THỐNG KÊ VÀ BÁO CHÍ

image GS. NGUYỄN VĂN TUẤN – Viện Nghiên cứu y khoa Garvan, Úc

Giới báo chí Việt Nam có lẽ là một trong những nhóm thích dùng thống kê trong các bản tin nhất thế giới. Mở đầu cho bài viết “Tham nhũng học thuật”, phóng viên viết “Chỉ riêng vụ ‘luộc’ hai cuốn sách Nguyên lý bảo hiểm và Tài chính quốc tế của trường Đại học Kinh tế TPHCM, đã có tới 7 giảng viên của khoa Tài chính Ngân hàng trường Đại học Công nghiệp TPHCM can dự (chiếm 32% tổng số 22 giảng viên của khoa)”.

Mới đây, trong loạt bài phản ảnh về những trăn trở và khó khăn của du học sinh khi về làm việc ở Việt Nam, phóng viên cho biết: “83% du học sinh về nước không hài lòng với lương, thưởng”. Viết về nguyên nhân tử vong ở trẻ em, báo khẳng định: “50% trẻ em tử vong do đuối nước”. Có phóng viên còn chạy một cái tít chính xác đến 2 số thập phân như “31,48% sinh viên chưa nắm được thế nào là nghiên cứu khoa học”. Ít thấy báo chí nào trên thế giới chịu khó trình bày nhiều số phần trăm, mà có chính xác đến số lẻ, như báo chí ở nước ta.

Những con số thống kê thường được sử dụng để tạo sự quan tâm của công chúng về những vấn đề xã hội. Những con số thống kê vừa liệt kê trên được thu thập và tính toán với mục đích nói cho chúng ta biết rằng tình trạng “đạo sách” lan tràn trong giới khoa bảng, nhiều sinh viên chẳng biết nghiên cứu khoa học là gì, đa số du học sinh không hài lòng với lương bổng ở trong nước, và quan trọng hơn là đuối nước là nguyên nhân gây nên 50% tử vong ở trẻ em.

Những vấn đề mà phóng viên dùng số thống kê để nêu đúng là rất quan trọng, và công chúng khó có thể bỏ qua được. Nhìn như thế, chúng ta thấy con số thống kê quả là đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục công chúng về các vấn đề xã hội.

Continue reading →

BÀN VỀ XÂY DỰNG HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO CÁC TỔ CHỨC – HOẠT ĐỘNG VÀ GIẢNG DẠY – NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA CÁC ĐƠN VỊ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC LUẬT CÔNG LẬP

GS. TS. LÊ CẢM – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật của Nhà nước, của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) và của Khoa Luật, xuất phát từ thực tiễn công tác quản lý trong suốt 8 năm qua (2003 – 2008) trên cương vị là Quyền Chủ nhiệm (2000-2003) rồi Chủ nhiệm Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN (2003-2008), giả bài viết bàn về việc xây dựng hành lang pháp lý cho tổ chức-hoạt động và giảng dạy-nghiên cứu khoa học của các đơn vị giáo dục Đại học Luật công lập để từ nêu lên những cơ sở khoa học-thực tiễn của việc ban hành các văn bản pháp qu y trong việc tổ chức-hoạt động và giảng dạy-nghiên cứu khoa học của một đơn vị giáo dục Đại học Luật công lập, đồng thời chỉ ra những định hướng cơ bản để hoàn thiện việc xây dựng hành lang pháp lý cho các mặt công tác này để góp phần giúp cho các đơn vị đào tạo ngành Luật ở nước ta cùng nhau nghiên cứu-tham khảo kinh nghiệm.

1. Đặt vấn đề

1. Việc phân tích các công trình khoa học đã được công bố trên các trang sách báo pháp lí của nước ta từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến nay (đặc biệt là từ sau khi có Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”) [1] cho phép khẳng định rằng, thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) và thành công của chiến lược cải cách tư pháp (CCTP) ở Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của việc tổ chức-hoạt động và giảng dạy-nghiên cứu khoa học (NCKH) trong hệ thống giáo dục Đại học (GDĐH) Luật nói chung. Chính vì vậy, trong giai đoạn phát triển của Nhà nước và xã hội Việt Nam đương đại việc nghiên cứu những vấn đề về xây dựng hành lang pháp lý (HLPL) cho việc tổ chức-hoạt động và giảng dạy-NCKH trong các đơn vị sự nghiệp GDĐH Luật công lập của nước ta (dĩ nhiên ở đây chỉ bàn về các cơ sở đào tạo (ĐT) Luật có tư cách pháp nhân theo tinh thần Nghị định số 43/NĐ-CP ngày  25/4/2006 của Chính phủ) [2], để từ đó đưa ra mô hình lý luận (MHLL) của các quy định tương ứng có ý nghĩa rất quan trọng trên ba (03) bình diện chủ yếu (lập pháp, thực tiễn và lý luận) dưới đây:

Continue reading →

NHU CẦU VÀ VẤN ĐỀ ĐIỀU KHIỂN HÀNH VI

NGUYỄN BÁ MINH

Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý của con người, nó chi phối một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống: Trong quản lý, kinh doanh, giáo dục… Trong tâm lý học nhu cầu được nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới. Ở đây tôi xin đề cập tới vấn đề nhu cầu trong mối quan hệ với việc điều khiển hành vi của con người.

Tại sao con người lại có hành động này chứ không phải là hành động khác trong một số hoàn cảnh? Hành động được hình thành như thế nào? Yếu tố gì quyết định đến hành vi của con người?

Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng là nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của bản thân. Nhưng nhu cầu với tư cách là một điều kiện bên trong, là trạng thái thiếu thốn của cơ thể – trạng thái này tự nó không gây ra bất kỳ hoạt động nào có định hướng nhất định. Chức năng của nó chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng sinh lý tương ứng và kích thích chung đối với lĩnh vực vận dụng biểu hiện thành những cử động tìm tòi không có phương hướng. Chỉ khi nào gặp được vật (đối tượng ) đáp ứng thì khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động. Sự việc nhu cầu gặp được đối tượng là sự việc đặc biệt lúc đó như cầu được đối tượng hóa làm cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra từ thế giới xung quanh. Chính lúc này nhu cầu có ý nghĩa hướng dẫn hành vi hoạt động của chủ thể:

Con người là chủ thể của hoạt động, của hành vi. Con người thực hiện: hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu được ý thức và hành vi này được thực hiện trên những khách thể nhất định. Muốn hướng con người vào một hành vi nào đó phải nghiên cứu hệ thống nhu cầu của người đó, giúp họ ý thức được nhu cầu, tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa nhu cầu và đối tượng hay nói cách khác là phải tìm cách đối tượng hóa nhu cầu của chủ thể.

Continue reading →

NHU CẦU và vấn đề điều khiển hành vi

NGUYỄN BÁ MINH

Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý của con người, nó chi phối một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống: Trong quản lý, kinh doanh, giáo dục… Trong tâm lý học nhu cầu được nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới. Ở đây tôi xin đề cập tới vấn đề nhu cầu trong mối quan hệ với việc điều khiển hành vi của con người.

Tại sao con người lại có hành động này chứ không phải là hành động khác trong một số hoàn cảnh? Hành động được hình thành như thế nào? Yếu tố gì quyết định đến hành vi của con người?

Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng là nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của bản thân. Nhưng nhu cầu với tư cách là một điều kiện bên trong, là trạng thái thiếu thốn của cơ thể – trạng thái này tự nó không gây ra bất kỳ hoạt động nào có định hướng nhất định. Chức năng của nó chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng sinh lý tương ứng và kích thích chung đối với lĩnh vực vận dụng biểu hiện thành những cử động tìm tòi không có phương hướng. Chỉ khi nào gặp được vật (đối tượng ) đáp ứng thì khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động. Sự việc nhu cầu gặp được đối tượng là sự việc đặc biệt lúc đó như cầu được đối tượng hóa làm cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra từ thế giới xung quanh. Chính lúc này nhu cầu có ý nghĩa hướng dẫn hành vi hoạt động của chủ thể:

Con người là chủ thể của hoạt động, của hành vi. Con người thực hiện: hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu được ý thức và hành vi này được thực hiện trên những khách thể nhất định. Muốn hướng con người vào một hành vi nào đó phải nghiên cứu hệ thống nhu cầu của người đó, giúp họ ý thức được nhu cầu, tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa nhu cầu và đối tượng hay nói cách khác là phải tìm cách đối tượng hóa nhu cầu của chủ thể.

Continue reading →

VÀI CHIA SẺ VỀ XÂY DỰNG NHÓM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

PHAN KIM NGỌC

Trong điều kiện năng lực nghiên cứu và phát triển còn thấp, tính liên kết và cạnh tranh khoa học chưa cao, kinh phí nghiên cứu khoa học còn ít ỏi và dàn trải như ở Việt Nam, mô hình nghiên cứu khoa học (NCKH) theo nhóm sẽ có tác dụng khuyến khích phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo ra những bước đột phá trong một số lĩnh vực cần tập trung phát triển. Vậy làm thế nào để xây dựng được nhóm NCKH mạnh? Dưới đây, tác giả chia sẻ một số ý kiến và kinh nghiệm về vấn đề này.

KHÁI NIỆM VỀ NHÓM NCKH

Nhóm NCKH không giống với một cơ quan hành chính (nhà nước), cũng không giống với cấu trúc nghiệp đoàn. Nhóm làm việc trên tinh thần không có lương cơ bản. Các khoản thu, chi của nhóm phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phụ thuộc vào các đề tài/dự án khoa học. Do vậy, cấu trúc của nhóm cần gọn nhẹ, linh hoạt tối đa.

Nhóm NCKH có vai trò như một yếu tố có tính chất quyết định tới hình thức, quy mô và chất lượng của một hoạt động khoa học, công nghệ nào đó. Đồng thời là nền tảng quan trọng bậc nhất trong đào tạo, nhất là đào tạo sau đại học (đối với các trường đại học). Trong đào tạo, nhóm NCKH chính là môi trường ươm tạo người tài, mảnh đất sinh sôi nảy nở các thủ lĩnh khoa học trong tương lai. Bên cạnh đó, nhóm NCKH còn là đơn vị cơ sở cho các hoạt động chuyển giao công nghệ, đặc biệt thuận lợi đối với công nghệ cao.

Nhìn chung, có thể hiểu nhóm NCKH là một tập thể các nhà khoa học và học thuật có năng lực chuyên môn tốt, có tâm huyết, đạo đức nghề nghiệp, sự chân thật trong công việc (honesty), có khát vọng định hướng cùng một mục đích, một lĩnh vực chuyên môn nhất định; thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo tại một đơn vị hạt nhân (hay xoay quanh đơn vị hạt nhân đó); được dẫn dắt bởi một (hay một vài) nhà nghiên cứu có uy tín khoa học, đạo đức và đồng thời phải có khả năng tổ chức, giao tiếp, tập hợp…; có văn hóa nhóm riêng biệt. Nói một cách khái quát, mọi thành quả của nhóm phải xuất phát từ năng lực nội sinh.

Continue reading →

ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN

NGUYỄN NGỌC BÍCH

Trước các tổn thất vô hình và hữu hình mà xã hội đã chịu, vấn đề trách nhiệm cá nhân đang được công luận nêu lên. Qua hai lý do trình bày dưới đây, độc giả có thể chia sẻ lo ngại của tôi rằng vấn đề này còn phải mất nhiều năm nữa mới trở thành hiện thực.

Tâm lý cá nhân

Ta thấy ở trẻ em khoảng một tuổi có hai biểu hiện xuất hiện song song và rõ nét ấy là sự đòi hỏi (muốn hết cái này đến cái khác) và sự xấu hổ (bị mẹ hay anh chị lêu lêu). Như là một sự sắp đặt của tạo hóa trong tâm lý chúng ta cái sau kìm hãm cái trước. Sự đòi hỏi tạo nên tính tham lam sau này, còn sự xấu hổ là cội nguồn của trách nhiệm cá nhân. Nói về cái sau ta thường nghĩ nó là một cái, một thứ nằm trong lĩnh vực lý trí, nhưng thực ra nó là một tình cảm và khi bị đụng đến nó sẽ gây đau đớn trong lòng chúng ta. Nó là một sự tổn thương tình cảm và do đó là một sự trả giá trong cuộc đời mà ta phải chịu đựng để được thăng bằng về tâm lý.

Tính chất tình cảm của trách nhiệm cá nhân được nêu lên ở đây là vì nếu có dịp so sánh ta với người ở những nước khác, bạn sẽ nhận ra rằng, người Việt chúng ta hiền hòa. Quả vậy, chúng ta chiến đấu khốc liệt với ngoại bang, nhưng giữa chúng ta với nhau – lúc bình thường – chúng ta nhường nhịn, chín bỏ làm mười. Bởi thế khi phải nêu ra trách nhiệm cá nhân của một ai thì chúng ta thường ngại ngùng vì sợ làm mất lòng họ. Sự ngại ngần đó gây ra một hệ quả là khi không chỉ ra lỗi của người khác thì ta cũng ít nhận lỗi của mình để mà nói đến trách nhiệm cá nhân.

Tình cảm ấy lại được thúc đẩy bởi hoàn cảnh kinh tế. Đã có một thời gian dài chúng ta sống trong cảnh thiếu thốn về vật chất, ở đó tài sản chung và riêng lẫn lộn. Thí dụ chủ của một biệt thự phải nhận hai ba gia đình vào ở chung. Trong cảnh thiếu thốn người ta không ngần ngại chia sẻ cái mình có, do vậy ít có ai tranh giành cái này là của tôi, cái kia là của anh để có một sự rạch ròi về mình và người trong ý nghĩ.

Continue reading →

VĂN HOÁ KINH DOANH VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP

NGUYỄN HOÀNG ÁNH

Nếu văn hoá là nền tảng tinh thần đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, thì văn hoá kinh doanh (VHKD) chính là nền tảng tinh thần, là linh hồn cho hoạt động kinh doanh của một quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế như hiện nay, muốn đảm bảo sự phát triển bền vững cho hoạt động kinh doanh của quốc gia, hơn lúc nào hết, chúng ta cần có sự tìm hiểu và nghiên cứu thấu đáo về lĩnh vực này, để có thể góp phần định hướng đúng đắn cho kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm đến vai trò của văn hoá trong kinh doanh. Có nhiều cách hiểu khác nhau về VHKD, chủ yếu tập trung hai xu hướng: xu hướng thứ nhất, coi chủ thể của VHKD chính là các doanh nghiệp, do đó VHKD là văn hoá doanh nghiệp (corporate culture) hay còn gọi là văn hoá tổ chức (organizational culture). Xu hướng thứ hai, đang ngày càng phổ biến hơn khi coi kinh doanh là hoạt động có liên quan đến mọi thành viên trong xã hội, nên VHKD là một phạm trù ở tầm cỡ quốc gia, còn văn hoá doanh nghiệp chỉ là một thành phần trong VHKD. Qua xem xét, nghiên cứu các định nghĩa về VHKD của một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, trong khuôn khổ bài viết này, xin đưa ra định nghĩa: "VHKD là sự thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc. Nó bao gồm các nhân tố rút ra từ văn hoá dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng vào hoạt động kinh doanh của mình và cả những giá trị, triết lý… mà các thành viên này tạo ra trong quá trình kinh doanh". Định nghĩa này tương đối bao quát và rõ ràng, theo đó, văn hoá tổ chức hay văn hoá doanh nghiệp sẽ chỉ được nghiên cứu với tư cách là một thành phần trong VHKD của một quốc gia.

Nhận diện VHKD cổ truyền Việt Nam

Trong suốt lịch sử phát triển của nước ta, hoạt động kinh tế phổ biến là sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp. Trong thời kỳ phong kiến, tư tưởng "trọng nông ức thương" rất phổ biến, chính vì vậy mà rất ít người giỏi về kinh doanh. Lương Văn Can, một nhà cách mạng, đồng thời là một người thầy lỗi lạc trong giới doanh thương Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, khi phân tích nguyên nhân không phát triển của thương mại nói riêng và của kinh tế Việt Nam nói chung, đã đưa ra 10 điểm. Đó là:

Continue reading →

CON NGƯỜI MỚI VIỆT NAM: VỪA CÁCH MẠNG VỪA KHOA HỌC

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

"Con người mới Việt Nam: Vừa cách mạng vừa khoa học" – Đó là phẩm chất, đồng thời cũng là năng lực cần phát huy. Để thực hiện được mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, chúng ta phải kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thường xuyên đổi mới tư duy, nâng cao trình độ khoa học và công nghệ. Với nội dung chủ đạo này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước, đã có bài viết với tựa đề "Đẩy nhanh việc ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật" đăng trên Tạp chí Hoạt động Khoa học số 10/1986. Tạp chí xin trân trọng giới thiệu phần III của bài viết đã đăng gần 20 năm trước, song vẫn mang tính lý luận sâu sắc, tính thời sự và thuyết phục.

Tôi muốn nhấn mạnh: Trong những nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp để đưa đất nước tiến lên, con người là nhân tố quan trọng bậc nhất, là nhân tố quyết định.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) trước hết phải có con người XHCN". Chúng ta sẽ tiến lên, sẽ chiến thắng trong cuộc thách thức mới của thời đại, chủ yếu là bằng sức mạnh sáng tạo của con người Việt Nam XHCN.

Bởi vì, đối tượng của sự thách thức chính là con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, và người đứng ra gánh vác nhiệm vụ phải giành thắng lợi trong cuộc thách thức ấy cũng không phải là ai khác, mà chính là con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Con người luôn đứng ở trung tâm của mọi quá trình lịch sử, trên đất nước ta đã như vậy, ở các nước khác trên thế giới và trong toàn bộ lịch sử loài người cũng như vậy.

Con người Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã sáng tạo ra lịch sử của dân tộc, làm nên những sự tích phi thường, xây dựng nên truyền thống vẻ vang trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Con người ấy sớm có tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nước nồng nàn, chí khí đấu tranh bất khuất, dũng cảm và thông minh trong chiến đấu, cần cù và sáng tạo trong lao động.

Continue reading →

ĐẠO ĐỨC KHOA HỌC

NGUYỄN TUẤN

Đạo đức khoa học là một vấn đề quan trọng và cơ bản trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học (NCKH), thu hút sự quan tâm, chú ý không chỉ của giới khoa học mà của toàn xã hội. Tuy nhiên, các chuẩn mực đạo đức khoa học cụ thể là gì thì không dễ có câu trả lời.

Theo tác giả, các tiêu chuẩn đạo đức khoa học được tóm lược qua 6 nguyên tắc: Thành thật tri thức, cẩn thận, tự do tri thức, cởi mở – công khai, ghi nhận công trạng thích hợp, trách nhiệm trước công chúng.

Mỗi ngành, nghề trong xã hội, nhất là những nghề có liên quan đến sự an sinh của con người hay có ảnh hưởng đến một quần thể lớn, đều có những chuẩn mực về đạo đức hành nghề. Chẳng hạn như nghề y có các tiêu chuẩn về y đức mà bất cứ sinh viên y khoa nào mới ra trường đều phải “nằm lòng”, hay trong giới luật sư có những quy ước đạo đức cho việc hành nghề. Mới đây, trước những “lem nhem” của một số thầy cô giáo, có người kêu gọi nên phát triển những tiêu chuẩn đạo đức cho nghề sư phạm. Hoạt động khoa học (HĐKH) nói chung và NCKH nói riêng có ảnh hưởng lớn đến xã hội và con người, cho nên các chuẩn mực đạo đức đóng một vai trò rất cơ bản đối với các nhà khoa học.

Chuẩn mực đạo đức không phải là luật pháp, mà là những quy ước hay điều lệ về hành xử được các thành viên trong ngành nghề chuyên môn chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc hành nghề. Các quy ước này cho phép, nghiêm cấm, hay đề ra thủ tục về cách hành xử cho các tình huống khác nhau. Trong HĐKH, hai chữ “hành xử” ở đây bao gồm các lĩnh vực chuyên biệt như thí nghiệm, xét nghiệm, giảng dạy và huấn luyện, phân tích dữ liệu, quản lý dữ liệu, chia sẻ dữ liệu, xuất bản ấn phẩm, trình bày công trình nghiên cứu trước công chúng và quản lý tài chính.

Continue reading →

TA LÀ SẢN PHẨM CỦA CHÍNH MÌNH

image GIẢN TƯ TRUNG

Định nghĩa lại sự học luôn là khởi nguồn cho mọi cuộc cách mạng về giáo dục. Do đó, điều quan trọng nhất hiện nay là nỗ lực tạo nhận thức cho người học để mỗi người hiểu rằng, họ mới chính là "ông chủ" của quá trình giáo dục, là "nhà quản trị" sự học của bản thân, với tâm thế: "Ta là sản phẩm của chính mình!".

Thêm một góc nhìn về giáo dục

Con người là sản phẩm của giáo dục. Hệ thống giáo dục bao gồm nhiều nhân tố, từ chính sách của nhà nước, đến nhà trường, nhà giáo… và gần gũi nhất là từ gia đình và các tác nhân ngoài xã hội.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy, đồng thời với quá trình chịu tác động của hệ thống giáo dục này, con người còn là "sản phẩm" của chính mình, của một quá trình "giáo dục tự thân" . Nghĩa là, người học vừa là nguyên liệu, vừa là sản phẩm và cũng lại là trung tâm của cả quá trình giáo dục. Người học cần phải biết nắm lấy sự chủ động cao nhất trong toàn bộ quá trình này. Và mọi sự đổi thay, mọi sự cải cách hay mọi cuộc cách mạng về giáo dục đều bắt đầu từ sự học, chính xác là bắt đầu từ "cách mạng sự học" của bản thân mỗi người.

Một số người vẫn bảo rằng, rất nhiều người trong số chúng ta là những sản phẩm bị "lỗi" của nền giáo dục Việt Nam. Nhưng có một thực tế khác: đâu phải tất cả những ai thụ hưởng nền giáo dục trong nước đều bị "lỗi". Vẫn có rất nhiều người thành nhân và thành tài mà chưa hề thụ hưởng một nền giáo dục nào khác ngoài những điều đã được học, được dạy trong nhà trường Việt Nam. Tìm hiểu những kinh nghiệm của họ, sẽ rất dễ nhận ra, điểm khác nhau chính là ở nhận thức về sự học và quá trình tự học, tự rèn luyện, tự thân vận động của họ. Phải chăng, đã đến lúc người học cần ý thức được vai trò "làm chủ" của mình trong toàn bộ quá trình giáo dục – mà ở đó mọi tác nhân khác như nhà nước, nhà trường hay nhà giáo… chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung và cung cấp thông tin, kiến thức cho người học để họ tự hoàn thành mục tiêu học tập của chính mình?

Continue reading →

“GIẢ THUYẾT” VÀ “GIẢ THIẾT” TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

image VŨ CAO ĐÀM

“Giả thuyết” và “giả thiết” là hai khái niệm có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau trong nghiên cứu khoa học (NCKH). Đáng tiếc, trong thực tế vẫn có nhiều nhà khoa học còn sử dụng lẫn lộn hai khái niệm này. Trong bài viết dưới đây, tác giả mong muốn làm rõ sự phân biệt về ý nghĩa và cách sử dụng trong NCKH, góp phần phát triển những cơ sở lý thuyết về phương pháp luận và kỹ năng NCKH ở nước ta.

Một hiện trạng đáng báo động

Một vị chủ nhiệm khoa của một trường đại học lớn ở Hà Nội, đồng thời là chủ tịch một hội đồng khoa học và đào tạo cấp khoa, có chức danh khoa học, luôn lớn tiếng mắng đồng nghiệp khi họ nêu giả thuyết cho nghiên cứu của mình. Vị chủ nhiệm khoa này nói: “NCKH của các anh cần gì phải có giả thuyết” (!). Tại một viện nghiên cứu khác ở Hà Nội, ban lãnh đạo của viện đã phân vân, có nên yêu cầu các nghiên cứu sinh và học viên cao học viết giả thuyết trong luận văn của mình nữa không, vì các vị cho rằng, viết thì thừa, không viết thì thiếu!

ở một khoa khác trong một trường đại học lớn, một vị phó giáo sư bắt mọi luận văn, luận án (thạc sỹ và tiến sỹ) phải viết giả thuyết dưới dạng “Nếu …, thì …” một cách rất khô cứng, chẳng hạn, bản luận văn thạc sỹ do chính ông hướng dẫn, đã viết “giả thuyết” thành “giả thiết”, và được viết như sau: “Nếu có được biện pháp quản lý chất lượng đào tạo thích hợp, thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo nguồn nhân lực”.

Hầu hết văn bản hướng dẫn viết luận văn sau đại học của nhiều trường đại học ở nước ta hiện nay không đòi hỏi và hướng dẫn các tác giả phải trình bày “giả thuyết”. Khảo sát tại một cơ sở đào tạo sau đại học của ngành y, chúng tôi được các thầy /cô khẳng định: Nghiên cứu của ngành y không cần giả thuyết. Đến khi chúng tôi đưa cho các vị xem cuốn sách của GS, BS Tôn Thất Tùng, trong đó, ông luôn nói: “Tôi đặt giả thuyết này…”, “Tôi đặt giả thuyết kia…” thì các vị mới “ngã ngửa” ra rằng, trong nghiên cứu của ngành y, đến bác sỹ Tôn Thất Tùng, cũng đã phải viết giả thuyết.

Continue reading →

“GIẢ THUYẾT” VÀ “GIẢ THIẾT” trong nghiên cứu khoa học

PGS.TS. VŨ CAO ĐÀM – Viện Chính sách và Quản lý (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)

“Giả thuyết” và “giả thiết” là hai khái niệm có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau trong nghiên cứu khoa học (NCKH). Đáng tiếc, trong thực tế vẫn có nhiều nhà khoa học còn sử dụng lẫn lộn hai khái niệm này. Trong bài viết dưới đây, tác giả mong muốn làm rõ sự phân biệt về ý nghĩa và cách sử dụng trong NCKH, góp phần phát triển những cơ sở lý thuyết về phương pháp luận và kỹ năng NCKH ở nước ta.

Một hiện trạng đáng báo động

Một vị chủ nhiệm khoa của một trường đại học lớn ở Hà Nội, đồng thời là chủ tịch một hội đồng khoa học và đào tạo cấp khoa, có chức danh khoa học, luôn lớn tiếng mắng đồng nghiệp khi họ nêu giả thuyết cho nghiên cứu của mình. Vị chủ nhiệm khoa này nói: “NCKH của các anh cần gì phải có giả thuyết” (!). Tại một viện nghiên cứu khác ở Hà Nội, ban lãnh đạo của viện đã phân vân, có nên yêu cầu các nghiên cứu sinh và học viên cao học viết giả thuyết trong luận văn của mình nữa không, vì các vị cho rằng, viết thì thừa, không viết thì thiếu!

ở một khoa khác trong một trường đại học lớn, một vị phó giáo sư bắt mọi luận văn, luận án (thạc sỹ và tiến sỹ) phải viết giả thuyết dưới dạng “Nếu …, thì …” một cách rất khô cứng, chẳng hạn, bản luận văn thạc sỹ do chính ông hướng dẫn, đã viết “giả thuyết” thành “giả thiết”, và được viết như sau: “Nếu có được biện pháp quản lý chất lượng đào tạo thích hợp, thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo nguồn nhân lực”.

Hầu hết văn bản hướng dẫn viết luận văn sau đại học của nhiều trường đại học ở nước ta hiện nay không đòi hỏi và hướng dẫn các tác giả phải trình bày “giả thuyết”. Khảo sát tại một cơ sở đào tạo sau đại học của ngành y, chúng tôi được các thầy /cô khẳng định: Nghiên cứu của ngành y không cần giả thuyết. Đến khi chúng tôi đưa cho các vị xem cuốn sách của GS, BS Tôn Thất Tùng, trong đó, ông luôn nói: “Tôi đặt giả thuyết này…”, “Tôi đặt giả thuyết kia…” thì các vị mới “ngã ngửa” ra rằng, trong nghiên cứu của ngành y, đến bác sỹ Tôn Thất Tùng, cũng đã phải viết giả thuyết.

Continue reading →

VỀ VIỆC HỌC VÀ DẠY NGOẠI NGỮ TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÔNG CHUYÊN NGỮ

PHẠM THU NGUYỆT & TRỊNH THÚY HOA

Trong quá trình học đại học, cùng với các kiến thức về chuyên môn, ngoại ngữ cũng rất cần được trang bị. Trình độ chuyên môn tốt, vốn ngoại ngữ khá sẽ là tiền đề cho những người đã tốt nghiệp đại học hoàn thành tốt nhiệm vụ khi ra công tác. Qua điều tra ở một số trường đại học, tác giả đưa ra một số đánh giá và kiến nghị mà theo chúng tôi đây là những vấn đề cần được quan tâm.

Trong bối cảnh hiện nay, ngoại ngữ đã trở thành công cụ không thể thiếu để giao lưu, phát triển kinh tế – xã hội. Để sinh viên các trường đại học sau khi tốt nghiệp phát huy được vốn ngoại ngữ đã học được trong trường, có nhiều vấn đề chúng ta cần phải quan tâm. Bằng biện pháp thăm dò thông qua phiếu điều tra đối với sinh viên của một số trường đại học không chuyên ngữ ở Hà Nội, chúng tôi xin đưa ra một vài đánh giá và kiến nghị.

Về số giờ lên lớp của sinh viên

Ngoại ngữ trong các trường đại học không chuyên ngữ được quy định là môn học bắt buộc. Trước năm 2000, số giờ áp dụng theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là 450 tiết học, trong đó, sinh viên được học 400 tiết ngoại ngữ cơ bản, 50 tiết ngoại ngữ chuyên ngành. Từ năm 2000-2003, số giờ học giảm xuống còn 350 tiết. Nhưng theo quy chế hiện nay của Bộ GD&ĐT, số giờ học ngoại ngữ ở các trường đại học không chuyên ngữ chỉ có 150 tiết (tức là 10 đơn vị học trình) dành cho kiến thức chung; một số ít trường cho phép học thêm từ 3 đến 5 đơn vị học trình cho ngoại ngữ chuyên ngành. Môn học này được bố trí trong một năm học (năm thứ nhất hoặc năm thứ hai), kết thúc chương trình, học sinh không học môn này nữa. Tuy vậy, vẫn có một số trường tổ chức một số lớp nâng cao, nhưng chủ yếu là áp dụng cho tiếng Anh. Với thời lượng 150 tiết, các bộ môn ngoại ngữ bắt buộc phải điều chỉnh và xây dựng chương trình giảng dạy của mình sao cho phù hợp. Do vậy, mục tiêu đặt ra chỉ là biết đọc và biết viết những câu đơn giản sau khi hết chương trình.

Ngoại ngữ đã được quy định là môn học bắt buộc, tuy nhiên trong tình hình hiện nay, đa số sinh viên của một số địa phương khi tốt nghiệp phổ thông trung học có trình độ ngoại ngữ còn rất yếu. Khi được hỏi, 61% số sinh viên cho rằng, nếu học ít hơn 350 tiết thì không đủ trình độ để đáp ứng nhu cầu của nơi thu nhận vào làm việc. Điều đó chứng tỏ họ hoàn toàn nhận thức được vai trò của việc học tập môn này và càng quan trọng hơn với những sinh viên không hề được học ngoại ngữ ở chương trình phổ thông trung học.

Continue reading →

VĂN MINH GIAO TIẾP THỜI HỘI NHẬP

DIỆU TRANG

Chuyện thứ nhất. Trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ gần đây của một đoàn doanh nghiệp Việt Nam, trên đường về, tại một sân bay ở Nhật, một doanh nhân của ta bước vào duty–free shop (cửa hàng miễn thuế). Anh này thản nhiên cầm một cái ví da hiệu Cartier, không cần xem giá, mang ra quầy tính tiền. Và kết cục là anh phải trả lại cái ví hơn 700 USD đó vì giá cao hơn anh tưởng nhiều…

Chuyện thứ hai. Trong một chuyến đi làm việc tại Thái Lan, một nữ doanh nhân có kinh nghiệm của Việt Nam đã phạm một sai lầm đáng tiếc. Chị vào siêu thị, chọn một cái kính, như người ta thì phải cầm ở tay cộng khai trước khi ra bàn thanh toán, đằng này chị lại "tiện tay" cho vào túi xắc và "quên" không trả tiền. Ra đến cửa mới nhớ thì sợ quá, chị không biết xử trí thế nào đành… vứt vào sọt rác. (Điều này thể hiện rằng chị không có ý ăn trộm). Theo hệ thống camera giám sát, bảo vệ siêu thị đã tìm ra chị và sau lời phân trần đã chấp nhận “hộ tống” cho chị ra thanh toán tiền. Chuyện có lẽ đã xong nếu anh em trong đoàn không nhìn thấy và nóng vội, chưa hiểu đầu đuôi thế nào đã lớn tiếng với người bảo vệ khiến anh này tức quá gọi cảnh sát tới. Kết quả là chị phải ở lại mấy tháng chờ xét xử xong, về nước cũng "thân bại danh liệt".

Hai câu chuyện với hai thời gian, hai điạ điểm và hai chủ thể hoàn toàn khác nhưng lại có nhiều nét tương đồng. Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội từng có nhiều chuyến công du đến các nước đã dành cho Tạp chí Truyền hình một cuộc nói chuyện thú vị về một điều "nhỏ mà không nhỏ": ứng xử văn minh trong môi trướng quốc tế. Đi công cán nước ngoài sao cho văn minh – đó là vấn đề cần được quan tâm trong thời buổi hội nhập như hiện nay. Câu chuyện dưới quan sát sắc sảo của một người làm công tác đối ngoại có lẽ sẽ làm nhiều người phải suy nghĩ.

Continue reading →

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN LUẬT Ở ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta đang cần một sự đổi mới toàn diện: đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo, đổi mới đánh giá kết quả đào tạo…trong đó đổi mới chương trình đào tạo được coi là bước đột phá và có tầm quan trọng đặc biệt.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân Luật (Chương trình đào tạo), đưa ra một số ý kiến về định hướng đổi mới và nêu một số vấn đề cần giải quyết trong xây dựng Chương trình đào tạo ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Nhiều vấn đề trình bày ở đây có thể là không mới nhưng được nhắc lại với mong muốn hệ thống hoá, cung cấp một góc nhìn về nhu cầu và những vấn đề đặt ra trong đổi mới Chương trình đào tạo.

1. Tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo

Nghị quyết số 08, Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là những cơ sở quan trọng để Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tập trung mọi nguồn lực xây dựng nhà trường trở thành trường đại học trọng điểm, mở ra cơ hội tăng tốc đầu tư và phát triển nhà trường trong giai đoạn trước mắt cũng như hướng phát triển lâu dài trong tương lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2007 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 6002/QĐ-BGDĐT phê duyệt “Đề án phát triển tổng thể Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2020” theo đó mục tiêu tổng quát đã được phê duyệt là: “Xây dựng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thành một cơ sở đào tạo đa ngành, trong đó ngành Luật là trọng tâm; một cơ sở nghiên cứu khoa học hiện đại, đặc biệt là khoa học pháp lý ở phía Nam với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị tiên tiến; áp dụng những thành tựu, phương tiện hiện đại và chương trình tiên tiến trong đào tạo, nhằm tạo ra môi trường tốt nhất cho giảng dạy, học tập, để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phục vụ cộng đồng, mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi, đáp ứng yêu cầu của phát triển và hội nhập”.

Continue reading →

Một số ý kiến về đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân luật Ở ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta đang cần một sự đổi mới toàn diện: đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo, đổi mới đánh giá kết quả đào tạo…trong đó đổi mới chương trình đào tạo được coi là bước đột phá và có tầm quan trọng đặc biệt.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân Luật (Chương trình đào tạo), đưa ra một số ý kiến về định hướng đổi mới và nêu một số vấn đề cần giải quyết trong xây dựng Chương trình đào tạo ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Nhiều vấn đề trình bày ở đây có thể là không mới nhưng được nhắc lại với mong muốn hệ thống hoá, cung cấp một góc nhìn về nhu cầu và những vấn đề đặt ra trong đổi mới Chương trình đào tạo.

1. Tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo

Nghị quyết số 08, Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là những cơ sở quan trọng để Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tập trung mọi nguồn lực xây dựng nhà trường trở thành trường đại học trọng điểm, mở ra cơ hội tăng tốc đầu tư và phát triển nhà trường trong giai đoạn trước mắt cũng như hướng phát triển lâu dài trong tương lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2007 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 6002/QĐ-BGDĐT phê duyệt “Đề án phát triển tổng thể Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2020” theo đó mục tiêu tổng quát đã được phê duyệt là: “Xây dựng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thành một cơ sở đào tạo đa ngành, trong đó ngành Luật là trọng tâm; một cơ sở nghiên cứu khoa học hiện đại, đặc biệt là khoa học pháp lý ở phía Nam với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị tiên tiến; áp dụng những thành tựu, phương tiện hiện đại và chương trình tiên tiến trong đào tạo, nhằm tạo ra môi trường tốt nhất cho giảng dạy, học tập, để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phục vụ cộng đồng, mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi, đáp ứng yêu cầu của phát triển và hội nhập”.

Continue reading →

THÔNG TƯ SỐ 09/2010/TT-BGDĐT NGÀY 10 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BAN HÀNH QUY CHẾ HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC

Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ;
Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Căn cứ Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên
,

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này Quy chế Học viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hình thức vừa làm vừa học.

Điều 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 4 năm 2010. Các quy định trước đây trái với quy định tại Thông tư này đều bị bãi bỏ.

Điều 3. Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp, Thủ trưởng đơn vị có liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc sở giáo dục và đào tạo, Giám đốc đại học, học viện, Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Trần Quang Quý

QUY CHẾ

HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC
(Ban hành kèm theo Thông tư số 09/2010/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 3 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Continue reading →

CHUYỂN ĐỔI SANG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC

TS. PHẠM THỊ LY – Trung tâm Nghiên cứu và Giao lưu Văn hóa Giáo dục Quốc tế- Viện NCGD

Tổng quan

Trong giáo dục đại học, và nhiều ngành nghề khác, Trung Quốc đang vượt lên trông thấy. Họ đang có dự án mở rộng các trường đại học ở một quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử. Trong những năm 1980, chỉ có 2-3% học sinh đi học đại học. Năm 2003, con số này lên tới 17%. Bước ngoặt là năm 1999, khi số sinh viên tăng gần một nửa. Ở cấp tiến sĩ tốc độ mở rộng còn nhanh hơn so với đại học: từ năm 1999 tới 2003, số tiến sĩ tăng gấp 12 lần con số năm 1982-1989. Chưa hết: số nghiên cứu sinh tiến sĩ tăng từ 14.500 năm 1998 tới 48.700 năm 2003.

Người Trung Quốc đang quyết tâm tạo ra những trường đại học đẳng cấp quốc tế để cạnh tranh với những trường tốt nhất trên thế giới. Chính phủ Trung Quốc đang đầu tư lớn vào những trường được lựa chọn, như Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại học Phúc Tân (Fudan), trả lương cao hơn, tài trợ nghiên cứu nhiều hơn. Các tỉnh cũng đang làm như vậy. Tất cả những gì nằm sau sự biến đổi to lớn này chính là chuyển giao công nghệ. Trung Quốc đang cố gắng tạo lập lại khuôn mẫu của những trường đại học phương Tây tốt nhất ở chính nước họ, nhằm cạnh tranh trong những lĩnh vực công nghiệp hàng đầu. Họ đã dự trữ được nhiều tiến sĩ nước ngoài: trong nhiều bộ môn ở Đại học Bắc Kinh, một phần ba giảng viên có bằng tiến sĩ từ Hoa Kỳ. Họ đang liên doanh với các đại học nước ngoài cũng hệt như các công ty Trung Quốc đang liên doanh với công ty nước ngoài.
Sự phát triển mạnh mẽ của các đại học Trung Quốc và những kết quả mà họ đạt được, cũng như những khó khăn mà họ đang trải qua rất đáng để cho những nước châu Á vốn có điều kiện kinh tế, xã hội, và văn hóa gần gũi với Trung Quốc phải chú ý. Một trong những lĩnh vực mà chúng ta có thể rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm, là việc chuyển đổi sang hệ thống đào tạo theo tín chỉ.

Continue reading →

Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học – PHƯƠNG PHÁP THÍCH HỢP VỚI ĐÀO TẠO Ở ĐẠI HỌC

LÊ QUANG SƠN – Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Bài viết này nhằm đề xướng một hướng dạy học mới trong đào tạo đại học – dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học. Bản chất của hướng dạy học này là tổ chức quá trình dạy học theo logic nghiên cứu khoa học. Trong hướng dạy học này, dưới sự tổ chức, hướng dẫn và cố vấn của người dạy, người học tự mình phát hiện, biểu đạt vấn đề (lý luận hay thực tiễn) thuộc các lĩnh vực tri thức/thực tiễn khác nhau, vạch hướng giải quyết, thiết kế các nghiên cứu lý luận hay thực tiễn để giải quyết vấn đề, và trên cơ sở vấn đề được giải quyết, nêu hay phát hiện những vấn đề mới.

Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học nên được coi như một hướng dạy học dung hợp trong nó nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau, và có thể được áp dụng một cách mềm dẻo bởi những nhà giáo với những tiềm năng về phương pháp dạy học khác nhau.

1. Đặt vấn đề

Thành tựu nổi bật nhất của tâm lý học thế kỷ XX là sự khám phá ra vai trò quyết định của hoạt động của con người trong việc hình thành các năng lực và phẩm chất. Những khả năng trí tuệ, năng lực chuyên môn, các phẩm chất nghề nghiệp, thuộc tính nhân cách của con người là kết quả của việc con người, bằng hoạt động của chính bản thân mình, chuyển hóa những năng lực và phẩm chất người của loài người thành tài sản riêng cho bản thân. Giáo dục và dạy học, về bản chất, chính là sự tổ chức hoạt động lĩnh hội cho người học, hướng vào lĩnh hội kinh nghiệm xã hội-lịch sử của loài người. Chất lượng của các năng lực, sự hình thành phẩm chất tâm lý khác nhau tùy thuộc ở cách mà con người tiến hành hoạt động lĩnh hội. Nói cách khác, phương pháp giáo dục, dạy học nào thì kết quả giáo dục, dạy học ấy. Nếu dạy học chỉ đòi hỏi ở người học sự ghi nhớ thụ động, sự dập khuôn cứng nhắc, thói chờ đợi chỉ dẫn thì trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ có thể hình thành ở người học khả năng ghi nhớ máy móc, tính thụ động chờ đợi chỉ dẫn, chứ không thể hình thành được tư duy uyển chuyển, óc sáng tạo và tinh thần khám phá.

Trong lĩnh vực giáo dục, phương pháp dạy học được hiểu là cách thức hoạt động cùng nhau của người dạy và người học hướng tới việc giải quyết các nhiệm vụ dạy học (bao gồm cả trang bị tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; hình thành các phẩm chất nhân cách; phát triển những khả năng và năng lực). Phương pháp dạy học là cách mà người dạy chỉ đạo (tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) hoạt động của người học, và cách mà người học tiến hành hoạt động lĩnh hội năng lực người.

Continue reading →