CÔNG VĂN SỐ 241/BXD-QLN NGÀY 10 THÁNG 02 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ BÁO CÁO TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CĂN HỘ NHÀ CHUNG CƯ LÀM CƠ SỞ SẢN XUẤT, KINH DOANH, VĂN PHÒNG

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thời gian vừa qua, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội đã phản ánh một số vấn đề tồn tại trong quản lý sử dụng nhà chung cư, trong đó có việc sử dụng căn hộ nhà chung cư làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng làm ảnh hưởng đến sinh hoạt cộng đồng dân cư trong nhà chung cư. Để hướng dẫn địa phương thực hiện các quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư, Bộ Xây dựng đã có Công văn số 2544/BXD-QLN ngày 19/11/2009 đề nghị một số địa phương, nơi có nhiều nhà chung cư đã, đang và sẽ được xây dựng khẩn trương rà soát, trên cơ sở đó lập kế hoạch, lộ trình phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương để chấn chỉnh kịp thời các trường hợp sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng và đặc biệt quan tâm đến công tác phòng chống cháy nổ trong nhà chung cư.

Trong Công văn số 2544/BXD-QLN đã nêu rõ: đối với nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu ở thì cần bố trí và quản lý các văn phòng này như đối với công trình kinh doanh, dịch vụ. Trường hợp sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, bán hàng hoặc làm kho tàng, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong nhà chung cư thì phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.

Để tăng cường công tác quản lý sử dụng nhà chung cư, kịp thời nắm bắt tình hình cũng như những ảnh hưởng đến sinh hoạt cộng đồng của việc sử dụng căn hộ nhà chung cư làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng, Bộ Xây dựng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo kiểm tra, thống kê việc sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng tại các nhà chung cư (kể cả nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp trong đó có căn hộ) trên địa bàn, từ đó đề xuất lộ trình, phương án giải quyết phù hợp và báo cáo về Bộ Xây dựng, số 37 phố Lê Đại Hành – Hà Nội trước ngày 30/3/2010 (có Biểu mẫu báo cáo kèm theo).

Điện thoại liên hệ: 04 39746478; Fax: 04 38215208./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

CÔNG VĂN SỐ 144/BXD-QLN NGÀY 26 THÁNG 01 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ XÉT CÔNG NHẬN CHO NHỮNG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT CÓ TÊN TRONG SỔ MỤC KÊ LẬP TRƯỚC NĂM 1993 DO BỘ XÂY DỰNG BAN HÀNH

Kính gửi:

Văn phòng Chính phủ

Ngày 07/01/2010, Văn phòng Chính phủ có công văn số 124/VPCP-KTN đề nghị Bộ Xây dựng có ý kiến đối với đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nêu tại công văn số 4591/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 03/12/2009) về việc xét công nhận cho những trường hợp người sử dụng đất có tên trong sổ mục kê lập trước năm 1993 như có tên trong sổ địa chính để làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Việc Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất xét công nhận những trường hợp người sử dụng đất có tên trong sổ mục kê lập từ trước năm 1993 được coi như có tên trong sổ địa chính, tạo cơ sở cho việc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những trường hợp này là phù hợp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất cũng như góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng nhận thấy để đảm bảo việc áp dụng thống nhất, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp với địa phương tổng hợp về số liệu các trường hợp nêu trên trong phạm vi cả nước để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng về đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với việc xét công nhận người sử dụng đất có tên trong sổ mục kê trước năm 1993 như người có tên trong sổ địa chính để làm cơ sở cho việc cấp giấy chứng nhận, đề nghị Văn phòng Chính phủ tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

CÔNG VĂN SỐ 10/BXD-QLN NGÀY 26 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ SỬ DỤNG CĂN HỘ CHO THUÊ LÀM VĂN PHÒNG

Kính gửi:

Công ty TNHH Tập đoàn Đông Dương

Trả lời Văn bản số 01-2010/CV-PN ngày 15/01/2010 của Công ty TNHH Tập đoàn Đông Dương về việc sử dụng căn hộ cho thuê làm văn phòng tại số 4 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Ngày 19/11/2009, Bộ Xây dựng có Công văn số 2544/BXD-QLN về việc thực hiện các quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư để đôn đốc và hướng dẫn các địa phương kiểm tra, rà soát, trên cơ sở đó lập kế hoạch, lộ trình phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương để chấn chỉnh kịp thời các trường hợp sử dụng nhà ở làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng và công tác phòng chống cháy nổ trong nhà chung cư.

Ngoài ra, Công văn số 2544/BXD-QLN đã nêu rõ đối với nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu ở thì cần bố trí và quản lý các văn phòng này như đối với công trình kinh doanh, dịch vụ. Trường hợp sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, bán hàng hoặc làm kho tàng, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong nhà chung cư là không đảm bảo quy định của pháp luật hiện hành.

Về nguyên tắc, các hoạt động gây ảnh hưởng đến vận hành của nhà chung cư (liên quan đến việc sử dụng điện, nước, thang máy, độ ồn, rác thải sinh hoạt, phòng cháy chữa cháy) do việc sử dụng căn hộ làm văn phòng ít hơn hoặc bằng ảnh hưởng từ việc sử dụng làm căn hộ thì được phép sử dụng căn hộ làm văn phòng. Theo đó, tại nhà chung cư số 4 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, trường hợp chủ sở hữu sử dụng căn hộ hoặc đã ký hợp đồng cho thuê làm văn phòng mà văn phòng đó có quy mô gia đình, nhỏ và ít người, chỉ phục vụ mục đích giao dịch, không sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, bán hàng hoặc làm kho tàng, tuân thủ các quy định về phòng cháy chữa cháy thì được phép tiếp tục sử dụng hoặc tiếp tục cho thuê căn hộ để làm văn phòng cho đến khi Bộ Xây dựng ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư, trong đó xác định những hạn chế của chủ sở hữu trong nhà chung cư; những hành vi gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan trong quản lý sử dụng nhà chung cư.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 07/BXD-QLN NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ CHUYỂN NHƯỢNG KHU CHUNG CƯ TRONG DỰ ÁN KHU DÂN CƯ BẮC KÊNH LƯƠNG BÈO

Kính gửi:

Công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn

Bộ Xây dựng nhận được văn bản số 67/TS-2009 ngày 01/12/2009 của công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn về việc chuyển nhượng khu chung cư trong dự án Khu dân cư Bắc kênh Lương Bèo. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Căn cứ quy định tại các Điều 6,7,8,9 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bất động sản, việc công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn nhận chuyển nhượng từ công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh khu chung cư Lô A trong dự án Khu dân cư Bắc kênh Lương Bèo là việc chuyển nhượng dự án thành phần trong dự án đầu tư, không phải là việc chuyển nhượng toàn bộ dự án. Vì vậy, khi Công ty thực hiện việc chuyển nhượng dự án thành phần trong dự án đầu tư thì không phải áp dụng các quy định về chuyển nhượng toàn bộ dự án được quy định tại Nghị định 153/2007/NĐ-CP.

Theo quy định tại Điểm a Khoản 8 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP thì “..Chủ đầu tư được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức kinh tế đối với diện tích đất đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng theo dự án được xét duyệt hoặc theo dự án thành phần của dự án đầu tư đã được xét duyệt; tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng nội dung xây dựng và tiến độ ghi trong dự án đó”. Vì vậy, khi Công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn và Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh thực hiện việc chuyển nhượng dự án thành phần trong dự án đầu tư Khu dân cư Bắc kênh Lương Bèo, các chủ đầu tư phải tuân thủ đúng các quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đầu tư, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng thông báo để Công ty TNHH xây dựng thương mại Thái Sơn nghiên cứu thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

CÔNG VĂN SỐ 05/BXD-QLN NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hà Nội

Bộ Xây dựng nhận được văn bản số 9119/SXD-QLN ngày 11/11/2009 của Sở Xây dựng thành phố Hà Nội về việc hoạt động của các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn thành phố Hà Nội. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

1/ Về việc các Sàn giao dịch bất động sản có tên gọi trùng nhau

Khi doanh nghiệp thành lập sàn giao dịch bất động sản thì việc đặt tên của sàn giao dịch bất động sản phải tuân thủ đúng quy định về tên gọi của pháp nhân được quy định tại Khoản 1 Điều 87 Bộ Luật Dân sự, theo đó “Pháp nhân phải có tên gọi bằng tiếng Việt, thể hiện rõ loại hình tổ chức của pháp nhân và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động”. Như vậy, khi doanh nghiệp thành lập sàn giao dịch bất động sản có tên gọi của Sàn trùng với tên gọi của sàn giao dịch bất động sản đang hoạt động thì Sở Xây dựng hướng dẫn doanh nghiệp đang thành lập sàn thay đổi tên gọi của Sàn để phù hợp với quy định nêu trên.

2/ Về việc doanh nghiệp thành lập nhiều sàn giao dịch bất động sản

Pháp Luật Kinh doanh bất động sản không quy định hạn chế tổ chức, cá nhân trong việc thành lập sàn giao dịch bất động sản. Việc thành lập sàn giao dịch bất động sản của doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định tại Phần IV Thông tư 13/2008/TT-BXD ngày 21/5/2008 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 153/2007/NĐ-CP và quy định tại Chương IV Bộ Luật dân sự về Pháp nhân.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng thông báo để Sở Xây dựng thành phố Hà Nội nghiên cứu thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

CHỈ THỊ SỐ 134/CT-TTg NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG KIỂM TRA, XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT

Kết quả kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ cho thấy tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức trên phạm vi cả nước vẫn còn nhiều, phổ biến ở hầu hết các địa phương, dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất không đúng mục đích được giao, được thuê hoặc cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng đất trái phép; để đất hoang hóa, quản lý lỏng lẻo để bị lấn, bị chiếm đất. Mức độ vi phạm pháp luật đất đai nhiều nhất là các tổ chức kinh tế, các nông trường, lâm trường quốc doanh và các tổ chức sự nghiệp công; nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài nhiều năm chưa được giải quyết. Trong thời gian qua, mặc dù Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các địa phương đã tích cực chỉ đạo, tổ chức nhiều đợt kiểm tra và xử lý vi phạm trong sử dụng đất của các tổ chức, nhưng việc xử lý các vi phạm còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, nhiều vụ việc vi phạm kéo dài vẫn chưa được giải quyết.

Để kịp thời khắc phục những yếu kém, đồng thời chấn chỉnh lại việc quản lý sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện ngay một số việc sau đây:

1. Trên cơ sở kết quả kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của tổ chức theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, tập trung kiểm tra cụ thể các trường hợp vi phạm và phân loại để có giải pháp giải quyết dứt điểm tình trạng vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức sử dụng đất, trước hết là các vụ việc điển hình, gây nhiều bức xúc trong dư luận.

Continue reading

Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTG ngày 29 tháng 2 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế đặc thù về THU HỒI ĐẤT; GIAO ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CHO CÁC HỘ DÂN TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 23 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai;
Xét đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại công văn số 4780/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 18 tháng 12 năm 2009 về sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định Cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La như sau:

“Điều 1. Thu hồi đất; giao đất ở, đất nông nghiệp

1. Nguyên tắc chung:

a) Nhà nước thu hồi diện tích đất thuộc khu vực lòng hồ; khu vực dự kiến bố trí các công trình xây dựng liên quan đến Dự án Thủy điện Sơn La; diện tích đất của người phải di chuyển; diện tích đất bố trí tái định cư, tái định canh để giao cho Ban Quản lý Dự án Thủy điện Sơn La phục vụ Dự án Thủy điện Sơn La;

b) Diện tích đất thuộc khu vực bố trí hộ dân tái định cư (kể cả khu vực tái định cư, tái định canh tại chỗ hoặc xen ghép), khu vực đất bố trí các công trình xây dựng liên quan đến các khu tái định cư đã thu hồi, phải giao cho Ban Quản lý Dự án di dân tái định cư cấp huyện hoặc cấp tỉnh để phục vụ tái định cư, tái định canh cho hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La;

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 45/QĐ-TTg NGÀY 11 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 1 QUYẾT ĐỊNH SỐ 246/QĐ-TTG NGÀY 29 THÁNG 02 NĂM 2008 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CƠ CHẾ ĐẶC THÙ VỀ THU HỒI ĐẤT; GIAO ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CHO CÁC HỘ DÂN TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 23 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai;
Xét đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại công văn số 4780/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 18 tháng 12 năm 2009 về sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định Cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế đặc thù về thu hồi đất; giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La như sau:

“Điều 1. Thu hồi đất; giao đất ở, đất nông nghiệp

1. Nguyên tắc chung:

a) Nhà nước thu hồi diện tích đất thuộc khu vực lòng hồ; khu vực dự kiến bố trí các công trình xây dựng liên quan đến Dự án Thủy điện Sơn La; diện tích đất của người phải di chuyển; diện tích đất bố trí tái định cư, tái định canh để giao cho Ban Quản lý Dự án Thủy điện Sơn La phục vụ Dự án Thủy điện Sơn La;

b) Diện tích đất thuộc khu vực bố trí hộ dân tái định cư (kể cả khu vực tái định cư, tái định canh tại chỗ hoặc xen ghép), khu vực đất bố trí các công trình xây dựng liên quan đến các khu tái định cư đã thu hồi, phải giao cho Ban Quản lý Dự án di dân tái định cư cấp huyện hoặc cấp tỉnh để phục vụ tái định cư, tái định canh cho hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La;

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 12/QĐ-UBND NGÀY 6 THÁNG 1 NĂM 2010 VỀ ỦY QUYỀN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 16 tháng 9 năm 2009;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai ngày 18 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Căn cứ Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV ngày 31 tháng 12 năm 2004 của Liên Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Tổ chức phát triển quỹ đất;
Căn cứ Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số 9294/TTr-TNMT-TTĐK ngày 22 tháng 12 năm 2009 và ý kiến của Sở Tư pháp tại Công văn số 3853/STP-VB ngày 17 tháng 12 năm 2009,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài và đóng dấu của Sở Tài nguyên và Môi trường.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 2803/2009/QĐ-UBND NGÀY 21 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾVỀ GIÁ CÁC LOẠI ĐẤT NĂM 2010 THUỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính Phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP;
Căn cứ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Căn cứ Nghị quyết số 13e/2009/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2009 của Hội đồng Nhân dân tỉnh về giá các loại đất tại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2010;
Theo đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số /TTr-TNMT-QLĐĐ ngày tháng 12 năm 2009,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định giá các loại đất năm 2010 thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 và được áp dụng để xác định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2010.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 39/2009/TT-BXD NGÀY 9 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG NHÀ Ở RIÊNG LẺ

Căn cứ Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật Nhà ở số 56/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009;
Căn cứ Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 1/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng và Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình (dưới đây viết tắt là Nghị định 12/2009/NĐ-CP) và Nghị định 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về sửa đổi một số điều của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình,
Bộ Xây dựng hướng dẫn về quản lý chất lượng xây dựng nhà ở riêng lẻ như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn về quản lý chất lượng xây dựng nhà ở riêng lẻ trên lãnh thổ Việt Nam.

Việc xây dựng nhà ở riêng lẻ trên các lô đất của dự án nhà ở cũng phải áp dụng theo các quy định của Thông tư này.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với các hộ gia đình, cá nhân (dưới đây viết tắt là chủ nhà) khi xây dựng nhà ở riêng lẻ, các chủ đầu tư dự án nhà ở riêng lẻ xây dựng trên các lô đất của dự án (dưới đây viết tắt là chủ đầu tư) và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng nhà ở riêng lẻ thuộc phạm vi điều chỉnh nêu tại Điều 1 của Thông tư này.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 38/2009/TT-BXD NGÀY 8 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN VIỆC QUẢN LÝ SỬ DỤNG NHÀ BIỆT THỰ TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ

Căn cứ Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Căn cứ Nghị định số 29/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ về quản lý kiến trúc đô thị;
Bộ Xây dựng hướng dẫn việc quản lý sử dụng nhà biệt thự tại khu vực đô thị như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này điều chỉnh việc quản lý sử dụng đối với nhà biệt thự tại khu vực đô thị, kể cả những biệt thự đã được sửa chữa, cải tạo.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng bao gồm chủ sở hữu, người sử dụng nhà biệt thự; các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc quản lý sử dụng nhà biệt thự.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 37/2009/TT-BXD NGÀY 1 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ QUẢN LÝ GIÁ DỊCH VỤ NHÀ CHUNG CƯ

Căn cứ Luật Nhà ở số 56/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội khoá 11;
Căn cứ Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Bộ Xây dựng hướng dẫn phương pháp xác định và quản lý giá dịch vụ nhà chung cư, như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh : Thông tư này hướng dẫn phương pháp xác định và quản lý giá dịch vụ đối với nhà chung cư và nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có phần diện tích là nhà ở (sau đây gọi chung là nhà chung cư); không bao gồm nhà chung cư xây dựng theo Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề thuê; Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp thuê; Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

2. Đối tượng áp dụng : Thông tư này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xác định, quản lý giá dịch vụ nhà chung cư.

Điều 2. Nguyên tắc xác định giá dịch vụ nhà chung cư

1. Giá dịch vụ nhà chung cư được xác định theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ các chi phí, một phần lợi nhuận định mức hợp lý để quản lý, vận hành nhà chung cư hoạt động bình thường; nhưng phải phù hợp với thực tế kinh tế xã hội của từng địa phương và thu nhập của người dân từng thời kỳ và được trên 50% các thành viên trong Ban quản trị nhà chung cư thông qua bằng hình thức biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín. Đối với nhà chung cư chưa thành lập được Ban quản trị thì giá dịch vụ nhà chung cư phải được trên 50% hộ dân cư đang sống tại nhà chung cư nhất trí thông qua bằng hình thức biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín. Trường hợp giá dịch vụ nhà chung cư đã có thoả thuận trong hợp đồng mua bán căn hộ thì thực hiện như thoả thuận đó.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2544/BXD-QLN NGÀY 19 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ THỰC HIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NHÀ CHUNG CƯ

Kính gửi:

– Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng;
– Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An;
– Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Phát triển mô hình nhà chung cư cao tầng là xu thế tất yếu trong phát triển nhà ở tại các đô thị. Việc tổ chức quản lý vận hành nhà chung cư của các chủ đầu tư ở địa phương bước đầu đã cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho các cư dân sống trong nhà chung cư, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh sạch sẽ với chi phí phù hợp, từ đó thu hút được các tầng lớp dân cư đô thị vào sống trong các nhà chung cư cao tầng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, vẫn còn có những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý sử dụng nhà chung cư cần phải được các địa phương quan tâm giải quyết kịp thời. Thời gian vừa qua, ở một số địa phương đã xảy ra cháy các căn hộ nhà cahung cư và một số vấn đề tồn tại liên quan đến việc quản lý sử dụng nhà chung cư.

Để công tác quản lý sử dụng nhà chung cư cao tầng đi vào nền nếp, góp phần xây dựng nếp sống văn minh đô thị, Bộ Xây dựng đề nghị Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương có nhiều nhà chung cư đã, đang và sẽ được xây dựng, khẩn trương thực hiện một số việc sau:

1. Hiện nay, một số căn hộ nhà chung cư được chủ sở hữu chuyển đổi mục đích sử dụng từ nhà ở sang làm văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh là trái với mục đích sử dụng, không đảm bảo an toàn. Pháp luật về quản lý sử dụng nhà chung cư không cho phép chủ sở hữu nhà ở sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng trái mục đích quy định. Ngoài ra, việc sử dụng văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh xen lẫn với nhà ở gây xáo trộn, mất trật tự và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của các hộ dân sống ở các nhà chung cư. Chính quyền địa phương là nơi đã cho phép các chủ đầu tư phát triển nhà chung cư cần kiểm tra, hướng dẫn các chủ đầu tư dự án, các hộ dân sống trong nhà chung cư làm tốt công tác quản lý sử dụng nhà chung cư, đảm bảo quyền lợi của cả chủ đầu tư và các hộ dân. Trường hợp nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu ở thì cần bố trí và quản lý các văn phòng như đối với công trình kinh doanh, dịch vụ. Trường hợp văn phòng không đảm bảo điều kiện làm việc theo Quy chuẩn xây dựng và Tiêu chuẩn quy định thì phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.

2. Công tác phòng chống cháy nổ trong nhà chung cư cần phải được các địa phương quan tâm đặc biệt thông qua việc kiểm tra định kỳ, hướng dẫn cho các chủ đầu tư, người dân sống trong các khu nhà chung cư chủ động phòng cháy, chữa cháy tại chỗ. Các nhà chung cư cần được thiết kế và bố trí đầy đủ những trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy theo Tiêu chuẩn TCVN 2622-1995 – Phòng cháy, chống cháy cho nhà và công trình – Yêu cầu thiết kế. Các cán bộ, công nhân trực tiếp và gián tiếp tham gia quản lý vận hành nhà chung cư đều phải được tập huấn và tham gia diễn tập định kỳ công tác phòng cháy, chữa cháy tại các khu nhà chung cư. Ngoài ra, các địa phương cần có hình thức thiết thực tuyên truyền, cổ động để các hộ dân tự trang bị những kiến thức cơ bản trong phòng cháy, chữa cháy tại chỗ, chủ động tham gia quản lý nhà chung cư, góp phần tạo dựng môi trường sống đô thị văn minh, hiện đại.

Công tác quản lý sử dụng nhà chung cư đảm bảo điều kiện an toàn cho cư dân, đặc biệt là công tác phòng, chống cháy nổ tại các khu chung cư có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mô hình nhà chung cư cũng như sự phát triển bền vững của đô thị. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị các địa phương quan tâm, khẩn trương triển khai các công tác nêu trên, đảm bảo các khu nhà chung cư được quản lý vận hành an toàn, bền vững và lâu dài./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

NGHỊ ĐỊNH SỐ 105/2009/NĐ-CP NGÀY 11 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 08 tháng 3 năm 2007; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về xử phạt hành chính đối với những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định này là hành vi cố ý hoặc vô ý của người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Đối tượng áp dụng của Nghị định này bao gồm cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (gọi chung là cá nhân); cơ quan, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài (gọi chung là tổ chức); hộ gia đình; cơ sở tôn giáo có hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất đai hoặc trong việc thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai.

2. Cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý đất đai sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; trường hợp hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 132/BXD-QLN NGÀY 3 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ, QUYỀN SỞ HỮU CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DO BỘ XÂY DỰNG BAN HÀNH

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 860/SXD-QLN&CS ngày 05/10/2009 của Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ đề nghị hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

Theo quy định của pháp luật về nhà ở hiện hành thì trong hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng không yêu cầu phải có văn bản xác nhận nhà ở, công trình xây dựng đã được giao dịch thông qua sàn bất động sản (trừ trường hợp căn hộ nhà chung cư trong dự án đầu tư được bán sau ngày Thông tư số 01/2009/TT-BXD ngày 25/2/2009 của Bộ Xây dựng có hiệu lực thi hành).

Ngày 19/10/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2009/NĐ-CP về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trong đó có quy định đối với những địa phương đã có sàn giao dịch bất động sản thì những trường hợp chuyển nhượng từ ngày Nghị định số 88/2009/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, trong hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận phải có giấy tờ chứng minh việc nhận chuyển nhượng được thực hiện tại sàn giao dịch bất động sản.

Đề nghị Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ nghiên cứu các quy định của pháp luật để thực hiện việc cấp giấy chứng nhận theo đúng quy định./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

CÔNG VĂN SỐ 131/BXD-QLN NGÀY 27 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ SỬ DỤNG BẤT ĐỘNG SẢN LÀ NHÀ BIỆT THỰ CÓ CÁC PHẦN HẠ TẦNG KỸ THUẬT SỬ DỤNG CHUNG TRONG DỰ ÁN NHÀ Ở CÓ KHUÔN VIÊN RIÊNG BIỆT

Kính gửi:

Công ty Luật Kelvin Chia Partnership

Trả lời Văn bản của Công ty Luật Kelvin Chia Partnership – Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hướng dẫn quản lý sử dụng bất động sản là nhà biệt thự có các phần hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung trong Dự án nhà ở có khuôn viên riêng biệt, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

1. Về việc quản lý sử dụng nhà biệt thự trong khuôn viên riêng biệt

Tại Điều 30 của Quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Quyết định số 8/2008/QĐ-BXD ngày 28/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định: "Đối với khu nhà ở có khuôn viên riêng biệt và có các phần hạ tâng kỹ thuật sử dụng chung thì có thể áp dụng những nguyên tắc quy định tại Quy chế này để quản lý". Theo đó, trường hợp Dự án nhà biệt thự nêu trên được cấp có thẩm quyền phê duyệt có quy định về việc không phải bàn giao công trình hạ tầng kỹ thuật trong khuôn viên cho các cơ quan chuyên môn của địa phương thì có thể áp dụng những nguyên tắc quy định tại Quy chế này để quản lý.

2. Về quy định phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung

Phần diện tích thuộc sở hữu riêng của người mua nhà ở và phần diện tích thuộc sở hữu chung (vỉa hè, đường nội bộ, cây xanh, vường hoa và các phần khác thuộc sở hữu chung) phải được quy định cụ thể, rõ ràng và được ghi rõ trong Hợp đồng mua bán nhà ở và Quy chế quản lý sử dụng nhà ở kèm theo Hợp đồng. Trong trường hợp trong khuôn viên Dự án có những công trình, diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư hoặc của chủ sở hữu khác thì phải nêu rõ (ví dụ như: bể bơi, sân tennis, siêu thị hoặc các phần diện tích khác).

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng để Công ty Luật Kelvin Chia Partnership – Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh biết và thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

CÔNG VĂN SỐ 181/ĐC-CP NGÀY 23 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ ĐÍNH CHÍNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 69/2009/NĐ-CP NGÀY 13 THÁNG 8 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH BỔ SUNG VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT, GIÁ ĐẤT, THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ

Do sơ suất trong khâu đọc soát, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, xin đính chính một số sai sót trong Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như sau:

1. Tại trang 5 dòng thứ 7 từ trên xuống (khoản 5 Điều 9), viết là: “các khoản 1, 2 và 3”.

Nay xin sửa lại là: “các khoản 2, 3 và 4”.

2. Tại trang 21 dòng thứ 13 từ trên xuống (điểm a khoản 1 Điều 32), viết là: “các Điều 27, 28, 29 và 38”.

Nay xin sửa lại là: “các Điều 29, 30 và 31”.

3. Tại trang 21 dòng thứ 15 từ trên xuống (điểm b khoản 1 Điều 32), viết là: “ khoản 6 Điều 29”.

Nay xin sửa lại là: “khoản 4 Điều 31”.

4. Tại trang 22 dòng thứ 8 từ dưới lên (điểm e khoản 1 Điều 34), viết là: “khoản 1 Điều 22”.

Nay xin sửa lại là: “khoản 1 Điều 19”.

5. Tại trang 28 dòng thứ 13, 14 và 15 từ trên xuống (điểm a khoản 2 Điều 41), viết là: “Điều 10, Điều 12, bỏ nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của khu công nghệ cao, khu kinh tế quy định tại các Điều 14, 30, 52, 125, 126, 127 và 141 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP”.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 14/2009/TT-BTNMT NGÀY 01 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ TÀI NGUYÊN – MÔI TRƯỜNG QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THU HỒI ĐẤT, GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT

Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Căn cứ Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
Căn cứ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Căn cứ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất tại các Nghị định sau:

1. Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP);

2. Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (sau đây gọi là Nghị định số 17/2006/NĐ-CP);

Continue reading