản có tranh chấp được khởi kiện đến Toà án. Vì vậy, cho dù các đương sự tranh chấp về một vật có giá trị rất nhỏ thì Toà án vẫn phải thụ lý, giải quyết, nếu vật đó là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, xét từ góc độ hiệu quả kinh tế của việc giải quyết tranh chấp dân sự thì vấn đề giới hạn giá trị của tài sản khi xác định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Toà án còn có các ý kiến khác nhau.

Hầu hết các tranh chấp về tài sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Song trong một số trường hợp, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với tài sản còn phụ thuộc vào các giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản đó. Chẳng hạn, đối với tranh chấp về nhà ở liên quan đến chính sách cải tạo nhà, tranh chấp về đất đai mà người sử dụng đất chư được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chưa có một trong các loại giấy tờ theo Điều 50 luật đất đai sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân.

Thông thường tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, đối với các tranh chấp về tài sản hiện đang ở nước ngoài hoặc có một trong các đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp ra nước ngoài thì thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Thông thường các tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi cư trú của bị đơn. Các đương sự cũng có quyền thoả thuận Toà án nơi cư trú của nguyên đơn để giải quyết tranh chấp (điểm a, b khoản 1 Điều 35 BLTTDS). Riêng đối với tranh chấp về bất động sản, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết, các đương sự không có quyền thoả thuận về việc yêu cầu Toà án nơi khác giải quyết, kể cả nơi cư trú của nguyên đơn hoặc bị đơn. Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất đai không thể di dời nên khi giải quyết tranh chấp này, thông thường Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ theo yêu cầu của đương sự. Hơn nữa, các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản này sẽ do các cơ quan có thẩm quyền nơi có bất động sản đó lưu giữ. Vì vậy, Toà án nơi có bất động sản sẽ có điều kiện thực hiện việc xem xét tại chỗ và thu thập các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản đó một cách tốt nhất.

Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là các tranh chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản. Tuy nhiên, do tài sản là đối tượng của các giao dich dân sự nên các tranh chấp này thường được biểu hiện dưới các dạng tranh chấp cụ thể về hợp đồng mua bán, hợp đồng cho thuê, bồi thường thiệt hại, về việc phân chia tài sản (kể cả việc tranh chấp về tài sản trong các vụ việc về hôn nhân gia đình). Cho nên, hiện nay có ý kiến khác nhau về việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến bất động sản:

Ví dụ: A (có nơi cư trú tại huyện X tỉnh H) cho B (có nơi cư trú tại huyện Y tỉnh H) thuê một căn nhà tại số 10 huyện Z tỉnh H. Hết hạn hợp đồng B không trả nhà cho A.

Ý kiến thứ nhất: Đây là tranh chấp về hợp đồng thuê nhà nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Toà án nơi cư trú của bị đơn (huyện Y tỉnh H).

Ý kiến thứ hai: Đây là tranh chấp về về bất động sản nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải là Toà án nơi có bất động sản (huyện Z tỉnh H).

Theo chúng tôi, đây là tranh chấp về hợp đồng thuê tài sản nhưng đối tượng của hợp đồng thuê nhà lại là bất động sản. Để giải quyết vụ án này một cách tốt nhất, Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ, kiểm tra các giấy tờ tài liệu liên quan đến việc thuê nhà. Vì vậy, quan điểm thứ hai là hợp lý hơn.

2. Xác định tư cách của các đương sự

Các đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Việc xác định tư cách của các đương sự căn cứ vào Điều 56 BLTTDS. Tuy nhiên, đối với việc xác định tư cách của các đương sự trong vụ án bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua hợp đồng có đền bù còn có các ý kiến khác nhau.

Ví dụ: A cho B mượn chiếc xe đạp, B bán cho C.

Ý kiến thứ nhất: Theo quy định tại Điều 56 BLTTDS: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật nàyquy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Do đó, A có quyền khởi kiện C để đòi lại chiếc xe đạp vì A là chủ sở hữu chiếc xe và C là người giả thiết đã xâm phạm quyền sở hữu của A. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, C là bị đơn, B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ý kiến thứ hai: Theo điều 257 BLDS thì trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua “hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu tài sản có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hợc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Vì vậy, A không có quyền đòi lại chiếc xe của C mà A chỉ có quyền yêu cầu B bồi thường giá trị của chiếc xe. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, B là bị đơn, C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nếu B và C tranh chấp với nhau về hợp đồng mua bán chiếc xe thì B sẽ là nguyên đơn, C là bị đơn, A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Theo chúng tôi, Điều 56 BLTTDS quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa bị đơn khởi kiện ai thì người đó là bị đơn. Trong nhiều trường hợp do không hiểu biết pháp luật nguyên đơn đã khởi kiện không đúng. Do đó, để đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ án Toà án phải xác định đúng tư cách của các đương sự. Đối với tranh chấp về sở hữu tài sản, việc xác định tư cách của các đương sự còn phải dựa vào phương thức mà người khởi kiện khởi kiện đến Toà án theo quy định của BLDS. Vì vậy, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai.

Trên đây là hai vấn đề có các quan điểm khác nhau trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, chúng tôi rất mong nhận được sự trao đổi của các quý vị.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ TRONG BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Bảo vệ quyền sở hữu tài sản là vấn đề tất yếu nhằm bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản một cách có hiệu quả và trọn vẹn nhất. Vì vậy, Điều 255 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”. Một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu tài sản có hiệu quả nhất đó là phương thức khởi kiện đến Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong phạm vi của hội thảo, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản bằng con đường Toà án mà trong thực tiễn áp dụng pháp luật hiện có các quan điểm khác nhau .

1. Thẩm quyền xét xử của Toà án

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu của các chủ thể tại Toà án được chia thành hai thủ tục: Thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự. Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS không có khái niệm vụ việc dân sự mà chỉ có khái niệm vụ án dân sự. Khái niệm vụ án dân sự dùng để chỉ những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa hẹp), những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Cho nên, bên cạnh khái niệm vụ án dân sự còn có các khái niệm vụ án kinh tế, vụ án lao động. BLTTDS ra đời đã thống nhất ba loại thủ tục TTDS, kinh tế, lao động thành thủ tục TTDS và các loại việc được giải quyết tại Toà án theo thủ tục TTDS là vụ việc dân sự. Tuy không đưa ra khái niệm vụ việc dân sự nhưng theo Điều 1 của BLTTDS thì vụ việc dân sự bao gồm: vụ án dân sự và việc dân sự, trong đó việc dân sự là những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS). Còn vụ án dân sự là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS). Như vậy, các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản được Toà án thụ lý, giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.

Hiện nay, BLTTDS không quy định giá trị tối thiểu đối với những tài sản có tranh chấp được khởi kiện đến Toà án. Vì vậy, cho dù các đương sự tranh chấp về một vật có giá trị rất nhỏ thì Toà án vẫn phải thụ lý, giải quyết, nếu vật đó là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, xét từ góc độ hiệu quả kinh tế của việc giải quyết tranh chấp dân sự thì vấn đề giới hạn giá trị của tài sản khi xác định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Toà án còn có các ý kiến khác nhau.

Hầu hết các tranh chấp về tài sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Song trong một số trường hợp, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với tài sản còn phụ thuộc vào các giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản đó. Chẳng hạn, đối với tranh chấp về nhà ở liên quan đến chính sách cải tạo nhà, tranh chấp về đất đai mà người sử dụng đất chư được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chưa có một trong các loại giấy tờ theo Điều 50 luật đất đai sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân.

Thông thường tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, đối với các tranh chấp về tài sản hiện đang ở nước ngoài hoặc có một trong các đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp ra nước ngoài thì thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Thông thường các tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi cư trú của bị đơn. Các đương sự cũng có quyền thoả thuận Toà án nơi cư trú của nguyên đơn để giải quyết tranh chấp (điểm a, b khoản 1 Điều 35 BLTTDS). Riêng đối với tranh chấp về bất động sản, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết, các đương sự không có quyền thoả thuận về việc yêu cầu Toà án nơi khác giải quyết, kể cả nơi cư trú của nguyên đơn hoặc bị đơn. Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất đai không thể di dời nên khi giải quyết tranh chấp này, thông thường Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ theo yêu cầu của đương sự. Hơn nữa, các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản này sẽ do các cơ quan có thẩm quyền nơi có bất động sản đó lưu giữ. Vì vậy, Toà án nơi có bất động sản sẽ có điều kiện thực hiện việc xem xét tại chỗ và thu thập các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản đó một cách tốt nhất.

Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là các tranh chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản. Tuy nhiên, do tài sản là đối tượng của các giao dich dân sự nên các tranh chấp này thường được biểu hiện dưới các dạng tranh chấp cụ thể về hợp đồng mua bán, hợp đồng cho thuê, bồi thường thiệt hại, về việc phân chia tài sản (kể cả việc tranh chấp về tài sản trong các vụ việc về hôn nhân gia đình). Cho nên, hiện nay có ý kiến khác nhau về việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến bất động sản:

Ví dụ: A (có nơi cư trú tại huyện X tỉnh H) cho B (có nơi cư trú tại huyện Y tỉnh H) thuê một căn nhà tại số 10 huyện Z tỉnh H. Hết hạn hợp đồng B không trả nhà cho A.

Ý kiến thứ nhất: Đây là tranh chấp về hợp đồng thuê nhà nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Toà án nơi cư trú của bị đơn (huyện Y tỉnh H).

Ý kiến thứ hai: Đây là tranh chấp về về bất động sản nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải là Toà án nơi có bất động sản (huyện Z tỉnh H).

Theo chúng tôi, đây là tranh chấp về hợp đồng thuê tài sản nhưng đối tượng của hợp đồng thuê nhà lại là bất động sản. Để giải quyết vụ án này một cách tốt nhất, Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ, kiểm tra các giấy tờ tài liệu liên quan đến việc thuê nhà. Vì vậy, quan điểm thứ hai là hợp lý hơn.

2. Xác định tư cách của các đương sự

Các đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Việc xác định tư cách của các đương sự căn cứ vào Điều 56 BLTTDS. Tuy nhiên, đối với việc xác định tư cách của các đương sự trong vụ án bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua hợp đồng có đền bù còn có các ý kiến khác nhau.

Ví dụ: A cho B mượn chiếc xe đạp, B bán cho C.

Ý kiến thứ nhất: Theo quy định tại Điều 56 BLTTDS: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật nàyquy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Do đó, A có quyền khởi kiện C để đòi lại chiếc xe đạp vì A là chủ sở hữu chiếc xe và C là người giả thiết đã xâm phạm quyền sở hữu của A. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, C là bị đơn, B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ý kiến thứ hai: Theo điều 257 BLDS thì trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua “hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu tài sản có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hợc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Vì vậy, A không có quyền đòi lại chiếc xe của C mà A chỉ có quyền yêu cầu B bồi thường giá trị của chiếc xe. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, B là bị đơn, C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nếu B và C tranh chấp với nhau về hợp đồng mua bán chiếc xe thì B sẽ là nguyên đơn, C là bị đơn, A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Theo chúng tôi, Điều 56 BLTTDS quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa bị đơn khởi kiện ai thì người đó là bị đơn. Trong nhiều trường hợp do không hiểu biết pháp luật nguyên đơn đã khởi kiện không đúng. Do đó, để đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ án Toà án phải xác định đúng tư cách của các đương sự. Đối với tranh chấp về sở hữu tài sản, việc xác định tư cách của các đương sự còn phải dựa vào phương thức mà người khởi kiện khởi kiện đến Toà án theo quy định của BLDS. Vì vậy, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai.

Trên đây là hai vấn đề có các quan điểm khác nhau trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, chúng tôi rất mong nhận được sự trao đổi của các quý vị.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THÔNG QUA PHƯƠNG THỨC KIỆN DÂN SỰ những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác

THS. NGUYỄN THỊ TUYẾT – Khoa Luật dân sự , Trường Đại học Luật Hà Nội

Quyền sở hữu là một chế định pháp luật quan trọng được Nhà nước quy định nhằm xác định nội dung về sở hữu.Theo Điều 164 Bộ luật Dân sự (BLDS) của Việt Nam thì: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”. Như vậy quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ bản: Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản tức là việc người chiếm hữu giữ vật trong phạm vi kiểm soát của mình, ví dụ, cất tiền bạc, tư trang trong tủ… Quản lý tài sản được hiểu là việc người chiếm hữu, kiểm soát sự tồn tại của tài sản và việc sử dụng tài sản; quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản; quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản. Từ nội dung này cho thấy chủ sở hữu một tài sản có toàn quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của mình.

Quyền sở hữu tài sản là một trong các quyền dân sự cơ bản của cá nhân, tổ chức luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, được thể hiện trên hai phương diện: Ở phương diện thứ nhất việc bảo vệ quyền sở hữu của cá nhân được đặt trong mối quan hệ với các cơ quan công quyền và do vậy có thể nói rằng phương tiện bảo vệ quyền sở hữu hữu hiệu nhất là dựa vào hoạt động của hệ thống tài phán hành chính. Các quyết định hành chính và hành vi hành chính, đặc biệt là các quyết định liên quan đến việc tịch thu hay trưng mua tài sản của tổ chức, cá nhân đều có thể bị kiện ra trước các toà hành chính. Trên phương diện thứ hai, bảo vệ quyền sở hữu được đặt trong mối quan hệ với các cá nhân, tổ chức khác thì phương tiện quan trọng để bảo vệ quyền sở hữu chủ yếu thông qua vai trò của hệ thống toà hình sự và dân sự.

Trên thực tế có rất nhiều chủ sở hữu bị xâm phạm tới các quyền sở hữu của mình. Chính vì lẽ đó mà Nhà nước đã có những quy định về việc bảo vệ quyền sở hữu của các chủ sở hữu hay người chiếm hữu hợp pháp thông qua các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác nhau. Phương thức bảo vệ quyền sở hữu chính là các biện pháp tác động bằng pháp luật đối với các hành vi xử sự của con người, ngăn ngừa những hành vi xâm hại đến chủ sở hữu khi người này hành xử quyền của mình. Việc bảo vệ quyền sở hữu được pháp luật được quy định thông qua nhiều biện pháp được quy định trong các ngành luật khác nhau như ngành luật hành chính, ngành luật hình sự, ngành luật dân sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tìm hiểu các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tập trung vào ba biện pháp là biện pháp hành chính, hình sự và dân sự; từ đó đi sâu vào những ưu điểm và hạn chế của biện pháp bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự so với các biện pháp khác.

1. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu

a. Biện pháp hành chính

Ngành luật hành chính bảo vệ quyền sở hữu thông qua việc quy định những thể lệ nhằm quản lý và bảo vệ tài sản của Nhà nước, quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho từng cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính. Trong quản lý tài sản nhà nước, luật hành chính cũng phân chia việc quản lý đối với từng loại tài sản khác nhau như tài sản nhà nước trong khu vực hành chính sự nghiệp, tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước hoặc tài sản nhà nước là các kết cấu hạ tầng, phục vụ lợi ích công cộng quốc gia. Mỗi một loại tài sản đều có quy chế sử dụng tài sản khác nhau và được giao cho từng cơ quan quản lý chịu trách nhiệm bảo vệ đối với những tài sản đó.

Đồng thời, luật hành chính cũng quy định về các biện pháp hành chính mà Nhà nước được sử dụng để thực hiện việc bảo vệ quyền sở hữu khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản nhà nước như các biện pháp cưỡng chế, phòng ngừa và ngăn chặn. Chủ thể thực hiện quyền bảo vệ này chính là các cơ quan Nhà nước và trong một số trường hợp nhất định thì Toà án cũng là chủ thể sử dụng các biện pháp hành chính nhằm bảo vệ quyền sở hữu.

b. Biện pháp hình sự

Ngành luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu thông qua việc quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu bị coi là tội phạm và quy định các mức hình phạt tương đương. BLHS các tội xâm phạm quyền sở hữu tại chương XIV từ điều 133 đến điều 145, trong đó chia làm 2 nhóm chính: các tội xâm phạm quyền sở hữu của công dân và tội xâm phạm quyền sở hữu của nhà nước. Một trong những đặc điểm chung của các các tội xâm phạm sở hữu là dấu hiệu mục đích phải nhằm chiếm đoạt tài sản (từ điều 133 đến điều 142, chỉ có hai tội không có mục đích chiếm đoạt tài sản là các tội chiếm giữ trái phép tài sản quy định tại Điều 141 và tội sử dụng trái phép tài sản quy định ở Điều 142 BLHS. Tùy theo tính chất mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội và giá trị tài sản xâm phạm mà mỗi hành vi có một hình phạt tương ứng. Hính phạt thấp nhất là cải tạo không giam giữ và cao nhất là tử hình. Trong số 13 tội được quy định trong BLHS thì có 9 tội được quy định có thể là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, một tội được quy định là tội phạm ít nghiêm trọng. Số tội còn lại có thể là tội phạm nghiêm trọng hoặc là tội phạm rất nghiêm trọng. Ngoài ra, người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu còn có thể bị chịu một trong các hình phạt bổ sung như phạt tiền, tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, quản chế hoặc cấm cư trú.

c. Biện pháp dân sự

Khác với các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu do luật hành chính và luật hình sự, chủ thể thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu do Nhà nước thực hiện thì thông qua biện pháp dân sự, cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền sở hữu có thể dùng các phương thức dân sự để tự bảo vệ quyền sở hữu hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu cho mình.

Điều 255 BLDS quy định “chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng các quy định của pháp luật”. Quyền tự bảo vệ quyền của chủ sở hữu được hiểu là quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể dùng bất kỳ biện pháp mà pháp luật không cấm để bảo vệ tài sản và quyền sở hữu tài sản của mình như cất giữ, quản lý… Ngoài ra, quyền tự bảo vệ của chủ sở hữu còn gắn liền với quyền ngăn cản bất kỳ chủ thể nào khác có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình; có quyền truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật.[1]

Bên cạnh quyền tự bảo vệ, pháp luật dân sự còn quy định cho chủ sở hữu , người chiếm hữu hợp pháp có quyền “yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”[2]. Những phương thức này gọi chung là phương thức kiện dân sự- phương thức được áp dụng khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể tự mình bảo vệ được quyền sở hữu trước hành vi xâm hại của chủ thể khác gây ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền của chủ sở hữu của mình. Xuất phát từ tính chất đa dạng trong bản thân sự xâm hại tới quyền sở hữu mà phương thức kiện dân sự cũng có rất nhiều loại khác nhau. Chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp có quyền lựa chọn một trong ba phương thức kiện sau đây khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định:

(i) Kiện đòi lại tài sản (kiện vật quyền):

Quyền đòi lại tài sản là quyền của chủ sở hữu kiện yêu cầu một người đang chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của mình phải trả lại cho mình. Khi xây dựng cơ chế kiện đòi lại tài sản, các nhà làm luật Việt Nam đã rất cân nhắc trong việc làm sao phải bảo đảm sự hài hoà giữa yêu cầu bảo vệ chủ sở hữu với bảo vệ quyền lợi chính đáng của người chiếm hữu ngay tình cũng như bảo đảm tính ổn định trong lưu thông dân sự. Vì vậy, một mặt, BLDS đã thiết kế các quy tắc kiện đòi lại tài sản dựa vào tiêu chí phân biệt giữa người chiếm hữu ngay tình và người chiếm hữu không ngay tình và mặt khác, dựa vào việc phân định giữa tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Tuy nhiên điều kiện chung áp dụng cho phương thức kiện đòi tài sản được quy định tại Điều 256, 257, 258 BLDS khi có các điều kiện sau:

– Vật rời khỏi chủ sở hữu hay dời khỏi người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ; hoặc theo ý chí của họ nhưng người thứ ba có vật thông qua giao dịch không đền bù như tặng cho, thừa kế theo di chúc;

– Người thực tế đang chiếm giữ vật là người chiếm giữ bất hợp pháp;

– Vật hiện đang còn trong tay người chiếm hữu bất hợp pháp;

– Vật là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp khác do pháp luật quy định.

(ii) Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp.

Đây là phương thức cho phép chủ sở hữu kiện tới toà án khi một người nào đó có hành vi trái pháp luật cản trở việc thực hiện quyền sở hữu hay quyền chiếm hữu hợp pháp để quyền yêu cầu người này phải chấm dứt hành vi đó. Nếu người này không tự nguyện chấm dứt thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu Toà án, hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm. Mục đích chính của phương thức này là nhằm bảo đảm để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường.

(iii) Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (kiện trái quyền).

Trong trường hợp một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại tới tài sản của người khác thì chủ sở hữu của tài sản của có quyền kiện tới toà án yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đây được gọi là phương thức kiện trái quyền bởi vì nó chỉ được áp dụng trong trường hợp khi người chiếm hữu hợp pháp hoặc bất hợp pháp đã bán tài sản cho người khác mà không tìm thấy người mua nữa hoặc tài sản bị tiêu huỷ…Lúc này chủ sở hữu không lấy lại đc tài sản của mình và luật cho phép chủ sở hữu lựa chọn phương thức kiện đòi bồi thường thiệt hại. Tuỳ từng trường hợp, chủ sở hữu có quyền lựa chọn ba hình thức khởi kiện khác nhau. Nếu hành vi gây thiệt hại cho tài sản nằm trong khuôn khổ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng một nghĩa vụ trong hợp đồng, chủ sở hữu có quyền kiện vi phạm hợp đồng. Nếu hành vi gây thiệt hại không phải là hành vi vi phạm hợp đồng, chủ sở hữu có quyền kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại cho tài sản người khác cấu thành tội phạm hình sự, chủ sở hữu cũng có thể yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự (bồi thường thiệt hại) trong phiên toà hình sự hoặc tách ra thành vụ kiện dân sự để giải quyết trong phiên toà dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng.

2. Đánh giá việc bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự

Có thể nhận thấy rằng, so với các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác thì phương thức kiện dân sự có những điểm khác biệt và nó làm nên tính ưu việt cũng như cũng có những hạn chế nhất định so với các phương thức khác. Những ưu điểm chủ yếu của phương thức kiện dân sự gồm có:

Thứ nhất, đây là phương thức mang tính thực tế rất lớn. Tính thực tế này xuất phát từ chỗ những hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu thông thường nảy sinh trong đời sống xã hội, xâm phạm tới các quyền tài sản của các chủ thể và do vậy chủ yếu thuộc sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Do xuất phát điểm là các hành vi xâm phạm quyền sở hữu chủ yếu thuộc pháp luật dân sự nên biện pháp kiện dân sự cũng được áp dụng phổ biến hơn. Hơn nữa, mục đích lớn nhất của chủ thể khi sử dụng phương thức kiện dân sự nhằm bảo vệ quyền sở hữu của mình chính là việc khôi phục lại tình trạng ban đầu (tình trạng trước khi bị vi phạm) về mặt vật chất hay chính là đảm bảo sự nguyên vẹn của tài sản cho chủ sở hữu hoặc cho người chiếm hữu hợp pháp. Sau khi áp dụng các phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có thể khôi phục lại trạng thái tài sản ban đầu hoặc được bù đắp về mặt vật chất cho những xâm phạm đến quyền sở hữu của họ, đáp ứng được lợi ích cơ bản của việc bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể được nhà nước ghi nhân. Mặc dù phương thức bảo vệ quyền sở hữu của ngành luật hành chính cũng nhằm mục đích này nhưng thông thường tài sản bị xâm phạm lại là các tài sản của Nhà nước. Còn phương thức bảo vệ quyền sở hữu của ngành luật hình sự thì mục đích lớn nhất lại là trừng trị và răn đe.

Thứ hai, phương thức kiện dân sự được áp dụng một cách rộng rãi hơn các biện pháp khác. Thông thường biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong ngành luật hình sự chỉ áp dụng khi hành vi xâm phạm đó được cấu thành tội phạm theo quy định trong Bộ luật hinh sự sự (BLHS). Mà trong BLHS thì hiện nay quy định chỉ có vài chục hành vi xâm phạm vào 2 nhóm sở hữu chính là sở hữu Xã hội Chủ nghĩa và sở hữu của công dân (từ Điều 133 đến Điều 144 BLHS). Biện pháp thuộc ngành luật hành chính thông thường áp dụng khi tài sản bị xâm phạm tới là tài sản của Nhà nước. Chủ thể áp dụng biện pháp hành chính và biện pháp hình sự chỉ có thể là các cơ quan nhà nước bởi vậy trong rất nhiều trường hợp việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế không phát huy được hiệu quả một cách tuyệt đối. Riêng biện pháp kiện dân sự được áp dụng rộng rãi bởi lẽ: việc xâm phạm tài sản mang tính chất dân sự diễn ra phổ biến; các chủ thể có thể áp dụng các phương thức kiện dân sự một cách dễ dàng bằng việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu chủ thể vi phạm bồi thường thiệt hại.

Thứ ba, phương thức kiện dân sự tạo điều kiện rất thuận lợi và dễ dàng cho mọi chủ thể có quyền sở hữu bị xâm phạm tự mình chủ động thực hiện phương thức này. Đây là một điểm khác biệt rất lớn so với các phương thức khác. Phương thức bảo vệ trong ngành luật hành chính tuân thủ các thủ tục hành chính tương đối phức tạp của các cơ quan Nhà nước. Còn phương thức trong ngành luật hình sự thì đỏi hỏi phải đáp ứng đủ việc cấu thành tội phạm và tuân theo thủ tục tố tụng hình sự cũng tương đối phức tạp và mất thời gian, khó có thể khôi phục nhanh chóng tình trạng tái sản như ban đầu. Riêng phương thức kiện dân sự vì tuân theo thủ tục tương đối nhanh gọn, khắc phục nhanh chóng tình trạng như ban đầu, hơn nữa khi các chủ thể có thể đã đệ đơn yêu cầu toà án ra quyết định buộc chủ thể có hành vi xâm phạm quyền sở hữu chấm dứt hành vi, bồi thường thiệt hại hoặc đòi lại tài sản cho mình nhưng vẫn có thể được quyền thoả thuận và rút lại đơn kiện.

Trên đây là các điểm ưu điểm của phương thức kiện dân sự so với các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác. Tuy nhiên, phương thức kiện dân sự cũng mang những hạn chế nhất định, ví dụ trong nhiều trường hợp hiệu quả của các phương thức dân sự trong việc bảo vệ quyền sở hữu trên thực tế rất thấp. Trong các phương thức dân sự, tự bảo vệ là biện pháp được các chủ thể áp dụng phổ biến nhất nhưng do thiếu tính cưỡng chế và quyền lực nhà nước nên trên thực tế khi có hành vi xâm phạm các chủ thể vẫn phải áp dụng đồng thời các biện pháp khác để bảo vệ quyền sở hữu của mình.

Ngoài ra hiệu quả của việc bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự gắn liền với việc thi hành án dân sự nên trên thực tế bị ảnh hưởng rất nhiều bởi công tác thi hành án dân sự cũng là một hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu hợp pháp, người chiếm hữu hợp pháp trên thực tế.


[1] Giáo trình Luật Dân sự, Trường ĐH Luật HN, Tập 1, NXB Công an nhân dân, 2006, tr. 281

[2] Điều 255, BLDS

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THÔNG QUA PHƯƠNG THỨC KIỆN DÂN SỰ NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ SO VỚI CÁC PHƯƠNG THỨC KHÁC

THS. NGUYỄN THỊ TUYẾT – Khoa Luật dân sự – Trường Đại học Luật Hà Nội

Quyền sở hữu là một chế định pháp luật quan trọng được Nhà nước quy định nhằm xác định nội dung về sở hữu.Theo Điều 164 Bộ luật Dân sự (BLDS) của Việt Nam thì: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”. Như vậy quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ bản: Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản tức là việc người chiếm hữu giữ vật trong phạm vi kiểm soát của mình, ví dụ, cất tiền bạc, tư trang trong tủ… Quản lý tài sản được hiểu là việc người chiếm hữu, kiểm soát sự tồn tại của tài sản và việc sử dụng tài sản; quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản; quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản. Từ nội dung này cho thấy chủ sở hữu một tài sản có toàn quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của mình.

Quyền sở hữu tài sản là một trong các quyền dân sự cơ bản của cá nhân, tổ chức luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, được thể hiện trên hai phương diện: Ở phương diện thứ nhất việc bảo vệ quyền sở hữu của cá nhân được đặt trong mối quan hệ với các cơ quan công quyền và do vậy có thể nói rằng phương tiện bảo vệ quyền sở hữu hữu hiệu nhất là dựa vào hoạt động của hệ thống tài phán hành chính. Các quyết định hành chính và hành vi hành chính, đặc biệt là các quyết định liên quan đến việc tịch thu hay trưng mua tài sản của tổ chức, cá nhân đều có thể bị kiện ra trước các toà hành chính. Trên phương diện thứ hai, bảo vệ quyền sở hữu được đặt trong mối quan hệ với các cá nhân, tổ chức khác thì phương tiện quan trọng để bảo vệ quyền sở hữu chủ yếu thông qua vai trò của hệ thống toà hình sự và dân sự.

Trên thực tế có rất nhiều chủ sở hữu bị xâm phạm tới các quyền sở hữu của mình. Chính vì lẽ đó mà Nhà nước đã có những quy định về việc bảo vệ quyền sở hữu của các chủ sở hữu hay người chiếm hữu hợp pháp thông qua các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác nhau. Phương thức bảo vệ quyền sở hữu chính là các biện pháp tác động bằng pháp luật đối với các hành vi xử sự của con người, ngăn ngừa những hành vi xâm hại đến chủ sở hữu khi người này hành xử quyền của mình. Việc bảo vệ quyền sở hữu được pháp luật được quy định thông qua nhiều biện pháp được quy định trong các ngành luật khác nhau như ngành luật hành chính, ngành luật hình sự, ngành luật dân sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tìm hiểu các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tập trung vào ba biện pháp là biện pháp hành chính, hình sự và dân sự; từ đó đi sâu vào những ưu điểm và hạn chế của biện pháp bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự so với các biện pháp khác.

1. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu

a. Biện pháp hành chính

Ngành luật hành chính bảo vệ quyền sở hữu thông qua việc quy định những thể lệ nhằm quản lý và bảo vệ tài sản của Nhà nước, quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho từng cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính. Trong quản lý tài sản nhà nước, luật hành chính cũng phân chia việc quản lý đối với từng loại tài sản khác nhau như tài sản nhà nước trong khu vực hành chính sự nghiệp, tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước hoặc tài sản nhà nước là các kết cấu hạ tầng, phục vụ lợi ích công cộng quốc gia. Mỗi một loại tài sản đều có quy chế sử dụng tài sản khác nhau và được giao cho từng cơ quan quản lý chịu trách nhiệm bảo vệ đối với những tài sản đó.

Đồng thời, luật hành chính cũng quy định về các biện pháp hành chính mà Nhà nước được sử dụng để thực hiện việc bảo vệ quyền sở hữu khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản nhà nước như các biện pháp cưỡng chế, phòng ngừa và ngăn chặn. Chủ thể thực hiện quyền bảo vệ này chính là các cơ quan Nhà nước và trong một số trường hợp nhất định thì Toà án cũng là chủ thể sử dụng các biện pháp hành chính nhằm bảo vệ quyền sở hữu.

b. Biện pháp hình sự

Ngành luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu thông qua việc quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu bị coi là tội phạm và quy định các mức hình phạt tương đương. BLHS các tội xâm phạm quyền sở hữu tại chương XIV từ điều 133 đến điều 145, trong đó chia làm 2 nhóm chính: các tội xâm phạm quyền sở hữu của công dân và tội xâm phạm quyền sở hữu của nhà nước. Một trong những đặc điểm chung của các các tội xâm phạm sở hữu là dấu hiệu mục đích phải nhằm chiếm đoạt tài sản (từ điều 133 đến điều 142, chỉ có hai tội không có mục đích chiếm đoạt tài sản là các tội chiếm giữ trái phép tài sản quy định tại Điều 141 và tội sử dụng trái phép tài sản quy định ở Điều 142 BLHS. Tùy theo tính chất mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội và giá trị tài sản xâm phạm mà mỗi hành vi có một hình phạt tương ứng. Hính phạt thấp nhất là cải tạo không giam giữ và cao nhất là tử hình. Trong số 13 tội được quy định trong BLHS thì có 9 tội được quy định có thể là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, một tội được quy định là tội phạm ít nghiêm trọng. Số tội còn lại có thể là tội phạm nghiêm trọng hoặc là tội phạm rất nghiêm trọng. Ngoài ra, người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu còn có thể bị chịu một trong các hình phạt bổ sung như phạt tiền, tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, quản chế hoặc cấm cư trú.

c. Biện pháp dân sự

Khác với các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu do luật hành chính và luật hình sự, chủ thể thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu do Nhà nước thực hiện thì thông qua biện pháp dân sự, cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền sở hữu có thể dùng các phương thức dân sự để tự bảo vệ quyền sở hữu hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu cho mình.

Điều 255 BLDS quy định “chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng các quy định của pháp luật”. Quyền tự bảo vệ quyền của chủ sở hữu được hiểu là quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể dùng bất kỳ biện pháp mà pháp luật không cấm để bảo vệ tài sản và quyền sở hữu tài sản của mình như cất giữ, quản lý… Ngoài ra, quyền tự bảo vệ của chủ sở hữu còn gắn liền với quyền ngăn cản bất kỳ chủ thể nào khác có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình; có quyền truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật.[1]

Bên cạnh quyền tự bảo vệ, pháp luật dân sự còn quy định cho chủ sở hữu , người chiếm hữu hợp pháp có quyền “yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”[2]. Những phương thức này gọi chung là phương thức kiện dân sự- phương thức được áp dụng khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể tự mình bảo vệ được quyền sở hữu trước hành vi xâm hại của chủ thể khác gây ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền của chủ sở hữu của mình. Xuất phát từ tính chất đa dạng trong bản thân sự xâm hại tới quyền sở hữu mà phương thức kiện dân sự cũng có rất nhiều loại khác nhau. Chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp có quyền lựa chọn một trong ba phương thức kiện sau đây khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định:

(i) Kiện đòi lại tài sản (kiện vật quyền):

Quyền đòi lại tài sản là quyền của chủ sở hữu kiện yêu cầu một người đang chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của mình phải trả lại cho mình. Khi xây dựng cơ chế kiện đòi lại tài sản, các nhà làm luật Việt Nam đã rất cân nhắc trong việc làm sao phải bảo đảm sự hài hoà giữa yêu cầu bảo vệ chủ sở hữu với bảo vệ quyền lợi chính đáng của người chiếm hữu ngay tình cũng như bảo đảm tính ổn định trong lưu thông dân sự. Vì vậy, một mặt, BLDS đã thiết kế các quy tắc kiện đòi lại tài sản dựa vào tiêu chí phân biệt giữa người chiếm hữu ngay tình và người chiếm hữu không ngay tình và mặt khác, dựa vào việc phân định giữa tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Tuy nhiên điều kiện chung áp dụng cho phương thức kiện đòi tài sản được quy định tại Điều 256, 257, 258 BLDS khi có các điều kiện sau:

– Vật rời khỏi chủ sở hữu hay dời khỏi người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ; hoặc theo ý chí của họ nhưng người thứ ba có vật thông qua giao dịch không đền bù như tặng cho, thừa kế theo di chúc;

– Người thực tế đang chiếm giữ vật là người chiếm giữ bất hợp pháp;

– Vật hiện đang còn trong tay người chiếm hữu bất hợp pháp;

– Vật là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp khác do pháp luật quy định.

(ii) Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp.

Đây là phương thức cho phép chủ sở hữu kiện tới toà án khi một người nào đó có hành vi trái pháp luật cản trở việc thực hiện quyền sở hữu hay quyền chiếm hữu hợp pháp để quyền yêu cầu người này phải chấm dứt hành vi đó. Nếu người này không tự nguyện chấm dứt thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu Toà án, hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm. Mục đích chính của phương thức này là nhằm bảo đảm để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường.

(iii) Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (kiện trái quyền).

Trong trường hợp một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại tới tài sản của người khác thì chủ sở hữu của tài sản của có quyền kiện tới toà án yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đây được gọi là phương thức kiện trái quyền bởi vì nó chỉ được áp dụng trong trường hợp khi người chiếm hữu hợp pháp hoặc bất hợp pháp đã bán tài sản cho người khác mà không tìm thấy người mua nữa hoặc tài sản bị tiêu huỷ…Lúc này chủ sở hữu không lấy lại đc tài sản của mình và luật cho phép chủ sở hữu lựa chọn phương thức kiện đòi bồi thường thiệt hại. Tuỳ từng trường hợp, chủ sở hữu có quyền lựa chọn ba hình thức khởi kiện khác nhau. Nếu hành vi gây thiệt hại cho tài sản nằm trong khuôn khổ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng một nghĩa vụ trong hợp đồng, chủ sở hữu có quyền kiện vi phạm hợp đồng. Nếu hành vi gây thiệt hại không phải là hành vi vi phạm hợp đồng, chủ sở hữu có quyền kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại cho tài sản người khác cấu thành tội phạm hình sự, chủ sở hữu cũng có thể yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự (bồi thường thiệt hại) trong phiên toà hình sự hoặc tách ra thành vụ kiện dân sự để giải quyết trong phiên toà dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng.

2. Đánh giá việc bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự

Có thể nhận thấy rằng, so với các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác thì phương thức kiện dân sự có những điểm khác biệt và nó làm nên tính ưu việt cũng như cũng có những hạn chế nhất định so với các phương thức khác. Những ưu điểm chủ yếu của phương thức kiện dân sự gồm có:

Thứ nhất, đây là phương thức mang tính thực tế rất lớn. Tính thực tế này xuất phát từ chỗ những hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu thông thường nảy sinh trong đời sống xã hội, xâm phạm tới các quyền tài sản của các chủ thể và do vậy chủ yếu thuộc sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Do xuất phát điểm là các hành vi xâm phạm quyền sở hữu chủ yếu thuộc pháp luật dân sự nên biện pháp kiện dân sự cũng được áp dụng phổ biến hơn. Hơn nữa, mục đích lớn nhất của chủ thể khi sử dụng phương thức kiện dân sự nhằm bảo vệ quyền sở hữu của mình chính là việc khôi phục lại tình trạng ban đầu (tình trạng trước khi bị vi phạm) về mặt vật chất hay chính là đảm bảo sự nguyên vẹn của tài sản cho chủ sở hữu hoặc cho người chiếm hữu hợp pháp. Sau khi áp dụng các phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có thể khôi phục lại trạng thái tài sản ban đầu hoặc được bù đắp về mặt vật chất cho những xâm phạm đến quyền sở hữu của họ, đáp ứng được lợi ích cơ bản của việc bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể được nhà nước ghi nhân. Mặc dù phương thức bảo vệ quyền sở hữu của ngành luật hành chính cũng nhằm mục đích này nhưng thông thường tài sản bị xâm phạm lại là các tài sản của Nhà nước. Còn phương thức bảo vệ quyền sở hữu của ngành luật hình sự thì mục đích lớn nhất lại là trừng trị và răn đe.

Thứ hai, phương thức kiện dân sự được áp dụng một cách rộng rãi hơn các biện pháp khác. Thông thường biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong ngành luật hình sự chỉ áp dụng khi hành vi xâm phạm đó được cấu thành tội phạm theo quy định trong Bộ luật hinh sự sự (BLHS). Mà trong BLHS thì hiện nay quy định chỉ có vài chục hành vi xâm phạm vào 2 nhóm sở hữu chính là sở hữu Xã hội Chủ nghĩa và sở hữu của công dân (từ Điều 133 đến Điều 144 BLHS). Biện pháp thuộc ngành luật hành chính thông thường áp dụng khi tài sản bị xâm phạm tới là tài sản của Nhà nước. Chủ thể áp dụng biện pháp hành chính và biện pháp hình sự chỉ có thể là các cơ quan nhà nước bởi vậy trong rất nhiều trường hợp việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế không phát huy được hiệu quả một cách tuyệt đối. Riêng biện pháp kiện dân sự được áp dụng rộng rãi bởi lẽ: việc xâm phạm tài sản mang tính chất dân sự diễn ra phổ biến; các chủ thể có thể áp dụng các phương thức kiện dân sự một cách dễ dàng bằng việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu chủ thể vi phạm bồi thường thiệt hại.

Thứ ba, phương thức kiện dân sự tạo điều kiện rất thuận lợi và dễ dàng cho mọi chủ thể có quyền sở hữu bị xâm phạm tự mình chủ động thực hiện phương thức này. Đây là một điểm khác biệt rất lớn so với các phương thức khác. Phương thức bảo vệ trong ngành luật hành chính tuân thủ các thủ tục hành chính tương đối phức tạp của các cơ quan Nhà nước. Còn phương thức trong ngành luật hình sự thì đỏi hỏi phải đáp ứng đủ việc cấu thành tội phạm và tuân theo thủ tục tố tụng hình sự cũng tương đối phức tạp và mất thời gian, khó có thể khôi phục nhanh chóng tình trạng tái sản như ban đầu. Riêng phương thức kiện dân sự vì tuân theo thủ tục tương đối nhanh gọn, khắc phục nhanh chóng tình trạng như ban đầu, hơn nữa khi các chủ thể có thể đã đệ đơn yêu cầu toà án ra quyết định buộc chủ thể có hành vi xâm phạm quyền sở hữu chấm dứt hành vi, bồi thường thiệt hại hoặc đòi lại tài sản cho mình nhưng vẫn có thể được quyền thoả thuận và rút lại đơn kiện.

Trên đây là các điểm ưu điểm của phương thức kiện dân sự so với các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác. Tuy nhiên, phương thức kiện dân sự cũng mang những hạn chế nhất định, ví dụ trong nhiều trường hợp hiệu quả của các phương thức dân sự trong việc bảo vệ quyền sở hữu trên thực tế rất thấp. Trong các phương thức dân sự, tự bảo vệ là biện pháp được các chủ thể áp dụng phổ biến nhất nhưng do thiếu tính cưỡng chế và quyền lực nhà nước nên trên thực tế khi có hành vi xâm phạm các chủ thể vẫn phải áp dụng đồng thời các biện pháp khác để bảo vệ quyền sở hữu của mình.

Ngoài ra hiệu quả của việc bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự gắn liền với việc thi hành án dân sự nên trên thực tế bị ảnh hưởng rất nhiều bởi công tác thi hành án dân sự cũng là một hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu hợp pháp, người chiếm hữu hợp pháp trên thực tế.


[1] Giáo trình Luật Dân sự, Trường ĐH Luật HN, Tập 1, NXB Công an nhân dân, 2006, tr. 281

[2] Điều 255, BLDS

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

THỰC TRẠNG VỀ BIỆN PHÁP DÂN SỰ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

THS. TRẦN KIM CHI  – VỤ 5 – VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

1. Đặt vấn đề:

Trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia quyền sở hữu luôn được ghi nhận là quyền dân sự cơ bản của con người. Với ý nghĩa là cơ sở cho mọi quan hệ kinh tế, chi phối chế độ kinh tế trong xã hội quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ bằng nhiều phương thức khác nhau. Việc áp dụng phương thức bảo vệ nào tùy thuộc hậu quả của việc xâm hại, tính chất, mức độ của hành vi xâm hại (nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, ngay tình hay không ngay tình), yêu cầu của người bị xâm hại.

Nước ta cũng không ngoại lệ, quyền sở hữu được bảo vệ thông qua các chế tài hành chính, trách nhiệm hình sự và biện pháp dân sự bằng việc khởi kiện vụ, việc dân sự ra Tòa án. Pháp luật còn ghi nhận chủ sở hữu được tự bảo vệ, có quyền ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm hại quyền sở hữu của mình, có quyền truy tìm đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. Trong thực tiễn, việc áp dụng các biện pháp hành chính, trách nhiệm hình sự để bảo vệ quyền sở hữu dường như là biện pháp phổ biến và hiệu quả hơn biện pháp kiện dân sự. Số lượng án kiện dân sự bảo vệ quyền sở hữu không nhiều trong tương quan chung với các loại án kiện dân sự khác. Điều này có thể lý giải từ lẽ tự nhiên trong đời sống xã hội rằng một người khi thực hiện việc chiếm hữu một tài sản mà không biết về nguồn gốc tài sản, nói cách khác là ngay tình trong việc chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật là ít có khả năng. Sự ngay tình nếu có thường có nguồn gốc từ một giao dịch hợp pháp hoặc bất hợp pháp nhưng phát sinh sự kiện dẫn đến việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật hoặc gây thiệt hại đến tài sản của chủ sở hữu. Để bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện có hiệu quả quyền khởi kiện bảo vệ quyền sở hữu, pháp luật dân sự ghi nhận các phương thức kiện khác nhau phù hợp với thực tiễn xâm hại quyền sở hữu: Kiện đòi tài sản; kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp; kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Thực trạng:

2.1 Vụ án “Đòi nhà đất” tại Tòa án thành phố H.

Nội dung

Năm 1944, cụ Vũ Tá T và cụ Hoàng Thị N mua của ông Ngô Ngọc Khánh một thửa đất diện tích 90m2 tại số 135 phố TS (số cũ 175 làng An Hạ). Đất được cấp bằng khoán điền thổ mang tên hai cụ, số thửa 42 (Trong giấy tờ mua bán năm 1929 giữa ông Khánh với chủ cũ thì trên đất có một nhà cấp 4). Năm 1946, toàn quốc kháng chiến gia đình hai cụ tản cư về quê. Theo lời khai của ông Vũ Ngọc L (con trai của hai cụ) thì nhà đất khóa cửa để lại, không gửi ai; vào các 1971,1990,2002 ông L có quay về đòi nhà đất đã bị gia đình ông Đào Văn T chiếm giữ. Thang 4/2003, ông L khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận Đ đòi nhà. gia đình ông T không trả và cho rằng nhà đất được thừa kế từ cha, mẹ và gia đình ông đã sử dụng ổn định từ năm 1951 (nộp thuế đầy đủ); năm1991 ông T làm nhà hai tầng và mua thêm một ngôi nhà cấp 4, diện tích 27m2 của anh Nguyễn Văn Đ liền phía sau nhà hai tầng, tổng diện tích hiện gia đình ông T đang sử dụng là 60m2.

Tòa án cấp sơ thẩm xác minh:

+ Nguồn gốc nhà đất gia đình ông T không có nên chưa làm được thủ tục đăng ký quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất (ông T có lời khác nhau về nguồn gốc: Do cha, mẹ ông lấn chiếm đất ao làm nhà; không rõ mua của ai; do mua 60m2 đất ao của cụ Vũ Tá T, nhưng ông T không có bằng chứng về việc mua bán).

+ Công văn của cơ quan quản lý nhà đất xác định: Nhà số 135 phố TS (Hiện gia đình ông T đang sử dụng) thuộc thửa số 18 bản đồ gốc 104-6G-II-44 có nguồn gốc là một phần thửa số 42 tờ bản đồ số 12 đứng tên cụ Vũ Tá T và vợ là cụ Hoàng Thị N.

Quyết định

– Bản án dân sự sơ thẩm số 19 ngày 6/10/2004 của Tòa án quận Đ quyết định: Xác nhận nhà mang biển số 175 An Hạ (cũ) nay là 135 phố TS thuộc thửa số 18 thuộc quyền sở hữu của cụ T và cụ N Chấp nhận yêu cầu kiện đòi nhà đất của ông Vũ ngọc L Buộc gia đình ông T. trả lại diện tích nhà đất thực tế đo là 60m2 (gồm 1 nhà 2 tầng diện tích 38m2, 1 nhà cấp 4 diện tích 25m2) cho ông L. Ông L thanh toán giá trị xây dựng cho gia đình ông T.

– Bản án dân sự phúc thẩm số 05 ngày 11/1/2005 của Tòa án thành phố H quyết định: Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Đào Văn T, sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án quận Đ Bác yêu cầu đòi nhà đất của ông Vũ Ngọc L.

Bình luận

Đánh giá chứng cứ: Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng việc xác minh của cấp sơ thẩm về nguồn gốc nhà đất được hiểu không chính xác và không đầy đủ: “Bằng khoán điền thổ số 175 tổng An Hạ” được hiểu là “Nhà số 175”; Phần nhà đất của ông T. có hai thửa, thửa 18 sát đường (có nhà 2 tầng) và thửa 22 (nhà cấp 4) nhưng cấp sơ thẩm chỉ xác minh về thửa 18 là không đầy đủ. Trên đất có nhà hay không có nhà chưa có căn cứ.

Nhận định của án phúc thẩm có phần khiên cưỡng, không toàn diện. Việc hiểu bằng khoán điền thổ 175 là nhà số 175 có thể chính xác hoặc chưa chính xác, nhưng thực chất thửa đất số 42 mang bằng khoán 175 và nhà số 175 cũng tọa lạc trên thửa đất 42 đứng tên cụ T và cụ N Nội dung công văn của cơ quan nhà đất nêu trên đã giải thích: Thửa số 18 (gia đình ông T. đang sử dụng) là 1 phần của thửa số 42 mang tên cụ T và cụ N thuộc bằng khoán điền thổ số 175. Cấp sơ thẩm chỉ xác minh về thửa số 18 vì trước đó ngày 4/6/1998 cơ quan địa chính đã lập “Biên bản xác định mốc giới theo hiện trạng sử dụng đất” thửa số 18 có diện tích 60,8m2 (gồm cả thửa 18 và thửa 22), việc nhập hai thửa vào một có đơn đề nghị của ông T (tài liệu được lưu trong hồ sơ). Như vậy, kết luận của cấp phúc thẩm không có căn cứ.

Về nhà trên đất: năm 1929, khi ông Khánh mua của chủ cũ, hợp đồng thể hiện có nhà cấp 4. Hợp đồng mua bán giữa ông Khánh với hai cụ không thể hiện có nhà, cấp phúc thẩm nhận định chưa đủ căn cứ xác định có nhà trên đất. Tuy nhiên cấp phúc thẩm cũng chưa có căn cứ để khẳng định điều này, để làm rõ tình tiết về nhà, cần xác minh việc cụ T cụ N có ở tại thửa đất này từ khi mua (năm 1944) đến khi đi tản cư; tờ biên lai nộp thuế thổ trạch năm 1953 ghi tên bà Th (mẹ ông T) nộp tiền, nhưng có dòng chữ ghi tên cụ Vũ Tá T.

áp dụng pháp luật: Bản án phúc thẩm nhận định Toà án cấp sơ thẩm áp dụng văn bản pháp luật cũng như xác định quan hệ pháp luật không đúng: Ông L đòi nhà đất mà ông T đã ở từ những năm 1951. Như vậy quan hệ được xác lập trước ngày 1/7/1991, nếu có nhà trên đất thì phải áp dụng Nghị quyết số 58/UBTVQH10 ngày 29/10/1998, nếu chỉ liên quan đến đất thì áp dụng Luật đất đai năm 2003 để giải quyết. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ “Đòi nhà đất” và áp dụng quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết là không đúng.

Mặc dù nhận định như trên, nhưng Toà án cấp phúc thẩm không chỉ ra căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án; Cấp phúc thẩm quyết định bác yêu cầu đòi nhà đất của ông L với nhận định cho rằng quyết định của cấp sơ thẩm chưa đủ căn cứ, thiếu chính xác là không đúng về tố tụng vì đây chỉ là căn cứ để cấp phúc thẩm quyết định huỷ án sơ thẩm để chứng minh, thu thập chứng cứ làm rõ yêu cầu của ông L.

2.2 Vụ án “Đòi bồi thường thiệt hại về tài sản” tại Toà án tỉnh Bến Tre.

Nội dung

Ông Nguyễn Văn Lãnh là chủ sở hữu hai chiếc tàu TG 1986 và BĐ 2539. Ông thuê hai tài công sử dụng tàu đánh bắt tài sản. Khi tàu hoạt động có mua một số nguyên vật liệu của ông Trần Văn Tuấn và Trần Văn Bé. Ông Lãnh cho rằng khoản tiền mua nguyên liệu là do các tài công phải trả vì có thoả thuận miệng giữa ông với tài công về hưởng lợi nhuận và chịu chi phí, nhưng điều này không được các tài công thừa nhận, trong khi ông Lãnh lại ký xác nhận nợ với ông Tuấn và ông Bé. Do việc ông Lãnh không trả nợ cho ông Tuấn, ông Bé nên ngày 8/3/2000 các bên yêu cầu Công an huyện giải quyết và lập biên bản hoà giải với nội dung: Ông Lãnh đưa tàu BĐ 2539 về sửa chữa, để lại tàu TG 1986 cùng nhau thuê tài công tại địa phương để làm ăn khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, hai bên đã không thực hiện thoả thuận này và ngày 18/11/2000 khi ông Lãnh định đưa tàu TG 1986 về thì bị ông Tuấn, ông Bé giữ tàu yêu cầu ông Lãnh thanh toán nợ mới được đưa tàu đi. Sự việc đã không được giải quyết dứt điểm đẫn dến tàu chìm thiệt hại 100%.

Ngày 4/9/2002, ông Lãnh khởi kiện yêu cầu Toà án huyện Ba Tri buộc ông Tuấn, ông Bé liên đới bồi thường 70% giá trị còn lại của tàu (432.253.000đ x 70% = 302.773.000đ) và tiền mất thu nhập bình quân mỗi tháng 3.000.000đ tính từ tháng 11/2000.

Quyết định

– Bản án dân sự sơ thẩm số 124/2006/DS-ST ngày 7/8/2006 của Toà án huyện Ba Tri quyết định: Bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tài sản của ông Nguyễn Văn Lãnh đối với ông Trần Văn Tuấn, ông Trần Văn Bé. Buộc ông Lãnh phải trả cho ông Tuấn, ông Bé mỗi người số tiền là 33.790.000đ (Vốn 15.000.000, lãi 20.790.000đ)

– Bản án dân sự phúc thẩm số 21 ngày 18/10/2006 của Tòa án tỉnh Bến Tre quyết định: Chấp nhận 1 phần kháng cáo của ông Lãnh, sửa án sơ thẩm, xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Lãnh về việc bồi thường số tiền 495.000.000đ trong đó tiền thiệt hại tàu là 375.000.000đ và tiền mất thu nhập là 120.000.000đ (48 tháng x 3.000.000đ). Buộc ông Lãnh trả cho ông Tuấn, ông Bé mỗi người số tiền 35.790.000đ trong đó tiền vốn là 15.000.000đ, lãi là 20.000.000đ

– Ngày 11/7/2007, Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 69/QĐ-KNGĐT-V5 kháng nghị bản án phúc thẩm trên.

– Quyết định giám đốc thẩm số 232/2007/DS-GĐT ngày 24/8/2007 của Toà dân sự Toà án tối cao quyết định: Chấp nhận kháng nghị của VKSNDTC, huỷ án sơ thẩm, án phúc thẩm, xét xử sơ thẩm lại.

Bình luận

Quy định pháp luật: Điều 609 Bộ luật dân sự năm 1995 về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại”, Điều 604.1 Bộ luật dân sự năm 2005 về “Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại” tuy tên điều luật có sửa đổi nhưng nội dung đều thể hiện: Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có lỗi khi thực hiện hành vi trái pháp luật xâm hại đến nhân thân, tài sản của người khác mà gây thiệt hại.. Bản án sơ thẩm quyết định bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tài sản của ông Lãnh không xem xét đến trách nhiệm của ông Tuấn, ông Bé đã chiếm giữ tàu không có căn cứ pháp luật. Bản án phúc thẩm buộc ông Tuấn, ông Bé liên đới chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại theo lời khai của ông Lãnh mà không xem xét đến lỗi của các bên đối với thiệt hại xẩy ra. Tại biên bản giải quyết ngày 8/3/2000 các bên không thoả thuận về trách nhiệm giữ gìn, bảo quản tàu. Về nguyên tắc, chủ sở hữu có quyền khai thác, sử dụng, định đoạt tài sản đáp ứng nhu cầu của mình nhưng đồng thời có nghĩa vụ tự bảo quản, giữ gìn tài sản của mình. Vấn đề này đã không được Toà án đề cập khi xem xét trách nhiệm của ông Lãnh để xẩy ra thiệt hại. Nguyên tắc chung trong việc xác định trách nhiệm bồi thường được quy định trong Bộ luật dân sự và trong Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/4/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy dịnh của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại không được hai cấp Tòa án áp dụng khi giải quyết tranh chấp.

Thực tiễn: Ông Lãnh yêu cầu ông Tuấn, ông Bé bồi thường thu nhập bị mất do tàu bị chiếm giữ, không khai thác đánh bắt hải sản như trong điều kiện bình thường. Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Lãnh mà không đề căn cứ xác định thiệt hại đối với thu nhập bị mất được quy định trong Bộ luật dân sự. Hướng dẫn trong Nghị quyết số 01 nói trên chỉ đề cập thu nhập từ lao động trực tiếp của người lao động, mà chưa có hướng dẫn trong trường hợp thu nhập có được từ lợi nhuận trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Toà án cấp phúc thẩm xác định do tàu bị chìm nên không thể xác định mức độ thiệt hại và chấp nhận lời khai của ông Lãnh: Tàu đóng được 6 năm trước thời điểm các bên thoả thuận việc sử dụng tàu để khắc phục hậu quả, giá trị còn lại của tàu là 70% tương ứng với số tiền là 375.000.000đ để buộc ông Tuấn, ông Bé bồi thường. Có ý kiến khác nhau: ý kiến đồng tình với nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm, căn cứ xác định thiệt hại dựa trên giá trị còn lại của tàu theo lời khai của chủ sở hữu. ý kiến khác cho rằng giá trị còn lại của tàu cần được xác minh từ thực tiễn tại địa phương, nếu chỉ căn cứ lời khai của chủ sở hữu mà không xác minh là thiếu khách quan.

2.3 Vụ án “Đòi Tài sản” tại Toà án tỉnh VP.

Nội dung

Ngày 20/2/2002, ông Đặng Huy S ký hợp đồng mua máy xúc đào hiệu DAEWOOSOLAR-130W-III sản xuất năm 1994 của Công ty thương mại Minh Anh với giá 115.000.000đ. Ngày 22/2/2002, bà Hoàng Thị Ch (vợ ông Đặng Huy S) và bà Nguyễn Thị Th ( vợ ông Trần Văn B) ký giấy xác nhận hai gia đình mua chung máy xúc đào hiệu SOLAR 130 sản xuất năm 1998 với giá 270.000.000đ (giấy xác nhận ghi tên ông S, ông B nhưng không có chữ ký tên hai ông), có xác nhận của ủy ban nhân dân xã. Ngày14/5/2003, vợ chồng bà Ch, ông S bán máy xúc cho ông Luân với giá 300.000.000đ.

Bà Th khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Ch trả 1/2 trị giá máy xúc mua chung là 135.000.000đ tính đến thời điểm 25/10/2002, sau thời điểm này gia đình bà Ch phải chịu lãi suất ngân hàng và trị giá chênh lệch tài sản. Bà Ch không thừa nhận việc mua chung máy xúc và chữ ký tên bà trên giấy xác nhận mua chung máy.

Tòa án thu thập chứng cứ, xác minh cho thấy chỉ có một cái máy xúc. Kết luận giám định của Cơ quan công an tỉnh và Viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ công an đều xác định chữ ký, chữ viết tên là của bà Ch

Quyết định

Bản án dân sự sở thẩm số 07/DS/ST ngày 18/6/2004 của Tòa án huyện TD quyết định: Buộc gia đình ông S, bà Ch phải trả cho gia đình bà Th tiền bán máy xúc đào và tiền lãi là 164.775.000đ.

Bản án dân sự phúc thẩm số 24/DSPT ngay7f 20/4/2005 của Tòa án tỉnh VP quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của gia đình bà Ch. Y toàn bộ án sơ thẩm.

Ngày 18/52005 Viện kiểm sát tỉnh VP có công văn số 742/BC-VKS-P5 đè nghị Viện kiểm sát tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm. Viện kiểm sát tối cao có công văn trả lời VKS tỉnh không có căn cứ kháng nghị bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.

Bình luận

Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự: VKS tỉnh cho rằng tài liệu chứng cứ còn nhiều mâu thuẫn: Hợp đồng giữa ông S với Công ty Minh Anh phản ánh máy xúc sx năm 1994, giá mua 115.000.000đ, nhưng giấy xác nhận mua chung máy giữa hai gia đình thì giá mua là 270.000.000đ, máy sx năm 1998. Do vậy, nếu chỉ căn cứ giấy xác nhận mua chung máy để buộc gia đình bà Ch phải thanh toán trả 1/2 trị giá máy xúc mua chung là không đúng, bởi lẽ chiếc máy xúc gia đình ông S mua với máy xúc ghi trong giấy xác nhận mua chung không phải là một.

Vấn đề đặt ra: Người khởi kiện đưa ra yêu cầu đòi tài sản và xuất trình chứng cứ là giấy xác nhận mua chung tài sản chứng minh quyền sở hữu của mình đối với 1/2 tài sản. Người bị kiện có nghĩa vụ chứng minh nếu không thừa nhận người khởi kiện có quyền sở hữu. Chứng cứ mà người bị kiện xuất trình phải có giá trị phủ nhận đối với chứng cứ xác định có việc mua chung máy xúc. Đối tượng chứng minh là giá trị pháp lý của giấy xác nhận mua chung máy xúc. Các khả năng chứng minh có thể: giấy xác nhận mua chung máy xúc có sự giả mạo, đây là hợp đồng giả cách, bị lừa dối. Như vậy, để bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn, thì bị đơn phải chứng minh được giấy xác nhận mua chung máy xúc không có giá trị pháp lý đồng nghĩa với việc không có sự kiện mua chung máy xúc hay yêu cầu của nguyên đơn là không có căn cứ.

Những tình tiết liên quan đến máy xúc trong hợp đồng và trong giấy xác nhận có thể không đồng nhất, nhưng không có giá trị phủ nhận tình tiết về việc mua chung máy xúc. Như vậy, Bên cạnh nghĩa vụ chứng minh thì các vấn đề liên quan đến hoạt động chứng minh như xác định chứng cứ, giá trị chứng minh của chứng cứ, đánh giá chứng cứ cần được xem xét một cách toàn diện…

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

QUYỀN SỞ HỮU VÀ QUYỀN NĂNG CỦA CHỦ SỞ HỮU

TS. TRẦN THỊ HUỆ – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Tài sản trong quan hệ pháp luật về quyền sở hữu

Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn xác định sở hữu, quyền sở hữu là vấn đề quan trọng nhất của pháp luật dân sự. Các quan hệ tài sản luôn xuất phát từ quan hệ sở hữu và cũng vì quan hệ sở hữu, quan hệ sở hữu là tiền đề, là xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ khác. Tài sản và quyền sở hữu tài sản đóng vai trò quan trọng trong BLDS., nó vừa là đối tượng vừa là khách thể của quan hệ sở hữu.Yêu cầu cơ bản nhất đặt ra đối với tài sản trong BLDS là tài sản đó phải giao dịch được và được phép đưa vào giao dịch dân sự, Nú là đối tượng phổ biến được điều chỉnh bởi các quy định của cả hệ thống pháp luật; Vì vậy, việc qui định về tài sản và phân loại tài sản trong BLDS là cần thiết để phân biệt tài sản trong quan hệ dân sự với tài sản trong quan niệm thông thường.

Tài sản với tính cách là khách thể của quyền sở hữu đã được qui định tại Điều 163 BLDS năm 2005. Nhưng những qui định này chỉ mang tính chất liệt kê, xác định những loại vật thể và quyền tài sản được coi là tài sản.

“Tài sản” là thuật ngữ có nguồn gốc Hán Việt. Theo nguồn gốc này, thì tài sản là những của cải vật chất tồn tại khách quan, nằm trong sự chiếm hữu và chi phối của con người, được con người khai thác và mang lại lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần

Thuật ngữ tài sản có thể được hiểu trên hai phương diện:

Theo quan niệm thông thường: Tài sản là của cải vật chất tồn tại dưới dạng cụ thể, được con người sử dụng và được nhận biết bằng giác quan tiếp xúc như giường, tủ, bàn ghế, xe mô tô, tờ tiềnhiểu theo nghĩa thông thường rộng hơn thì tài sản là: “Của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu”. Với nghĩa này tài sản luôn gắn với một chủ thể xác định trong một xã hội nhất định. Do đó quan niệm về tài sản cũng thay đổi theo xã hội đối với của cải trong xã hội đó.

Theo phương diện pháp lý: Tài sản là của cải được con người sử dụng để mang lại lợi ích. Của cải là một khái niệm luôn luôn có sự biến đổi về giá trị vật chất và được pháp luật qui định về chế độ pháp lý đối với nó.

Luật Dân sự Việt Nam thừa nhận tài sản theo nghĩa rộng, theo đó, tài sản bao gồm các vật và quyền tài sản trên các vật đó (vật quyền). Mặc dù không đưa ra định nghĩa về tài sản nhưng Điều 163 Bộ luật Dân sự xác định tài sản bao gồm vật, tiền, các giấy tờ có giá và các quyền tài sản.

BLDS năm 2005 phân loại tài sản thành động sản – bất động sản, tài sản hữu hình – tài sản vô hình, đó là những phân loại mang tính truyền thống và phù hợp với thông lệ quốc tế. Bài viết này tập trung đề cập đến cách phân loại tài sản ở cách phân loại thú hai – Bất động sản và động sản. Để phân biệt động sản – bất động sản Bộ luật Dân sự đã dùng phương pháp loại trừ để xác định một tài sản là động sản hay bất động sản. Khoản 1 Điều 174 BLDS liệt kê các tài sản được coi là bất động sản,

1. Bất động sản là các tài sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó;

c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.

2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản

Việc phân biệt động sản và bất động sản chủ yếu dựa trên tính chất vật lý không di dời được về mặt cơ học và giá trị kinh tế. Trên thực tế thì những tài sản không di, dời được thường là những tài sản có giá trị lớn, như ruộng vườn, nhà cửa, ao chuôm. Việc phân biệt động sản và bất động sản nhằm mục đích qui định hai quy chế pháp lý khác nhau cho hai loại tài sản này. Hai qui chế pháp lý này ảnh hưởng trực tiếp đến những qui định của BLDS khi qui định về quyền của chủ sở hữu thực quyền đòi lại động sản, bất động sản từ người chiếm hữư không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình theo qui định tại Điều 256,257,258 của BLDS

Theo qui định tại Điều 174 BLDS, có thể thấy luật tài sản Việt Nam thừa nhận các loại bất động sản sau đây:

– Bất động sản không thể di, dời được do bản chất tự nhiên vốn có của nó, bao gồm : Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Cây cối, hoa màu và các tài sản khác trên đất.

– Các động sản trở thành bất động sản vì mục đích sử dụng chúng: Đó là các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đều được coi là bất động sản. Ví dụ như hệ thống điện được lắp đặt trong tường nhà, hệ thống đường nước trong nhà, bể cá, tủ bày các vật dụng gắn vào hốc tường một cách kiên cố.

– Bất động sản do pháp luật quy định: Ngoài những tài sản là bất động sản kể trên, khi cần thiết, bằng các văn bản pháp luật cụ thể, pháp luật có thể quy định những tài sản khác là bất động sản. Điểm d, khoản 1 Điều 174 BLDS đã quy định “…bất động sản có thể còn là các tài sản khác do pháp luật quy định”. Ví dụ quyền sử dụng đất được xác định là bất động sản, đây chính là việc thừa nhận khái niệm quyền có tính chất bất động sản.

2. Giá trị pháp lý của việc phân biệt động sản- bất động sản

– Phân biệt động sản và bất động sản là cơ sở cho việc qui định về quyền của chủ sở hữu thực quyền đòi lại động sản, bất động sản từ người chiếm hữư không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình theo qui định tại Điều 256,257, 258 của BLDS

– Việc phân biệt động sản – bất động sản có giá trị trong việc qui định xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Theo Điều 247 BLDS, người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó kể từ thời điểm chiếm hữu, trừ trường hợp tài sản chiếm hữu là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước.

– Liên quan đến hệ thống đăng ký tài sản, trong pháp luật D©n sù Việt Nam, đối với các tài sản là bất động sản, về nguyên tắc, để được công nhận là chủ sở hữu, người có bất động sản phải thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu (Điều 167 BLDS). Việc đăng ký quyền sở hữu chính là yÕu tè minh chứng cho việc xác định ai là chủ sở hữu của bất động sản đó. Đối với động sản thì chỉ có một số loại nhất định phải đăng ký quyền sở hữu. Ví dụ như ô tô, xe gắn máy, tàu, thuyền …

– Việc phân biệt này có giá trị quan trọng trong việc tuân thủ hình thức khi các chủ thể xác lập các giao dịch dân sự có đối tượng là bất động sản, thông thường phải xác lập thông qua giao dịch dân sự bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan Nhà Nước thẩm quyền, giao dịch loại này chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng hoặc chứng nhận hoặc thời điểm đăng ký.

– Dưới góc độ tố tụng, việc xác định một tài sản là động sản hay bất động sản có giá trị xác định thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp. Theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự, các tranh chấp về bất động sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi có bất động sản.

– Một giá trị nữa cần kể đến của việc phân biệt này là việc xác định luật áp dụng trong trường hợp xác định quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài; các giao dịch có yếu tố nước ngoài, Chẳng hạn, hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam (Điều 769 khoản 2 BLDS); Quyền sở hữu đối với động sản trên đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến, nếu không có thoả thuận khác. Việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản. Việc xác định quyền sở hữu đối với tàu bay dân dụng và tàu biển tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật về hàng không dân dụng và pháp luật về hàng hải của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.( Khoản 2,3,4 Điều 766 BLDS).

3. Quyền sở hữu

Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong pháp luật dân sự. Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế, vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Mức độ xử sự ấy qui định giới hạn và khả năng thực hiện của họ trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia lao động sản xuất, kinh doanh… Điều đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.

Xuất phát từ vai trò chi phối của cơ sở kinh tế hạ tầng đối với pháp luật, BLDS ra đời khẳng định vị trí trung tâm của chế định “tài sản và quyền sở hữu”. Trước đây khi chưa có BLDS, vấn đề tài sản và quyền sở hữu được qui định trong Hiến pháp và trong các văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật Đất đai, Pháp lệnh hợp đồng dân sự, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, PLTK… Những qui định về quyền sở hữu trong các văn bản pháp luật này đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở định hướng cho các quan hệ kinh tế, các quan hệ dân sự . BLDS ra đời, chế định tài sản và quyền sở hữu đóng vai trò trung tâm, tạo cơ sở pháp lý cho các chế định khác trong Bộ luật cũng như các văn bản pháp luật khác về quan hệ tài sản. Bởi lẽ, quyền sở hữu là cơ sở, là mục đích của rất nhiều quan hệ pháp luật dân sự. Vì thế, quyền sở hữu còn là tiền đề, là xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ đó. Mục đích cuối cùng của đa phần các hành vi dân sự và giao dịch dân sự là nhằm hướng tới xác lập hoặc chấm dứt quyền sở hữu của cỏc ch? th?. Vì vậy, quyền sở hữu là nội dung hết sức quan trọng trong pháp luật dân sự. Về mặt lý luận, quyền sở hữu là quyền tuyệt đối của các chủ thể trong Luật Dân sự, pháp luật luôn ghi nhận và bảo vệ quyền sở của chủ sở hữu. Việc bảo vệ này phải dựa trên cơ sở pháp lý nhất định, trong đó, vấn đề mấu chốt, căn bản là những căn cứ để xác định một tài sản hay một tập hợp tài sản thuộc sở hữu của ai? Ai là người có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt nó.

Mặt khác, quyền sở hữu còn được xem xét dưới góc độ là một quan hệ pháp luật dân sự. Bởi thế, nó cũng được phát sinh khi có những sự kiện pháp lý nhất định. Những sự kiện pháp lý này chính là những căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản của cá nhân.

Có thể khẳng định: Các căn cứ xác lập quyền sở hữu và các quan hệ pháp luật dân sự có mối quan hệ phụ thuộc, chi phối lẫn nhau. Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ phổ biến để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thông qua thoả thuận và thống nhất ý chí của các bên, trong khi đó, muốn tham gia giao dịch dân sự thì chính các chủ thể đó phải có tài sản, và tài sản đó phải được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật qui định. Vì vậy, việc qui định đầy đủ và chi tiết các căn cứ xác lập quyền sở hữu là hết sức cần thiết để xác định quyền sở hữu tài sản của công dân cũng như các chủ thể khác. Đồng thời, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi khách quan trong lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử.

Tuỳ thuộc vào pháp luật của mỗi chế độ chính trị khác nhau mà các căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu trong các chế độ đó cũng được qui định khác nhau. Các căn cứ này phản ánh bản chất và xu thế phát triển của mỗi chế độ xã hội. Nội dung các căn cứ có bao quát hay hạn hẹp, cụ thể hay khái lược đều thể hiện quan điểm của giai cấp thống trị và phù hợp với thực tế của xã hội ở thời điểm nhất định.

Tính chất, nội dung của từng sự kiện pháp lý qui định từng hình thức sở hữu khác nhau. Khi một sự kiện pháp lý xảy ra nó có thể xuất hiện quyền sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu của pháp nhân, hoặc sở hữu của cá nhân… Quyền sở hữu của mỗi cá nhân chỉ được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật qui định đặc trưng cho chủ thể và khách thể của quyền sở hữu cá nhân. Những căn cứ đó là những khả năng xảy ra trong thực tế cuộc sống mà BLDS ghi nhận và nâng lên thành qui định chung, dựa vào đó chủ sở hữu có được tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.

Tại Điều 170 BLDS, quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản dựa trên những căn cứ sau đây:

– Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp: Công dân đã bằng sức lao động của mình tạo ra các sản phẩm, các thành quả lao động thì họ hoàn toàn có quyền sở hữu đối với những tài sản được tạo ra bằng chính lao động của họ.

– Được chuyển giao quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thoả thuận là cơ sở của hợp đồng, việc thoả thuận này của các bên với mục đích hợp pháp là chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác thông qua các hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay… là cách thức thực hiện hành vi pháp lý phổ biến nhất làm phát sinh quyền sở hữu của chủ thể. Người được chuyển giao tài sản thông qua các hợp đồng dân sự hợp pháp thì có quyền sở hữu tài sản đó kể từ thời điểm nhận tài sản nếu không có thoả thuận hoặc pháp luật không có qui định khác.

– Thu hoa lợi, lợi tức: Chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản mà họ có quyền sở hữu. Đó là hoa lợi do cây cối, hoa màu, súc vật… mang lại theo mối liên hệ nguồn gốc phụ thuộc giữa vật chủ ban đầu với hoa lợi đó. Các món lợi bằng tiền hoặc hiện vật thu được do việc chủ sở hữu cho người khác sử dụng tài sản hoặc chính chủ sở hữu thực hiện quyền tài sản đối với tài sản (cho thuê, cho vay tài sản…).

– Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến. Do có các sự kiện này mà tài sản của nhiều chủ sở hữu tạo thành vật mới: Vật mới có thể là chung hay riêng của từng sở hữu chủ được xác định theo các Điều 236, 237, 238 của BLDS.

– Được thừa kế tài sản: Người được thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ sở hữu tài sản được thừa kế do người chết để lại.

– Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật qui định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bỏ quên, chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên: Những người chiếm hữu tài sản trong các trường hợp trên đây phải đảm bảo các điều kiện được qui định tại các điều từ Điều 239 đến Điều 244 BLDS.

– Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu do pháp luật qui định.

– Các trường hợp khác do pháp luật qui định.

Theo qui định này thì những tài sản nào mà không được xác lập dựa trên các căn cứ trên đây thì quyền sở hữu đối với tài sản của cá nhân và cỏc ch? th? khỏc không được pháp luật thừa nhận và bảo đảm cho việc thực hiện quyền với tư cách là chủ sở hữu. Các quan hệ sở hữu tồn tại như một yếu tố khách quan, khái niệm quyền sở hữu chỉ xuất hiện khi pháp luật xác nhận quan hệ sở hữu tồn tại trong xã hội Khác với sở hữu là một phạm trù kinh tế thì quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý.

Khái niệm này chỉ xuất hiện khi Nhà nước ban hành pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về sở hữu. Lúc này trong xã hội có giai cấp, bản năng chiếm hữu của con người được Nhà nước quy định thành luật thích ứng với các thể chế của một xã hội nhất định.

Như vậy, theo nghĩa khách quan. Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các qui phạm pháp luật nhằm điều chỉnh nhũng quan hÖ sở hữu trong một chế độ xã hội. Với chức năng, thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu , sử dụng, định đoạt tài sản.

Quyền sở hữu theo nghĩa hẹp: được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong những điều kiện nhất định. Theo nghĩa này quyền sở hữu chính là quyền năng dân sự của chủ thể sở hữu đối với một tài sản cụ thể và xuất hiện trên cơ sở nội dung qui định của qui phạm pháp luật khách quan

4. Các quyền năng của chủ sở hữu

Quyền chiếm hữu

Luật dân sự Việt Nam xác định chiếm hữu là một quyền năng của quyền sở hữu cụ thể, Điều 182 BLDS qui định quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản. Nắm giữ tài sản là việc người chiếm hữu giữ vật trong phạm vi kiểm soát làm chủ và chi phối tài sản đó theo ý chí của mình, ví dụ, cất tiền vào túi, quần áo, trang sức để vào trong tủ

Trong chiếm hữu theo luật Việt Nam, xét dưới góc độ chủ thể chiếm hữu, có thể tồn tại hai khả năng sau đây:

Người chiếm hữu tài sản đồng thời là chủ sở hữu tài sản và người chiếm hữu không phải là chủ sở hữu của tài sản;

Xét theo việc chiếm hữu có căn cứ hay không có căn cứ, có thể chia chiếm hữu thành chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Các loại chiếm hữu

· Chiếm hữu có căn cứ pháp luật

Chiếm hữu có căn cứ pháp luật được hiểu là các trường hợp người chiếm hữu thực sự có quyền chiếm hữu đối với tài sản của mình dựa trên những căn cứ do pháp luật qui định. Đó là hình thức chiếm hữu hợp pháp, theo Điều 183 , sự chiếm hữu hợp pháp trứơc hết đó là sự chiếm hữu tài sản của một chủ sở hữu được pháp luật công nhận.

Người không phải là chủ sở hữu mà chiếm hữu tài sản thì chỉ được coi là chiếm hữu hợp pháp khi rơi vào các trường hợp sau: người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản, người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự; người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm; người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc, chiếm hữu của cơ quan, tổ chức theo chức năng và thẩm quyền có quyền thu giữ và chiếm hữu tài sản…

Đối với các trường hợp người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản hoặc được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự, người chiếm hữu không thể xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 185,186).

Người chiếm hữu tài sản của người khác có căn cứ pháp luật chỉ thực hiện quyền chiếm hữu trong phạm vi, theo cách thức và thời hạn do chủ sở hữu xác định. Hay nói khác đi, người không phải là chủ sở hữu thực hiện các quyền năng chủ yếu không mang tính độc lập.( Khoản 1 Điêù 185) .

Trong trường hợp quyền chiếm hữu bị xâm phạm, người chiếm hữu tài sản của người khác nhưng có căn cứ pháp luật được pháp luật bảo vệ theo các quy định về bảo vệ quyền sở hữu (từ Điều 255 đến Điều 260 BLDS). Lẽ dĩ nhiên, người này phải chứng minh được tính hợp pháp của việc chiếm hữu, chẳng hạn bằng việc xuất trình hợp đồng thuê tài sản.

· Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật

Người chiếm hữu trong tình trạng chiếm hữu không dựa vào các trường hợp được liệt kê tại Điều 190 BLDS đều bị xem là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Thực chất, chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là trường hợp một người thực hiện quyền chiếm hữu của chủ sở hữu đối với một tài sản tức là xử sự như chính mình là chủ sở hữu trong khi thực chất chủ sở hữu đích thực của tài sản lại là người khác. Có hai trường hợp xảy ra: chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và không ngay tình.

Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và không ngay tình không được pháp luật bảo vệ và không được hưởng quy chế xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.

Trái lại, người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình được pháp luật bảo vệ trong nhiều trường hợp và được xác lập quyền sở hữu tài sản theo thời hiệu.

Quyền sử dụng

Điều 192 BLDS định rõ: quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Khai thác công dụng của tài sản được hiểu là việc dùng tài sản để phục vụ nhu cầu, sở thích của bản thân hoặc để khai thác lợi ích kinh tế của tài sản. Chẳng hạn, sử dụng môtô làm phương tiện để đi lại, đeo nữ trang hay đồng hồ để làm đẹp…Hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản là việc chủ sở hữu thu nhận các sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại như trái cây, gia súc sinh con, gia cầm đẻ trứng… hoặc thu các khoản lợi từ việc khai thác tài sản như tiền cho thuê nhà, lợi tức cổ phiếu, lợi tức cho vay… Việc sử dụng các tài sản là vật tiêu hao, đặc biệt là các vật tiêu hao hết sau một lần sử dụng như việc sử dụng thức ăn, đồ uống, tiêu tiền … cũng đồng nghĩa với việc chủ sở hữu sử dụng quyền định đoạt đối với tài sản.

Như vậy, sử dụng tài sản là một trong những quyền năng quan trọng và có ý nghĩa thực tế của chủ sở hữu. Chủ sở hữu hoàn toàn có toàn quyền hác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản theo cách thức và mục đích sử dụng tài sản theo ý chí của mình: sử dụng hoặc không sử dụng tài sản, trực tiếp khai thác công dụng tự nhiên của tài sản hoặc để cho người khác sử dụng thông qua các giao dịch dân sự như hợp đồng cho thuê, cho mượn. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, việc sử dụng tài sản phải trên nguyên tắc không được làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Thông thường, chủ sở hữu là người có quyền sử dụng tài sản nhưng pháp luật cũng ghi nhận ba trường hợp người không phải chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản.

Trường hợp thứ nhất, người được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng tài sản thông qua hợp đồng. Trong trường hợp này, người sử dụng được quyền khai thác tài sản theo cách thức và thời hạn đã được thoả thuận với chủ sở hữu.

Trường hợp thứ hai, người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Vì vậy, người này chỉ phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm họ biết hoặc buộc phải biết việc chiếm hữu tài sản là không có căn cứ pháp luật (Khoản 2 Điều 194 BLDS ).

Trường hợp thứ ba, cơ quan hay tổ chức nào đó cũng có quyền sử dụng tài sản của người khác trên cơ sở một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc sử dụng tài sản trong tình thế cấp thiết phù hợp với qui định của pháp luật.

Quyền định đoạt

Điều 195 BLDS định rõ: Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản. Việc định đoạt tài sản có thể định đoạt số phận thực tế của các vật, làm chấm dứt sự tồn tại vật chất của tài sản, như huỷ bỏ, tiêu dùng hết hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật, hoặc bằng hành vi pháp lý (bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, góp vốn vào công ty…). người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền định đoạt tài sản của người khác trong trường hợp được chủ sở hữu uỷ quyền hoặc trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định (việc trưng mua, trưng thu tài sản theo quyết định của Nhà nước). Việc thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ làm chấm dứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản đó.

Về nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt số phận thực tế hay số phận pháp lý tài sản của mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhăm bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu và lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của người khác, quyền định đoạt có thể bị hạn chế theo những điều kiện cụ thể do pháp luật quy định. Được thể hiện trong một số trương hợp sau:

Khi tài sản đem bán là cổ vật, là di tích lịch sử, văn hoá thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua;

Trong trường hợp tổ chức, cá nhân có quyền ưu tiên mua một tài sản theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các tổ chức, cá nhân đó. Ví dụ, thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài nếu các thành viên khác của công ty không mua hoặc mua không hết((Điều 43 Luật Doanh nghiệp);

Bán nhà ở đang cho thuê thì bên thuê được quyền ưu tiên mua trước( Điều 94 Luật nhà ở năm 2005) .

Trong trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó. Điều 450 BLDS quy định hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, nếu A bán nhà cho B nhưng hợp đồng không được công chứng thì hợp đồng này có nguy cơ bị xem là vô hiệu (Điều 122, 124 và 127 BLDS.

Có những trường hợp tuy không phải là chủ sở hữu, cũng không được chủ sở hữu uỷ quyền, nhưng theo qui định của pháp luật những người có thẩm quyền vẫn có quyền định đoạt tài sản.( Trung tâm bán đấu giá tài sản theo qui định của pháp luật; hiệu cầm đồ được quyền bán tài sản, nếu hết thời hạn đã thoả thuận mà người vay không trả được tiền vay…).

Trong bài viết này tác giả muốn bàn thêm, để tranh thủ ý kiến của các đòng nghiệp và các quí vị một số điểm liên quan đến bài viết này. cụ thể là:

· Ngưòi được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật được xác định là người chiếm hữư hợp pháp hay bất hợp pháp? Hay chỉ xác định là người chiếm hữu không có căn cú pháp luật? để từ đó xác định tư cách chủ thể trong việc áp dụng biện pháp bảo vệ quyền sở hữu.

· Có nên bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu?

· Trường hợp người chiếm hữu tài sản ban đầu có căn cứ pháp luật nhưng sau đó lại rơi vào tình trạng chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình. Chẳng hạn thuê nhà của người không phải là chủ sở hữu, sau đó bị chủ sở hữu kiện đòi nhà, thuê nhà của người được chia thừa kê của người bị Toà án tuyên bố chết, sau đó người này quay trở vê… Trong các trường hợp này có được xem xét “ quyền của người thuê nhà khi nhà cho thuê thay đổi chủ sở hữu theo qui định tại Điều 104 Luật nhà ở năm 2005 không?

· Khoản 2 Điều 194 và Điều 190 có mâu thuẫn khi qui định về tính liên tục quyền chiếm hữu của chủ sở hữu?

· Có câu trả lời cho trường hợp “Ngưòi chiếm hữu hợp pháp có quyền đòi lại tài sản theo Điều 257, 258 không?

· Điều 257 sử dụng cụm từ “hợp đồng có đền bù” là chưa bao quát hết mọi trường hợp tài sản được chuyển giao thông qua giao dịch dân sự. Bởi lẽ, việc dịch chuyển này không chỉ thông qua hợp đồng dân sự.

· Không nên hiểu “ tài sản cứ thông qua bán đấu giá” là đương nhiên có hiệu lực và người mua tài sản từ cuộc bán đấu giá là được xác lập quyền sở hữu một cách đương nhiên.

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.