KỸ NĂNG CHUẨN BỊ HỒ SƠ BÁN BẤT ĐỘNG SẢN

clip_image002Sau khi ký hợp đồng sơ bộ, công chứng viên phải chuẩn bị hồ sơ bán bất động sản.

Công chứng viên phải tiến hành xác minh những vấn đề cơ bản sau đây trước khi hợp thức hoá một hợp đồng mua bán bất động sản theo thoả thuận.

Các vấn đề cần xác minh được trình bày theo nhóm như sau:

– Năng lực và quyền hạn của các bên (I)

– Bất động sản là đối tượng của hợp đồng (II)

– Giá trị hợp đồng (III)

– Thuế (IV).

I. Năng lực của các bên

Công chứng viên phải xác minh năng lực của các bên.

Các quy định của Bộ luật Dân sự về năng lực của các bên trong hợp đồng được áp dụng đối với trường hợp mua bán bất động sản.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA TỪ GÓC NHÌN PHÁP LUẬT SO SÁNH

TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM – Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Chủ thể bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra trong pháp luật Nhật Bản và pháp luật Đức

1.1. Khái niệm năng lực chịu trách nhiệm

Trong pháp luật dân sự, về nguyên tắc, một chủ thể pháp luật khi thực hiện hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) đối với những tổn thất do mình gây ra cho người bị hại. Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi xâm hại không có khả năng nhận thức nhất định về hành vi do mình thực hiện thì không phải chịu trách nhiệm BTTH. Khả năng nhận thức về hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người khác được khoa học pháp lý luật dân sự gọi là: “Năng lực chịu trách nhiệm BTTH”. Như vậy, “năng lực chịu trách nhiệm” như một điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, và thông thường, nghĩa vụ lập chứng sẽ thuộc về bị đơn. Điều này có nghĩa rằng, khi bị đơn chứng minh mình không có năng lực chịu trách nhiệm thì không thể cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với bị đơn, cho dù tồn tại đầy đủ điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH như hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, thiệt hại, lỗi và quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại.

1.2. Mối quan hệ giữa năng lực chịu trách nhiệm và chủ thể BTTH là người chưa thành niên trong pháp luật Nhật Bản và pháp luật Đức

Điều 712 của Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định: Người chưa thành niên trong trường hợp gây thiệt hại cho người khác, không phải chịu trách nhiệm bồi thường về hành vi đó khi không được trang bị đầy đủ năng lực trí tuệ để lý giải được trách nhiệm hành vi của bản thân. Điều đó có nghĩa rằng, khi người chưa thành niên có năng lực trí tuệ lý giải được trách nhiệm phát sinh từ hành vi do mình thực hiện thì người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Dưới góc độ khoa học pháp lý, cũng như luật thực định thì đối với trường hợp này không cấu thành trách nhiệm BTTH thay thế của cha mẹ/người giám hộ.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XỬ LÝ HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI THỎA THUẬN VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TẠI CỘNG HÒA PHÁP

Điều L.420-6 Bộ luật thương mại Pháp có quy định cho phép xử lý hình sự đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh. Điều luật này cũng quy định chế tài hình sự đối với các thỏa thuận trái pháp luật, trên cơ sở dẫn chiếu trực tiếp đến Điều L.420-1 của cùng Bộ luật đó.

Thế nào là một thỏa thuận trái pháp luật?

Bản thân các quy định tại Điều L.420-1 Bộ luật thương mại đã đưa ra lời đáp cho câu hỏi trên, đồng thời cũng xác định luôn mục đích của việc xử lý hình sự đối với hành vi này.

Thỏa thuận trái pháp luật là một thỏa thuận nhằm mục đích làm sai lệch quy luật cạnh tranh, cản trở cạnh tranh trên một thị trường nhất định. Đó chủ yếu là những thỏa thuận nhằm:

– Hạn chế các doanh nghiệp khác gia nhập thị trường hoặc tự do tham gia cạnh tranh;

– Cản trở việc tự do xác định giá cả theo quy luật thị trường bằng cách tạo ra sự tăng giá hoặc giảm giá một cách giả tạo;

Continue reading

TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI CỘNG HÒA PHÁP

Trách nhiệm của công chứng viên xuất phát từ những nghĩa vụ của công chứng viên đối với khách hàng. Công chứng viên có ba nghĩa vụ cơ bản sau đây : Thứ nhất, công chứng viên phải thiết lập một văn bản đúng với quy định của pháp luật cả về hình thức cũng như về nội dung. Văn bản này là chứng cứ thuyết phục nhất về các thỏa thuận mà công chứng viên là người ghi nhận. Như vậy, công chứng viên phải giúp các bên đạt đến kết quả pháp lý mà họ mong đợi từ văn bản với chi phí thấp nhất và trong những điều kiện tốt nhất. Thứ hai, công chứng viên phải tư vấn cho các bên về cách thức thực hiện thỏa thuận, tạo điều kiện để bảo vệ lợi ích chính đáng của họ. Thứ ba, công chứng viên phải đảm bảo hiệu lực hoàn toàn của thỏa thuận giữa các bên. Nghĩa vụ này bao gồm 2 nội dung : thực hiện các thủ tục mà pháp luật quy định đối với văn bản, đảm bảo việc bảo vệ lợi ích của các bên cho đến khi văn bản thực sự có hiệu lực.

Nếu công chứng viên không thực hiện tốt ba nghĩa vụ nêu trên thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Công chứng viên có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, bị kỷ luật hoặc chịu trách nhiệm dân sự.

I. Trách nhiệm hình sự của công chứng viên

Công chứng viên trước hết có thể phải chịu trách nhiệm hình sự với tư cách là một công dân Pháp. Cũng như mọi công dân khác, công chứng viên phải chịu trách nhiệm trước xã hội về những hành vi của mình. Nếu phạm tội, công chứng viên bị truy tố trách nhiệm hình sự như mọi người khác.

Continue reading

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CƯ TRÚ CỦA MỘT SỐ NƯỚC

BỘ CÔNG AN

Cư trú và quản lý cư trú là một nội dung cơ bản và trọng yếu trong quản lý nhà nước của mỗi quốc gia trên thế giới. Bất kỳ một thể chế nhà nước nào cũng đều coi đây là công cụ quan trọng và hữu hiệu để nhà nước thực hiện quản lý xã hội, nắm bắt và kiểm soát mọi vấn đề liên quan đến tình hình dân số, tình hình sinh sống, di chuyển của người dân, tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy, hiện nay các quốc gia đều có hệ thống quy định về quản lý cư trú tương đối đầy đủ, chặt chẽ và rõ ràng với những phương thức quản lý khác nhau. Có nhiều quốc gia không chỉ sử dụng một phương thức quản lý cư trú mà đồng thời kết hợp nhiều phương thức để thực hiện việc quản lý cư trú.

Tham khảo kinh nghiệm quốc tế về quản lý cư trú sẽ tập trung làm rõ một số vấn đề về phương thức quản lý cư trú, cơ quan quản lý cư trú, trình tự, thủ tục đăng ký cư trú, quyền và trách nhiệm của công dân về cư trú, trách nhiệm về quản lý cư trú của các cơ quan nhà nước trên cơ sở tham khảo pháp luật và thực tiễn quản lý cư trú của một số quốc gia trên thế giới.

Hiện nay, các quốc gia khác nhau trên thế giới có những cách thức quản lý về cư trú của công dân khác nhau, nhưng nhìn chung có thể phân ra thành hai phương thức quản lý cư trú chính là quản lý cư trú theo nhân khẩu (thông qua Sổ Hộ khẩu), quản lý cư trú theo nơi ở (thông qua giấy tờ đăng ký tại địa phương sinh sống).

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH DI CƯ CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI

CỤC LÃNH SỰ, BỘ NGOẠI GIAO

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay, di cư quốc tế đã trở thành một trong số những vấn đề lớn của thời đại. Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại di cư lại diễn ra với quy mô lớn như hiện nay. Theo ước tính của Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) có gần 215 triệu người đang sống và làm việc ngoài đất nước của mình, chiếm khoảng 3,3% dân số toàn cầu. Di cư quốc tế đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Người di cư đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế thế giới nói chung, ngay cả trong điều kiện khủng khoảng tài chính toàn cầu. Nhận thức được vai trò của di cư, các nước ngày càng quan tâm đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, quyền được làm việc và an sinh xã hội đối với bản thân người di cư và gia đình họ.

Quy luật cung – cầu về sức lao động, dịch vụ, chênh lệch về mức sống và thu nhập, các điều kiện về an sinh xã hội … đã thúc đẩy các luồng di cư từ Việt Nam ra nước ngoài. Sự phát triển của đất nước sau 25 năm đổi mới cùng với quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện cho công dân Việt Nam đi lao động, học tập, du lịch, làm việc và cư trú ở nước ngoài. Số lượng người Việt Nam đang lao động, học tập và sinh sống ở nước ngoài hiện đã lên đến con số nhiều triệu người. Các hình thái di cư của công dân Việt Nam ngày càng đa dạng và phức tạp, quy mô di cư ngày càng gia tăng. Continue reading

SỬA ĐỔI LUẬT ĐẤT ĐAI để bảo vệ tốt hơn quyền tài sản của các chủ sử dụng đất

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA– Đại học Fulbright Việt Nam, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

1. Sở hữu toàn dân về đất đai: Tiếp nhận quan niệm và quá trình cụ thể hóa

Chế độ sở hữu đất đai trong cổ luật: Tổ tiên chúng ta chắc rằng chưa biết đến khái niệm sở hữu toàn dân. Sở hữu đất đai, theo cổ luật Việt Nam, thường phân thành ba loại: ruộng đất công (quân điền), ruộng đất của làng (sở hữu cộng đồng) và ruộng đất tư (sở hữu tư của cá nhân). Dù nặng về hình luật, song cổ luật Việt Nam không thiếu những hạt nhân được xem là nền móng cho pháp luật sở hữu[1]. Truyền thống đa sở hữu đất đai ấy tiếp diễn thời thuộc Pháp. Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 ghi nhận thực trạng sở hữu đất đai thuộc cá nhân hoặc pháp nhân, trong đó Nhà nước, làng xã là những pháp nhân công. Về đại thể, sở hữu đất đai hình thành một cách tự nhiên, đất đai có thể thuộc sở hữu tư hoặc của nhà nước. Trong đó, theo định nghĩa của Dân luật năm 1931, Nhà nước là một khái niệm cụ thể, bao gồm những pháp nhân công có tư cách độc lập, chí ít gồm chính quyền trung ương, các chính quyền địa phương và làng xã tự trị, tự quản[2]. Mỗi một cấp chính quyền được xem là một pháp nhân công. Cũng như vậy, hệ thống đăng ký điền địa đã có mầm mống từ cổ xưa. Từ năm 1925, chúng được chế độ thực dân quy chuẩn thành một hệ thống bằng khoán điền thổ hiện đại, thống nhất[3]. Tóm lại, từ Quốc triều hình luật tới Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, pháp luật Việt Nam đã để lại một di sản pháp luật sở hữu về đất đai, tuy không tinh xảo, khái quát, và cao siêu như Vật quyền của người La-Mã, song cũng đủ minh định rõ ràng ai là chủ nhân của hàng trăm triệu ô thửa đất kiến tạo nên lãnh thổ quốc gia. Tiếc rằng, nửa thế kỷ qua không mấy ai vun vén thêm cho những di sản quý báu đó. Để xây lại nền móng vững chắc cho chế độ sở hữu đất đai trong tương lai, ngoài thảo luận thẳng thắn và tiếp thu kinh nghiệm lập pháp tiên tiến nước ngoài, chúng ta cũng nên học lại từ những mảnh vỡ của quá khứ.

Continue reading

TƯ CÁCH CHỦ THỂ CỦA CHI NHÁNH, VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

THS. NGUYỄN HOÀNG VIỆT – Cục Quản lý XLVPHC và Theo dõi THPL, Bộ Tư pháp

Đặt vấn đề Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) quy định cá nhân, tổ chức là chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Trong đó, tổ chức là các chủ thể được liệt kê tại khoản 10 Điều 2 Luật XLVPHC, bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật .

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 1 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ) cũng quy định tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi đáp ứng điều kiện: là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật. Nếu căn cứ những quy định kể trên, thì không thể khẳng định được tư cách chủ thể của chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân (doanh nghiệp) trong trường hợp vi phạm hành chính xảy ra tại chi nhánh, văn phòng đại diện: chi nhánh, văn phòng đại diện có được coi là “tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật” và bị xử phạt vi phạm hành chính không? Để tháo gỡ vướng mắc này, một số nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực đã quy định cụ thể những chủ thể được coi là tổ chức vi phạm hành chính theo đúng yêu cầu tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP): “Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải được quy định cụ thể tại các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước”, trong đó quy định chi nhánh, văn phòng đại diện là tổ chức vi phạm hành chính. Tuy nhiên, nhiều nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước không có quy định về vấn đề này.

Continue reading

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CỦA HIỆP HỘI HENRI CAPITANT VỀ SỬA ĐỔI PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN CỦA CỘNG HÒA PHÁP

clip_image002VỀ KHỐI TÀI SẢN VÀ CÁC TÀI SẢN CẤU THÀNH

FRÉDÉRIC POLLAND-DULIAN

Lời mở đầu

Quyển II của Bộ luật Dân sự hiện hành được mở đầu một cách khá đột ngột bằng việc phân biệt các loại tài sản, động sản hoặc bất động sản, mà không có trước những định nghĩa chung, những quy định mở đầu hoặc giới thiệu, chằng hạn như những quy định có thể được tìm thấy tại các Điều từ 1101 đến 1104 về lĩnh vực hợp đồng hoặc tại phần mở đầu của Quyển III (“Những phương thức xác lập quyền sở hữu: những quy định chung”) hoặc trong các chỉ thị và nghị định của Liên minh châu Âu. Người ta có thể phê phán cách trình bày này bởi nó nhấn mạnh tầm quan trọng của các bất động sản, trong khi trong phần trình bày các căn cứ, lí do của Bộ luật ngày 25 tháng 01 năm 1804, Thẩm phán Treilhard đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các động sản so với các bất động sản. Ủy ban sửa đổi đã muốn bỏ cách trình bày này bằng cách đặt ra một số định nghĩa trước khi phân biệt các loại tài sản ở Thiên II (Điều 526 và các điều tiếp theo). Ủy ban muốn đưa vào Quyển II này ba điều khoản mở đầu có tính chất quy định chung và Thiên I với một số định nghĩa và nguyên tắc chung chủ yếu chưa được quy định rõ ràng trong Bộ luật Dân sự. Thiên đầu tiên này được đặt tên là “Những quy định về khối tài sản và các tài sản cấu thành”. Hai thuật ngữ khối tài sản tài sản, mặc dù được sử dụng thường xuyên trong các văn bản quy phạm pháp luật, án lệ và học thuyết, nhưng không được định nghĩa trong Bộ luật Dân sự hiện hành. Phương pháp tiếp cận đồng tâm có thể là phương pháp tốt nhất để tiếp cận với khái niệm khối tài sản, ít nhất là từ quan điểm chuyên môn, xuất phát từ tập hợp các định nghĩa, các nội dung rộng để dẫn đến chế độ áp dụng, sau khi đã định nghĩa về các loại tài sản và các khái niệm có liên quan. Các định nghĩa do Ủy ban sửa đổi đưa ra không mang nhiều thay đổi tiến bộ, và cần nhấn mạnh rằng Ủy ban cũng xem xét nhiều định nghĩa khác: ít nhất là 9 định nghĩa khác nhau về khối tài sản, 14 định nghĩa về tài sản, 6 định nghĩa về quyền đối vật và tương tự, 6 định nghĩa về quyền đối nhân. Như Portalis đã viết “Người ta có thể dùng liềm trong một cánh đồng bỏ hoang; nhưng trên một mảnh đất trồng trọt, chỉ cần nhổ bỏ những cây ký sinh gây hại cho các sản phẩm nông nghiệp (…) những lí thuyết mới chỉ là các hệ thống của một số cá nhân; những học thuyết cổ điển là tinh thần của nhiều thế kỷ”[2].

Continue reading

QUY ĐỊNH CỦA CỘNG HÒA PHÁP VỀ CHO VÀ SỬ DỤNG BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ SẢN PHẨM TỪ CƠ THỂ NGƯỜI

clip_image002QUYN 2 – B LUT Y T CNG ĐNG CỘNG HÒA PHÁP (Trích)

THIÊN 1. Nhng nguyên tc cơ bn

Điều 1211-1

Hoạt động chuyển giao, sử dụng bộ phận và sản phẩm từ cơ thể người thực hiện theo quy định của Chương II, Thiên I, Quyển I, Bộ luật Dân sự và quy định tại Quyển này.

Trong số các sản phẩm này, sinh phẩm có tác dụng điều trị bao gồm bộ phận cơ thể người, mô, tế bào đã qua xử lý nhằm mục đích chữa bệnh. Để đảm bảo an toàn y tế, việc sử dụng loại sản phẩm này phải tuân theo đúng quy trình chuyên môn kỹ thuật nhằm đánh giá được mức độ rủi ro và hậu quả của chúng, đồng thời xác định được các nguy cơ tiềm ẩn.

Liệu pháp tế bào là liệu pháp sử dụng sinh phẩm có tác dụng điều trị có nguồn gốc từ tế bào sống của người hay động vật.

Điều 1211-2

Không được phép tiến hành lấy bộ phận cơ thể người hay sản phẩm từ cơ thể người nếu không có sự đồng ý trước của người cho. Người cho có quyền rút lại quyết định cho vào bất cứ lúc nào.

Continue reading

Giao dịch bảo đảm bằng quyền tài sản THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

 TS. BÙI ĐỨC GIANG & THS. NGUYỄN HOÀNG LONG

Ngày nay, các tài sản vô hình (quyền tài sản) có xu hướng chiếm một tỷ trọng ngày càng quan trọng trong tổng tài sản của một doanh nghiệp. Việc sử dụng tài sản vô hình để bảo đảm nghĩa vụ có rất nhiều ưu điểm so với tài sản hữu hình bởi vì giúp tránh được nguy cơ tài sản bị mất, bị phá hủy hay giảm giá trị.

Hơn nữa, tài sản vô hình có thể được lưu trữ và chuyển giao bằng các phương tiện điện tử mà không chịu hạn chế về mặt kích thước hay không cần phải chuyển giao về mặt vật chất. Chỉ bằng một cái nhấn chuột máy tính, tài sản vô hình có thể vượt qua biên giới một nước. Chính vì thế, đây là một loại tài sản khá lý tưởng để bảo đảm khoản vay[1]. Tuy vậy, ở Việt Nam, việc cho vay theo tài sản vô hình chưa thực sự phổ biến. Ngoài tâm lý “chuộng” tài sản hữu hình quy định pháp luật hiện hành vừa thiếu vừa ít tính khả thi đang là rào cản lớn cho việc xác lập và xử lý các giao dịch bảo đảm bằng tài sản vô hình.

1. Khái niệm quyền tài sản và giao dịch bảo đảm với quyền tài sản

Khác với pháp luật của nhiều nước, tài sản vô hình ở Việt Nam được pháp luật ghi nhận thông qua khái niệm “quyền tài sản”. Quyền tài sản là một loại tài sản đã được quy định trong các bộ luật dân sự của Việt Nam [2].

Continue reading

Giải quyết yêu cầu văn bản CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU

CHU XUÂN MINH– Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Bài nghiên cứu này bàn về việc xác định vụ việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, phân biệt loại vụ việc này với yêu cầu tuyên bố hợp đồng, giao dịch vô hiệu; bàn về một số vướng mắc trong thực tiễn xét xử về tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; và cả về một lĩnh vực tranh chấp gần gũi là yêu cầu hủy chứng thực trái pháp luật.

Giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu bao gồm cả giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo quy định tại khoản 11 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) và giải quyết việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo quy định tại khoản 6 Điều 27 BLTTDS. Đây là những loại vụ việc dân sự mới nên nhận thức và áp dụng pháp luật còn nhiều vấn đề chưa thống nhất. Chỉ riêng việc xác định thế nào là “văn bản công chứng” cũng đã khác nhau. Một số trường hợp sau khi kiện về yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không được chấp nhận (bị bác yêu cầu) lại chuyển sang kiện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và vẫn được Tòa án thụ lý giải quyết. Cùng là vụ án có yêu cầu tuyên bố một hợp đồng đã được công chứng vô hiệu, có Tòa án xác định tổ chức hành nghề công chứng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có Tòa án chỉ xác định công chứng viên là nhân chứng, có trường hợp không đưa tổ chức hành nghề công chứng vào tham gia tố tụng.

Continue reading

VỀ VIỆC SỬ DỤNG THUẬT NGỮ TRONG DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)

Thời gian qua, có một số tranh luận về việc sử dụng thuật ngữ “Giao dịch dân sự” hay “Hành vi pháp lý”, “Quyền sở hữu” hay “Vật quyền”, “Trái quyền”… trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) nay là Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa thực sự phù hợp với các nguyên lý cơ bản của luật tư và vị trí, vai trò của Bộ luật Dân sự dẫn tới nhiều vướng mắc trong vận dụng, giải thích pháp luật hiện nay. Civillawinfor xin chia sẻ một số thông tin liên quan đến quá trình soạn thảo về vấn đề này.

I. Ý kiến của Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế tại Phiên họp giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp và nhóm chuyên gia Việt Nam, ngày 2/8/2014

Căn cứ vào kết quả lấy ý kiến thành viên chính phủ và các Bộ, ngành, chuyên gia, Vụ pháp luật dân sự – kinh tế đề xuất một số nội dung thảo luận trong Phiên làm việc giữa Bộ trưởng Hà Hùng Cường với nhóm chuyên gia tư vấn như sau:

1. Thảo luận về việc sử dụng thuật ngữ và nội dung liên quan đến hành vi pháp lý, vật quyền, trái quyền trong Bộ luật dân sự

Văn phòng Chính phủ, một số cơ quan và chuyên gia đề nghị không sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý” thay cho “giao dịch dân sự”; cân nhắc việc sử dụng thuật ngữ “vật quyền”, “trái quyền” và nội dung của hai chế định này để Bộ luật dân sự được dễ hiểu, dễ áp dụng và nâng cao tính khả thi.

Đề nghị các chuyên gia cho ý kiến tham vấn về vấn đề này.

Quan điểm của Vụ pháp luật dân sự – kinh tế:

1.1. Hành vi pháp lý

Việc dự thảo Bộ luật sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý” thay cho “giao dịch dân sự” là dựa trên các căn cứ sau đây:

Continue reading

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH CÔNG CHỨNG CỘNG HÒA PHÁP

 GÉRARD KAEUFLING Chủ tịch danh dự Hội đồng Công chứng tối cao Pháp

1. Định nghĩa

Công chứng viên là nhân viên công quyền được bổ nhiệm để lập văn bản, hợp đồng mà đương sự phải hoặc muốn được công chứng, làm cho các văn bản đó có giá trị xác thực như văn bản của cơ quan công quyền, bảo đảm tính chính xác của ngày, tháng, năm, lưu giữ lâu dài và cấp bản sao cho đương sự (Pháp lệnh ngày 2 tháng 11 năm 1945)

2. Khung pháp lý

Luật ngày 25 tháng Ventôse năm XI[1], quy định về cơ cấu tổ chức ngành công chứng.

3. Quy chế công chứng viên

Pháp lệnh ngày 2 tháng 11 năm 1945 và Nghị định hướng dẫn thi hành ngày 19 tháng 12 năm 1945 quy định những nội dung cơ bản về quy chế của công chứng viên. Khái niệm công chứng viên quy định tại Điều 1 Pháp lệnh ngày 2 tháng 11 năm 1945 nhấn mạnh đến phạm vi chức năng của công chứng trên cơ sở nêu rõ nhiệm vụ chứng thực văn bản, hợp đồng cũng như vai trò tư vấn của công chứng viên.

Continue reading

HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC

 NGUYỄN VĂN HUY – TAND huyện La Grai, tỉnh Gia Lai

Việc xác định hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp. Thực tiễn giải quyết có nhiều điểm còn chưa thống nhất về mặt nhận thức, áp dụng pháp luật và kết quả giải quyết. Trong bài viết, tác giả chỉ tập trung phân tích các quy định theo BLDS 2005 và 2015, vì đây là những tranh chấp phổ biến đang được giải quyết.

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) là một loại tranh chấp phát sinh phổ biến trên thực tế. Ngoài những quy định về điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng nói chung thì với giá trị, tầm quan trọng và nhu cầu quản lý Nhà nước đối với đất đai, pháp luật dân sự, pháp luật đất đai cũng quy định về những điều kiện có hiệu lực riêng đối với những giao dịch chuyển QSDĐ.

1. Phân biệt hợp đồng có hiệu lực và hợp đồng không có hiệu lực

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng có hiệu lực phải đáp ứng những điều kiện về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự của các chủ thể tham gia xác lập giao dịch, tính tự nguyện, cùng với nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phải đảm bảo điều kiện về hình thức trong trường hợp pháp luật quy định. Kể từ khi hợp đồng có hiệu lực thì phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo cam kết, chỉ có thể sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ theo sự thỏa thuận của các bên hoặc pháp luật có quy định[1]. Ví dụ: Các bên tự thỏa thuận thay đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng hoặc những quy định của pháp luật mới ban hành có giá trị hồi tố hoặc pháp luật quy định khi điều kiện, hoàn cảnh thay đổi sẽ buộc các bên phải thực hiện việc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng.

Continue reading

KỶ YẾU TỌA ĐÀM VỀ HIẾN, LẤY, GHÉP MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI

Nha phap luat viet PhápHà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2006

Jean-Francois Blarel – Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam

Những năm gần đây, nhu cầu được ghép gan, mô và tế bào của người bệnh ở Việt Nam là rất lớn do khả năng chuẩn đoán cũng như các kỹ thuật điều trị được nâng cao.

Hiện nay, vấn đề hạn chế các bác sỹ thực hiện kỹ thuật chữa bệnh này cũng như hạn chế khả năng được tiếp cận không phải là phương diện kỹ thuật mà là môi trường pháp lý, điều kiện tổ chức và điều kiện kinh tế của ngành y học mũi nhọn này.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi để mọi người bệnh có thể tiếp cận một cách công bằng và an toàn kỹ thuật cấy ghép và đảm bảo người bệnh ghép được được chăm sóc lâu dài, Việt Nam đã bắt đầu tiến hành sửa đổi pháp luật hiện hành.

Thông qua hai lĩnh vực hợp tác quan trọng với Việt Nam, hợp tác pháp luật với Nhà Pháp luật Việt Pháp và hợp tác y học, tôi rất vui mừng vì nước Pháp có thể góp phần vào việc xây dựng Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người của Việt Nam.

Tôi xin cảm ơn Cơ quan Y sinh quốc gia những năm qua đã có nhiều đóng góp quan trọng không chỉ đối với nước Pháp mà cả đối với Châu Âu trong lĩnh vực hiến, lấy, ghép hết sức phức tạp này. Lĩnh vực này không chỉ thu hút sự quan tâm của những người làm trong lĩnh vực y học mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội.

Pháp luật phải đưa ra một khuôn khổ trong đó xác định thế nào là hợp pháp và thế nào là bất hợp pháp. Tôi hy vọng các bạn sẽ xây dựng được một văn bản pháp luật hoàn thiện nhất có thể, tức là các quy định trong đó phải đảm bảo quyền lợi tối đa của bệnh nhân đồng thời phải tôn trọng người hiến và thân nhân của họ.

Dĩ nhiên, văn bản luật này chỉ là giai đoạn đầu tiên. Để làm cho hoạt động này trở thành một phương pháp chữa bệnh an toàn và có thể áp dụng đối với hàng nghìn bệnh nhân Việt Nam trong những năm tới, lĩnh vực hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người này còn rất nhiều việc phải làm.

Continue reading

CHUYỂN GIAO QUYỀN, NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN HOÀN THIỆN

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Chuyển giao quyền, nghĩa vụ dân sự là trường hợp người có quyền hoặc có nghĩa vụ không tự mình hưởng quyền hoặc tự mình thực hiện nghĩa vụ đã giao kết mà chuyển giao cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình[1]. Để đảm bảo cho việc thi hành án được liên tục, hiệu quả, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, Điều 54 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự); Điều 15 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự; Điều 8 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự đã quy định cụ thể về vấn đề chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án[2]. Theo đó, việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án đối với tổ chức được thực hiện trong các trường hợp tổ chức hợp nhất; sáp nhập; chia, tách; giải thể; phá sản và trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần. Đối với cá nhân, trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật về thừa kế.

1. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án đối với tổ chức

Việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án đối với tổ chức được thực hiện trong các trường hợp sau:

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

THS. NGUYỄN VĂN TIẾN – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Mt s hn chế, vướng mc thường gp trong gii quyết tranh chp liên quan hp đồng tín dng

Qua thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp liên quan hợp đồng tín dụng, các Tòa án thường gặp một một số hạn chế, vướng mắc như sau:

Nhng hn chế, vướng mc do quy định ca pháp lut

V đánh giá giá tr ca tài sn hình thành trong tương lai

Theo quy định tại khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản hình thành trong tương lai bao gồm (1) tài sản chưa hình thành và (2) tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch. Việc pháp luật quy định cho phép thế chấp tài sản hình thành trong tương lai đã mở ra cơ hội cho thị trường giao dịch dân sự phát triển sôi động, tuy nhiên cũng dẫn tới hệ lụy khi giải quyết tranh chấp. Theo đó, hiện nay, trừ quyền sử dụng đất, nhà ở và các bất động sản khác, tuy đã hiện hữu từ nhiều năm nhưng vẫn có thể được xác định là tài sản hình thành trong tương lai do chưa hoàn thành giao dịch liên quan hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà. Tuy nhiên, đối với tài sản chưa hình thành trên thực tế vẫn được coi là tài sản thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ thì Tòa án gặp nhiều khó khăn trong việc định giá, đánh giá giá trị tài sản, thậm chí có những tài sản khó có thể xác định được khi nào sẽ hình thành xong.

V xác định lut áp dng đối vi hp đồng thế chp liên quan tài sn hình thành trong tương lai

Continue reading

KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG VIỆT NAM

TS.TRẦN KIÊN – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

NGUYỄN KHẮC THU – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Khái niệm hợp đồng

1.1 Thành tố của hợp đồng

Theo Vũ Văn Mẫu, khế ước được tạo ra bởi sự ưng thuận giữa hai hoặc nhiều bên kết ước. Hai điều kiện cần để tạo ra hợp đồng là người kết ước và chủ đích của sự ưng thuận[1]. Tìm hiểu khái niệm hợp đồng thông qua câu hỏi hợp đồng được tạo ra như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào chế định giao kết hợp đồng của mỗi nền pháp luật. Trong bài viết này, các phân tích về thành tố của hợp đồng chủ yếu đứng trên quan điểm của truyền thống pháp luật La Mã – Đức (Civil Law) mà Việt Nam bị ảnh hưởng trong thời kỳ Pháp thuộc và kéo dài cho đến tận ngày nay. Pháp luật hợp đồng Việt Nam do đó không có điều kiện bắt buộc về sự đối ứng (consideration)[2] khi hình thành hợp đồng như trong pháp luật hợp đồng của Common Law và sự đối ứng (consideration) cũng sẽ không được xem xét ở đây.

Chủ thể giao kết hợp đồng

Người kết ước, hay chủ thể giao kết hợp đồng là các bên tham gia vào một quan hệ hợp đồng, có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Trong một quan hệ hợp đồng, xuất hiện những cặp chủ thể tương ứng là người có quyền (trái chủ) và người có nghĩa vụ (thụ trái). Một trái chủ có thể có nhiều thụ trái và ngược lại, một thụ trái có thể có nhiều trái chủ. Lưu ý rằng, có những trường hợp “các bên” trong quan hệ hợp đồng mang tính kỹ thuật pháp lý hơn là thực chất, khi mà một người giao kết hợp đồng với chính bản thân mình. Người đó thực hành hai (hoặc nhiều hơn) tư cách pháp lý khác nhau và giao kết hợp đồng giữa các tư cách đó[3]. Ví dụ như: một người được ủy quyền bởi cả hai bên trong quan hệ hợp đồng để giao kết hợp đồng; một người được ủy quyền giao kết một hợp đồng và giao kết hợp đồng đó với chính mình[4].

Continue reading