TIÊU CHUẨN ĐỂ ĐỨNG TÊN TÁC GIẢ BÀI VIẾT KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN TUẤN

Có phải Shakespeare là tác giả của các vở kịch Much ado about nothing, King Lear, Hamlet, Othello? Có phải Đoàn Thị Điểm là người dịch Chinh phụ ngâm? Những câu hỏi đó thoạt đầu mới nghe qua thì có vẻ lạ lùng và không cần thiết, nhưng xét một cách khách quan, ngày xưa người ta chưa có một hệ thống và chứng cứ để xác định tác giả của một tác phẩm.

Ngày nay, dù có hệ thống và tiêu chuẩn cho một tác giả, thực tế vẫn có những trường hợp mà người đứng tên tác giả một công trình khoa học nhưng chẳng có đóng góp một tí nào, cho dù là một chữ, trong công trình đó. Vấn đề này trở nên thời sự khi “sự cố đạo văn” trong khoa học được báo chí phanh phui gần đây.

Bài báo khoa học không chỉ thể hiện kết cục của một công trình nghiên cứu, mà ở góc độ cá nhân còn thể hiện một thành tựu của nhà khoa học. Trong thực tế số bài báo khoa học vẫn là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đề bạt chức danh khoa bảng.

Ví dụ, nghiên cứu cho thấy trong ngành y khoa những cá nhân được đề bạt chức danh giáo sư thường có số bài báo khoa học cao gấp hai lần những người không được đề bạt (*). Do đó, có thể nói không ngoa rằng bài báo khoa học là một đơn vị tiền tệ trong học thuật và nghiên cứu khoa học.

Một công trình nghiên cứu khoa học thường có nhiều tác giả, chuyên gia đóng góp từ ý tưởng, chọn mô hình nghiên cứu, xác định phương pháp, cách thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, soạn thảo và diễn giải kết quả nghiên cứu, đến công bố bài báo khoa học. Mỗi bài báo thường có năm tác giả (tính trung bình), nhưng cũng có khi con số tác giả lên đến hàng trăm! Thật vậy, những công trình nghiên cứu đa quốc gia trong vài năm gần đây, có khi số tác giả quá nhiều (500 người), tập san phải đăng tên họ trong một phụ trang.

Do đó, đứng trước một bài báo có nhiều tác giả, người đọc (kể cả các ủy ban đề bạt chức danh giáo sư) phải hỏi về vai trò và mức độ đóng góp cho công trình nghiên cứu của từng tác giả như thế nào, và ai đủ tư cách đứng tên tác giả bài báo khoa học. Vấn đề này dẫn đến bàn luận giữa các tổng biên tập về việc đề ra tiêu chuẩn cho tác giả bài báo khoa học.

Continue reading

LỆCH CHUẨN NHẬN THỨC HAY BỊ LẦM LẠC BỞI NHỮNG TẤM GƯƠNG MỜ?

PHẠM VIẾT ĐÀO

NLĐ -  Ngày 10-8, Công ty NhanViet Management Group công bố kết quả khảo sát sinh viên với nghề nghiệp. Chương trình khảo sát được thực hiện từ tháng 4 đến nay với sự tham gia của 941 sinh viên hiện đang theo học tại hơn 20 trường đại học, cao đẳng ở TPHCM. Kết quả khảo sát cho thấy có khoảng 97,9% sinh viên mong muốn trở thành lãnh đạo trong tương lai. Cụ thể, hơn 50% cho biết sẽ cố gắng phấn đấu tới vị trí quản lý cấp trung trong 3 năm tới trong khi chỉ có khoảng 8,4% nghĩ tới vị trí giám đốc. Để thực hiện ước mơ, 71,2% sinh viên đã tự hoạch định lộ trình cũng như kế hoạch hành động ngay khi còn trên ghế giảng đường, trong khi 15,3% thì dự định sẽ thực hiện ngay sau khi tốt nghiệp. Đáng chú ý là có tới gần 70% sinh viên tham gia khảo sát cho biết mong muốn được làm việc tại các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp nước ngoài. 5,7% sinh viên mong muốn làm việc cho doanh nghiệp Nhà nước. H.Nga

Con số “ 97,9 % sinh viên mong muốn trở thành lãnh đạo trong tương lai” cho thấy các kết quả tốt đẹp của công tác tuyền truyền, giáo dục, các thao tác quản lý đối với tầng lớp được coi là trí thức nhất là sinh viên hình như chỉ đạt chưa tới 3 %. – Kết quả điều tra xã hội học ngày 10-8 của Công ty NhanViet Management Group công bố kết quả khảo sát sinh viên với nghề nghiệp có gợi ý gì cho hệ thống giáo dục-đào tạo nước ta?

Hiện nay, tại nhiều quốc gia việc điều tra xã hội học là một trong những thao tác bắt buộc, cần thiết và hữu ích đối với công tác quản lý, các cơ quan quản lý và các nhà quản lý…Rất nhiều quốc gia đã tổ chức thành lập ra nhiều Viện điều tra xã hội học độc lập, tức là không nhận kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước. Sở dĩ phải có thiết chế này để giúp cho các cơ quan hoạch đinh chính sách nhà nước thật sự có được những thông tin độc lập, khách quan tránh ngụy tạo loại thông tin “ đẽo chân cho vừa dày”…

Tất nhiên các kết quả điều tra xã hội học này có được từ các nguồn kinh phí tài trợ, bảo trợ này, nếu cơ quan nào sử dụng tới nó phải thanh toán bản quyền và thường là rất cao; người ta coi đó là một thứ sản phẩm như các loại sản phẩm của kinh tế tri thức.

Continue reading

NGÔ BẢO CHÂU! CHÚNG TÔI TIN ANH LÀ NGƯỜI YÊU NƯỚC!

Vào hồi 12h 55 ngày 19/8/2010 (giờ Hà Nội), GS. Ngô Bảo Châu đã đoạt giải fields – Giải “nobel” của toán học.

ngbaochau.jpg.jpgĐINH THẾ HƯNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Luật Viên chức đang được soạn thảo mà mong muốn của những người dự thảo là cho phép người Việt ở nước ngoài về làm viên chức nếu về nước. Nhưng đâu đó vẫn có ý kiến khác băn khoăn không đáng kiểu như nên cho hay không cho về? Điều đó có dễ làm những trí thức có tài có tâm với đất nước chạnh lòng..

Bia tiến sĩ Quốc Tử giám trân trọng ghi: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Hiền tài của bất cứ quốc gia nào đều là của hiếm và đương nhiên của hiếm thì khó tìm và khó giữ. Có được đội ngũ hiền tài là mơ ước của mọi chế độ. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào nhiều thứ trong đó có yếu tố quan trọng là vận nước. Có những lúc chúng ta ở trong tình trạng “Tuấn kiệt như sao buôi sớm, nhân tài như lá mùa thu” như Nguyễn Trãi từng than thở. Năm nào Việt Nam cũng có những học sinh thi quốc tế đoạt huy chương . Nhưng qua sự chọn lọc khắc nghiệt của thời gian, của khoa học đã chứng tỏ tài năng nào là ngôi sao băng vụt sáng phút chốc rồi rơi vào “bẫy trung bình” của trí thức, mãi mãi sống với ánh hào quang của tấm huy chương vàng của quá khứ. Ngô Bảo Châu một tài năng toán học đích thực là hiền tài. Thế hệ chúng tôi 20 năm trước đã coi Ngô Bảo Châu là thần tượng của mình. Hai lần đoạt Huy chương vàng toán quốc tế, Giáo sư của đại học Đại học Paris XI, Đại học Chicago danh tiếng ở độ tuổi 27. Những người Việt Nam trên toàn thế giới trong đó có những người làm khoa học như chúng tôi sẽ vỡ òa trong niềm vui sướng khi cái tên Ngô Bảo Châu được xướng lên trong lễ trao giai thưởng toán học thế giới. Tiếng đàn Bá Nhá phải chờ có Chung Tư Kỳ. Lưu Bị 3 lần đến lều cỏ thỉnh cầu Khổng Minh xuống núi chỉ giáo mấy đường chính pháp trị nước. Mới đây, Phó thủ tướng Việt nam lần đầu tiên đã trân trọng mới GS Ngô Bao Châu về Việt Nam làm việc. Vì sao Giáo sư không nhận lời về ngay với lý do nào chi ông mới biết. Nhưng ông cũng nên phải ghi nhận tấm thịnh tình của đất nước mình.

Continue reading

TÂM TÌNH VỚI TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

HỒ HẢI

Mấy hôm nay đọc bài: Vì sao ít trí thức Việt kiều về nước làm việc? của tác giả Nguyễn Quốc Vọng đặng trên Tia Sáng, làm tôi có một vài suy nghĩ nên viết một số tâm tình dưới cái nhìn triết học với quý vị để làm sao chúng ta có cái nhìn rạch ròi về vấn đề rất đáng quan tâm này.

Bản chất của cuộc đời nằm trong nhiều cặp phạm trù triết học mà buộc mỗi con người sinh ra và lớn lên ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này cần phải hiểu để thành đạt. Song có những cặp phạm trù mà đã là con người thì cần phải quan tâm, đặc biệt con người đã trưởng thành và có chút thành đạt với đời.

Danh và Lợi: Sinh ra làm người không ai có thể thoát được cặp phạm trù danh – lợi. Dù là Thích Ca hay Chúa Jesus đã vì Đạo để chỉ ra con đường hướng thiện cho nhân loại thì họ cũng phải vướng vào một vế của cặp phạm trù này: chữ Danh, dù họ không màng đến danh lợi khi dấn thân và vong thân. Thế thì khi đã xác định được là người Việt Nam có tấm lòng với đất nước, thì phải xác định sự quay về với vì cái gì của một trong hai vế của cặp phạm trù danh và lợi? Dĩ nhiên, ở đời, không phải ai cũng có thể thực hiện hết cả hai vế cùng một lúc. Có người đi bằng thực tài lấy công danh trước, khi công danh đã chạm trần thì lúc đó lợi sẽ theo nhau về với họ. Có kẻ không bằng sức lực và trí tuệ của mình, mà chỉ bằng mánh lới của cuộc đời dạy cho để kiếm lợi trước, sau khi có lợi thì đi mua danh. Tất cả đều đi đến La Mã, chỉ khác nhau con đường đi, con đường ấy gọi là Đạo. Đạo cũng có chánh đạo và tà đạo là vậy.

Cho nên theo thiển ý của tôi, với quý vị người Việt ở nước ngoài, nếu đã có tấm lòng thì nên xác định rõ mình về vì cái gì của cặp phạm trù danh lợi để có chiến lược rõ ràng, mà không có bất kỳ mắc mớ gì trong tư duy khi muốn trở về đóng góp phần công sức nhỏ của mình với tổ quốc và dân tộc. Cụ thể tôi có thể nói đơn giản như thế này, nếu về vì danh thì nên chấp nhận những gì mà cơ chế đang hiện hành để góp sức với nó tốt hơn. Nếu vì lợi thì cũng nên chấp nhận những gì khó khăn đang dàn trải ra trên bước đường vì lợi. Anh không thể đem so sánh những gì ở xứ người để đem áp dụng vào Việt Nam, vì tại sao cũng với cơ chế ấy, khó khăn ấy nhưng những doanh nhân châu Á, Âu, Mỹ… họ lại vẫn đầu tư và thành công ở Việt nam. Trí thức của họ vẫn về giảng dạy ở các trường ở Việt Nam, nhưng người Việt thì không thể? Họ làm được tức họ cũng đã thể hiện không chỉ vì danh – lợi mà họ còn thực hiện được nhiệm vụ chính trị một cách âm thầm, không ai biết và cũng không ai buộc phải giao cho họ.

Continue reading

TRÍ THỨC VÀ MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA TRÍ THỨC

NGUYỄN MINH THUYẾT

1. Thế nào là trí thức?

1.1. Nói đến trí thức, người ta thường nghĩ ngay tới những người có bằng cấp cao. Dĩ nhiên, bằng cấp cao là một dấu hiệu có lẽ dễ sử dụng và có thể được sử dụng trong nhiều trường hợp. Nhưng đó không phải là dấu hiệu bản chất của người trí thức.

Trên thực tế, có những người bằng cấp không cao nhưng do tư chất thông minh, lại chịu học hỏi nên có vốn tri thức khá sâu sắc và có nhiều sáng tạo được ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định. Lịch sử từng ghi công nhiều tên tuổi lớn chưa học hết bậc đại học đã có những đóng góp xuất sắc cho khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật hay cho lĩnh vực quản lý kinh tế – xã hội, như các nhà sáng chế và quản lý doanh nghiệp nổi tiếng thế giới Thomas Edison, Bill Gates ở Hoa Kỳ, nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare ở Anh Quốc. Ở Việt Nam, nhà văn Nguyên Hồng khi hoàn thành những sáng tạo nghệ thuật để đời như "Những ngày thơ ấu", "Bỉ vỏ", chỉ mới học xong tiểu học; và trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp hiện nay, đang xuất hiện ngày càng nhiều "kỹ sư chân đất" – những nông dân "chân lấm tay bùn" chịu học và dám nghĩ, dám làm, chế tạo từ máy cày, máy cấy, máy thu hoạch mía cho đến máy bay v.v…, đáp ứng nhu cầu của công cuộc lao động sản xuất và ước muốn chinh phục đỉnh cao của khoa học – công nghệ. Họ là những trí thức thật sự.
Ngược lại, trong cuộc sống cũng có không ít người sở hữu bằng cấp cao nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đã chuyển sang lao động chân tay hoặc buôn bán nhỏ, thậm chí, không làm gì hoặc làm những nghề không lương thiện. Số người có bằng cấp cao mà không hoạt động trong lĩnh vực lao động trí óc này khó có thể xếp vào tầng lớp trí thức. 
Thêm một lý do để vận dụng có mức độ dấu hiệu "bằng cấp cao" là đặc tính "cao" phụ thuộc khá nhiều vào quan niệm của cộng đồng dân cư cụ thể. Thời thuộc Pháp, bằng cao đẳng đã là rất cao, bởi vậy mới có tiêu chuẩn kén chồng của các tiểu thư con nhà giàu: "Phi cao đẳng bất thành phu phụ" (nghĩa là: "không có bằng cao đẳng, không thành vợ thành chồng", "không có bằng cao đẳng thì không lấy"). Thời nay, đối với dân cư thành thị, cao đẳng chưa chắc đã là cao. Nhưng đối với vùng sâu vùng xa, người có bằng cao đẳng chắc chắn được cộng đồng trọng vọng.

Continue reading

TRÍ THỨC và một số đặc điểm của trí thức

NGUYỄN MINH THUYẾT

1. Thế nào là trí thức?

1.1. Nói đến trí thức, người ta thường nghĩ ngay tới những người có bằng cấp cao. Dĩ nhiên, bằng cấp cao là một dấu hiệu có lẽ dễ sử dụng và có thể được sử dụng trong nhiều trường hợp. Nhưng đó không phải là dấu hiệu bản chất của người trí thức.

Trên thực tế, có những người bằng cấp không cao nhưng do tư chất thông minh, lại chịu học hỏi nên có vốn tri thức khá sâu sắc và có nhiều sáng tạo được ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định. Lịch sử từng ghi công nhiều tên tuổi lớn chưa học hết bậc đại học đã có những đóng góp xuất sắc cho khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật hay cho lĩnh vực quản lý kinh tế – xã hội, như các nhà sáng chế và quản lý doanh nghiệp nổi tiếng thế giới Thomas Edison, Bill Gates ở Hoa Kỳ, nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare ở Anh Quốc. Ở Việt Nam, nhà văn Nguyên Hồng khi hoàn thành những sáng tạo nghệ thuật để đời như “Những ngày thơ ấu, Bỉ vỏ“, chỉ mới học xong tiểu học; và trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp hiện nay, đang xuất hiện ngày càng nhiều “kỹ sư chân đất” – những nông dân “chân lấm tay bùn” chịu học và dám nghĩ, dám làm, chế tạo từ máy cày, máy cấy, máy thu hoạch mía cho đến máy bay v.v…, đáp ứng nhu cầu của công cuộc lao động sản xuất và ước muốn chinh phục đỉnh cao của khoa học – công nghệ. Họ là những trí thức thật sự.

Ngược lại, trong cuộc sống cũng có không ít người sở hữu bằng cấp cao nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đã chuyển sang lao động chân tay hoặc buôn bán nhỏ, thậm chí, không làm gì hoặc làm những nghề không lương thiện. Số người có bằng cấp cao mà không hoạt động trong lĩnh vực lao động trí óc này khó có thể xếp vào tầng lớp trí thức.

Thêm một lý do để vận dụng có mức độ dấu hiệu “bằng cấp cao” là đặc tính “cao” phụ thuộc khá nhiều vào quan niệm của cộng đồng dân cư cụ thể. Thời thuộc Pháp, bằng cao đẳng đã là rất cao, bởi vậy mới có tiêu chuẩn kén chồng của các tiểu thư con nhà giàu: “Phi cao đẳng bất thành phu phụ” (nghĩa là: “không có bằng cao đẳng, không thành vợ thành chồng“, “không có bằng cao đẳng thì không lấy“). Thời nay, đối với dân cư thành thị, cao đẳng chưa chắc đã là cao. Nhưng đối với vùng sâu vùng xa, người có bằng cao đẳng chắc chắn được cộng đồng trọng vọng.

Như vậy, có thể hiểu trí thức không nhất thiết là người có bằng cấp cao và ngược lại, người có bằng cấp cao cũng chưa hẳn đã là trí thức. Điều quan trọng đối với người trí thức là có hiểu biết sâu rộng và có khả năng sáng tạo trong một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn nhất định.

1.2. Thay cho dấu hiệu bằng cấp, nhiều người quan niệm: “Trí thức là những người lao động trí óc.” Nhưng định nghĩa này chưa làm rõ thế nào là “lao động trí óc“. Nếu chỉ nhìn vào hiện tượng thì một nghệ sĩ dương cầm, một nhà điêu khắc hay một bác sĩ phẫu thuật sử dụng cơ bắp không kém gì người lao động chân tay; sáng tạo của một họa sĩ thoạt nhìn cũng không khác hoạt động của người chép tranh hay người vẽ truyền thần; công việc của một nhà giáo ở trung học hay đại học cũng thuộc phạm trù “giáo dục” như công việc của cô bảo mẫu. Điểm phân biệt giữa những người này là ở tầm mức của công việc và trình độ chuyên môn trong thực hiện công việc ấy. Ví dụ, khác với y tá hay hộ lý, bác sĩ phẫu thuật thực hiện một công việc phức tạp và hệ trọng, quan hệ đến sức khỏe và tính mạng con người; và để có thể thực hiện công việc đó, người bác sĩ phải được đào tạo chu đáo về lý luận và thực tiễn; ca phẫu thuật càng phức tạp, trình độ càng phải cao. Tương tự, người thợ đục đá đục theo khuôn mẫu đã có sẵn, cho ra lò hàng loạt sản phẩm giống hệt nhau; còn đối với nhà điêu khắc thì mỗi tác phẩm là một sáng tạo duy nhất, thể hiện tư tưởng và phong cách nghệ thuật nhất định. Tóm lại, người trí thức thực hiện những công việc có tầm quan trọng, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hơn, sự huy động nỗ lực trí óc nhiều hơn.

1.3. Một trong những cách hiểu khác về trí thức là dựa vào hoạt động chính đem lại thu nhập cho họ. Theo cách hiểu này, trí thức là những người lấy lao động trí óc làm một nghề, hay nói cách khác là sống bằng lao động trí óc. Cách hiểu này không sai nhưng cũng không bao quát được hết thực tế. Bởi vì trong lịch sử không hiếm những trường hợp như cụ Tú Xương, tài năng văn chương nức tiếng, được hậu thế tôn vinh là một trong những thi nhân lỗi lạc của nước nhà, nhưng sinh thời, cụ chỉ lấy văn chương làm nơi bộc bạch nỗi niềm, còn kiếm sống phải nhờ cả vào một tay cụ bà “Quanh năm buôn bán ở mom sông / Nuôi đủ năm con với một chồng.

Không riêng gì văn chương mà trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác, chúng ta cũng có thể dẫn ra những ví dụ tương tự. Họa sĩ Van Gogh miệt mài sáng tạo nghệ thuật suốt cuộc đời nhưng khi còn sống, ông lâm vào cảnh cùng quẫn vì không mấy ai chịu mua những bức tranh của họa sĩ thiên tài. Nhà sáng chế K. Tsiolkovxkij thời Sa Hoàng bị coi là gàn dở và cũng sống trong cảnh bần hàn; sáng chế bị xếp xó. Chỉ sau khi có chính quyền xô viết, ông mới được trọng dụng. Nhưng phải đến 22 năm sau khi ông mất, tên lửa đẩy thiết kế theo mô hình của ông mới đưa được vệ tinh lên vũ trụ và ông mới được tôn vinh là ông tổ của ngành hàng không vũ trụ.

Như vậy, không phải trí thức bao giờ cũng có thể sống bằng trí tuệ của mình. Điều quan trọng là họ thường xuyên lao động trí óc, thường xuyên sáng tạo những sản phẩm trí tuệ, như là sứ mạng, là lẽ sống của mình.

1.4. Nói tóm lại, trí thức là những người lao động trí óc, có hiểu biết sâu rộng về một hoặc một số lĩnh vực khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật, quản lý kinh tế – xã hội, thường xuyên vận dụng những hiểu biết đó để phát hiện và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong lĩnh vực hoạt động của mình vì lợi ích chung của cộng đồng và nhu cầu nhận thức của bản thân.

Theo cách hiểu trên thì tầng lớp trí thức là một tập hợp mở và đa dạng, không giống bất kỳ một tập hợp nào khác trong xã hội như nông dân, công nhân, thợ thủ công, quân nhân, thương nhân hay người buôn bán nhỏ. Trí thức có thể là bất kỳ ai trong các tập hợp trên, miễn là có hiểu biết sâu rộng và tham gia lao động trí óc. Tuy nhiên, bộ phận hạt nhân của tầng lớp trí thức là các nhà nghiên cứu; các giảng viên đại học; các bác sĩ, dược sĩ cao cấp; các nhà văn, nhà thơ, nhà điêu khắc, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo; các nhà quản lý và công chức, viên chức trong bộ máy tham mưu cho nhà quản lý.

2. Một số đặc điểm của trí thức

Trí thức là một tập hợp mở và đa dạng nên đặc điểm của tầng lớp này cũng rất phong phú. Tuy nhiên, giữa các nhà trí thức, nhất là bộ phận hạt nhân của tầng lớp này, cũng có những đặc điểm phẩm chất chung; phẩm chất nào cũng có mặt mạnh và mặt yếu của nó. Phải chăng có thể nói đến những đặc điểm phẩm chất sau?

2.1. Trí thức nói chung rất ham học, ham đọc. Nhờ ham học, ham đọc mà người trí thức luôn luôn tiếp cận được cái mới, do đó trình độ lý luận không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, sự ham học, ham đọc, ham lý luận quá mức có thể dẫn đến tình trạng sách vở, kinh viện, xa rời thực tiễn. Đó là nhược điểm mà người trí thức cần đề phòng.

2.2. Trí thức là người luôn sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm; ít khi chịu rập khuôn theo công thức sẵn có. Chính nhờ đặc điểm này mà trí thức đóng vai trò nhân tố quan trọng thúc đẩy khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật, kinh tế – xã hội phát triển. Tuy nhiên, xã hội cũng dễ nhìn nhận những sáng tạo quá đà, nhất là trong phong cách sống, là lập dị.

2.3. Trí thức là người luôn có thói quen lật lại vấn đề. Vì vậy, trí thức thường hay có ý kiến phản biện. Trong xã hội cũng như trong mỗi đơn vị, những ý kiến phản biện mang tính xây dựng đều có giá trị, ít nhất cũng giúp người được phản biện cân nhắc hoặc bổ sung, hoàn thiện chủ kiến của mình. Nhưng ý kiến phản biện, nhất là những ý kiến quá thẳng thắn, dễ gây phản ứng tiêu cực. Vì vậy, người phản biện cũng cần chọn cách nói, thời điểm nói thích hợp để tính thuyết phục của ý kiến mình được cao hơn.

Thói quen lật lại vấn đề khiến người trí thức nhiều khi lật đi lật lại cả ý kiến của mình. Tự phản biện mình là một thói quen tốt, thể hiện thái độ thực sự cầu thị. Tuy nhiên, nếu trước bất cứ việc gì cũng cân đi nhắc lại mà không dám hành động thì sẽ thành do dự, nhu nhược, thiếu quyết đoán.

2.4. Mặc dù hay lật lại vấn đề nhưng khi đã tin điều gì một cách có căn cứ thì trí thức thường rất trung thành với niềm tin của mình. Nhà thiên văn học Ba Lan Nicolas Copernik sẵn sàng đối mặt với toà án giáo hội, chứ không phản bội niềm tin của mình là trái đất quay xung quanh mặt trời. Gần một trăm năm sau, lại đến lượt nhà thiên văn Italia Galileo Galilée dũng cảm bảo vệ thuyết quả đất quay trước tòa án giáo hội, bất chấp án lưu đày và rút phép thông công. Nhưng lịch sử cũng ghi lại thảm kịch của biết bao trí thức xưa chết vì đặt sai niềm tin, sự trung thành của mình vào những bạo chúa, độc tài hay những lý tưởng bị phản bội. Người phương Đông gọi đó là thái độ ngu trung, một biểu hiện cực đoan của trung thành.

2.5. Trí thức thường có hoài bão vươn lên những đỉnh cao, những vị trí nổi bật trong xã hội. Cách chúng ta 150 năm, Nguyễn Công Trứ từng viết:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.”

Người trí thức nói chung trọng danh hơn trọng lợi. Thậm chí không ít người trọng danh hơn cả mạng sống của mình. Nhưng quá trọng danh có thể dẫn đến hiếu danh. Chuyện chạy đua bằng cấp, danh hiệu, giải thưởng v.v… mà xã hội phê phán hiện nay cũng là những biểu hiện của thói hiếu danh.

2.6. Trí thức thường khảng khái, tự trọng. Người xưa đã khái quát phẩm hạnh này thành nguyên tắc sống: “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (nghĩa là: giàu sang không làm hư hỏng, nghèo khó không khiến đổi lòng, quyền uy không khuất phục nổi). Trong lịch sử đã có biết bao tấm gương liêm khiết, chính trực, khảng khái của người trí thức. Xã hội trọng vọng trí thức không chỉ vì trí tuệ của họ mà còn vì phẩm chất cao quý này. Tuy vậy, trong cuộc sống, cũng cần phân biệt lòng tự trọng với thói sĩ diện. Tự tô vẽ hư danh cho mình, tạo cho mình vỏ bọc bằng những thứ không phải của mình và khư khư bảo vệ nó, đó là sĩ diện, một biểu hiện xa lạ với lòng tự trọng.

2.7. Trí thức thường cư xử lịch thiệp. Bộc trực khi tỏ bày chính kiến về những vấn đề lớn, nhưng trong đời sống hằng ngày, người trí thức thường khiêm tốn, nhún nhường, tránh những va chạm nhỏ, tránh làm mếch lòng người khác. Đây là một phẩm chất đáng quý trong ứng xử, nhưng nếu quá nhún nhường, quá tế nhị cũng dễ bị người xung quanh cho là không thực bụng.

SOURCE: Tạp chí Tia sáng điện tử (tiasang.com.vn)

Trích dẫn từ: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=3338

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa sở hữu trí tuệ vào giảng dạy và đào tạo trong các trường đại học”

CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO TẠO VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1.  Nhận thức chung đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT

Nghiên cứu trong Đề án tuy chú trọng đến tính thực tiễn của vấn đề nhiều hơn, song không vì thế bỏ qua các nội dung mang tính lý luận làm nền tảng cho các nghiên cứu thực tiễn. Vấn đề cần được nghiên cứu là hai nội dung “giảng dạy về SHTT” và “đào tạo về SHTT”. Một số tác giả cho rằng bản thân thuật ngữ đào tạo có nội hàm rộng, bao trùm nhiều nội dung khác, trong đó có giảng dạy. Hay nói một cách khác, giảng dạy là một phần của đào tạo. Nhìn chung, ý kiến này có nhiều điểm hợp lý. Tuy nhiên, việc đặt mục tiêu nghiên cứu của Đề án không chỉ dừng lại ở việc đào tạo cán bộ chuyên môn về SHTT. Đề án đặt một trọng tâm nghiên cứu vào hoạt động phổ biến kiến thức về SHTT trong các trường ĐH. Chính vì vậy,  Đề án sử dụng cả hai thuật ngữ “giảng dạy” và “đào tạo” tương ứng với hai hoạt động được tập trung nghiên cứu. Thực vậy, “giảng dạy” được hiểu là “Truyền thụ tri thức”. Quá trình truyềnthụ tri thức về SHTT cho sinh viên là một trong những mục tiêu cơ bản mà Đề án hướng tới. Việc truyền thụ kiến thức ở đây mang tính phổ cập. Những kiến thức SHTT khá mới mẻ với các nhà khoa học – giảng viên trong các trường ĐH của Việt Nam vốn quen với việc nghiên cứu theo kế hoạch và nhiệm vụ của Nhà nước, và càng mới so với sinh viên. Hàng loạt vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong các trường ĐH, và tiếp đó là các công việc mà sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa được giới thiệu tính đến đặc thù của quyền SHTT. Điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa quyền SHTT với các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội chưa được coi trọng. Đây là thực tiễn đáng báo động do vai trò của quyền SHTT ngày càng lớn đối với phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Nhu cầu phổ cập kiến thức SHTT rất lớn. Thực khó tưởng tượng, một nhà  kinh tế lại chưa hiểu biết về một loại tài sản cơ bản trong nền kinh tế thị trường  thời kỳ toàn cầu hóa là tài sản trí tuệ. Chỉ một tài sản trí tuệ đã có thể so sánh được  với tổng thu nhập quốc dân của một nước như thương hiệu “coca-cola” với giá trị 67 tỷ US$2 . Cũng như vậy, sẽ không hợp lý khi một nhà khoa học nghiên cứu về  một giải pháp kỹ thuật lại không biết rằng kết quả nghiên cứu của mình sẽ không được bảo hộ độc quyền để khai thác thương mại nếu nó bị bộc lộ công khai, hoặc  đơn giản hơn là xác định xem mình có những quyền gì đối với các kết quả nghiên cứu được tạo ra. Chính cái không  hợp lý” này tồn tại ở Việt Nam là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng “đau lòng” là trong năm 2005 Việt Nam chỉ có một bằng sáng chế đăng ký quốc tế theo Tổ chức SHTT thế giới (WIPO).

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN “NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ ĐƯA SHTT VÀO GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO TẠO TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC”

CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO TẠO VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1.  Nhận thức chung đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT

Nghiên cứu trong Đề án tuy chú trọng đến tính thực tiễn của vấn đề nhiều hơn, song không vì thế bỏ qua các nội dung mang tính lý luận làm nền tảng cho các nghiên cứu thực tiễn. Vấn đề cần được nghiên cứu là hai nội dung “giảng dạy về SHTT” và “đào tạo về SHTT”. Một số tác giả cho rằng bản thân thuật ngữ đào tạo có nội hàm rộng, bao trùm nhiều nội dung khác, trong đó có giảng dạy. Hay nói một cách khác, giảng dạy là một phần của đào tạo. Nhìn chung, ý kiến này có nhiều điểm hợp lý. Tuy nhiên, việc đặt mục tiêu nghiên cứu của Đề án không chỉ dừng lại ở việc đào tạo cán bộ chuyên môn về SHTT. Đề án đặt một trọng tâm nghiên cứu vào hoạt động phổ biến kiến thức về SHTT trong các trường ĐH. Chính vì vậy,  Đề án sử dụng cả hai thuật ngữ “giảng dạy” và “đào tạo” tương ứng với hai hoạt động được tập trung nghiên cứu. Thực vậy, “giảng dạy” được hiểu là “Truyền thụ tri thức”. Quá trình truyềnthụ tri thức về SHTT cho sinh viên là một trong những mục tiêu cơ bản mà Đề án hướng tới. Việc truyền thụ kiến thức ở đây mang tính phổ cập. Những kiến thức SHTT khá mới mẻ với các nhà khoa học – giảng viên trong các trường ĐH của Việt Nam vốn quen với việc nghiên cứu theo kế hoạch và nhiệm vụ của Nhà nước, và càng mới so với sinh viên. Hàng loạt vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong các trường ĐH, và tiếp đó là các công việc mà sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa được giới thiệu tính đến đặc thù của quyền SHTT. Điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa quyền SHTT với các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội chưa được coi trọng. Đây là thực tiễn đáng báo động do vai trò của quyền SHTT ngày càng lớn đối với phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế. 

Nhu cầu phổ cập kiến thức SHTT rất lớn. Thực khó tưởng tượng, một nhà  kinh tế lại chưa hiểu biết về một loại tài sản cơ bản trong nền kinh tế thị trường  thời kỳ toàn cầu hóa là tài sản trí tuệ. Chỉ một tài sản trí tuệ đã có thể so sánh được  với tổng thu nhập quốc dân của một nước như thương hiệu “coca-cola” với giá trị 67 tỷ US$2 . Cũng như vậy, sẽ không hợp lý khi một nhà khoa học nghiên cứu về  một giải pháp kỹ thuật lại không biết rằng kết quả nghiên cứu của mình sẽ không được bảo hộ độc quyền để khai thác thương mại nếu nó bị bộc lộ công khai, hoặc  đơn giản hơn là xác định xem mình có những quyền gì đối với các kết quả nghiên cứu được tạo ra. Chính cái không  hợp lý” này tồn tại ở Việt Nam là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng “đau lòng” là trong năm 2005 Việt Nam chỉ có một bằng sáng chế đăng ký quốc tế theo Tổ chức SHTT thế giới (WIPO).

Continue reading

VÀI NÉT VỀ ĐÀO TẠO TÍN CHỈ NGÀNH LUẬT TẠI ĐẠI HỌC SAARLAND – CHLB ĐỨC

NGUYỄN MINH TUẤN (Tổng hợp)

1. Việc học

– Sinh viên năm thứ nhất được các giáo sư ở tất cả các chuyên ngành trực tiếp giới thiệu phương pháp cũng như những kỹ năng cần thiết cho việc học tín chỉ của từng môn học.
– Bên cạnh các môn khoa học pháp lý cơ bản (như Lịch sử pháp luật, triết học pháp luật, xã hội học pháp luật, Lịch sử các học thuyết pháp lý và Phương pháp luận nghiên cứu luật học) là các môn khoa học pháp lý chuyên ngành (ở Đức có 3 ngành luật truyền thống là luật dân sự, luật hình sự và luật công (Zivilrecht, Strafrecht, Öffentliches Recht)và các môn học chuyên sâu của từng ngành tương ứng (intensive Ausbildung in denjenigen Rechtsfächern). Bên cạnh đó, học viên có thể lựa chọn một số môn học khác để tích lũy đủ số tín chỉ theo yêu cầu như môn Luật so sánh (Rechtsvergleichung), Công pháp quốc tế (Völkerrecht), Tư pháp quốc tế (Internationales Privatrecht), Luật hình sự quốc tế (Internationales Strafrecht), Luật kinh tế và luật thuế quốc tế, (Internationales Wirtschafts- und Steuerrecht) và Luật liên minh Châu Âu (das Europarecht).
– Mỗi môn học, bên cạnh việc tham dự các bài giảng (Vorlesung), sinh viên được tham dự các buổi seminar, các buổi học nhóm (Tutorien/ AG – Arbeitsgemeinschaft). Việc nghe giảng cũng như học nhóm là hoàn toàn tự nguyện, không có điểm danh.
– Trước khi bắt đầu môn học, sinh viên có thể truy cập vào trang web của Giáo sư để tìm hiểu trước các tài liệu tham khảo, mục lục các bài giảng. Sau mỗi bài giảng trên lớp, sinh viên có thể truy cập trang web này để download nội dung chính của bài giảng và các bài tập, tình huống pháp lý để tự nghiên cứu.
– Chỉ có Giáo sư thực thụ mới được đứng lớp giảng dạy. Các học viên sau tiến sĩ, tiến sĩ, hoặc nghiên cứu sinh (những người đã qua kỳ thi quốc gia) chưa được phong hàm giáo sư chính thức chỉ có thể tham gia hướng dẫn các buổi học nhóm. Giảng đường và các phòng học nhóm được bố trí tương ứng, phù hợp với số lượng sinh viên.
– Trong mỗi buổi học nhóm, sinh viên và người hướng dẫn học nhóm được trao đổi, thảo luận về các tình huống pháp lý do Giáo sư của môn học đó đưa ra.

Continue reading

VÌ SAO ÍT TRÍ THỨC VIỆT KIỀU VỀ NƯỚC LÀM VIỆC?

NGUYỄN QUỐC VỌNG – Đại học RMIT, Melbourne Vic 3001, Australia

Việt Nam có một lợi thế hơn hẳn so với các nước láng giềng là có khoảng gần 4 triệu người đang sinh sống khắp năm châu mà trong đó khoảng 300,000 người đã tốt nghiệp đại học và sau đại học. Trong số những trí thức Việt Nam này, có nhiều người là những nhà khoa học tên tuổi, chuyên gia đầu ngành hiện đang làm việc tại các đại học, viện nghiên cứu và công ty nổi tiếng ở Mỹ, Úc, Canada, Anh, Hà Lan, Nhật như các đại học Harvard, Standford, Yale, Tokyo, Sydney… các công ty Microsoft, Monsanto, Mitsubishi…

Tuy nhiên vì nền kinh tế Việt Nam được thoát thai từ chế độ bao cấp, doanh nghiệp tư nhân chưa phải là chủ lực, tính cạnh tranh trong thương mại chưa cao nên mối liên hệ giữa viện nghiên cứu, các trường đại học và doanh nghiệp chưa được quan tâm. Vai trò của trí thức, nhất là ở đại học và viện nghiên cứu rất mờ nhạt. Chính vì vậy “kho tàng kiến thức” của những nhà khoa học tên tuổi, những chuyên gia đầu ngành Việt kiều ở nước ngoài không được thực sự quan tâm (thậm chí hầu như bị lãng quên).
Có thể khẳng định, nếu có sự hợp tác về giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu của trí thức Việt kiều, dưới bất cứ hình thức nào, cũng sẽ rất có lợi cho công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hoá đất nước.

Nhưng tại sao cho đến nay vẫn có rất ít trí thức Việt kiều trở về nước phục vụ? Qua thực tiễn 2 năm trở về nước được làm việc, tôi thấy có những nguyên nhân chính sau đây:
► Việt Nam chưa thực sự thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế, nên một số chính sách và cơ chế để thu hút trí thức không được nghiêm chỉnh thực hiện. Một khi trí thức trong nước chưa được sử dụng đúng mức thì việc trở về của trí thức Việt kiều sẽ không bao giờ xảy ra vì họ đang được làm việc trong điều kiện tốt nhất của nước sở tại;
► Chưa làm tốt việc cung cấp thông tin về những vấn đề nhạy cảm (ví dụ như biên giới biển đảo, Hoàng Sa Trường Sa, quặng mỏ bauxit Tây Nguyên…) nên trí thức Việt kiều không thấy được Việt Nam đã có sự thay đổi, tiến bộ về mặt dân chủ, phản biện, tự do tôn giáo, từ đó đâm ra hoang mang, lo sợ… không muốn trở về nước;

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KINH TẾ TRONG ĐẠI HỌC VÀ KHOA HỌC

NGUYỄN TIẾN DŨNG

Trong bài viết này, tôi muốn phân tích một vấn đề kinh tế tài chính liên quan đến  khoa học và giáo dục đại học, từ đó rút ra một số cải cách và chính sách nên thực hiện để giúp cho nền khoa học công nghệ và hệ thống đại học Việt Nam phát triển tốt hơn.

Muốn có nền kinh tế mạnh, cần có nền khoa học công nghệ mạnh

Nền kinh tế của thế giới ngày nay phát triển theo 3 xu hướng: toàn cầu hóa, môi trường hóa (bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trở thành đề tài trọng tâm của thế kỷ 21), và hiểu biết hóa. Trong nền kinh tế này, vai trò của tri thức và khoa học công nghệ ngày càng quan trọng. Những nước có sức cạnh tranh lớn nhất cũng chính là những nước mạnh nhất về khoa học và công nghệ.
Nước Mỹ có nền khoa học mạnh nhất thế giới trong suốt thế kỷ qua, một phần lớn chính là vì họ trả lương cao và tạo điều kiện làm việc tốt để thu hút các nhà khoa học giỏi từ tất cả các nơi khác trên thế giới đến Mỹ. Tất nhiên, người Mỹ không dại gì trả lương cao cho các nhà khoa học, nếu như  điều này không làm lợi cho họ. Họ càng đầu tư nhiều cho khoa học, càng tạo điều kiện tốt cho các nhà khoa học, thì càng có lợi về kinh tế. Các nước khác, từ châu Âu, châu Á cho đến Nam Mỹ, cũng đã nhận thấy động lực này, và ngày nay đang cạnh tranh lại với Mỹ về lương và điều kiện làm việc cho khoa học để thu hút chất xám.
Để đuổi kịp thế giới, Việt Nam cũng phải tuân theo những qui luật trên. Tức là phải chú trọng phát triển khoa học công nghệ để lấy nó làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Muốn phát triển khoa học, phải đầu tư, tạo điều kiện làm việc tốt và trả lương xứng đáng cho khoa học. Muốn đạt tầm quốc tế về khoa học, thì phải đầu tư thích đáng, tạo một môi trường sống và làm việc tầm quốc tế cho khoa học.
Trong những năm vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã có những cố gắng nhất định trong việc phát triển khoa học. Ví dụ như chương trình “322” cấp học bổng cho sinh viên đi học ở nước ngoài, việc thành lập “Quĩ nghiên cứu khoa học cơ bản”, và quyết định của Thủ tướng về việc thành lập trường Đại học quốc tế “Hanoi University of Sience and Technology”. Tuy nhiên, việc phát triển khoa học ở Việt Nam còn gặp nhiều vướng mắc lớn. Một trong những vướng mắc đó là vấn đề lương cho khoa học

Lương cho khoa học đang quá thấp

Hiện tại lương cho giới khoa học Việt Nam đang quá thấp. Hệ quả là khoa học kém phát triển, lãng phí tiềm năng, và các viện nghiên cứu cũng như các trường đại học rất khó khăn trong việc tuyển người có đủ trình độ vào làm việc.

Continue reading

ĐẠI HỌC HAY HỌC ĐẠI?

NGUYỄN LÂN DŨNG

Thành tích xây dựng hệ thống các trường đại học cao đẳng ở nước ta là rất lớn. Nhưng về chất lượng đào tạo thì quả thật là có quá nhiều vấn đề cần bàn.

Thành tích xây dựng hệ thống các trường ĐHCĐ ở nước ta là rất lớn. Không dễ gì có tới 62/63 tỉnh thành đã có trường ĐHCĐ, đấy là một cố gắng đáng kể với con số 180 trường đại học, 232 trường cao đẳng và 28 trường thuộc các ngành quốc phòng an ninh và với tổng số sinh viên ĐHCĐ niên học 2008-2009 lên đến trên 1,7 triệu. Nhưng về chất lượng đào tạo thì quả thật là có quá nhiều vấn đề cần bàn.

Truyền thống hiếu học của nhân dân ta thật quý giá. Không phải có nhiều nước mà hầu hết học sinh đều muốn học tiếp đại học, cao đẳng (ĐHCĐ) và các phụ huynh cũng đều muốn như vậy. Nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng yêu cầu cần có số người tốt nghiệp ĐH không thấp hơn nhiều so với các nước khác.

Từ lâu, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có chỉ đạo rất xác đáng là yêu cầu “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò”.

Hiện nay đâu phải trường nào cũng ra trường! Có tới 15/87 các trường ngoài công lập chưa xây dựng được trường theo địa điểm đã đăng ký. Thậm chí có trường mở trong các hốc trống của sân vận động (!) Có trường thuê mướn rất nhiều cơ sở ở khá phân tán trong thành phố. Các trường tập trung quá nhiều ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Đây là nơi có trên 18 triệu dân nhưng sinh viên trên 1 vạn dân là 393, trong khi ở đồng bằng sông Cửu Long với dân số cũng tới trên 17 triệu dân thì chỉ có 75 sinh viên/1 vạn dân.

Continue reading

THÓI NGỤY BIỆN Ở NGƯỜI VIỆT

BTĐ Sưu tầm

Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.

Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.

Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KINH TẾ TRONG ĐẠI HỌC VÀ KHOA HỌC

NGUYỄN TIẾN DŨNG

Trong bài viết này, tôi muốn phân tích một vấn đề kinh tế tài chính liên quan đến  khoa học và giáo dục đại học, từ đó rút ra một số cải cách và chính sách nên thực hiện để giúp cho nền khoa học công nghệ và hệ thống đại học Việt Nam phát triển tốt hơn.

Muốn có nền kinh tế mạnh, cần có nền khoa học công nghệ mạnh

Nền kinh tế của thế giới ngày nay phát triển theo 3 xu hướng: toàn cầu hóa, môi trường hóa (bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trở thành đề tài trọng tâm của thế kỷ 21), và hiểu biết hóa. Trong nền kinh tế này, vai trò của tri thức và khoa học công nghệ ngày càng quan trọng. Những nước có sức cạnh tranh lớn nhất cũng chính là những nước mạnh nhất về khoa học và công nghệ.
Nước Mỹ có nền khoa học mạnh nhất thế giới trong suốt thế kỷ qua, một phần lớn chính là vì họ trả lương cao và tạo điều kiện làm việc tốt để thu hút các nhà khoa học giỏi từ tất cả các nơi khác trên thế giới đến Mỹ. Tất nhiên, người Mỹ không dại gì trả lương cao cho các nhà khoa học, nếu như  điều này không làm lợi cho họ. Họ càng đầu tư nhiều cho khoa học, càng tạo điều kiện tốt cho các nhà khoa học, thì càng có lợi về kinh tế. Các nước khác, từ châu Âu, châu Á cho đến Nam Mỹ, cũng đã nhận thấy động lực này, và ngày nay đang cạnh tranh lại với Mỹ về lương và điều kiện làm việc cho khoa học để thu hút chất xám.
Để đuổi kịp thế giới, Việt Nam cũng phải tuân theo những qui luật trên. Tức là phải chú trọng phát triển khoa học công nghệ để lấy nó làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Muốn phát triển khoa học, phải đầu tư, tạo điều kiện làm việc tốt và trả lương xứng đáng cho khoa học. Muốn đạt tầm quốc tế về khoa học, thì phải đầu tư thích đáng, tạo một môi trường sống và làm việc tầm quốc tế cho khoa học.
Trong những năm vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã có những cố gắng nhất định trong việc phát triển khoa học. Ví dụ như chương trình “322” cấp học bổng cho sinh viên đi học ở nước ngoài, việc thành lập “Quĩ nghiên cứu khoa học cơ bản”, và quyết định của Thủ tướng về việc thành lập trường Đại học quốc tế “Hanoi University of Sience and Technology”. Tuy nhiên, việc phát triển khoa học ở Việt Nam còn gặp nhiều vướng mắc lớn. Một trong những vướng mắc đó là vấn đề lương cho khoa học.

Continue reading

VỚI CÁI SAI

NGUYỄN VĂN BÌNH

Về căn bản thì có sai mới có đúng. Nếu không có sai thì chúng ta chưa chắc đã nhận ra cái đúng nó thế nào. Vậy đó. Con người ta sống có lúc đúng, có lúc sai. Từ cái sai để rút kinh nghiệm tới cái đúng thì cái sai đó là có ích. Nhưng nếu cái sai vẫn mãi mãi được bảo tồn là cái sai thì nó là cái nguy hại.

Cái sai đầu tiên không quan trọng, cái sai thứ hai cũng chẳng quan trọng đến cái sai thứ ba thì cần phải xem lại, vì như thế có nghĩa là bạn để cái sai dẫn đường một cách cố ý. Mọi sai lầm của bạn đều có thể tha thứ, đến như tội giết chúa còn được tha huống hồ những nhỏ nhặt thường ngày, tất nhiên kèm theo đó là điều kiện quan trọng, bạn phải thực sự hối lỗi. Người ta đánh kẻ chạy đi, nào ai nỡ đánh kẻ chạy lại. Nếu bạn ngoan cố khi không biết mình sai thì nó sẽ đi một nhẽ, bạn thuộc loại bảo thủ, gàn. Nhưng nếu bạn biết mình sai mà vẫn cố cãi cho bằng đúng, chả những thế mà còn đổ lỗi cho người khác thì quả thực phải coi lại nhân cách của bạn.

Trong kinh doanh, anh làm sai hẹn với thời gian ghi trong hợp đồng thì hiển nhiên anh phải chịu hậu quả và phải đứng ra giải quyết hậu quả đó. Thế nhưng đằng này anh lại gân cổ cãi, cãi chày cãi cối, cãi lấy được bảo rằng không phải anh lỡ hẹn mà bởi vì người khác lỡ hẹn với anh, cho nên hà cớ gì lại trách anh. Ô hay, tôi ngạc nhiên quá, anh ký hợp đồng với tôi là đến ngày này, ngày kia ra sản phẩm, còn anh liên kết ở đâu tôi thèm gì biết. Ai sai hẹn với anh tôi thèm gì biết, tôi chỉ biết tôi với anh ký với nhau và anh sai. Vậy thì anh phải nhận lỗi với tôi chứ. Sao anh lại lôi cái đối tác sau anh ra, nó thuộc về phần hậu trường của anh cơ mà. Thế nhưng anh vẫn cố tình không hiểu. Chả những thế, nhân thể anh còn lu loa rằng như thế là xúc phạm anh, không tin anh và anh vờ bực tức phá bỏ luôn hợp đồng. Nghĩa là anh cố cãi để chuyển bại thành thắng, chuyển sai thành đúng. Cái kiểu làm ăn như thế của anh thì chắc chắn với tôi chỉ được một lần, còn lại thì cạch tới già. Trên đời này không ai lại có thể hợp tác với loại chuyen đi đổ lỗi cho người khác. Giá như anh xin lỗi đàng hoàng, thành thực tôi có thể bỏ qua cho và cả hai cùng giải quyết hậu quả. Nhưng cái hành động cả vũ lấp miệng em của anh khiến tôi nghĩ mình đúng là ngờ nghệch cho nên đã đâm đầu vào cái kẻ vốn đã làm ăn bê bết, chả ra gì mà còn giỏi đổ lỗi vấy vạ.

Continue reading

ĐẠI HỌC ĐI VỀ ĐÂU?

CAO HUY THUẦN – Giáo sư emeritus Đại Học Picardie (Pháp)

Năm ngoái, tôi đã có dịp trình bày về đề tài "Đại học là hàng hóa hay công ích".[1] Tôi đã nói nhiều về chủ nghĩa tân tự do, nguồn cội của những biến chuyển hiện nay trong đại học trên thế giới. Ở đây, tôi sẽ không trở lại với lý thuyết nữa, tôi chỉ triển khai những biến chuyển đó trong cụ thể. Đại học bất cứ ở đâu đều chịu ảnh hưởng của những biến chuyển ấy và dù muốn dù không đều sẽ bị lôi cuốn theo chiều hướng ấy. Đại học Việt Nam e cũng sẽ thế mà thôi.

Tuy nhiên, đại học, văn hóa của một nước, không dễ gì để đánh mất bản sắc quốc gia của mình. Văn hóa Việt Nam, nếu nói theo Khổng thì là trung dung, nếu nói theo Phật thì là trung đạo. Tôi hy vọng tinh thần đó sẽ hướng chúng ta trả lời câu hỏi chung đặt ra cho mọi đại học: đại học là gì ? Từ câu trả lời đó, ta sẽ biết đi về đâu vào thế kỷ mới.

Với sức hiểu biết hạn hẹp của tôi, tôi chỉ có thể trình bày những biến chuyển trong đại học Mỹ và Âu châu. Đại học Mỹ, vì đó là mẫu mực của thời đại tân tự do, khuynh hướng của thế kỷ mới. Đại học Âu châu, vì ở đây, cây đang ngã theo gió nhưng lại gắng gượng không để quỵ. Tình trạng chưa cong nhưng không còn thẳng ấy đưa đến khủng hoảng chưa bao giờ thấy trong đại học Pháp từ đầu năm nay. Dù ở Mỹ hay ở Pháp, tôi lại hạn chế vấn đề vào những tranh luận diễn ra trong lòng các đại học đó. Qua các tranh luận ấy, hy vọng ta sẽ tìm được vài ý cho câu trả lời của chính ta.

I. Tri thức và tiền: đại học Mỹ

Từ lâu, kinh tế tư bản đã đưa thị trường vào đại học Mỹ với cốt lõi của nó là cạnh tranh. Trên lý thuyết, muốn cạnh tranh phải quản lý tốt, quản lý tốt đưa đến hiệu quả. Cạnh tranh, hiệu quả: châm ngôn đó của đại học Mỹ bây giờ đã trở thành kinh nhật tụng của mọi đại học trên thế giới. Dù đàng sau hậu trường của châm ngôn ấy là chủ thuyết tân tự do mà không phải ai cũng chấp nhận, khắp nơi trăm miệng một lời song song: phải cải thiện hiệu quả của đại học và nghiên cứu để đạt cho bằng được lý tưởng "kinh tế tri thức", "xã hội tri thức".

Continue reading

LỜI CHÚC MÙA TỐT NGHIỆP NĂM 2010

Chúc các em sinh viên K31 Đại học Luật Hà Nội và sinh viên năm cuối các cơ sở Đào tạo Luật đạt kết quả cao nhất trong kỳ thi tốt nghiệp năm 2010. Một tương lai rộng mở, nhưng đầy khó khăn, thử thách đang ở trước và rất gần. Nó có thể đưa mỗi em đi những con đường khác nhau, điểm đến khác nhau. Song, cánh cửa cuộc sống sẽ rộng mở, khi  các em vững tin vào những gì mình đã lựa chọn, năng lực của bản thân và cái tâm của con nhà luật.

CIVILLAWINFOR

ĐỂ CHUẨN BỊ BÀI PHÁT BIỂU KHI KHÔNG CÓ THỜI GIAN

P.C.

Đối với những người sắp sửa nghe bạn nói thì việc bạn có 10 ngày hay chỉ có 10 phút để viết bài phát biểu cũng chẳng ảnh hưởng gì tới họ. Bạn sẽ vẫn phải phát biểu. Dưới đây là những mẹo giúp bạn chuẩn bị bài phát biểu của mình một cách nhanh chóng khi không có nhiều thời gian.

Bạn càng có địa vị cao, thì người ta càng trông chờ bạn sẽ có bài phát biểu trong những dịp xuất hiện trước công chúng, và thường trong những dịp như thế bạn có rất ít thời gian chuẩn bị. Vậy bí quyết để có một bài phát biểu hoàn hảo trong một thời gian ngắn là gì?

Điều đầu tiên bạn cần phải làm trước khi phát biểu là xác định được thông điệp chính bạn muốn đưa ra.

Thông điệp của bạn chính là những gì sẽ còn đọng lại trong người nghe sau khi bạn đã kết thúc bài thuyết trình đồng thời cũng là câu chốt lại những gì bạn đã trình bày. Họ sẽ có ấn tượng với những gì mà bạn nói. Ấn tượng đó có thể tốt hoặc không tốt. Người nghe có thể ấn tượng mạnh về bản thân bạn, phong cách phát biểu, hoặc nội dung bài phát biểu của bạn. Nếu bạn muốn họ nhận ra và ghi nhớ đúng thông điệp – tức là thông điệp chính mà bạn muốn đưa ra – trước hết bạn phải xác định được điều bạn tin tưởng và viết chúng ra.

Một khi đã viết được câu tóm tắt cho những gì mình muốn nói, tức là bạn đã sẵn sàng đưa ra những ý kiến, lý lẽ, các câu chuyện và thông tin làm dẫn chứng cho bài phát biểu của mình. Hãy loại bỏ những gì không phục vụ cho thông điệp của bạn.

Cuối cùng, hãy xây dựng những tài liệu bạn có theo các cấu trúc sau:

– Quan điểm – lý do – ví dụ – quan điểm. Bạn hãy đưa ra yêu cầu của bạn (có vẻ rất giống với thông điệp chính) và sau đó đưa ra những lý do để bạn yêu cầu như vậy. Tiếp đó bạn đưa ra một ví dụ thuyết phục và kết thúc bằng cách lặp lại quan điểm của bạn.

Continue reading

MỤC TIÊU – MỤC ĐÍCH SỐNG

SƯU TẦM

Image

Mục đích sống của tôi là gì? Và làm thế nào để xác định được mục đích sống?

Tìm ra câu trả lời hoàn toàn không hề dễ một chút nào. Bằng chứng là số người nhận ra được mục đích sống của mình còn quá ít. Và chỉ duy nhất bạn mới có thể biết đâu là câu trả lời đích thực.

Những người may mắn nhất là những người đã nhận ra được mục đích sống của mình. Cuộc sống của họ là cuộc hành trình có định hướng rõ ràng. Tràn ngập niềm vui, sự bình an, và mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng con đường thành công đã rộng mở trước mắt họ.

Dưới đây là một trong những cách thức để có thể nhận ra mục đích sống:

– Đầu tiên, bạn phải tập thói quen suy ngẫm về bản thân hàng ngày. Suy ngẫm một cách khách quan, không bị các cảm xúc chi phối.

– Sau đó, bạn phải tập thói quen tĩnh tâm hàng ngày. Và lắng nghe “tiếng nói từ trái tim” mình (luyện tập thiền, yoga là những phương pháp bổ trợ rất hữu hiệu). Hãy liên tục tìm hiểu và khám phá bản thân hàng ngày qua các câu hỏi.

– Cuối cùng, đến một thời điểm nào đó, bạn sẽ nhận ra được mục đích sống của mình.

Thời gian có thể là vài tháng, cũng có thể là vài năm, thậm chí vài chục năm, tuỳ thuộc vào khát khao tìm hiểu, khám phá bản thân của bạn.

Continue reading