MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN TRONG KÝ KẾT HỢP ĐỒNG KINH TẾ

THS. LÊ THỊ BÍCH THỌ –  ĐH Luật TP.HCM

Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (PLHĐKT) được Quốc hội thông qua ngày 29/9/1989 đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật về HĐKT ở nước ta. Có thể nói PLHĐKT đã hoàn thành sứ mạng của mình trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Tuy vậy, qua hơn 10 năm thực hiện, bên cạnh những thành công, PLHĐKT đã bộc lộ nhiều nhược điểm cũng như sự bất cập cần phải được nghiên cứu, hoàn thiện phù hợp với các đòi hỏi khách quan của cơ chế quản lý kinh tế mới.

Thực tiễn giải quyết tranh chấp về HĐKT đang có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định đại diện ký kết HĐKT. Một trong các nguyên nhân của tình trạng này là do quy định về đại diện trong ký kết HĐKT còn nhiều bất cập. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu ở một vấn đề hiện đang có nhiều tranh cãi, đó là vấn đề đại diện trong ký kết HĐKT.

1. Vấn đề đại diện trong ký kết hợp đồng kinh tế theo quy định của pháp luật hiện hành:

Đại diện là một hoạt động phổ biến tất yếu trong các lĩnh vực có sự phân công lao động đối với sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ. Nhà sản xuất giao việc mua nguyên vật liệu cho một người được ủy quyền, một công ty giao cho nhân viên bán sản phẩm… Vì rất nhiều lý do, những người này thay vì phải tự mình thực hiện các giao dịch nhưng họ không thể hoặc không muốn trực tiếp thực hiện các hành vi đó. Vì vậy, họ sử dụng những “người giúp đỡ” thực hiện hành vi với bên thứ ba “vì họ”, “theo tài khoản của họ” như những “người được ủy quyền” hoặc “trong lợi ích của họ”. Thuật ngữ đại diện được sử dụng để chỉ những việc mà “người giúp việc” được phép làm và không được phép làm trong khoảng thời gian được thuê cũng như chức danh của họ. Theo quan niệm của thông luật, đại diện không chỉ giới hạn ở trường hợp một người nhận thay mặt cho một người khác mà còn cả các trường hợp mà ở đó, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về các hành vi vị phạm pháp luật do nhân viên của mình gây ra. Ở đây có sự phân biệt giữa các trường hợp người ủy quyền cho người khác thực hiện các hành vi thay mặt mình, nhân danh mình qua các hợp đồng trách nhiệm thuộc thẩm quyền của người đại diện.

Lý thuyết về sự phân biệt giữa đại diện theo ủy quyền và đại diện theo thẩm quyền được quy định bởi pháp luật là một trong những thành tựu nổi bật của học thuật pháp lý Đức cuối thế kỷ 19. Lý thuyết này đã được đưa vào BGB1 và sau đó được thừa nhận ở các nước theo hệ thống luật dân sự khác. Trên thực tế, không Bộ luật dân sự kế tiếp nào lại không đưa ra sự phân biệt giữa một đại diện thông qua hợp đồng và sự đại diện do thẩm quyền2.

Ở Việt Nam, quan điểm trên cũng được thể hiện trong các văn bản pháp luật về hợp đồng như Bộ luật dân sự, PLHĐKT. Tuy nhiên, cách tiếp cận vấn đề này của hai văn bản nói trên cũng khác nhau.

Vấn đề đại diện trong ký kết HĐKT được ghi nhận tại Điều 9 của PLHĐKT và Điều 5 trong Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành PLHĐKT, theo đó: Người ký hợp đồng là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh. Pháp nhân chỉ có thể tham gia và quan hệ HĐKT thông qua người đại diện của mình và người đại diện nhất thiết phải hành động nhân danh pháp nhân và vì pháp nhân. Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay mình ký HĐKT. Theo quy định trên, những người có thẩm quyền ký kết HĐKT là đại diện hợp pháp hoặc đại diện theo ủy quyền của những người  đại diện hợp pháp.

Đại diện hợp pháp

Đại diện hợp pháp là người được pháp luật quy định hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định có thẩm quyền ký kết HĐKT. Người có thẩm quyền ký kết HĐKT là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh3 của Doanh nghiệp tư nhân. Đối với cá nhân ký kết HĐKT, theo Điều 42 PLHĐKT người ký hợp đồng phải là những người trực tiếp thực hiện công việc trong HĐKT. Đối với hộ kinh tế cá thể, người ký HĐKT là chủ hộ. Đại diện hợp pháp của phá nhân và người được bổ nhiệm hoặc được bầu vào chức vụ đứng đầu pháp nhân đó và đương giữ chức vụ đó. Sử dụng thuật ngữ đại diện hợp pháp để chỉ người có thẩm quyền ký kết hợp đồng theo pháp luật là chưa chính xác vì dù là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền đều là đại diện hợp pháp. Việc xác định người đứng đầu hợp pháp của pháp nhân theo quy định trên là không đơn giản. Pháp nhân kinh tế có thể là doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tập thể, công ty… Đứng đầu pháp nhân có thể là giám đốc (Tổng giám đốc) đối với doanh nghiệp Nhà nước, là chủ tịch hội đồng quản trị đối với các công ty. Về vấn đề này BLDS quy định chặt chẽ hơn. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền4. Theo đó đại diện theo pháp luật là người được pháp luật quy định hoặc ghi nhận khả năng được là đại diện bởi một sự kiện pháp lý đã được quy định là sự thống nhất của các thành viên ghi trong điều lệ của tổ chức đó. Nội dung này cũng được quy định trong Luật doanh nghiệp 19955.

Vấn đề đại diện theo luật được thừa nhận ở các nước theo hệ thống luật dân sự, song lại không được thừa nhận ở hệ thống thông luật. Theo luật Anh – Mỹ thì ngay cả cha mẹ cũng không là đại diện đương nhiên của người chưa thành niên trong các giao dịch pháp lý. Các hợp đồng được ký với người chưa thành niên đều không có giá trị trừ những hợp đồng “thiết yếu” cho người chưa thành niên. Sự đồng ý của cha mẹ cũng không có ý nghĩa trong việc tạo nên hiệu lực của hợp đồng.

Đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản. Điều 9 PLHĐKT quy định: Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay mình ký hợp đồng kinh tế. Người được ủy quyền chỉ ký hợp đồng trong phạm vi được ủy quyền và không được ủy quyền lại cho người thứ ba. Từ quy định trên có thể nêu lên một số điểm như sau:

– Thứ nhất, Người được ủy quyền phải hành động “nhân danh”, “trên tài khoản” và “vì lợi ích” của người ủy quyền trong giao kết hợp đồng. Trách nhiệm trước bên thứ ba thuộc về người ủy quyền. Người được ủy quyền chỉ được ký hợp đồng trong phạm vi được ủy quyền và không ủy quyền lại cho người thứ ba, nói cách khác người được ủy quyền chỉ được phép hành động trong quyền hạn mà mình được giao. Trong trường hợp người được ủy quyền vượt quá thẩm quyền thì hợp đồng được ký kết sẽ không có hiệu lực. Khác với luật pháp của một số nước như Pháp, Thụy Điển, nếu người được ủy quyền vượt quá thẩm quyền mà người ủy quyền trao cho thì người được ủy quyền vẫn bị ràng buộc trong quan hệ đối với bên thứ ba, trừ trường hợp bên thứ ba này biết hoặc cần phải biết rằng người được ủy quyền đã vượt quá thẩm quyền.

– Thứ hai, Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản. Văn bản ủy quyền phải ghi rõ họ tên, chức vụ của người ủy quyền, người được ủy quyền, số chứng minh nhân dân của người được ủy quyền, nội dung và thời hạn ủy quyền, ghi rõ số, ngày, tháng, năm của giấy ủy quyền vào bản hợp đồng kinh tế, đồng thời kèm theo văn bản ủy quyền vào HĐKT. HĐKT được ký kết bởi những người không phải là đại diện hợp pháp của pháp nhân, không phải là người được ủy quyền hoặc được ủy quyền nhưng vượt quá thẩm quyền và nội dung ký hợp đồng không nằm trong phạm vi ủy quyền đó sẽ vô hiệu toàn bộ.

2. Những vướng mắc khi thực hiện quy định về đại diện trong ký kết hợp đồng kinh tế:

Về hình thức pháp lý của việc ủy quyền

PLHĐKT mới chỉ đề cập đến một loại hình thức ủy quyền không thường xuyên mà chưa làm rõ hình thức của ủy quyền thường xuyên là loại ủy quyền thường gặp. Khái niệm văn bản ở đây cũng được hiểu rất hạn hẹp: phải là văn bản có đầy đủ các nội dung được pháp luật quy định. Thực tế áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này có một số vấn đề cần được làm rõ:

– Một là, trong trường hợp người ký HĐKT không phải là người đứng đầu của doanh nghiệp mà là người phó được phân công phụ trách kinh doanh ký kết hợp đồng hoặc những thành viên khác của pháp nhân không có văn bản ủy quyền riêng kèm theo hợp đồng. Thẩm quyền ký kết hợp đồng của những người này trên thực tế đã được xác định tại văn bản phân công, phân cấp hoặc điều lệ của doanh nghiệp. Các văn bản trên có được coi là văn bản ủy quyền thường xuyên để ký kết HĐKT không? Việc áp dụng trên thực tế đối với vấn đề này là không thống nhất tùy thuộc vào sự vận dụng của cơ quan giải quyết tranh chấp. Có ý kiến không coi văn bản phân công là văn bản ủy quyền thường xuyên vì:

+ Trái với quy định về ủy quyền;

+ Bản phân công không được ghi trong văn bản HĐKT;

+ Sẽ hạn chế được tình trạng khi thấy có lợi thì xuất trình bản phân công nội bộ còn không thì thôi.

Ý kiến khác lại thừa nhận vì cho rằng thông qua việc phân công trách nhiệm, người đại diện hợp pháp đã biểu thị sự trao quyền cho người được phân công thực hiện một loại công việc thường xuyên, lâu dài.

Chúng tôi cho rằng ý kiến thứ hai chỉ hợp lý trong trường hợp bản phân công trên được công bố công khai trên phương tiện mà các chủ thể khác có nghĩa vụ phải biết. Trong trường hợp sự phân công được thể hiện trong điều lệ hoạt động của pháp nhân và được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì bản phân công đó phải được hiểu là văn bản ủy quyền thướng xuyên và không nhất thiết phải kèm theo hợp đồng, song pháp luật cũng cần quy định rõ là ngay khi ký hợp đồng, các bên phải nêu rõ trong hợp đồng tư cách của người ký kết.

– Hai là, thực tế có nhiều hợp đồng được ký bởi một thành viên của pháp nhân không có ủy quyền, nhưng trên thực tế hợp đồng đã được thực hiện và người đại diện theo pháp luật không có ý kiến phản đối thì có coi hợp đồng này không có hiệu lực pháp lý không? Theo chúng tôi, trong trường hợp này cần phải xác địn yếu tố chủ quan của người đại diện hợp pháp. Đó là việc người này có biết hoặc có buộc phải biết việc ký kết hợp đồng nói trên không? Nếu đại diện hợp pháp của pháp nhân biết hoặc buộc phải biết tức là đã có sự mặc nhiên thừa nhận của họ về việc ủy quyền thì đó là điều kiện làm cho hợp đồng có hiệu lực pháp lý.

– Ba là, văn bản hợp đồng do các đối tượng như trên ký và được đóng dấu của cơ quan. Trường hợp này, chúng tôi cho rằng cần xem việc đóng dấu của pháp nhân vào văn bản hợp đồng là đã thừa nhận có sự ủy quyền, bởi lẽ về nguyên tắc, việc xác định ai được ký tên, đóng dấu cho loại văn bản nào là thuộc về sự phân công trong nội bộ, nhưng con dấu lại thể hiện mối quan hệ với bên ngoài. Người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng mà không được lấy lý do không có văn bản ủy quyền để vô hiệu hợp đồng, trừ trường hợp có sự cố ý làm trái của người ký hợp đồng.

Về thời hạn xác định ủy quyền

Việc xác định ủy quyền sau khi HĐKT đã được ký kết: về nguyên tắc, việc ủy quyền đòi hỏi phải được xác định trước khi ký HĐKT và văn bản ủy quyền phải được đính kèm theo HĐKT. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều HĐKT do phó giám đốc doanh nghiệp ký, không có sự ủy quyền của giám đốc nhưng sau đó được giám đốc doanh nghiệp phê chuẩn bằng một văn bản ủy quyền cho phó giám đốc đối với HĐKT đã ký. Vậy việc phê chuẩn này có được chấp nhận không? Vấn đề này cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất cho rằng pháp luật có tính nguyên tắc của nó. Do vậy, hành vi xác lập ủy quyền trong trường hợp nêu trên là trái luật nên không được thừa nhận. Việc xuất trình giấy ủy quyền phải được thực hiện trước khi ký kết HĐKT và phải được ghi trong văn bản HĐKT như luật định. Có cách hiểu khác cho rằng việc phê chuẩn này là hợp pháp vì đó là sự thể hiện ý chí của người được đại diện. Việc xác lập ủy quyền sau khi ký kết hợp đồng kinh tế cần được coi là có giá trị pháp lý. Lại cũng có quan điểm cho rằng trong trường hợp này cần phân biệt sự xác lập ủy quyền trước và sau tố tụng: Theo quan điểm này nếu sự phê chuẩn được thực hiện trước khi phát sinh tranh chấp đối với hợp đồng thì sự phê chuẩn đó là hợp lệ. Văn bản phê chuẩn được coi là văn bản bổ sung kèm theo văn bản HĐKT đã ký. Nếu sự phê chuẩn được thực hiện sau khi đã phát sinh tranh chấp, đã khởi kiện thì sự phê chuẩn không được thừa nhận vì lúc này việc phê chuẩn được hiểu như một cách hợp thức hóa để trốn tránh trách nhiệm.

Chúng tôi cho rằng nên xử lý vấn đề nêu trên theo quan điểm thứ ba. Có như vậy mới tạo điều kiện cho các đơn vị giao kết thực hiện một cách có hiệu quả HĐKT đã ký.

Về người được ủy quyền: PLHĐKT không quy định cụ thể ai có quyền và ai không có quyền đại diện theo ủy quyền mà chỉ quy định rất chung là: người đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc cá nhân đứng tên đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền cho người khác ký thay. Vấn đề đặt ra là: có phải tất cả mọi người ai cũng có thể được ủy quyền để ký HĐKT hay không? BLDS đã đề cập đến vấn đề này tại khoản 2 Điều 152 như sau: người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sư thì không được làm người đại diện theo ủy quyền. Trong lĩnh vực HĐKT, vấn đề này cần được quy định bằng cách chỉ rõ giới hạn các chủ thể không được đại diện theo ủy quyền. Người không là thành viên trong pháp nhân, người không chuyên về lĩnh vực nào đó có được ủy quyền không? Cần phải hạn chế đối tượng được ủy quyền để tránh những thiệt hại trong việc ký kết HĐKT.

Về việc ủy quyền ký kết HĐKT đối với các chi nhánh của pháp nhân: Việc ủy quyền ký kết hợo đồng đối với các đơn vị có tư cách pháp nhân không đầy đủ cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Điều này liên quan đến các đơn vị thành viên của các công ty, tổng công ty, các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn, các chi nhánh của pháp nhân. Các chủ thể này muốn ký kết HĐKT phải được các công ty, tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước nói trên ủy quyền. Điều này cần được quy định trong điều lệ của các doanh nghiệp.

Thực tế trong thời gian gần đây, việc các chi nhánh của pháp nhân ký kết hợp đồng nhằm mục đích kinh doanh nhưng không có ủy quyền của người có thẩm quyền, hoặc có ủy quyền nhưng người ủy quyền lại để cho người được ủy quyền chịu trách nhiệm trực tiếp về những hậu quả xảy ra. Hiện tượng này khá phổ biến và là một trong những vấn đề vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án kinh tế tại các tòa án địa phương. Từ tình hình đó, Tòa án nhân dân tối cao đã có công văn số 11/KHXX ngày 23/1/1996 hướng dẫn như sau:

a) Nếu chi nhánh được sự ủy quyền hợp pháp của người đứng đầu pháp nhân kí hợp đồng có mục đích sản xuất, kinh doanh thì đó là hợp đồng kinh tế hợp pháp, khi xảy ra tranh chấp thì Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

b) Nếu chi nhánh nhân danh pháp nhân kí hợp đồng mà không được ủy quyền hợp pháp của người đứng đầu pháp nhân, thì hợp đồng đó là vô hiệu theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 8 PLHĐKT, và khi xảy ra tranh chấp thì Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

c) Nếu chi nhánh không nhân danh pháp nhân mà tự mình giao kết hợp đồng thì đó chỉ là hợp đồng dân sự. Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này do Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.

Qui định tại điểm c trên đây, theo chúng tôi có thể sẽ làm nảy sinh những bất hợp lí như sau

+ Chi nhánh của pháp nhân là một tổ chức có tư cách pháp nhân không đầy đủ hoặc không có tư cách pháp nhân. Chi nhánh là một đơn vị thành viên của pháp nhân, vì vậy không thể nhân danh mình kí kết hợp đồng được, nếu có thì người kí hợp đồng chỉ có thể nhân danh cá nhân mình mà thôi.

+ Theo qui định của pháp luật, chi nhánh không là chủ thể của quan hệ hợp đồng kinh tế, cũng không là chủ thể của hợp đồng dân sự nên hợp đồng mà chi nhánh kí không thể coi là hợp đồng dân sự của chi nhánh đó như hướng dẫn của công văn 11/KHXX được.

+ Chi nhánh của pháp nhân thông thường là đơn vị hạch toán báo sổ, tài sản của chi nhánh là tài sản của pháp nhân. Nếu coi chi nhánh là chủ thể của hợp đồng dân sự như qui định tại công văn 11/KHXX của Tòa án nhân dân tối cao thì ai sẽ chịu trách nhiệm tài sản trong trường hợp chi nhánh vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho bên kia?

Bên cạnh đó, một vấn đề bức xúc có liên quan đến việc ủy quyền trong ký kết hợp đồng kinh tế của chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm. Theo quy định của pháp luật hiện hành, các trường hợp ký kết gián tiếp (bằng tài liệu giao dịch) phải được thực hiện bởi chính đại diện hợp pháp của pháp nhân. Thực tế các giao dịch trong lĩnh vực dịch vụ là hoạt động thường xuyên, liên tục, lặp đi lặp lại những nội dung như nhau với các chủ thể khác nhau đòi hỏi người ký với một khối lượng lớn. Vì vậy, thông thường các chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực này (như hoạt động dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm…) thường ký kết hợp đồng bằng tài liệu giao dịch bởi những người được ủy quyền. Đòi hỏi nêu trên của pháp luật tạo nên sự bất hợp lý trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về ủy quyền.

Từ những trình bày trên về đại diện trong ký kết HĐKT có một số vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra cần được xem xét:

– Một là, xác định đại diện đương nhiên ký kết hợp đồng. Do chủ thể của quan hệ HĐKT chủ yếu là các tổ chức, nên việc xác định người đại diện của chủ thể là rất quan trọng. Pháp luật quy định đối với doanh nghiệp là công ty nếu trong trường hợp điều lệ công ty không quy định gì khác thì đại diện theo pháp luật của công ty là giám đốc. Xuất phát từ quy định này cho thấy đại diện hợp pháp của pháp nhân không phải chỉ là người do pháp luật quy định mà còn có thể là người được các pháp nhân lựa chọn theo nguyên tắc tự do lựa chọn của các chủ thể. Vì vậy, có thể hiểu quan hệ đại diện ở đây thực chất là quan hệ ủy quyền. Người đại diện là người được pháp nhân ủy quyền để thực thi các nhiệm vụ được giao thay mặt pháp nhân.

– Hai là, hình thức thể hiện sự ủy quyền không nên chỉ giới hạn ở các văn bản ủy quyền mà phải hiểu một cách rộng hơn, đó là các hình thức khác tương ứng với các hợp đồng (văn bản, bằng miệng hoặc các tài liệu khác thể hiện ý chí đích thực của các bên). Lâu nay chúng ta chỉ quan tâm đến hình thức thể hiện mà không chú ý đến ý chí đích thực của người ủy quyền, vì vậy đã thường xuyên xảy ra tình trạng: nếu thấy bất lợi thì yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do ký kết không đúng thẩm quyền. Theo chúng tôi, cần căn cứ vào ý chí thực của các bên trong khi ký kết, hoặc ngay cả đối với các hợp đồng đã được ký kết và đã được thực hiện để xác định theo hướng thừa nhận có ủy quyền.

– Ba là, cần có quy định rõ trách nhiệm của người được ủy quyền trong trường hợp người này ký kết hợp đồng không nhân danh người ủy quyền, không vì lợi ích của người ủy quyền.

– Bốn là, không nên lấy việc phân định các cách thức ký kết HĐKT làm cơ sở để loại trừ ủy quyền trong ký kết gián tiếp như hiện nay.

– Năm là, cần có quy chế đại diện cho các đơn vị thành viên của pháp nhân (chi nhánh).

– Sáu là, cần sử dụng thuật ngữ pháp lý thống nhất, thay cho khái niệm “đại diện hợp pháp” là “đại diện theo pháp luật” và “đại diện theo ủy quyền”.

Tài liệu tham khảo:

1 Burgerliche Gesetzbuch: Bộ luật dân sự Đức

2 Zweigert&Kotz: Introductointo comperrative Law.

3 Điều 9 pháp lệng hợpđồng kinh tế và điều 5,6 Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990

4 Điều 150 Bộ luật dân sự

5 Khoản 1, Điều 41 Luật Doang nghiệp: Trường hợp điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng thàng viên là người đại diện theo pháp luật, thì giám đốc(Tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của tổng công ty

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2001

MỘT PHƯỜNG CÓ HƠN 400 TRẺ "VÔ DANH"

MINH TRÍ – BẢO PHƯỢNG

——————————————————————————————-

Bà Trịnh Thị Bích, Trưởng phòng Hộ tịch-Lý lịch tư pháp-Quốc tịch, Sở Tư pháp TPHCM, cho biết hầu hết các trẻ chưa đăng ký khai sinh là do vướng về vấn đề hộ khẩu. Sở đã gởi công văn đề nghị Bộ tháo gỡ vấn đề này.

——————————————————————————————-

Cứ năm này qua năm khác, các em được sinh ra, rồi lớn lên trong nỗi khổ thiếu giấy tờ tùy thân “cha truyền con nối”.

Hộ khẩu đã mở nhưng hộ tịch còn bó

Từ 1-7-2007, Luật Cư trú có hiệu lực. Theo luật này, “cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú”. Thế nhưng Nghị định 158 năm 2005 vẫn gói gọn thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em tại ba nơi tuần tự như sau:

– Tại UBND cấp xã nơi cư trú của người mẹ.

– Nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ thì đăng ký tại UBND cấp xã nơi cư trú của người cha.

– Trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha thì UBND cấp xã nơi trẻ em đang sinh sống thực hiện đăng ký khai sinh.

Theo cách hiểu trước giờ trong đăng ký hộ tịch, “nơi cư trú” của người mẹ hoặc người cha là “nơi có hộ khẩu thường trú”. Trường hợp không có nơi có hộ khẩu thường trú thì phải có giấy xác nhận bị xóa hộ khẩu tại địa phương cũ mới được đăng ký hộ tịch tại nơi tạm trú. Trong 450 trường hợp trẻ em bị “treo” khai sinh tại phường Bình Hưng Hòa A, đa phần do cha mẹ của trẻ đều là dân nhập cư từ tỉnh, thành phố khác. Những người này đều có tình trạng hộ khẩu “lơ lửng”. Không những thế, nhiều người không có cả CMND lẫn giấy chứng nhận kết hôn. Vì thế cứ năm này qua năm khác, các em được sinh ra, rồi lớn lên trong nỗi khổ thiếu giấy tờ tùy thân “cha truyền con nối”.

Quê nhà quá xa xôi

Năm 1989, chị Trần Thị Đoàn và anh Trần Ích Thắng sinh con đầu lòng, đặt tên Trần Thanh Hồng. Chị Đoàn không có CMND lẫn giấy chứng nhận kết hôn. Đến năm 1992 chị mới làm các loại giấy tờ này và bắt đầu đi khai sinh cho con thì lại vướng hộ khẩu. Trước kia chị Đoàn ở Quảng Ngãi, từ khi lấy chồng thì vào TP.HCM làm ăn nhưng không thể chuyển hộ khẩu vào TP.HCM vì vướng quy định về hộ khẩu trước đây. Khi cha mẹ chị ở Quảng Ngãi qua đời, người anh chị làm lại hộ khẩu mới đã xóa tên chị trong hộ khẩu. Không còn hộ khẩu thì khai sinh cho con phải về quê xác nhận bị xóa hộ khẩu rất phức tạp nên anh chị… bỏ lơ luôn khiến các con phải sống trong cảnh “công dân vô danh”. Em Hồng đã lên lớp 11 nhưng vẫn chưa làm được CMND. Gặp chúng tôi trong căn nhà nhỏ xíu chưa đầy 10 m2, Hồng băn khoăn không biết sắp tới muốn thi vào đại học thì phải làm thế nào.

 

Cháu Phương Linh không được cấp bằng tiểu học vì chưa có giấy khai sinh.

Chị Nguyễn Thị Thơm (mẹ của em Ngô Minh Lâm) là người Ninh Bình, vào sống tại TP.HCM hơn 10 năm, một mình nuôi con. Chị dự định về Bắc để làm giấy khai sinh cho con mà không đủ tiền về. Chị phân trần: “Cứ dành dụm được chút tiền thì mẹ ốm hoặc con ốm lại tiêu hết. Vay mượn thì nghèo khó nên chẳng ai muốn cho vay. Tôi cũng chưa biết bao giờ thì về được mà lo giấy tờ cho cháu”.

Thiếu tiền nhà bảo sanh: Bị “ách” giấy chứng sinh!

Nguyên trước đây chị Mai có hộ khẩu tại quận 6 nhưng vì bán nhà trả nợ nên phải về quận Bình Tân mướn nhà ở tạm. Năm 1994, chị sinh một bé gái, đặt tên là Phương Ly Ly. Hiện Ly đang là học sinh lớp 3 của Trung tâm Chấp cánh (một trung tâm từ thiện ở phường Bình Hưng Hòa A). Chị Mai sinh cháu Ly tại nhà bảo sanh Cây Gõ (phường 9, quận 6), vì không có 300.000 đồng trả cho nhà bảo sanh nên chị không xin được giấy chứng sinh. Chị Mai buồn bã nói: “Mới rồi tôi quay lại nhà bảo sanh xin giấy chứng sinh cho cháu, họ lại đòi 500.000 đồng mới cấp lại giấy chứng sinh. Tôi chưa xoay đâu được tiền nên đành chịu”. Chị của Ly là cháu Hoàng thì có giấy chứng sinh nhưng do hộ khẩu chị Mai còn tại quận 6 nên buộc phải quay về quận 6 để khai sinh cho con. Bị chỉ lên chỉ xuống riết làm chị nản lòng, vẫn chưa khai sinh cho con được.

Lối vào đời quá hẹp

Tại lớp học tình thương Thiên Ân (phường Bình Hưng Hòa A, Bình Tân), phần lớn học sinh đều chưa có giấy khai sinh. Thầy Trần Kính Lữ, giáo viên lớp này, phân trần: “Chúng tôi dạy cho các em nhưng không được cấp bằng. Nếu các em muốn học lên thì phải có bằng, có học bạ, mà muốn được cấp học bạ thì các em phải có giấy khai sinh”. Lớp tình thương Thiên Ân chỉ dạy từ lớp 1 đến lớp 5. Để các em có thể học tiếp lên THCS, thầy Lữ đã xin Trường tiểu học Bình Thuận (nơi thầy đang giảng dạy) cuốn sổ học bạ cho các em học lớp 5. Thầy cũng xin thêm bản sơ yếu lý lịch có chứng nhận của UBND phường để các em có thể tham gia kỳ thi cuối năm lớp 5, có điểm và giấy tờ để xin vào học tiếp lớp 6 ở các trường THCS. Tuy nhiên, có trường chấp nhận, có trường từ chối.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. GỠ VƯỚNG VỀ HỘ TỊCH CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT;

2. GIẤY KHAI SINH QUA THỰC TIỄN TƯ PHÁP Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN;

3. Một số điểm mới trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004;

4. NHÌN LẠI MỘT NĂM THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2005/ND-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

ỦY QUYỀN KÝ, GIAO DỊCH LIÊN QUAN QUYỀN, NGHĨA VỤ THUẾ

LÊ VĂN CHẤN

Đại diện là việc một người (người đại diện) nhân danh một người khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện (theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Dân sự ngày 14/6/2005 có hiệu lực từ ngày 1/1/2006).

Theo Điều 140 và khoản 4 Điều 141 Bộ luật Dân sự (BLDS) thì “Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định”; và “Người đại diện theo pháp luật là: “…Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;…” và theo khoản 1 Điều 142 và khoản 1 Điều 143 BLDS: thì “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện”; và người được đại diện theo ủy quyền là: “cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”; và theo Điều 581 BLDS: “hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Mặt khác, tại khoản 4 Điều 143 Luật Doanh nghiệp (LDN) ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006 thì “Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”. Theo khoản 13 Điều 14 Luật Doanh nghiệp: “người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, Giám đốc Doanh nghiệp Tư nhân, thành viên hợp danh Công ty Hợp danh, Chủ tịch Hội đồng Thành viên, Chủ tịch Công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định”, và theo khoản 3 Điều 9 LDN: một trong những nghĩa vụ của doanh nghiệp là: “Đăng ký mã số thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật”.

Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 103 BLDS: “Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và các tổ chức kinh tế khác có đủ điều kiện quy định tại điều 84 của bộ luật này là pháp nhân”.

Do đó, người đại diện theo pháp luật quy định phải chịu thực hiện các quy định của pháp luật nói chung và nghỉa vụ tài chính nói riêng trong đó có luật, pháp lệnh thuế hiện hành. Cơ quan thuế quản lý thuế đối với doanh nghiệp là người đứng đầu pháp nhân như: Chủ tịch Hồi đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc hoặc; hoặc Chủ tịch công ty; Chủ tịch hồi dồng quản trị; hoặc thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật công ty (theo điều 46; khỏa 5 điều 67; khoản 1 điều 116; khoản 1 Điều 137 LDN).

Tổng cục thuế hướng dẫn thực hiện thống nhất trong việc ủy quyền khi ký các tài liệu, hồ sơ, thực hiện giao dịch liên quan quyền, nghĩa vụ về thuế (Công văn số 1498/TCT – PCCS ngày 24/4/2006) như sau:

– Tại khoản 2, Điều 584 BLDS quy định người đại diện theo pháp luật gồm: “Báo cho người thứ 3 trong quan hệ thực hiện ủy quyền về thời hạn, phạm vi ủy quyền về thời hạn, phạm vi ủy quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi ủy quyền”.

– Tại Điều 10 Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 8/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư quy định thẩm quyền ký văn bản:

1. “Ở cơ quan, tổ chức lảm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký tất cả văn bản của cơ quan, tổ chức. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT) các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.

[…]

3. Trong trường hợp đặc biệt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể ủy quyền cho cán bộ phụ trách dưới mình một cấp ký thừa ủy quyền (TUQ) một số văn bản mà mình phải ký. Việc giao ký thừa ủy quyền phải được quy định bằng văn bản và giới hạn trong một thời gian nhất định. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người khác ký.

4. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể giao cho Chánh Văn phòng, Trưởng phòng hành chính hoặc trưởng một số đơn vị ký thừa lệnh (TL) một số loại văn bản. Việc giao ký thừa lệnh phải được quy định cụ thể trong quy chế công tác văn thư của cơ quan, tổ chức.”

Căn cứ các quy định trên, người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh trực tiếp hoặc giao cho cấp phó của mình ký thay trên các văn bản giao dịch, tờ khai thuế, bảng biểu, mẫu biểu kèm theo tờ khai thuế gửi cho cơ quan thuế thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.

Trường hợp đặc biệt, người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh cá thể ủy quyền bằng văn bản cho cán bộ phụ trách dưới mình một cấp ký thừa ủy quyền các văn bản nêu trên. Khi thực hiện quan hệ giao dịch với cơ quan thuế, người được ủy quyền phải thông báo cho cơ quan thuế biết về thời hạn, phạm vi ủy quyền hoặc khi có thay đổi về thời hạn, phạm vi được ủy quyền.

Riêng đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập thì các văn bản trong hồ sơ đăng ký thuế lần đầu, văn bản trong hồ sơ mua hóa đơn lần đầu phải do người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh ký tên, đóng dấu mới được coi là hợp lệ.

Tóm lại, việc giao dịch với cơ quan Thuế nếu là người của DN thì thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 1498/TCT-PCCS nêu trên. Nếu là người ngoài doanh nghiệp thì phải có hợp đồng ủy quyền theo BLDS, bởi vì người đại diện theo ủy quyền này chỉ trực tiếp làm việc với cơ quan thuế về các nội dung mang tính chất có vấn đề về thủ tục pháp lý cho DN trên cơ sở đó thông báo lại các nội dung làm việc cho người đại diện theo pháp luật biết. Toàn bộ các chứng từ có liên quan đến lĩnh vực thuế thì người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm ký tên; đóng dấu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu đã kê khai với cơ quan thuế./

SOURCE: Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán số 8 (37) – 2006)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 177/2002/KHXX NGÀY 5 THÁNG 12 NĂM 2002 VỀ VIỆC CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 177/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 5 tháng 12 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 177/2002/KHXX NGÀY 5 THÁNG 12 NĂM 2002 VỀ VIỆC CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam

Sau khi nghiên cứu Công văn số 44/CV-TA ngày 12/9/2002 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 130 Bộ luật Dân sự thì “Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và của các chủ thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Một giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi giao dịch đó có đủ các điều kiện quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự, trong đó có điều kiện “Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”.

Việc người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện được hiểu là: các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự do bày tỏ ý chí, nguyện vọng của mình, tự nguyện thoả thuận với nhau về các nội dung của giao địch mà không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép từ phía bên kia hoặc của người khác; các bên tự nguyện thoả thuận các vấn đề nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.

Về nguyên tắc việc giao kết hợp đồng phải qua các giai đoạn khác nhau, đó là: đề nghị giao kết hợp đồng, trả lời về đề nghị giao kết hợp đồng…, sau đó mới giao kết hợp đổng.

Trước thời điểm các bên giao kết hợp đồng các bên phải thoả thuận về tất cả các nội dung của hợp đồng. Các thoả thuận đó đều phải dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên.

Như vậy, yếu tố “hoàn toàn tự nguyện” của các bên được tính đến thời điểm các bên giao kết hợp đồng dân sự quy định tại Điều 403 Bộ luật Dân sự.

Sau khi hợp đồng dân sự được giao kết, hợp đồng sẽ có hiệu lực. Hiệu lực của hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 404 Bộ luật Dân sự. Hợp đồng dân sự được giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Việc thực hiện hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc quy định tại Điều 409 Bộ luật Dân sự.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong khi giải quyết vụ án cụ thể ở địa phương.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

AI LÀ NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CAO NHẤT TRONG TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC

Bắt đầu từ ngày 1/7/2004, Luật Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) năm 2003 chính thức có hiệu lực. Tuy nhiên,câu hỏi “ai là người có thẩm quyền cao nhất trong Tổng công ty nhà nước (TCT)” dường như vẫn đang là băn khoăn của nhiều vị lãnh đạo các TCT.

Theo điều 29, Luật DNNN năm 2003, Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước tại TCT, có quyền nhân danh TCT quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của TCT. Đối với quyền của Tổng giám đốc (TGĐ), điều 38, Luật DNNN năm 2003 quy định: TGĐ là người đại diện theo pháp luật, điều hành hoạt động hàng ngày của TCT theo mục tiêu, kế hoạch, phù hợp với Điều lệ TCT và các nghị quyết, quyết định của HĐQT.

Có thể thấy, với “quyền nhân danh” của HĐQT và quyền điều hành của TGĐ, Chủ tịch HĐQT có thể đứng ở vị trí cao nhất trong TCT. Tuy nhiên, vướng mắc hiện nay là chế độ làm việc của HĐQT là họp ít nhất một lần trong quý nên các nghị quyết, quyết định của HĐQT không thể được ban hành quá cụ thể hoặc quá nhiều. Trong khi đó, TGĐ không thể điều hành một cách chung chung được. TGĐ với quyền đại diện theo pháp luật của TCT tiến hành các hoạt động như ký kết, phê duyệt… những dự án trong quyền hạn của mình. Nhiều khi, trong hoạt động kinh doanh, TGĐ không thể chờ đợi những cuộc họp của HĐQT để xin ý kiến. Và những điều tiếng đã xảy ra vì cho rằng, HĐQT “hữu danh vô thực” khi mọi quyền quyết định những vấn đề cụ thể của TCT đều trong tay của TGĐ. Thậm chí, nhiều Chủ tịch HĐQT than phiền về việc chỉ đến TCT khi được mời họp HĐQT…
Thêm vào đó, tình cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” trong mối quan hệ giữa Chủ tịch HĐQT và TGĐ hầu như khó tránh khỏi với những TCT được tổ chức lại và Chủ tịch HĐQT được điều đến từ nơi khác. Nếu như các TCT có Chủ tịch HĐQT và TGĐ là những “người cũ”, trong đó Chủ tịch HĐQT chính là TGĐ trước đây thì mối quan hệ cấp trên, cấp dưới dường như “thuận buồm xuôi gió”ù hơn, trong khi ở những TCT không có mối quan hệ tốt này, những mâu thuẫn về việc ai là người có thẩm quyền cao nhất luôn làm cản trở hoạt động của hai vị lãnh đạo TCT này…
Thực ra, về quy định pháp luật, quyền hạn và nghĩa vụ của HĐQT cũng như TGĐ đã được làm rõ. Đặc biệt, theo lý thông thường thì người chủ sở hữu, nghĩa là người có tiền, sẽ là người có tiếng nói quyết định. Ở đây, với vai trò đại diện chủ sở hữu tại TCT, HĐQT hay một cách cụ thể hơn thì chính Chủ tịch HĐQT là người có quyền cao nhất trong TCT. Thậm chí, theo quy định, HĐQT hoàn toàn có quyền miễn nhiệm TGĐ trong trường hợp TGĐ không chấp hành nghị quyết, quyết định của HĐQT sau khi được người quyết định thành lập TCT chấp thuận. Cơ chế đại diện chủ sở hữu Nhà nước ký hợp đồng với TGĐ TCT cũng đang được Bộ Nội vụ dự thảo. Điều này có nghĩa là HĐQT không chỉ là người có tiền mà sẽ thực sự là người có quyền. Vấn đề ở đây là Chủ tịch HĐQT có đủ trình độ và bản lĩnh để điều hành TCT thông qua TGĐ hay không?

SOURCE: CÔNG TY LUẬT GIA PHẠM

XÁC ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH THẨM QUYỀN ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

TS. ĐỖ VĂN ĐẠI

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để tồn tại, doanh nghiệp phải có người đại diện. Việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong giao dịch sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam nếu doanh nghiệp đó là doanh nghiệp Việt Nam và giao dịch đó được thực hiện ở Việt Nam.

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để tồn tại, doanh nghiệp phải có người đại diện. Việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong giao dịch sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam nếu doanh nghiệp đó là doanh nghiệp Việt Nam và giao dịch đó được thực hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp Việt Nam giao dịch với các doanh nghiệp nước ngoài thông qua người đại diện, thì việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện của các doanh nghiệp này để thực hiện một giao dịch lại trở nên phức tạp. Bởi về vấn đề này, pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài quy định không giống nhau. Trong khi đó, thực tiễn pháp lý Việt Nam trong những năm gần đây thường xảy ra những tranh chấp về thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế. Vì vậy, trong những trường hợp đó, việc quy định sử dụng pháp luật nước nào để điều chỉnh là cần thiết. Ví dụ:

Ngày 28/10/1995, Công ty Kurihara Kogyo được thành lập theo pháp luật Nhật Bản có chi nhánh tại Singapore ký với Công ty HN (là công ty liên doanh) một hợp đồng. Ngày 06/6/1998, Công ty HN ký một hợp đồng thanh toán trong đó thỏa thuận chọn trọng tài Hồng Kông khi các bên có tranh chấp. Người đại diện ký kết của Công ty HN là ông Thành và người đại diện của bên kia là ông Tài. Sau đó, Công ty HN cho rằng “ông Thành – Tổng giám đốc Công ty liên doanh không có quyền ký thỏa thuận trọng tài vì đây là vấn đề xác định vốn Công ty liên doanh nên phải do Hội đồng quản trị Công ty liên doanh quyết định”. Công ty HN cũng cho rằng, “ông Tài không đủ thẩm quyền ký hợp đồng thanh toán 06/6/1998 vì ông Tài là Giám đốc Công ty liên doanh Kurihara Thăng Long ký hợp đồng với Công ty liên doanh HN 28/10/1995, rồi lại thay mặt Công ty Kurihara Kogyo Ltd – Chi nhánh Singapore – ký hợp đồng là không đúng quy định của pháp luật”(Xem Quyết định số 01/QĐ ngày 21/9/2001, thụ lý số 01/KTST ngày 18/6/2001 của TAND TP. Hà Nội).

Để biết ông Thành và ông Tài có thẩm quyền ký kết giao dịch trên hay không, chúng ta phải xác định pháp luật nước có thẩm quyền giải quyết. Chọn pháp luật nước nào khi ở đây có ba hệ thống pháp luật có thể được sử dụng: pháp luật Nhật Bản, pháp luật Singapore và pháp luật Việt Nam? Pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định rõ về vấn đề này. Vì vậy, chúng ta cùng nghiên cứu và tìm hướng giải quyết.

Thực trạng pháp luật Việt Nam

Thực trạng văn bản

Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện nay có quy định về xác định pháp luật điều chỉnh năng lực hành vi dân sự của cá nhân (Điều 762) và năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài (Điều 765). Tuy nhiên, cần thấy rằng, năng lực hành vi hay năng lực pháp luật dân sự của cá nhân hay pháp nhân và thẩm quyền đại diện doanh nghiệp là hai vấn đề khác nhau. Năng lực là khả năng của ai đó làm việc gì. Trong khi đó, thẩm quyền là khả năng của một ai đó thay mặt chủ thể khác thực hiện một hành vi pháp lý. Ví dụ, công ty A hoàn toàn có khả năng ký kết một thoả thuận trọng tài nhưng liệu ông B, phó giám đốc của công ty, có thể thay mặt công ty ký một thoả thuận trọng tài hay không lại là vấn đề thẩm quyền của ông B. Ngược lại, ông A là giám đốc một công ty có thể không có năng lực dân sự để ký thỏa thuận trọng tài để giải quyết một số tranh chấp cá nhân của mình, nhưng hoàn toàn có thể ký một thỏa thuận trọng tài với đối tác của công ty trên danh nghĩa là người có thẩm quyền đại diện công ty.

Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng đã có các quy định về xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh năng lực pháp luật dân sự nhưng chưa có các quy định về vấn đề thẩm quyền. Luật Doanh nghiệp năm 2005 có những quy định về pháp luật áp dụng và quốc tịch của doanh nghiệp (Điều 3, 4) nhưng cũng không cho biết là pháp luật nước nào sẽ được chọn để điều chỉnh thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, rõ ràng về việc xác định pháp luật điều chỉnh thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp trong quan hệ có yếu tố nước ngoài.

Thực tiễn pháp lý

Thực tiễn pháp lý Việt Nam có hai xu hướng xác định pháp luật áp dụng về thẩm quyền đại diện doanh nghiệp.

Xu hướng thứ nhất là xác định thẩm quyền thông qua nghiên cứu một hệ thống pháp luật (pháp luật một nước). Ví dụ, tại Quyết định số 51/KTPT ngày 26/10/2001, Toà phúc thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh có nhận xét: “Hợp đồng mua bán mà Công ty Recofi (Pháp) và Công ty Sunimex (Việt Nam) có quy định tại Điều 11 là việc thoả thuận chọn Trọng tài thuộc Phòng thương mại quốc tế Paris là không chặt chẽ theo điều lệ mẫu quy định. Do đó, khi phát sinh tranh chấp; quan điểm của mỗi bên hoàn toàn khác biệt nhau, không giải quyết thân thiện với nhau được theo nội dung của hợp đồng, mà phải ký thêm các điều kiện thoả thuận về việc chọn Trọng tài. Ngày 15/8/1998, các bên tiến hành ký kết các thể thức tham chiếu ICC vụ kiện số 9677/AC/DG. Phía Sunimex do ông Minh làm đại diện. Nhưng ở thời điểm này, ông Minh chỉ giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Sunimex theo quyết định của UBND TP. Hồ Chí Minh. Việc ông Minh tham gia ký đã không đủ tư cách là người đại diện hợp pháp để thoả thuận thể thức tham chiếu ICC ngày 15/8/1988 theo quy định của pháp luật Việt Nam, đã vi phạm Khoản 1, Khoản 2, Điều 102 Bộ luật Dân sự, Điều 37 Luật Doanh nghiệp nhà nước và trái với Điều 19 Điều lệ hoạt động của Tổng công ty Sunimex”.

Ví dụ trên cho thấy, tòa án Việt Nam đã sử dụng pháp luật Việt Nam để cho rằng, ông Minh là người không có thẩm quyền đại diện công ty Sunimex trong giao dịch với Công ty Recofi, bởi lẽ, ông Minh chỉ là Phó Tổng Giám đốc Sunimex.

Xu hướng thứ hai là để xác định một người có thẩm quyền đại diện hay không, tòa án còn dẫn chiếu pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam (pháp luật hai nước), ví dụ:

Ngày 20/4/1993, Công ty Novus của Nga ký hợp đồng và hai phụ lục hợp đồng để bán cho Công ty Vinatex của Việt Nam một số lượng thép. Đại diện ký hợp đồng và phụ lục của bên bán là ông Malitski (Tổng giám đốc Công ty Novus) và bên mua là ông Nội (đại diện của Công ty Vinatex tại Nga). Thời gian sau, hai bên phát sinh tranh chấp. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, phía Việt Nam cho rằng, ông Nội không đủ tư cách ký hợp đồng và không được ủy quyền ký hợp đồng; còn phía Nga cho rằng, ông Nội có thẩm quyền ký kết hợp đồng (các bên không có tranh chấp về thẩm quyền đại diện của ông Malitski). Xung quanh thẩm quyền đại diện của ông Nội, tòa án nhận định: “Căn cứ Quy chế về tổ chức và hoạt động của Cơ quan Đại diện kinh tế thương mại Việt Nam ở nước ngoài – ban hành kèm theo Nghị định 283/HĐBT ngày 8/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, căn cứ Khoản 2, Điều 2 Quy định số 299/TMDL-XNK ngày 09/4/1992 quy định về ký kết và quản lý hợp đồng Vinatex – chiểu theo quy định của pháp luật Việt Nam, ông Nội là người không đủ thẩm quyền, không được ủy quyền để ký kết hợp đồng cũng như ký kết thỏa thuận trọng tài nêu trên”. Mặt khác, “Xét thấy, tại giải trình ngày 08/4/1996 của Công ty Novus gửi Tòa án trọng tài thương mại quốc tế, đại diện Công ty Novus nêu ra một trong những lý do để từ chối việc ký kết văn bản của Công ty là: “Theo Điều lệ của Công ty Novus thì chỉ có Tổng giám đốc mới có quyền ký bất kỳ văn bản nào mà không cần giấy ủy nhiệm. Mọi cán bộ trọng trách của Công ty Novus chỉ có thể ký kết hợp đồng khi có ủy quyền do Tổng giám đốc Công ty cấp…”. Đây cũng là nguyên tắc chung thống nhất được ghi nhận ở cả hai nước, bên ký kết đều phải tuân thủ và thực tế đều đã biết” (Xem Quyết định số 59/KTPT ngày 04/6/1998, thụ lý số 174 ngày 13/12/1997 của Toà phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội).

Như vậy, để biết ông Nội có thẩm quyền đại diện Công ty Vinatex hay không, tòa án Việt Nam đã dẫn chiếu những quy định của pháp luật hai nước.

Từ những ví dụ trên, có thể nói là thực tiễn pháp lý Việt Nam chưa thống nhất về xác định thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế.

Phương hướng giải quyết

Giải pháp có thể: Có thể xác định một người nào đó là đại diện của doanh nghiệp bằng nhiều hệ thống pháp luật hay không ?

Những tranh chấp được đề cập trên đây liên quan đến thẩm quyền để thiết lập một thỏa thuận trọng tài hay một hợp đồng. Đây không phải là một đặc thù của Việt Nam, bởi ở Pháp, những tranh chấp liên quan đến thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Pháp (xem ví dụ 1) hay của doanh nghiệp nước ngoài (xem ví dụ 2) đối với việc ký kết một số giao dịch cũng thường xuyên xảy ra. Vì vậy, chúng ta có thể áp dụng pháp luật của nước sở tại – nơi mà các giao dịch được ký kết – theo nguyên tắc, nếu giao dịch được ký tại Việt Nam thì xác định thẩm quyền đại diện doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam; nếu giao dịch được thiết lập ở nước ngoài thì theo pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên, giải pháp này có nhược điểm là làm cho việc xác định thẩm quyền đại diện của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nơi ký kết giao dịch, trong khi đó nơi này hoàn toàn có thể là sự lựa chọn tình cờ (một thỏa thuận trọng tài có thể được ký ở Việt Nam, hay ở nước mà đối tác của doanh nghiệp Việt Nam có trụ sở hoặc ở một nước thứ ba). Thực tiễn pháp lý một số nước trên thế giới cho thấy, những tranh chấp về thẩm quyền đại diện doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở những giao dịch. Vì vậy, việc lấy tiêu chí pháp luật của quốc gia mà tại đó đã thiết lập giao dịch như trên, không bao trùm được hết những vấn đề pháp lý cần giải quyết (xem ví dụ 3).

Ngoài ra, chúng ta có thể sử dụng pháp luật của tòa án (ở đây là pháp luật Việt Nam), pháp luật nơi doanh nghiệp có trụ sở để giải quyết. Chúng ta cũng có thể xem xét đồng thời hai hay nhiều hệ thống pháp luật nêu trên cùng một lúc để xem xét thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp.

Giải pháp nên sử dụng: Vì vấn đề thẩm quyền liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, thiết nghĩ, chúng ta nên sử dụng pháp luật của nước nơi doanh nghiệp có trụ sở vào thời điểm mà người đại diện thiết lập giao dịch trên danh nghĩa của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp được đại diện có trụ sở ở nước ngoài, thì chúng ta xác định là người nào đó có thể đại diện doanh nghiệp hay không theo pháp luật của nước ngoài này. Ngược lại, nếu doanh nghiệp có trụ sở tại Việt Nam, thì xác định thẩm quyền này theo pháp luật Việt Nam như Tòa án đã làm trong tranh chấp giữa Recofi của Pháp và Sunimex của Việt Nam mà chúng tôi đã đề cập ở trên.

Thông thường, các bên có tranh chấp về thẩm quyền đại diện của một doanh nghiệp tham gia giao dịch, nhưng đôi khi, thẩm quyền đại diện của cả hai doanh nghiệp tham gia giao dịch đều gây tranh cãi. Trong trường hợp này, tòa án phải nghiên cứu pháp luật của cả hai nước. Tuy nhiên, ở đây tòa án không nên sử dụng cả pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam để xác định thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Việt Nam hay của doanh nghiệp nước ngoài, mà chỉ nghiên cứu pháp luật Việt Nam để xem xét thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Việt Nam và áp dụng pháp luật nước ngoài để xem xét thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp nước ngoài. Đó cũng là giải pháp được sử dụng trong tranh chấp mà chúng tôi đề cập ở phần trên. Cụ thể, liên quan đến thẩm quyền đại diện của ông Thành đối với Công ty HN, tòa án đã có nhận xét sau: “Theo tài liệu do phía Công ty HN xuất trình và theo lời trình bày của đại diện khách sạn thì đây là hợp đồng thanh toán cuối cùng của hợp đồng cung cấp thiết bị điện và vật liệu để sửa chữa, mở rộng khách sạn HN được ký giữa Công ty liên doanh HN và Công ty Kurihara Kogyo Singapore 28/10/1995 – Bổ sung ngày 05/3/1997, chứ không phải là bản quyết toán tăng vốn của toàn bộ Công ty liên doanh. Do đó, ông Thành ký hợp đồng thanh toán ngày 06/6/1998 là hoàn toàn có đủ thẩm quyền, phù hợp với Điều 12 Điều lệ Công ty liên doanh, không vi phạm điều 8, khoản 1 điểm c Pháp lệnh hợp đồng kinh tế như Công ty đưa ra”. Còn về thẩm quyền đại diện của ông Tài đối với Công ty Kurihara, tòa án cho rằng: “Theo giải trình và hồ sơ yêu cầu mà Công ty Kurihara Kogyo Ltd – chi nhánh Singapore xuất trình, thì ông Tài được Tổng giám đốc chi nhánh Singapore bổ nhiệm làm Giám đốc tại thông báo bổ nhiệm có lực từ 01/7/1990 và Giám đốc cao cấp tại thông báo bổ nhiệm có hiệu lực từ 01/7/2000. Trong quá trình Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông giải quyết tranh chấp, phía Công ty HN không thắc mắc gì về tư cách ông Tài cũng như về pháp nhân Công ty Kurihara Kogyo Ltd – Chi nhánh Singapore, Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông cũng đã thừa nhận tư cách pháp nhân của Công ty Kurihara Kogyo Ltd – Chi nhánh Singapore. Mặt khác, tại phiên tòa hôm nay, phía Công ty HN cũng không thắc mắc hay đưa ra được chứng cứ hợp pháp khẳng định ông Tài hoặc Công ty Kurihara Kogyo không đủ năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài theo luật Singapore”.

Ví dụ 1: Henri, Tổng giám đốc Công ty Aliment sain của Pháp, tham gia đầu tư bất động sản ở Marốc (với tư cách cá nhân). Trong quá trình đầu tư, Henri đã ký chấp nhận bảo lãnh một khoản tiền với tư cách là Tổng giám đốc Công ty Aliment sain. Khi bị người nhận bảo lãnh (một ngân hàng Marốc) khởi kiện, Công ty Aliment sain cho rằng Henri không có thẩm quyền ký kết bảo lãnh trên. Tòa phúc thẩm Paris đã giải quyết vấn đề thẩm quyền này theo pháp luật của Pháp (xem Tòa phúc thẩm Paris ngày 26/3/1966: Tạp chí JDI năm 1966, tr. 841, bình luận B. Goldman và Tạp chí RCDIP năm 1968, tr. 58, bình luận Y. Loussouarn).

Ví dụ 2: Một người đại diện của Công ty General (doanh nghiệp của Ê – cốt) đã ký chấp nhận một bảo lãnh. Khi bị người nhận bảo lãnh khởi kiện, Công ty General đã viện dẫn pháp luật Pháp để cho rằng hợp đồng bảo lãnh trên là không hợp pháp (theo pháp luật Pháp, hợp đồng bảo lãnh phải được Hội đồng quản trị cho phép). Nhưng theo Tòa án, pháp luật điều chỉnh thẩm quyền đại diện của Công ty General không phải là pháp luật Pháp mà là pháp luật của nước nơi Công ty có trụ sở, tức là pháp luật Ê – cốt (xem Tòa dân sự, Tòa án tối cao Pháp ngày 8/12/1998: Tạp chí RCDIP 1999, tr. 284, bình luận M. Menucq).

Ví dụ 3: vụ kiện giữa một công ty Pháp (bị đơn) và một công ty Đức (nguyên đơn) tại Pháp. Trong quá trình tố tụng, bị đơn cho rằng người tham gia vụ kiện của nguyên đơn không phải là người đại diện của doanh nghiệp Đức. Trước phản tố này, Tòa phúc thẩm Grenoble đã viện dẫn pháp luật Đức để giải quyết (xem Tòa phúc thẩm Grenoble ngày 7/11/1989: Tạp chí Droit des sociétés tháng 5/1990, bình luận số 121). ở đây, vấn đề thẩm quyền được đặt ra không liên quan đến giao dịch dân sự mà đến tố tụng trước Tòa án Pháp.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22%C4%90%E1%BB%96+V%C4%82N+%C4%90%E1%BA%A0I%22

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH