CÓ MỘT “CHỢ THẬN” TẠI VIỆT NAM – HÀNH VI MUA BÁN THẬN SẼ BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?

PHẠM THUẬN THIÊN

“Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên nay tôi bán quả thận của mình. Mong những ai đọc được dòng chữ này, có nhu cầu ghép thận, xin liên lạc với tôi qua e-mail này… Tôi cũng muốn các bạn ghép thận ở Việt Nam. Giá quả thận của tôi bán là 70 triệu. Tôi tên X… số điện thoại 0168…”.

Đây chỉ là một trong những tin nhắn chúng tôi tìm được trên một trang web. Dạo một vòng tại những chợ trên mạng, từ mua… com, rao… vn đến cho… com, chúng tôi thống kê đến hơn 20 người rao bán thận.

Rao bán thận mình

Không khó để có được một cuộc hẹn với những người có nhu cầu bán thận, số điện thoại của họ thường có sau những lời rao. Sau khi dạo một vòng, tôi quyết định gọi cho người phụ nữ tên Tâm, chị rao bán thận mình để kiếm tiền chữa bệnh cho chồng (theo như lời rao trên trang web muaban…). Một cuộc hẹn đối diện Bệnh viện (BV) Bình Dân, quận 3, TP HCM.

Y như lời rao, Tâm là một người khá khỏe mạnh, khoảng trên 30 tuổi. Sau vài câu chào hỏi, Tâm vào thẳng vấn đề rằng tôi sẽ trả giá bao nhiêu cho quả thận. Tôi nói cần phải coi tình trạng sức khỏe mới có thể định giá. Tâm ậm ừ rồi lấy từ trong chiếc giỏ đen ra một xấp giấy đã được chuẩn bị sẵn, một bộ hồ sơ sức khỏe được chuẩn bị kỹ càng.

Tâm chờ tôi xem xong toàn bộ giấy tờ mới ra giá quả thận của chị sẽ bán với giá 3.000 USD, nếu đồng ý thì ngay tháng sau có thể ghép, chỉ cần đưa trước cho Tâm 30 triệu đồng, số còn lại sau khi ghép xong có thể thanh toán. Tại Việt Nam (VN) hay Trung Quốc (TQ) là tùy người mua, nhưng nếu ghép tại TQ, tôi sẽ phải chịu hoàn toàn chi phí cho chuyến đi. Còn nếu ghép ở VN, Tâm sẽ tự lo chi phí ăn ở.

Rồi Tâm kể rằng, cực chẳng đã Tâm mới phải rao bán quả thận của mình, chồng Tâm, hiện đang nằm tại BV Bình Dân, hai vợ chồng lặn lội từ miền Tây lên, tiền đã hết nhưng chồng Tâm vẫn chưa thể xuất viện. Đồ đạc trong nhà đã bán sạch. Tâm đã tìm đủ mọi cách để kiếm tiền nhưng không có cách nào hữu hiệu, họa chăng cũng chỉ đủ ăn, không có tiền thuốc thang cho người chồng bệnh tật.

Continue reading

QUY CHẾ TỔ CHỨC THI HOA HẬU, HOA KHÔI, NGƯỜI ĐẸP (BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 87/2008/QĐ-BVHTTDL NGÀY 30 THÁNG 12 NĂM 2008)

QUY CHẾ

TỔ CHỨC THI HOA HẬU, HOA KHÔI, NGƯỜI ĐẸP
(ban hành kèm theo Quyết định số 87/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh:

a. Tổ chức cuộc thi Hoa hậu toàn quốc và quốc tế;

b. Tổ chức cuộc thi Hoa khôi vùng; ngành; đoàn thể chính trị – xã hội trên phạm vi toàn quốc;

c. Tổ chức cuộc thi Người đẹp cấp tỉnh;

d. Đưa thí sinh dự thi quốc tế;

e. Hoạt động bình chọn người đẹp trong các cuộc liên hoan, lễ hội; bình chọn qua ảnh hoặc trong các hoạt động văn hóa, xã hội khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế này.

2. Đối tượng áp dụng:

a. Đơn vị Việt Nam tổ chức thi Hoa hậu, Hoa khôi, Người đẹp trong nước;

b. Đơn vị Việt Nam phối hợp với đối tác nước ngoài tổ chức thi Hoa hậu quốc tế tại Việt Nam;

c. Đơn vị Việt Nam đưa thí sinh đạt danh hiệu tại các cuộc thi trong nước dự thi quốc tế;

d. Thí sinh dự thi trong nước và quốc tế.

Điều 2. Tên gọi, danh hiệu và số lượng các cuộc thi trong năm

1. Tổ chức thi Hoa hậu, Hoa khôi, Người đẹp là hoạt động văn hóa nhằm tuyển chọn người phụ nữ có đạo đức tốt, có hiểu biết về văn hóa, xã hội, có hình thể cân đối và có khuôn mặt đẹp tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam để trao tặng danh hiệu.

Continue reading

CẦN THỐNG NHẤT THẨM QUYỀN CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG

NGUYỄN THANH XUÂN

Chứng thực các hợp đồng liên quan đến tài sản là nhà giữa các bên là cá nhân, tổ chức là công việc thường diễn ra trong các quan hệ dân sự. Nhu cầu về chứng thực các loại hợp đồng này rất phổ biến và cần thiết trong giao dịch của người dân. Yêu cầu chứng thực hợp đồng có đối tượng là nhà ở là một trong những yêu cầu chiếm tỷ lệ cao trong các vụ việc được giải quyết.

Hiện nay có nhiều văn bản pháp lý điều chỉnh, hướng dẫn hình thức, nội dung cũng như thẩm quyền chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền các loại hợp đồng liên quan đến tài sản là nhà ở. Nhưng thực tiễn giải quyết cho thấy còn nhiều vướng mắc và thẩm quyền chứng thực của các văn bản pháp luật chưa được thống nhất khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của người dân trong việc chứng thực các hợp đồng liên quan đến tài sản là nhà ở và điển hình nhất là đối với hợp đồng thuê nhà ở một trong các giao dịch phổ biến nhất của người dân.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì hình thức hợp đồng thuê nhà phải được lập thành văn bản cũng như phải công chứng, chứng thực nếu thời hạn thuê nhà từ sáu tháng trở lên. Luật Nhà ở cũng quy định hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp huyện hay UBND cấp xã tùy vào tài sản là nhà ở có vị trí ở đô thị hay ở nông thôn. Hình thức, nội dung của hợp đồng thuê nhà ở cũng được quy định tại Nghị định 90/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Trước khi Luật Nhà ở được thông qua và có hiệu lực thì các hợp đồng thuê nhà ở được lập với nhiều hình thức nội dung khác nhau và thông thường người dân thường căn cứ vào hình thức, nội dung của Hợp đồng thuê tài sản gắn liền với đất hay Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT của Bộ Tư pháp – Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất. Theo quy định của Thông tư liên tịch này thì các loại hợp đồng liên quan đến quyền của người sử dụng đất chỉ được hai cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực là Phòng Công chứng và UBND cấp xã, thông tư không quy định thẩm quyền chứng thực cho UBND cấp huyện đối với các loại hợp đồng nêu trên.

Thực tiễn từ những quy định pháp lý trên tạo nên nhiều bất cập cho việc giải quyết yêu cầu của người dân trong việc chứng thực các hợp đồng thuê nhà ở. Đơn cử, Ông Trần Văn Lâm đến UBND thị trấn L.V yêu cầu chứng thực hợp đồng thuê tài sản gắn liền với đất là nhà ở của ông tại khóm 1, thị trấn L.V. UBND thị trấn L.V không giải quyết yêu cầu của ông vì cho rằng theo Luật Nhà ở thì thẩm quyền chứng thực thuộc UBND cấp huyện. Về phía UBND cấp huyện cho rằng hình thức, nội dung hợp đồng thuê tài sản gắn liền với đất là nhà ở của ông Lâm được soạn thảo theo Thông tư liên tịch số 04 nên chỉ có UBND cấp xã hoặc Phòng Công chứng mới có thẩm quyền công chứng, chứng thực hợp đồng trên và hướng dẫn cho ông về UBND thị trấn L.V chứng thực. UBND thị trấn vẫn từ chối chứng thực vì cho rằng mình không có thẩm quyền và hợp đồng của ông Lâm vẫn không được chứng thực. Như vậy, từ thực tiễn giải quyết của cơ quan có thẩm quyền cho thấy chưa có sự thống nhất thẩm quyền chứng thực hợp đồng thuê nhà ở trong các văn bản hướng dẫn, hệ quả là yêu cầu của người dân không được giải quyết trong khi họ đang cần một hành lang pháp lý để đảm bảo cho các giao dịch về tài sản của họ với một cá nhân khác. Văn bản pháp lý hiện tại cũng không giải quyết vấn đề này, trong thực tiễn nếu cá nhân soạn thảo nội dung, hình thức hợp đồng thuê tài sản là nhà ở gắn liền với đất theo Thông tư liên tịch 04 thì UBND cấp huyện có thẩm quyền chứng thực hay không nếu tài sản gắn liền với đất là nhà ở đô thị hay chỉ có Phòng Công chứng và UBND cấp xã mới có thẩm quyền công chứng, chứng thực theo Thông tư liên tịch 04.

Cũng có ý kiến cho rằng Luật Nhà ở có giá trị pháp lý cao hơn Thông tư liên tịch 04 phải áp dụng Luật Nhà ở. Nhưng Nghị định 90 hướng dẫn các hợp đồng thuê nhà ở khác phải được lập thành văn bản quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của hai bên theo quy định của Luật Nhà ở và Bộ luật Dân sự và mẫu hợp đồng thuê nhà ở được lập theo hướng dẫn được ban hành kèm theo Nghị định này. Do đó, nếu người dân lập hợp đồng theo mẫu Thông tư liên tịch 04 nhưng nội dung liên quan đến giao dịch cho thuê nhà ở tại đô thị thì UBDN cấp huyện có thẩm quyền chứng thực hợp đồng trên. Hiện tại UBND cấp huyện và xã đều chưa có sự thống nhất vấn đề này gây ra nhiều khó khăn cho người dân khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong các giao dịch từ việc thuê nhà ở.

   Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong các giao dịch dân sự các loại hợp đồng liên quan đến đối tượng là nhà ở ngày càng được mở rộng, đa thì những quy định về thẩm quyền công chứng, chứng thực cần được phân định rõ ràng và thống nhất hơn tạo hành lang pháp lý an toàn trong các giao dịch của người dân./. 

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

Trích dẫn từ:

http://www.moj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.n406.uP

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN TÀI LIỆU THẬT, GIẢ TRONG GIAO DỊCH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

LS. BÙI QUANG THẠCH – VIETINBANK

Nền kinh tế – xã hội đất nước đang trong giai đoạn đổi mới, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Sự cạnh tranh trong kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) cũng được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, trong đó có nhiều trường hợp dẫn đến vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phải đưa ra Toà án để giải quyết.

Thị trường đã tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế, nhưng cũng có mặt trái của nó, thực tế đã nảy sinh nhiều loại tội phạm mới hoạt động trên nhiều lĩnh vực, thể hiện nhiều nhất là trong khâu giao dịch tiền tệ với các Ngân hàng. Chúng đã lợi dụng sơ hở của cán bộ trong khi giao dịch, dùng một số loại giấy tờ giả mạo như: Chứng minh nhân dân (CMND), hộ khẩu, hộ chiếu, sổ đỏ… lừa đảo để cầm cố, thế chấp vay tiền, lĩnh tiền của các cơ quan, DN và các Ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản.

Qua công tác điều tra cho thấy đã có một số Ngân hàng mắc phải vấn đề này. Đối tượng đã dùng CMND giả đưa vào Ngân hàng để giao dịch vay tiền, lĩnh tiền. Về phía Ngân hàng do sơ suất của một số cán bộ chỉ một chút lơ là, thiếu tinh thần trách nhiệm đã để cho đối tượng lợi dụng lừa đảo và chiếm đọat tài sản, khi phát hiện được thì đối tượng đã cao chạy xa bay. Ngân hàng thì mất vốn, cán bộ để xảy ra thì phải bồi thường vật chất, nặng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về phía Ngân hàng khi có vụ việc xảy ra phải có trách nhiệm báo với cơ quan pháp luật để điều tra truy tìm thủ phạm, mất nhiều thời gian và chi phí, ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh và uy tín của đơn vị, nội bộ mâu thuẫn nghi kị lẫn nhau.

Xuất phát từ thực tế trên và yêu cầu công tác phải đảm bảo tuyệt đối an toàn về tài sản của Nhà nước, của cơ quan và của chính bản thân người Giao dịch viên (GDV), Kiểm soát viên, bài viết này cung cấp một số kiến thức cơ bản về nhận biết thông thường đối với một số loại giấy tờ và chữ ký thật, giả khi thực hiện giao dịch với khách hàng với mục đích nhằm giới thiệu cho các GDV nhận biết về đặc điểm, hình dáng, kích thước, mầu sắc, dấu vết của một số loại giấy tờ như CMND, Hộ chiếu, tài liệu thật/giả và giám định chữ ký phục vụ cho công tác chuyên môn khi giao dịch với khách hàng. Từ đó giúp cho GDV có được kiến thức cơ bản phát hiện được các hành vi, thủ đoạn của tội phạm dùng giấy tờ giả để giao dịch, thế chấp, cầm cố nhằm chiếm đoạt tiền và tài sản của các cơ quan tổ chức, cá nhân và đưa ra các biện pháp phòng chống ngăn chặn.

Continue reading

MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ BẢO MẬT VÀ QUẢN LÝ RỦI RO CÁC GIAO DỊCH NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ

NGUYỄN ANH TUẤN – Viettinbank

1. Những hình thức gian lận mới và những biện pháp bảo mật lỗi thời

Một điểm yếu căn bản của mô hình bảo mật hiện đang được áp dụng phổ biến là đặt trọng tâm vào xác thực người dùng trước khi giao dịch trong khi bỏ qua việc xác thực từng giao dịch. Tuy nhiên, điểm yếu đó chưa được nhìn nhận một cách thấu đáo. Thay vì thừa nhận điểm yếu không thể chối cãi của mô hình bảo mật dựa trên xác thực người dùng, nhiều nơi lại đổ lỗi cho biện pháp thực hiện. Xác thực bằng mật khẩu được thay thế bằng xác thực hai yếu tố (two-factor authentication), thẻ từ được thay thế bằng thẻ chip để chống làm giả. Và quả thực, việc sử dụng biện pháp xác thực hai yếu tố hay tăng độ phức tạp của các token định danh đem lại tác dụng tức thì: gian lận giảm nhanh trong một thời gian ngắn. Nhưng hãy cảnh giác, những biện pháp cải tiến tạm thời đó không giúp chúng ta ngăn chặn và đẩy lùi gian lận trong môi trường thương mại điện tử.

Các phương pháp xác thực hai yếu tố hiện đang được quảng bá rộng rãi như giải pháp cho nạn đánh cắp mật khẩu trên Internet. Xác thực hai yếu tố có thể chặn đứng nạn đánh cắp mật khẩu nhờ yếu tố biến động theo thời gian nhưng không giúp chúng ta chống lại những cách tấn công kiểu mới như ngựa thành Troa hay phishing. Hiện nay đã bắt đầu xuất hiện những cách tấn công hệ thống xác thực người dùng rất khó chống đỡ, đó là:

– Người trung gian: Hacker dựng một website ngân hàng giả và lừa người dùng truy cập vào đó. Khi người dùng nhập mật khẩu (dù là mật khẩu có sử dụng xác thực hai yếu tố), hacker liền dùng mật khẩu để truy cập trang web thực sự. Người dùng sẽ không bao giờ nhận ra họ vào nhầm trang web giả trong khi hacker tranh thủ chèn thêm giao dịch gian lận cùng với giao dịch thật của khách hàng.

Continue reading

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ ĐẠI DIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

TƯỞNG DUY LƯỢNG –  Chánh Tòa Dân sự – Tòa án Nhân dân tối cao

Qua công tác giám đốc thẩm, chúng tôi nhận thấy có một số trường hợp thẩm phán xác định sai địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng như xác định ng ười đại diện của đương sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, hoặc có lúng túng trong việc xác định ai là người đại diện cho bên mất năng lực hành vi dân sự trong vụ án ly hôn hay họ có quyền khởi kiện xin ly hôn hay không? Đây là vấn đề phức tạp, trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ đề cập một vài vấn đề sau đây.

1. Xác định địa vị pháp lý của người đại diện trong quan hệ tố tụng dân sự

a. Đại diện theo pháp luật đối với cá nhân

Giám hộ và đại diện là hai chế định khác nhau, nh ưng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Ng ười giám hộ sẽ là một trong những ng ười có quyền đại diện theo pháp luật đối với ng ười đ ược giám hộ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) thì người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đ ương sự mà mình đại diện và theo quy định tại các khoản 4, 5 Điều 57 BLTTDS thì nếu đ ương sự là người chưa đủ 15 tuổi hoặc ng ười mất năng lực hành vi dân sự thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những ng ười này tại Tòa án do ng ười đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Vì vậy, ng ười đại diện theo pháp luật có toàn quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho ng ười được đại diện, kể cả về quan hệ nhân thân. Trong trường hợp này, trong bản án phải ghi rõ ng ười được đại diện là nguyên đơn, còn ng ười đã thực hiện hành vi khởi kiện vì lợi ích của nguyên đơn thì phải ghi họ là ng ười đại diện cho nguyên đơn, chứ không phải như một số bản án đã ghi người đại diện là nguyên đơn.

Continue reading

KHI CON NGƯỜI TRỞ THÀNH HÀNG HÓA

A.D

Theo công bố mới nhất từ Bộ Công An, VN hiện là địa bàn của các hoạt động đưa người di cư, xuất khẩu lao động trá hình cũng như nhiều đường dây mua bán phụ nữ, trẻ em, tế bào thai, nội tạng ra nước ngoài. Tính riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã có 193 vụ xảy ra, với hơn 430 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán. Như vậy, trung bình mỗi ngày, có ít nhất 2 phụ nữ, trẻ em bị những kẻ buôn người biến thành hàng hoá.

Gần 50% nạn nhân là người mù chữ

Từ năm 2005 đến nay, cả nước phát hiện gần 1.100 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em với 1.980 đối tượng tham gia, lừa bán 2.800 phụ nữ trẻ em. Tuy nhiên, đây mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm vì tình hình phụ nữ trẻ em bỏ nhà đi khỏi địa phương không rõ lý do, nghi bị buôn bán ngày càng gia tăng.
Theo Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐTBXH), có gần 50% phụ nữ, trẻ em bị bán qua biên giới không biết chữ, gần 40% mới học xong bậc tiểu học và 88% nạn nhân đều thuộc diện gia đình khó khăn.
Buôn bán phụ nữ, trẻ em diễn ra ở bốn tuyến rõ rệt: hai tuyến đầu diễn ra ở khu vực biên giới VN – Trung Quốc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng… chiếm 70% tổng số vụ trên toàn quốc) và biên giới VN – Campuchia (An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Hậu Giang…); tuyến thứ ba buôn bán quốc tế tới các địa điểm như Macau, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc và tuyến cuối cùng buôn bán trong đất liền, xuyên qua Campuchia và Lào đến Thái Lan và Malaysia.
Hoạt động buôn bán phụ nữ, trẻ em không chỉ diễn ra bằng đường bộ. Các tổ chức tội phạm trong nước và quốc tế còn hợp pháp hoá hoạt động qua việc tổ chức cho nạn nhân đi du lịch, hợp tác lao động… bằng đường hàng không và đường biển, sau đó đưa họ sang Hàn Quốc, Australia, Mỹ, Malaysia, Đài Loan… để ép buộc bán dâm.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN: GIẤY VÀ SỔ CÁI NÀO QUAN TRỌNG HƠN?

HỒNG THÚY – Bộ Tư pháp

Giấy chứng nhận chỉ là bản ghi nhận thông tin

Trước đó, do còn nhiều ý kiến khác nhau xung quanh các nội dung cơ bản của dự án Luật, vào ngày 13/9, tại TP Hồ Chí Minh, một cuộc họp tiếp tục thẩm tra các nội dung của dự án Luật đã được Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội tổ chức. Hiện tại, Bộ Tư pháp, Cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật này cũng đang khẩn trương hoàn thiện Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm tra của Uỷ ban Pháp luật.

Khẳng định việc xây dựng và ban hành dự án Luật ĐKBĐS là cần thiết, Bộ Tư pháp cho rằng, nếu được Quốc hội thông qua, Luật ĐKBĐS sẽ khắc phục  được rất nhiều bất cập, vướng mắc hiện nay của pháp luật hiện hành về đăng ký bất động sản thông qua các quy định nhằm đổi mới quản lý nhà nước về đăng ký bất động sản theo hướng tập trung, thống nhất vào một đầu mối ở Trung ương và địa phương. Luật này cũng sẽ là cơ sở để xây dựng một hệ thống cơ quan đăng ký bất động sản theo nguyên tắc “một cửa” để đăng ký tập trung các bất động sản và thống nhất cấp một loại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Continue reading

BÀN VỀ CÁC QUI ĐỊNH XỬ LÝ HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 1995 VÀ DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ SỬA ĐỔI {1}

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Khi một giao dịch dân sự không thoả mãn đầy đủ bốn điều kiện quy định tại Điều 131 của Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như Điều 113[2] của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) bị coi là vô hiệu và vấn đề đặt ra là phải xử lý hậu quả của giao dịch. Việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể tham gia. Bởi vậy, nếu không giải quyết thoả đáng sẽ không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể và dẫn đến sự mất ổn định trong giao lưu dân sự. Bài viết này xin bàn thêm về các quy định hiện hành xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu trong Bộ luật dân sự năm 1995 và dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) đang lấy ý kiến của đông đảo các tầng lớp nhân dân và sẽ được thông qua vào tháng 5 năm nay.

1. Về cơ cấu của phần Giao dịch dân sự

Phần Giao dịch dân sự được quy định từ Điều 130 đến Điều 147, Chương V, Phần thứ nhất của Bộ luật dân sự năm 1995 và từ Điều 112 đến Điều 129 của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi). Trong Bộ luật dân sự năm 1995, cơ cấu của phần Giao dịch dân sự là: Những vấn đề chung về giao dịch dân sự (Điều 130-135); các loại giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 136-144); thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 145); xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 146-147). Trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) hiện nay, cơ cấu này không thay đổi. Cụ thể: Những vấn đề chung về giao dịch dân sự (Điều 112-117); các loại giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 118-126); thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 127); xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 128-129). Xét một cách khái quát, bố cục của chương Giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) hợp lý . Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ lưỡng hơn, cơ cấu của phần này vẫn bộc lộ sự bất hợp lý.

Continue reading

GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU TƯƠNG ĐỐI VÀ VÔ HIỆU TUYỆT ĐỐI

TS. BÙI ĐĂNG HIẾU – Trường Đại học Luật Hà Nội

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý có ý thức thể hiện ý chí của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến nhất làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự. Để một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì giao dịch đó phải đáp ứng được một số các điều kiện do pháp luật quy định. Theo quy định tại Điều 131 BLDS thì một giao dịch dân sự được coi là có hiệu lực khi có hội tụ đồng thời bốn điều kiện sau:

1- Người tham gia giao dch có năng lc hành vi dân s;

2- Mc đích và ni dung ca giao dch không trái pháp lut, đạo đức xã hi;

3- Người tham gia giao dch hoàn toàn t nguyn;

4- Hình thc giao dch phù hp vi quy định ca pháp lut”.

Về nguyên tắc nếu một giao dịch dân sự không đáp ứng được một trong bốn điều kiện nêu trên thì bị coi là vô hiệu (theo quy định tại Điều 136 BLDS). Thế nhưng trong giới các nhà nghiên cứu luật dân sự của Việt Nam hiện nay đang tồn tại một vấn đề tranh luận về trình tự bị coi là vô hiệu của giao dịch khi thiếu một trong bốn các điều kiện đó: Thế nào là vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương đối? Giao dịch dân sự vi phạm vào điều kiện nào thì áp dụng trình tự vô hiệu tuyệt đối, còn vi phạm điều kiện nào thì bị áp dụng trình tự vô hiệu tương đối?

Continue reading

GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ – CHỨNG THỰC ĐIỆN TỬ

V.E.C Ngày nay, các hình thức giao dịch thông qua các phương tiện điện tử của các cá nhân và các tồ chức đang ngày càng trở nên phổ biến, các giao dịch bằng hình thức này được gọi là giao dịch điện tử. Giao dịch điện tử bao gồm rất nhiều hình thức phong phú và đa dạng như việc gửi, nhận và cung cấp dữ liệu, thông tin qua mạng, ký kết các hợp đồng, thanh toán điện tử, hóa đơn, chứng từ điện tử…

Sau khi Luật Giao dịch điện tử chính thức được nhà nước ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/03/2006, các giao dịch điện tử đã bước đầu được công nhận tính pháp lý ở Việt Nam. Luật giao dịch điện tử là một nền tảng pháp lý quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch điện tử nhất là thương mại điện tử, tuy nhiên nhà nước cần phải ban hành thêm các văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể cho việc thực thi cụ thể.

Một yếu tố rất quan trọng trong giao dịch điện tử là việc chứng thực xác nhận tính nguyên bản của dữ liệu và xác định danh tính người gửi bằng việc sử dụng chứng thực điện tử và chữ ký điện tử. Một số khái niệm cơ bản:

Continue reading

CÔNG CHỨNG VÀ MÔT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG

NGUYỄN TIẾN MẠNH, HÀNH CHÍNH 29A – ĐH LUẬT TP HCM (PHÒNG PHÁP CHẾ – NHTMCP ĐÔNG Á)

Hiện nay, hoạt động công chứng và pháp luật về công chứng ở nước ta đang là một vấn đề nóng, còn nhiều bất cập, chưa thực sự rõ ràng và hoàn thiện. Gây không ít khó khăn cho người dân cũng như các chủ thể khác trong việc tham gia quan hệ pháp luật. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đưa ra một số nhìn nhận và đánh giá về vấn đề trên, sự đánh giá và kiến nghị đó sẽ không tránh khỏi những thiếu sót rất mong được sự góp ý kiến của đọc giả.

Ở các nước tiên tiến trên thế giới, đã từ lâu không còn khái niệm công chứng (PUBLIC notary) mà thay vào đó là các phòng công chứng tư nhân (lẽ ra phải gọi là “tư chứng” mới đúng nhưng hiện từ tiếng Việt chưa có từ tương đương).

Một số nước như Pháp (Pháp có 60 triệu dân nhưng có tới 4.500 Văn phòng công chứng – VPCC và 8.000 công chứng viên – CCV); Đức; Mỹ, công chứng tư đã có cách đây hàng trăm năm và đều có con dấu quốc huy, trên còn in cả mã số của công chứng viên. Ở châu Âu, CCV là tự do. Các nước XHCN cũ cũng chuyển qua mô hình này.

Luật sư công chứng, chứng thực các giấy tờ, các giao dịch trong xã hội là một thông lệ phổ biến trên thế giới.

Continue reading

ĐẠI DIỆN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
—————————————-

Đề tài : ĐẠI DIỆN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Giáo viên hướng dẫn :TS. NGÔ HUY CƯƠNG
Sinh viên thực hiện : CAO VĂN TUÂN
Lớp : K50 B-Luật học

Hà Nội-5/2008

Lời cảm ơn
Tôi xin cảm ơn cha mẹ tôi, bạn bè cùng lớp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập, xin cám ơn tập thể lớp k50 B một tập thể học tốt , chia sẻ , giúp đỡ tôi hoàn thành bài viết này. Xin cám ơn thầy Ngô Huy Cương người đã tạo hứng thú và niềm say mê học hỏi nghiên cứu cho chúng tôi.

Phạm vi bài viết

Bài viết không chủ đích làm rõ tất cả các vấn đề về đại diện mà chỉ đi sâu vào làm rõ vấn đề đại diện theo uỷ quyền. Việc giao kết, xác lập, thực hịên hợp đồng của người uỷ quyền và người đại diện. Bài viết đi vào làm rõ quan hệ đại diện trong giao kết hợp đồng thì nó sẽ phát sinh những hậu quả pháp lý gì, trách nhiệm của các bên liên quan ra sao. Bài viết cũng giúp người ta hiểu được địa vị pháp lý của mình là ở đâu trong quan hệ đại diện. Bài viết không nghiên cứu vấn đề đại diện theo pháp luật: đại diên cho người chưa thành niên, đại diện theo pháp luật của một pháp nhân.

Continue reading

GÓP Ý CHO DỰ THẢO LUẬT ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

LS. NGUYỄN VĂN HẬU – HỘI LUẬT GIA TPHCM

I) Những vấn đề trao đổi chủ yếu

1) – Đối tượng đăng ký:

Bổ sung trường hợp quy định phải  đăng ký “Thế chấp nhà ở, công trình xây dựng” và sửa đổi “thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” Trong khoản 1 điều 3 của dự thảo luật đăng ký giao dịch bảo đảm, nhằm cụ thể giao dịch bảo đảm này phải đăng ký và thống nhất với quy định tại khoản 3 điều 38 của dự thảo.z
Khoản 1 Điều 323 BLDS quy định: “Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này”. Và khoản 1 Điều 318 BLDS quy định chỉ gồm 7 biện pháp bảo đảm là: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, kỹ cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp. Nhưng các trường hợp b, c, d, đ, e và g của dự thảo đều không phải là giao dịch bảo đảm theo quy định tại Điều 318 của Bộ luật Dân sự và cũng không có tính chất của giao dịch bảo đảm vì chúng không nhằm bảo đảm cho bất kỳ nghĩa vụ nào mà chỉ là nhằm bảo đảm cho bên có quyền ưu tiên thanh toán khi xảy ra sự kiện bên có nghĩa vụ sử dụng các tài sản là đối tượng của các giao dịch đó làm tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ của mình. Đề nghị xem xét việc gọi tên các giao dịch này cũng như gọi tên việc đăng ký các giao dịch này để tránh xung đột về khái niệm với Bộ luật Dân sự và tính chất của giao dịch bảo đảm.

Continue reading

CÓ CÒN QUYỀN KHỞI KIỆN?

THỤY CHÂU

Cha mẹ của bà Phạm Thị Kiều (huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh) mất mà không để lại di chúc. Cụ ông mất năm 1950. Cụ bà mất năm 1999. Di sản họ để lại gồm ba phần đất. Phần một có diện tích hơn 3.300 m2. Phần hai có diện tích gần 4.800 m2. Phần ba là 40 cao đất (chừng 4.000 m2).

Phần một lại có hai phần nhỏ. Trong đó, chừng 800 m2 đã được cấp “giấy đỏ” vào ngày 2-7-1993 (khi Luật Đất đai năm 1987 còn hiệu lực). Ông L. (anh ruột của bà Kiều) đứng tên trên giấy. Có một căn nhà ngói trên phần đất này. Phần nhỏ còn lại chưa được cấp “giấy đỏ” nhưng ông L. cũng đứng tên trong sổ địa chính.

Phần đất thứ hai thuộc quy hoạch. Khi nhận gần 100 triệu đồng tiền đền bù, ông L. có chia cho mỗi nguyên đơn gần chín triệu đồng và giữ lại hơn 63 triệu đồng.

Riêng diện tích 40 cao đất thì ông L. đã bán vào năm 1990.

Cho rằng ông L. không thể hưởng di sản một mình mà phải chia thành bốn phần bằng nhau, bà Kiều cùng hai đồng nguyên đơn khác kiện ông L. ra tòa.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 175/KHXX CỦA TANDTC VỀ THÔNG BÁO VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH PHÁP LUẬT HẾT HIỆU LỰC PHÁP LUẬT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
******

Số: 175/KHXX
V/v: thông báo văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật hết hiệu lực thi hành

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2006

Kính gửi:

– Các tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
– Các tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Ngày 10/8/1996, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên ngành số 03/TTLN hướng dẫn áp dụng pháp luật theo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự.

Tại mục 2 Phần III “Việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu” có hướng dẫn như sau:

“III. Việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 40/KHXX NGÀY 6/4/2007 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HƯỚNG DẪN THỤ LÝ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỌ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
—–

Số: 40/KHXX

Hà Nội, ngày 06 tháng 4 năm 2007

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——-

CÔNG VĂN

HƯỚNG DẪN “THỤ LÝ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỌ”

Hụi, họ, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) được quy định tại Điều 479 Mục 4 “Hợp đồng vay tài sản” Chương XVIII “Hợp đồng dân sự thông dụng” của Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS).

Để thi hành Điều 479 của BLDS, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu, phường (sau đây viết tắt là Nghị định số 144).

Theo quy định tại Điều 31 của Nghị định số 144, thì “trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ được giải quyết bằng thương lượng hòa giải hoặc theo yêu cầu của một hoặc nhiều người tham gia họ, tranh chấp đó được giải quyết tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”; do đó, kể từ ngày Nghị định số 144 có hiệu lực thi hành (22/12/2006), nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ, thì Tòa án thụ lý giải quyết.

Tòa án nhân dân tối cao lưu ý một số điểm khi thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ như sau:

Continue reading

NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY

Trong công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ phần ở Việt Nam, người đại diện pháp lý của chúng thường là chủ tịch hội đồng quản trị hay tổng giám đốc (giám đốc), hoặc là chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc. Việc chọn lựa như thế cho công ty có lợi hay hại gì?

Vai trò của người đại diện pháp lý

Công ty phải có người đại diện pháp lý bởi vì nó là… con ma. Đó là “sự mô tả chân thật” nhất về công ty. Thật vậy, ta không thể sờ, không thấy được nó; giống như ta có thể thấy ông A hay bắt tay bà B. Nó là một “thực thể” do luật pháp đặt ra và do đó có thể đi kiện và bị kiện.

Continue reading

VỀ VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN – KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ – ĐHL HÀ NỘI

Trên nguyên tắc, pháp nhân ngân hàng thương mại vì không phải là một thực thể vật chất nên chỉ có thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ của nó thông qua một thể nhân có tư cách là đại diện của pháp nhân. Để lựa chọn thể nhân có tư cách là người đại diện hợp pháp của pháp nhân ngân hàng thương mại, thông thường có hai phương thức: Một là, điều lệ của pháp nhân phải chỉ định rõ ai sẽ có quyền thay mặt pháp nhân ngân hàng thương mại thực hiện các quyền và nghĩa vụ của nó trong các quan hệ pháp luật với chủ thể khác; hai là, người được điều lệ của pháp nhân ngân hàng thương mại chỉ định làm đại diện có thể lập văn bản uỷ quyền cho người khác thay mình thực hiện các hành vi đại diện.

Continue reading